Những điểm giống nhau Những điểm khác nhau Yêu cầu cần đạt chuẩn đầu ra của CT môn Mĩ thuật lớp 5 trong CT mới với chuẩn kiến thức, kĩ năng CT môn Mĩ thuật lớp 5 hiện hành Chương tr
Trang 11
Dự thảo 1
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN ĐIỀU CHỈNH NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH HIỆN HÀNH THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018
MÔN MĨ THUẬT LỚP 5
Trang 22
Mục lục
Một số điểm giống nhau và khác nhau giữa Chương trình giáo dục phổ thông môn mĩ
thuật lớp 5 hiện hành và Chương trình giáo dục phổ thông môn mĩ thuật lớp 5 mới
Một số điểm giống nhau, khác nhau cơ bản giữa chương trình hiện hành với chương trình
mới môn mĩ thuật lớp 5
Những điểm giống nhau
Những điểm khác nhau
Yêu cầu cần đạt (chuẩn đầu ra) của CT môn Mĩ thuật lớp 5 trong CT mới với chuẩn kiến
thức, kĩ năng CT môn Mĩ thuật lớp 5 hiện hành
Chương trình mới
Chương trình hiện hành
Chủ đề dạy học môn mĩ thuật ở lớp 5 của CT hiện hành
Dạy học theo chủ đề trong CT mới
Dạy học môn mĩ thuật lớp 5 theo yêu cầu hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực
học sinh
Năng lực và dạy học phát triển năng lực học sinh
Các phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh trong CT mới
Các năng lực cốt lõi trong CT mới
Năng lực chung
Trang 33
Năng lực đặc thù môn mĩ thuật
Tổ chức dạy học mĩ thuật lớp 5
Theo CT hiện hành
Theo chương trình mới
Môn mĩ thuật trong Chương trình giáo dục phổ thông mới
Xây dựng kế hoạch dạy học môn mĩ thuật lớp 5 ứng với nội dung dạy học theo từng
tuần của năm học
Một số nội dung của Chương trình hiện hành cần điều chỉnh trên cơ sở cấu trúc và nội
dung của Chương trình mới
Rà soát, điều chỉnh nội dung sách giáo khoa lớp 5 hiện hành (lược bỏ và bổ sung cập
nhật)
Điều chỉnh cấu trúc nội dung dạy học
Thiết kế kế hoạch dạy học các chủ đề môn Mĩ thuật lớp 5
Phương pháp dạy học hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực học sinh đối với
môn mĩ thuật
Dạy học định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh
Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học cụ thể áp dụng vào dạy học mĩ thuật lớp 5
Dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ
Học theo dự án
Kỹ thuật mảnh ghép
Trang 44
Kỹ thuật sơ đồ tư duy
Kỹ thuật khăn trải bàn
Kỹ thuật “ổ bi”
Kỹ thuật “Bể cá”
Một số điểm cần lưu ý khi triển khai các phương pháp, kỹ thuật dạy học hình thành,
phát triển phẩm chất và năng lực học sinh đối với dạy học môn mĩ thuật lớp 5
Lựa chọn phương pháp, kỹ thuật dạy học khi thiết kế một bài học để giải quyết 1 chủ đề cụ
thể
Dạy học để học sinh tham gia một cách tích cực vào quá trình học tập môn mĩ thuật
Dạy và học mĩ thuật hiệu quả ở trường tiểu học là quá trình học sinh có cảm giác thoải
mái và chủ động tham gia, không bị gò ép, bắt buộc
Học sinh cần hỗ trợ từ nhiều phía trong quá trình học tập môn mĩ thuật:
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng hình thành và phát triển năng lực
học sinh qua môn mĩ thuật lớp 5
Kiểm tra, đánh giá trong dạy học
Một số vấn đề về kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo hướng hình thành và phát triển
phẩm chất và năng học sinh
Một số phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học
sinh áp dụng đối với môn Mĩ thuật lớp
Đánh giá qua quan sát
Trang 55
Tự đánh giá
Hồ sơ học tập Nhìn lại quá trình Đánh giá theo tiêu chí
Một số hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn mĩ thuật lớp 5 theo hướng hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
Đánh giá đầu vào Đánh giá hình thành Đánh giá tổng kết Đánh giá đồng đẳng
Nội dung 1 Một số điểm giống nhau và khác nhau giữa Chương trình giáo dục phổ thông môn mĩ thuật lớp 5 hiện hành và Chương trình giáo dục phổ thông môn mĩ thuật lớp 5 mới
Hoạt động 1 Học viên nghiên cứu cá nhân hai chương trình môn mĩ thuật lớp 5 và xác định những điểm giống nhau
và khác nhau căn bản về: cấu trúc, nội dung, yêu cầu cần đạt
Mục tiêu của hoạt động 1
Sau khi thực hiện hoạt động này, học viên sẽ:
- Thấy rõ điểm khác nhau căn bản giữa chương trình mĩ thuật lớp 5 hiện hành và chương trình mĩ thuật lớp 5 mới;
- Phân tích, so sánh được các yêu cầu cần đạt (chuẩn đầu ra) của CT môn Mĩ thuật lớp 5 trong CT mới với chuẩn kiến thức, kĩ năng CT môn Mĩ thuật lớp 5 hiện hành
Trang 66
- Giải thích được sự khác nhau giữa 2 chương trình
I Một số điểm giống nhau, khác nhau cơ bản giữa chương trình hiện hành với chương trình mới môn mĩ thuật lớp 5
1 Những điểm giống nhau:
+ Học sinh được học các phần lý luận và lịch sử mỹ thuật
+ Tạo điều kiện cho học sinh áp dụng những kiến thức mĩ thuật vào học tập và thực tiễn cuộc sống, thấy được giá trị của
mĩ thuật trong cuộc sống, có ý thức và biết cách giữ gìn, phát huy các giá trị mĩ thuật truyền thống
+ Đảm bảo tính đồng tâm phát triển về nhận thức và kỹ năng tạo hình cho học sinh
+ Đảm bảo tính logic, liên quan với các môn học khác
Trang 77
1.3 Về đánh giá kết quả học tập:
+ Kết hợp đánh giá quá trình với đánh giá tổng kết sau bài học;
+ Đánh giá theo các mức độ đạt được, bằng nhận xét, xếp loại Nhận xét để động viên, khuyến khích học sinh tiến bộ hơn sau mỗi bài học
+ Đánh giá theo đặc điểm học sinh, điều kiện vùng miền
2 Những điểm khác nhau:
2.1 Về nội dung
+ Chương trình hiện hành phân tách môn học thành 5 phân môn nhỏ: Vẽ theo mẫu, vẽ trang trí, vẽ tranh, thường thức mĩ thuật và tập nặn tạo dáng Chương trình mới không phân tách thành 5 phân môn nhỏ mà yêu cầu sáng tạo sản phẩm mĩ thuật 2D và 3D
+ Chương trình hiện hành có phân môn vẽ theo mẫu; có nội dung “kẻ chữ” trong phân môn Vẽ trang trí Chương trình mới cắt bỏ phân môn Vẽ theo mẫu và cắt bỏ nội dung “Kẻ chữ”
+ Chương trình hiện hành không có nội dung Thủ công, kỹ thuật Chương trình mới có thêm nội dung thủ công
+ Chương trình hiện hành không phân tách loại hình mĩ thuật tạo hình và mĩ thuật ứng dụng Chương trình mới có phân tách loại hình mĩ thuật tạo hình và mĩ thuật ứng dụng Trong đó, mĩ thuật ứng dụng bao hàm nội dung môn học “thủ công” trước đây
+ Chương trình hiện hành không nội dung tạo hình Đồ họa (tranh in) Chương trình mới có nội dung Đồ họa (tranh in) + Chương trình hiện hành không gợi ý các chủ đề tạo hình cụ thể, giáo viên sẽ thực hiện theo sách giáo khoa Chương trình mới có gợi ý các chủ đề tạo hình Dựa vào các bài tập tạo hình cụ thể, ở các thời điểm khác nhau, với đặc điểm vùng miền, đặc điểm học sinh, giáo viên chủ động chọn chủ đề phù hợp
+ Chương trình hiện hành không thể hiện mục tiêu hình thành các phẩm chất chủ yếu, các năng lực cốt lõi và năng lực đặc thù của môn học Chương trình mới thể hiện các yêu cầu cần đạt về 5 phẩm chất, các năng cốt lõi gồm: 3 cặp năng lực
Trang 82.3 Về đánh giá kết quả giáo dục
Chương trình hiện hành hướng dẫn các cách đánh giá kết quả học tập của học sinh không chỉ căn cứ theo kết quả bài học
mà còn đánh giá thông qua các hoạt động học tập trong quá trình dạy học Chương trình mới có đặt ra yêu cầu về hình thức đánh giá cụ thể như: Đánh giá chẩn đoán, đánh giá thường xuyên và đánh giá tổng kết Đối với tiểu học, chương trình đặt ra yêu cầu chủ yếu đánh giá định tính nhằm hình thành và phát triển các phẩm chất và năng lực của học sinh
Chương trình hiện hành, mỗi bài học đặt ra các yêu cầu về mức độ cần đạt (tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức,
kỹ năng môn mĩ thuật ở lớp 5) là các mức độ tối thiểu mà tất cả học sinh phải đạt được Bên cạnh đó, có phần quy định riêng mức độ với học sinh khá, giỏi Chương trình mới không có hướng dẫn cụ thể mà giáo viên phải tự xác định các phẩm chất
và năng lực đang có của học sinh Từ đó, lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập của học sinh
để hình thành/ tiếp tục phát triển các phẩm chất và năng lực quy định trong chương trình theo các mức độ khác nhau
II Yêu cầu cần đạt (chuẩn đầu ra) của CT môn Mĩ thuật lớp 5 trong CT mới với chuẩn kiến thức, kĩ năng CT môn
Mĩ thuật lớp 5 hiện hành
1 Chương trình mới
Mĩ thuật tạo hình
Trang 99
Quan sát và nhận thức thẩm mĩ:
- Nhận biết được một số yếu tố và dấu hiệu của nguyên
lý tạo hình ở sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật
- Phân biệt được tranh vẽ, tranh in, tượng và phù điêu
- Nhận biết được yếu tố thẩm mĩ ở sản phẩm, tác phẩm,
- Thể hiện được yếu tố chính, phụ ở sản phẩm
- Vận dụng được một số nguyên lý tạo hình như: cân
bằng, tương phản, lặp lại… ở mức độ đơn giản trong thực
hành, sáng tạo
- Biết làm quen với sử dụng thiết bị công nghệ trong
thực hành, sáng tạo hoặc lưu trữ sản phẩm
- Phân biệt được một số hình thức tạo sản phẩm hội họa,
đồ họa, điêu khắc trong thực hành sáng tạo
Yếu tố và nguyên lý tạo hình:
Trang 1010
Phân tích và đánh giá thẩm mĩ
- Lựa chọn được các hình thức giới thiệu, biết mô tả yếu
tố tạo hình ở sản phẩm; biết tự đánh giá hoạt động thực hành,
- Phân biệt được vật liệu tự nhiên, vật liệu nhân tạo, vật
liệu sưu tầm, tái sử dụng ở sản phẩm thủ công
Sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ:
- Xác định được đối tượng thể hiện, mục đích sáng tạo
- Làm được sản phẩm dựa trên đặc điểm của sản phẩm
- Biết vận dụng dấu hiệu của một số nguyên lý tạo hình
Yếu tố và nguyên lý tạo hình:
Lựa chọn, kết hợp:
Yếu tố tạo hình: Chấm, nét, hình, khối, màu sắc, đậm nhạt,
chất cảm, không gian
Nguyên lý tạo hình: Cân bằng, tương phản, lặp lại, nhịp điều,
nhấn mạnh, chuyển động, tỷ lệ, hài hòa
Thể loại: Thủ công
Lựa chọn, kết hợp:
- Đồ thủ công bằng vật liệu tự nhiên
- Đồ thủ công bằng vật liệu nhân tạo
- Đồ thủ công bằng vật liệu sưu tầm, tái sử dụng
Hoạt động thực hành và thảo luận:
Thực hành:
Trang 11Thấy được đặc điểm của mẫu
- Tìm, chọn mẫu theo hướng dẫn ở SGK,
có thể tìm mẫu ở địa phương có hình dạng tương đương
- Tìm nhiều mẫu tương đương để học sinh có thể vẽ theo nhóm và so sánh tìm
ra đặc điểm chung và riềng
Trang 12- Biết cách đặt mẫu có sáng tối rõ ràng
- Biết sắp xếp hình vẽ cân đối với trang giấy
- Bước đầu nhận biết độ đậm, độ nhạt theo sáng tối của mẫu
- Bước đầu nhận biết được màu sắc của
mẫu
Kỹ năng:
- Vẽ được hình sát với mẫu
- Bước đầu làm quen với cách vẽ theo khung hình
- Vẽ có độ đậm nhạt và vẽ theo mẫu bằng màu
- Quan sát sáng tối để vẽ nