Trong các giờ dạy tập đọc, giáo viên chưa chú ý rèn đọc khi phát âm, khi ngắt nghỉ chưa đúng; đọc diễn cảm còn mang tính hình thức, nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc hướng dẫn học
Trang 1SINH HOẠT SƯ PHẠM CHUYÊN ĐỀ
MỘT SỐ HÌNH THỨC VÀ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 4
- Tác giả: Tô Ngọc Chính
- Giáo viên trường TH Phú Lộc 2
I MỞ ĐẦU
Phân môn Tập đọc là phân môn quan trọng bởi có đọc tốt thì mới học tốt Tiếng Việt Đọc tốt ở phân môn Tập đọc là các em được củng cố khắc sâu thêm những tri thức,
kỹ năng học tốt ở những phân môn và các môn học khác Chức năng của phân môn Tập đọc là luyện đọc: rèn cho học sinh đọc đúng, đọc trôi chảy, tiến tới đọc hay (đọc diễn cảm) Thông qua đọc đúng, đọc hay học sinh cảm thụ được cái hay, cái đẹp của bài văn, bài thơ; Nó còn giúp các em nhận ra những tinh hoa của dân tộc đang được tàng trữ trong sách vở
Mỗi bài tập đọc là một văn bản, là một bức tranh thu nhỏ về hiện thực, về cảnh đẹp đất nước, con người, xã hội Mặt khác, thể hiện được tâm hồn của tác giả không chỉ
có nội dung hấp dẫn của bài văn, bài thơ mà còn phụ thuộc vào người đọc tác phẩm đó Trước hết người đọc phải đọc đúng, đọc chính xác, đọc trôi chảy, tiến tới đọc diễn cảm, đọc theo vai thì mới diễn tả cảm xúc, tình cảm, thái độ của tác giả bộc lộ qua từng nhân vật trong tác phẩm Bởi vậy, nâng cao năng lực đọc cho học sinh nhất là đọc đúng, đọc diễn cảm là hết sức cần thiết đối với giáo viên.
Qua nhiều năm tôi trực tiếp giảng dạy, dự giờ, dự hội giảng cấp trường, cấp cụm Tôi nhận thấy: Còn nhiều học sinh đọc chưa lưu loát, ngắt nghỉ, nhấn giọng tuỳ tiện Các
em không hiểu được nội dung nghệ thuật, không hiểu được cái hay, cái đẹp của tác phẩm Mặt khác, còn bị ảnh hưởng của ngôn ngữ địa phương nên học sinh phần lớn còn đọc sai, phát âm nhầm lẫn ch/tr, s/x, d /r/gi, dấu hỏi với dấu ngã
Trong các giờ dạy tập đọc, giáo viên chưa chú ý rèn đọc khi phát âm, khi ngắt nghỉ chưa đúng; đọc diễn cảm còn mang tính hình thức, nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc hướng dẫn học sinh rèn đọc: đọc thành tiếng, đọc thầm; đồng thời chỉ chú trọng đến việc tìm hiểu nội dung bài, số lượng học sinh đọc trong lớp ít, chưa nhấn giọng
ở những từ ngữ nào Nhất là khi đọc lời các nhân vật chưa thể hiện được tính cách của các nhân vật, qua đó giờ dạy chưa đạt được mục tiêu của tiết học
Xuất phát từ những lí do trên tôi nghiên cứu và vận dụng một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 4
Trang 2II MỤC TIÊU CHUYÊN ĐỀ
1 Đối với CBQL và giáo viên
Giúp cho CBQL cũng như giáo viên nắm vững phương pháp dạy học tích cực, vận dụng thực hành cải tiến phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi và phát triển của từng đối tượng học sinh nhằm kích thích tư duy hứng thú học tập của các em trong quá trình học tập và rèn luyện trong giờ tập đọc
Giúp giáo viên được kinh nghiệm thông qua việc trải nghiệm thực tế trên lớp học của mình để tiếp tục dạy tốt hơn cho những bài học, môn học khác; Bồi dưỡng cho GV
kĩ năng viết chuyên đề và tổ chức sinh hoạt chuyên đề nhằm nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ.
2 Đối với học sinh
Giúp cho các em hiểu hết mục đích ý nghĩa, tầm quan trọng của việc “rèn kỹ năng đọc”, rèn luyện các kỹ năng cơ bản
Giúp các em hứng thú học tập và phát triển năng lực tư duy, hăng hái phát biểu xây dựng bài, tích cực trình bày các vấn đề được nêu, hay nêu thắc mắc, không thỏa mãn với các câu trả lời của mọi người, kể cả câu trả lời của bản thân, chịu khó tư duy trước các vấn đề khó, kiên trì giải quyết các bài tập theo nhiều cách khác nhau
III PHÂN TÍCH SƯ PHẠM
1 Giới thiệu, phân tích chương trình
Mỗi tuần học 8 tiết, cả năm học (35 tuần) 280 tiết Học kì I: 18 tuần; học kì II: 17 tuần Trong tổng số 35 tuần học, có 31 tuần học bài mới, 4 tuần dành cho ôn tập và kiểm tra định kì (tuần 10, tuần 18, tuần 28, tuần 35).
Học kì I: Gồm 5 chủ điểm, học trong 18 tuần: Tuần 1, 2, 3: Thương người như
thể thương thân (Lòng nhân ái); Tuần 4, 5, 6: Măng mọc thẳng (Tính trung thực, lòng tự trọng); Tuần 7, 8, 9: Trên đôi cánh ước mơ (Ước mơ); Tuần 10: Ôn tập giữa HKI; Tuần
11, 12, 13: Có chí thì nên (nghị lực); Tuần 14, 15, 16, 17: Tiếng sáo diều (vui chơi); Tuần 18: Ôn tập cuối HKI.
Học kì II: Gồm 5 chủ điểm, học trong 17 tuần: Tuần 19, 20, 21: Người ta là hoa
đất (năng lực, tài trí); Tuần 22, 23, 24: Vẽ đẹp muôn màu (óc thẩm mĩ); Tuần 25, 26, 27: Những người quả cảm (lòng dũng cảm); Tuần 28: Ôn tập giữa HKII; Tuần 29, 30, 31: Khám phá thế giới (du lịch, thám hiểm); Tuần 32, 33, 34: Tình yêu cuộc sống (lạc quan yêu đời); Tuần 35: Ôn tập cuối HKII
Ngoài ra còn tích hợp GDMT - GDKNS trong môn Tiếng Việt lớp 4 bao gồm: Các tích hợp nội dung giáo dục lòng nhân ái, tính trung thực và giáo dục kĩ năng sống thông qua môn học là: Thông qua các ngữ liệu dùng để dạy kiến thức và kĩ năng, thể
Trang 3hiện ở các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn; cung
cấp cho HS những hiểu biết về vẽ đẹp của thiên nhiên Giáo dục lòng dũng cảm, tinh thần lạc quan, yêu đời.
2 Nội dung kiến thức, kỹ năng và PPKTDH sát đối tượng học sinh
2.1 Phân tích mối liên hệ, hệ thống mạch KT-KN (Kiến thức nền) ở lớp 3:
* Yêu cầu phân môn tập đọc lớp 3: Củng cố, phát triển KN đọc trơn, đọc thầm được hình thành ở lớp 1, 2, 3; tăng cường tốc độ đọc, biết đọc lướt để chọn thông tin nhanh Phát triển kỹ năng đọc - hiểu: Nắm và vận dụng được một số khái niệm như đề tài, cốt truyện nhân vật, tính cách, để hiểu ý nghĩa của bài và phát hiện một vài giá trị nghệ thuật trong các bài văn thơ (Yêu cầu trọng tâm) Mở rộng vốn hiểu biết về tự nhiên
xã hội và con người để góp phần hình thành nhân cách con người mới.
* Nội dung dạy - học ở lớp 3: Củng cố năng cao kỹ năng đọc cho học sinh:
- Ở lớp 3 tiếp tục củng cố nâng cao kỹ năng đọc trơn, đọc thầm đã được hình thành, phát triển từ các lớp dưới; giúp học sinh nâng cao kỹ năng đọc - hiểu văn bản cụ thể là: Nhận biết đề tài cấu trúc của bài; biết tóm tắt bài, làm quen với thao tác đọc lướt
để nắm ý; Phát hiện giá trị của một số biện pháp nghệ thuật trong các văn bản văn chương cùng với các phân môn Kể chuyện, Tập làm văn, phân môn tập đọc còn xây dựng cho học sinh thói quen tìm đọc sách ở thư viện, dùng sách công cụ (Tự điển, sổ tay
từ ngữ, ngữ pháp) và ghi chép những thông tin cần thiết khi đọc.
- Mở rộng vốn hiểu biết, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm nhân cách cho HS: Nội dung các bài tập đọc phản ánh một số vấn đề cơ bản về đạo đức, phẩm chất, sở thích, thú vui lành mạnh của con người thông qua ngôn ngữ văn học và những hình tượng giàu chất thẩm mỹ và nhân văn, do đó có tác dụng mở rộng tầm hiểu biết, tầm nhìn về tự nhiên, xã hội và đời sống, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và nhân cách cho học sinh
2.2 Khai thác trọng tâm kiến thức - kĩ năng thuộc chuyên đề (Lớp 4)
a) Mục đích yêu cầu
Củng cố, phát triển kĩ năng đọc trơn, đọc thầm đã được hình thành ở các lớp dưới; tăng cường tốc độ đọc, khả năng đọc lướt để chọn thông tin nhanh; khả năng đọc diễn cảm.
Phát triển kĩ năng đọc – hiểu lên mức độ cao hơn : nắm và vận dụng được một số khái niệm như đề tài, cốt truyện, nhân vật, tính cách,…để hiểu ý nghĩa của bài và phát hiện một vài giá trị nghệ thuật trong bài văn, thơ.
Mở rộng vốn hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người để góp phần hình thành nhân cách của con người mới.
b) Nội dung dạy học
Trang 4Gồm 63 bài tập đọc thuộc các loại hình văn bản nghệ thuật, báo chí, khoa học, trong đó có 45 bài văn xuôi (1 bài là trích đoạn kịch), 17 bài thơ Tiếp tục củng cố, nâng cao kĩ năng đọc một cách đầy đủ, toàn diện cho HS nhằm hoàn thiện yêu cầu cần đạt ghi
trong Chương trình Tiểu học do Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành: Đọc đúng và lưu loát các văn bản nghệ thuật, hành chính, khoa học, báo chí,…có độ dài khoảng 250-300 chữ với tốc độ 85-90 chữ/phút; đọc có biểu cảm bài văn, bài thơ ngắn; hiểu nội dung, ý nghĩa của bài đọc.
Giúp HS nâng cao kĩ năng đọc – hiểu văn bản: Nhận biết được đề tài, cấu trúc của bài; nắm được dàn ý của bài; biết tóm tắt đoạn, bài; hiểu được ý nghĩa của bài; biết phát hiện và bước đầu nhận định về giá trị của một số nhân vật, hình ảnh trong các bài đọc có giá trị văn chương; làm quen với thao tác đọc lướt để nắm ý hoặc chọn ý.
Nội dung các bài đọc, ngoài việc phản ánh một số vấn đề cơ bản về đạo đức, phẩm chất của con người như ở SGK TV4, thông qua ngôn ngữ văn học và những hình tượng giàu chất thẩm mĩ, nhân văn, các bài tập đọc có tác dụng GD tình cảm, tư tưởng
và trau dồi nhân cách cho HS Hệ thống các chủ điểm của các bài tập đọc trong SGK TV4 vừa mang tính khái quát cao, vừa có tính hình tượng góp phần cung cấp cho HS những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội, con người trong nước và thế giới Qua các bài tập đọc, HS còn được cung cấp thêm về vốn từ ngữ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn học (như đề tài, cốt truyện, nhân vật,…) từ đó, nâng cao trình độ văn hóa nói chung, trình độ tiếng Việt nói riêng.
c) Dự kiến các phương pháp kỹ thuật dạy học (PPKTDH) hình thức tổ chức
DH thích hợp
Làm việc cá nhân, phiếu học tập, hợp tác nhóm, thảo luận, DH ngoài lớp học, học
ở thư viện, trò chơi…
* Hướng dẫn đọc
- Đọc thành tiếng:
+ Đọc mẫu: Ở lớp dưới thường do GV đảm nhận Đối với lớp 4, GV có thể chỉ
định một HS khá giỏi đọc mẫu trước GV chỉ nên đọc mẫu toàn bài khi cả lớp đã hoàn thành các bước luyện đọc trơn, trước khi tìm hiểu bài và chuyển sang bước luyện đọc diễn cảm Các hình thức đọc mẫu bao gồm: Đọc từ, cụm từ nhằm hướng dẫn cách phát
âm đúng, sửa cách phát âm sai Đọc câu, đoạn, bài nhằm hướng dẫn cách đọc diễn cảm
+ Dùng lời nói kết hợp chữ viết, kí hiệu và đồ dùng dạy học, hướng dẫn HS cách nghỉ hơi, tốc độ đọc, giọng đọc thích hợp
+ Tổ chức cho HS đọc cá nhân (đọc trong nhóm, đọc trước lớp), nhận xét cách đọc của HS, sửa lỗi phát âm hoặc lỗi thể hiện nội dung qua giọng đọc cho HS; đọc theo vai (phối hợp nhiều HS đọc) Ở lớp 4, nên hạn chế số lần đọc đồng thanh (chỉ đọc đồng
Trang 5thanh khi cần thiết, ví dụ : muốn khắc sâu ấn tượng về nhịp điệu của đoạn văn, bài thơ; giúp HS dễ dàng ghi nhớ đoạn bài cần học thuộc lòng; thay đổi hoạt động, tạo không khí hào hứng cho lớp học) và tăng cường hình thức đọc cá nhân.
+ Đọc thành tiếng để luyện đọc hay (hoặc đọc diễn cảm): GV cần căn cứ vào nội dung, phong cách văn bản để dẫn dắt, gợi mở HS tìm ra cách đọc và tập thể hiện bằng giọng đọc (đây là kĩ năng đọc cần được chú trọng rèn luyện ở lớp 4)
+ Đối với loại hình văn bản nghệ thuật : GV hướng dẫn HS đọc diễn cảm thông qua việc dẫn dắt, gợi mở HS thể hiện tình cảm, thái độ qua giọng đọc phù hợp với sự việc, hình ảnh, cảm xúc, tính cách nhân vật trong bài (bước đầu biết làm chủ được giọng đọc sao cho đúng về ngữ điệu, về tốc độ, cao độ, trường độ và âm sắc nhằm diễn tả đúng nội dung đọc) Tuy nhiên, đọc diễn cảm cũng còn phụ thuộc vào sự cảm nhận riêng của từng cá nhân, GV không nên áp đặt cho HS một cách đọc khuôn mẫu
+ Đối với loại hình văn bản phi nghệ thuật: GV hướng dẫn HS xác định ngữ điệu đọc sao cho phù hợp với mục đích thông báo (làm rõ những thông tin cơ bản, giúp người nghe tiếp nhận được những vấn đề quan trọng hay nổi bật trong văn bản); khắc phục những cách đọc thiên về hình thức hoặc “diễn cảm” tùy tiện của HS Tiểu học
+ Học thuộc lòng: HS tự nhẩm HTL các khổ thơ, bài thơ hay đoạn văn theo chỉ định trong SGK
- Đọc thầm: Giao nhiệm vụ để định hướng rõ yêu cầu đọc thầm cho HS (đọc câu
nào, đoạn nào, đọc để trả lời câu hỏi hay để ghi nhớ, thuộc lòng; đọc để trả lời câu hỏi nào ? ) Giới hạn thời gian để tăng dần tốc độ đọc thầm cho HS và tăng dần độ khó của nhiệm vụ (đọc lướt để tìm từ ngữ hay chi tiết, hình ảnh nhất định trong 2 phút, 1 phút; đọc lướt để nêu nội dung chính của đoạn, của bài trong 2 phút, 1 phút,…)
* Hướng dẫn tìm hiểu bài
GV hướng dẫn HS tìm hiểu bài nhằm mục đích trau dồi kĩ năng đọc – hiểu, góp phần nâng cao năng lực cảm thụ văn học và tạo cơ sở cho HS luyện đọc diễn cảm Để hướng dẫn HS tìm hiểu bài đạt kết quả tốt, ngay từ khi yêu cầu HS tiếp cận văn bản nhằm mục đích đọc đúng (luyện đọc), GVcần giúp các em hiểu nghĩa của một số từ ngữ
có tác dụng góp phần nâng cao kĩ năng đọc – hiểu (từ ngữ được chú giải trong SGK, từ ngữ phổ thông mà HS địa phương chưa quen, từ ngữ đóng vai trò quan trọng để hiểu nội dung bài đọc) Dựa vào câu hỏi, bài tập trong SGK, GV hướng dẫn HS tìm hiểu bài theo một số yêu cầu sau:
- Nêu rõ câu hỏi để định hướng cho HS đọc thầm (đoạn, bài) và trả lời đúng nội dung (có kết hợp cho HS đọc thành tiếng, những HS khá đọc thầm, sau đó trao đổi, thảo luận về vấn đề do GV nêu ra).
Trang 6- Dùng nguyên văn câu hỏi, bài tập trong SGK hoặc có thể chia tách thành 1, 2 ý nhỏ để HS thực hiện, hoặc bổ sung thêm câu hỏi phụ có tác dụng dẫn dắt HS trả lời câu hỏi hay thực hiện bài tập trong sách được dễ dàng (tùy theo trình độ HS trong lớp); tránh đặt thêm câu hỏi khai thác nội dung vượt quá yêu cầu bài học và không phù hợp với trình độ HS lớp 4
- Bằng nhiều hình thức tổ chức khác nhau (làm việc theo nhóm hoặc cá nhân, theo cặp đôi,…) GV tạo điều kiện cho HS luyện tập một cách tích cực, trả lời câu hỏi, trao đổi ý kiến, thực hiện nhiệm vụ (hoặc yêu cầu của bài tập), sau đó báo cáo kết quả để nhận xét Trong quá trình tìm hiểu bài, GV cũng rèn cho HS cách trả lời câu hỏi, diễn đạt
ý bằng câu văn gọn rõ, dùng từ đúng; sau khi HS nêu ý kiến, GV sơ kết ngắn gọn, nhấn mạnh ý chính và có thể ghi bảng (kết hợp cho HS ghi vào vở để rèn kĩ năng ghi chép ở lớp 4).
2.3 Kiến thức kế thừa: kiến thức, kỹ năng ở lớp 5
- Đọc thành tiếng và đọc thầm: Biết đọc phù hợp với các loại văn bản khác nhau
(nghệ thuật, hành chính, khoa học, báo chí,…) Biết đọc một màn kịch hoặc một vở kịch ngắn có giọng đọc phù hợp với nhân vật và tình huống kịch; Biết đọc diễn cảm một bài thơ hoặc một đoạn văn đã đọc; Đọc thầm với tốc độ nhanh hơn.
- Đọc hiểu: Biết tìm đại ý, tóm tắt bài văn, chia đoạn, rút ra dàn ý của bài; Nhận ra
các mối quan hệ giữa các nhân vật, sự kiện trong bài; Bước đầu biết đánh giá nhân vật, chi tiết và ngôn ngữ trong các bài tập đọc có giá trị văn chương; Hiểu các kí hiệu, các dạng viết tắt, các số liệu trên sơ đồ, biểu đồ, bảng hiệu,…
- Kĩ năng phụ trợ: Biết dùng tự điển; Biết ghi chép các thông tin đã học; Thuộc
lòng một số bài văn vần và đoạn văn xuôi.
3 Dự kiến khó khăn, sai lầm của HS, GV và cách khắc phục
3.1 Những khó khăn, sai lầm
Từ việc tìm hiểu nghiên cứu Tôi luôn chú ý theo dõi, quan sát tình hình học tập của học sinh trong từng tiết dạy, nhất là kỹ năng đọc và tìm hiểu nội dung của bài trong những giờ học; trao đổi với đồng nghiệp sau những giờ tập đọc, đồng thời nghiên cứu hồ
sơ quản lý học sinh, các bài kiểm tra được lưu trữ Tôi nhận thấy:
- Có nhiều học sinh đọc đúng, nhanh và diễn cảm tốt nhưng cũng có không ít học sinh đọc còn ngắc ngứ, lí nhí, ngừng nghỉ chưa đúng chỗ, ngắt giọng hoặc nhấn giọng chưa đúng, chưa biết đọc diễn cảm Trong quá trình đọc, một số em còn hấp tấp, không chuẩn bị kỹ cho việc đọc nên đọc quá nhanh, dẫn đến sai từ, thêm hoặc bớt từ làm ảnh hưởng đến ý nghĩa của bài văn, bài thơ.
- Còn về kỹ năng tìm hiểu bài: Đứng ở góc độ quan sát, xem học sinh đọc và trao đổi cùng giáo viên dạy năm học trước và giáo viên dạy cùng khối: Về cơ bản các em đã
Trang 7có thể trả lời được nhưng cách thể hiện của các em vẫn chưa đạt được yêu cầu cao, đôi khi các em chưa hiểu được nội dung bài nên nhiều câu trả lời các em chỉ trả lời ngắn gọn chưa trọn vẹn, và cách diễn đạt ở các câu từ chưa phù hợp
Tổng số
học sinh
Đọc phát
âm sai
Đọc ngắt nghỉ sai
Đọc đúng Đọc diễn cảm
3.2 Nguyên nhân hạn chế
Giáo viên chưa thường xuyên rèn đọc, rèn phát âm, những phụ âm sai; nhiều giáo viên đọc chưa hay, chưa đúng Hơn nữa trong giờ tập đọc giáo viên chưa chú ý đến học sinh đọc sai, chỉ chú ý đến học sinh đọc đúng, đọc hay; còn nặng về phương pháp truyền thống, nặng thuyết trình không chú ý năng lực chủ động của học sinh; khi đọc diễn cảm giáo viên chỉ gọi học sinh khá đọc; chưa chú ý đến việc rèn đọc cho học sinh
Chưa chú ý đến đọc nối tiếp, đọc cho bạn nghe và ngược lại Chưa chú ý đến khâu rèn đọc thường xuyên ở các tiết dạy tập đọc và các tiết học khác Còn về học sinh: không chú ý đến cách hướng dẫn đọc, không nghe những bạn đọc đúng để học tập, để đọc đúng, những em đã đọc đúng thì chưa chịu rèn kỹ năng đọc diễn cảm (đọc hay) Việc chuẩn bị bài của các em ở nhà chưa kỹ, không luyện đọc nhiều lần trước khi đến lớp.
3.3 Biện pháp khắc phục
Hướng dẫn học sinh xác định được mục đích yêu cầu và tầm quan trọng rèn kỹ năng đọc và tìm hiểu bài trong giờ tập đọc
Học sinh xem kỹ năng tìm hiểu bài và chú ý tập trung vào luyện đọc Trong giờ học tạo điều kiện để các em mạnh dạn tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài, khả năng cảm thụ trong văn học của học sinh.
Giao việc cụ thể cho lớp tự quản và điều hành trong hoạt động học tập.
Giáo viên phát huy tính tích cực của học sinh, khen thưởng kịp thời, động viên để kích thích và phát triển tư duy cho học sinh, tạo điều kiện để các em tham gia phát biểu ý kiến, tranh luận, đề xuất để từ đó kiến thức được thấm dần vào học sinh một cách nhẹ nhàng và tự nhiên
Giáo viên mạnh dạn áp dụng và đổi mới phương pháp giảng dạy và hình thức tổ chức sinh động, linh hoạt, khâu dẫn dắt hay chuyển mạch từ nội dung này sang nội dung khác hấp dẫn và thu hút học sinh học tập.
4 Chuẩn bị thiết bị dạy học, tài liệu tham khảo và các vấn đề khác
- Đối với giáo viên: Trước hết giáo viên phải đọc hay (đọc diễn cảm) Để đạt được
yêu cầu trên thì giáo viên phải rèn luyện bản thân mình đọc đúng, đọc hay; soạn bài và
Trang 8thiết kế các hoạt động cụ thể của thầy và trò ở từng đoạn của bài; phải chú ý đến khâu rèn đọc cho học sinh, chú ý đến đối tượng học sinh đọc chậm Giáo viên phải nên chỉnh sửa khi học sinh phát âm sai hoặc đọc chưa đúng Lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức học tập cho phù hợp với đối tượng của lớp mình; đồng thời sưu tầm đồ dùng dạy học, tranh ảnh minh hoạ phục vụ cho bài dạy để học sinh hứng thú học tập tiếp thu bài sâu hơn Chú ý đến yêu cầu của phân môn tập đọc : Đó là rèn đọc, rèn đọc càng nhiều càng tốt.
- Đối với học sinh: Yêu cầu học sinh đọc kỹ trước bài ở nhà, có đọc trước bài ở
nhà học sinh mới biết được từ nào khó đọc, hay sai để đến lớp nghe cô hướng dẫn sửa chữa và tự phát hiện ra tại sao mình đọc chưa đúng và tại sao mình đọc chưa hay Học sinh thường xuyên rèn đọc đúng ở bất kỳ một văn bản nào nói chung hay trong các tiết tập đọc nói riêng Cần có sự ham thích đọc, có ý thức tự luyện đọc Sưu tầm sách, báo, truyện để đọc
Để giải quyết được mục đích yêu cầu của tiết tập đọc và khắc phục những nguyên nhân tồn tại đã nêu trên Tôi đã tiến hành thực hiện các giải pháp, biện pháp những nội dung cụ thể sau:
5 Phát hiện đề xuất trong dạy học hoặc kinh nghiệm sư phạm bước đầu 5.1 Hướng dẫn rèn đọc đúng
Ở lớp 4 kỹ năng đọc của học sinh đã được nâng cao, nhiều học sinh có thể đọc đạt tới trình độ chuẩn trong những trường hợp nhất định Do vậy tôi thường gọi một số học sinh khá, giỏi đọc làm mẫu trước toàn bài sau đó gọi học sinh đọc nối tiếp đoạn kết hợp giảng từ khi các em đọc tôi kết hợp:
- Tuyên dương và khen ngợi những em đọc đúng, cho cả lớp noi theo
- Dùng lời nói kết hợp chữ viết, ký hiệu và đồ dùng dạy học, hướng dẫn học sinh cách ngắt nghỉ hơi, tốc độ đọc, giọng đọc thích hợp Mỗi đoạn gọi 2, 3 học sinh đọc Gọi học sinh khác nhận xét bạn và đọc lại, chú ý đọc ngắt nghỉ những cụm từ trong những câu văn dài, bài văn xuôi
Ví dụ: Bài “Thưa chuyện với mẹ’’
“Bất giác,/ em lại nhớ đến ba người thợ nhễ nhại mồ hôi/ mà vui vẽ bên tiếng bễ thổi “phì phào”, / tiếng búa con, / búa lớn theo nhau đập “cúc cắc” / và những tàn lửa đỏ hồng, / bắn tóe lên / như khi đốt cây bông.
- Sau khi học sinh phát hiện câu dài, giáo viên ghi vào bảng phụ gọi 2, 3 em đọc Các em khác nhận xét bạn ngắt nghỉ đúng chưa, ngắt hơi, nghỉ hơi sau với những tiếng nào, em có đồng ý không ? Mời em đó đọc lại Học sinh đọc và ngắt hoặc nghỉ để các bạn khác nhận xét bổ sung, giáo viên thống nhất cách đọc
Trang 9- Đối với những em đọc chậm tôi chú ý cho các em đó đọc nhiều hơn Hôm nay đọc một câu, ngày mai đọc hai câu và tăng dần số câu Các em khác chú ý nghe nhận xét
bổ sung bạn đọc Nếu bạn vẫn đọc sai tiếp tục cho em đó đọc Trong khi đọc nối tiếp đoạn kết hợp đặt câu hỏi gợi ý để các em trả lời hiểu những từ được chú thích trong bài
để học sinh hiểu nghĩa của từ.
Ví dụ: Bài “Thưa chuyện với mẹ”
Khi đọc đoạn 1 có từ mới, tôi đặt câu hỏi: Qua đoạn vừa đọc em hiểu.
“Thầy có nghĩa là gì ?”
- HS trả lời: còn gọi là bố, ba, cha.
- Đặc biệt với các từ ở các địa phương khác, giáo viên cần cho các em hiểu từ đó
ở địa phương mình có nghĩa là gì?
Ví dụ: Bài “Chị em tôi”có từ: ráng (cố gắng); thầy (bố, ba, cha); thiệt (thật )
- Trong phần rèn đọc đúng này, tôi tổ chức cho các em đọc cá nhân, đọc trong nhóm, luyện đọc theo cặp, đọc trước lớp (đọc cho bạn nghe và ngược lại) nhận xét bạn đọc và sửa nếu bạn đọc sai
- Đối với những em đọc chậm, đọc sai tôi nhẹ nhàng gọi học sinh đọc lại để sửa, động viên khuyến khích kịp thời để các em tự tin hơn và không chán nản, mặc cảm Tôi
luôn dùng những từ “gần đúng” để các em có ý thức tự đọc để vươn lên Ngoài ra, tôi
cho các em đọc tốt ngồi kèm những em đọc yếu trong khi luyện đọc ở lớp như vậy việc luyện đọc nhóm, đọc theo cặp đạt kết quả cao hơn.
* Đối với các bài thơ
- Đọc đúng trong bài thơ không những phát âm đúng phải biết ngắt nghỉ theo nhịp thơ, nhấn giọng các từ ngữ Khi đọc cần ngắt nhịp 2/3 hay 3/4 hay 4/4 Gọi học sinh đọc các khổ thơ cho các em nhận xét ngắt nhịp đúng chưa, ngắt nhịp ở những tiếng nào ? Giáo viên ghi khổ thơ vào bảng để học sinh nói cách ngắt nhịp, nhận xét bổ sung, giáo viên thống nhất
Ví dụ: bài “Nếu chúng mình có phép lạ”
- Gọi học sinh đọc, nhận xét và thống nhất cách ngắt nhịp: 2/4 hay 3/3.
“Chớp mắt / thành cây đầy quả//
Ngủ dậy / thành người lớn ngay Hóa trái bom / thành trái ngon Chỉ toàn kẹo / với bi tròn.
5.2 Hướng dẫn rèn đọc thầm
- Đọc thầm là yêu cầu cao, đọc thầm với tốc độ nhanh và hiệu quả hơn (nắm bắt đầy đủ thông tin cảm thụ tốt văn bản nghệ thuật) Hướng dẫn học sinh đọc thầm tôi giao
Trang 10nhiệm vụ cụ thể để định hướng rõ yêu cầu đọc thầm cho học sinh (đọc câu nào, đoạn nào; đọc để trả lời câu hỏi hay để ghi nhớ, hoặc học thuộc lòng).
- Giới hạn thời gian để tăng dần tốc độ đọc thầm cho học sinh Cách thực hiện biện pháp này là từng bước rút ngắn thời gian đọc của học sinh và tăng dần độ khó của nhiệm vụ Thông thường tôi sử dụng đọc thầm cho học sinh tìm bài văn có mấy đoạn, hoặc đọc thầm để suy nghĩ trả lời những câu hỏi Khi đọc thầm giáo viên phải giao nhiệm vụ cụ thể, nhằm định hướng việc đọc - hiểu.
Ví dụ: Trong bài “Rất nhiều mặt trăng”
Học sinh đọc thầm đoạn một trả lời câu hỏi:
- Hỏi: Nhà vua lo lắng điều gì?
- Học sinh trả lời: “Nhà vua lo lắng, vì đêm đó trăng sáng vằng vặt trên bầu trời, công chúa nhận ra mặt trăng đeo trên cổ không phải mặt trăng thật sẽ ốm trở lại”.
- Hỏi: Vì sao các vị đại thần và cá nhà khoa học một lần nữa không giúp được nhà vua?
- Gọi học sinh trả lời, bạn nhận xét bổ sung, giáo viên chốt lại cuối cùng
* Đọc kết hợp giảng
Đọc kết hợp với tìm hiểu nội dung nghệ thuật của văn bản trau dồi kỹ năng đọc hiểu, nắm bắt thông tin bước đầu qua đọc, các em cảm thụ được cái hay, cái đẹp của bài văn, bài thơ tạo điều kiện cho các em đọc diễn cảm cả bài.
Ngoài việc rèn đọc đúng (phải luyện đọc) giúp HS hiểu nghĩa của từ ngữ thông qua đọc và trả lời những câu hỏi thông qua từ ngữ để học sinh hiểu được nội dung bài đọc Tôi giao nhiệm vụ bài tập cụ thể ở từng đoạn cho học sinh trả lời nhận xét, trao đổi báo cáo kết quả để nhận xét Khi tổ chức lớp học tôi cho các em hoạt động nhiều Tôi cố gắng phối hợp đàm thoại thầy - trò với đàm thoại trò - trò Ngoài hình thức cả lớp cùng tìm hiểu dưới sự hướng dẫn của giáo viên, tôi còn chọn thêm những hình thức khác như :
- Chia lớp thành các nhóm để HS cùng nhau trao đổi câu hỏi Sau đó, đại diện các nhóm trả lời trước lớp GV điều khiển lớp đối thoại, nêu nhận xét thảo luận tổng kết.
- Chỉ định 1-2 em điều khiển lớp trao đổi về bài đọc dựa theo các câu hỏi trong sách giáo khoa Học sinh điều khiển lớp có thể bổ sung câu hỏi như: “Bạn cho mình biết
….” GV chỉ nói những điều cần thiết để khắc sâu, gây ấn tượng về những gì học sinh trao đổi, thu lượm được Giáo viên là người chốt lại cuối cùng hoặc nhất trí trả lời của các em Trong khi học sinh trả lời, tôi chú ý cách diễn đạt cách dùng từ ngữ của các em
để các em vận dụng ở các môn học khác.
5.3 Rèn đọc diễn cảm, đọc hay
Yêu cầu học sinh đọc đúng, diễn cảm, nên phải dành thời gian thích hợp.
* Đối với văn bản nghệ thuật ,các bài văn xuôi: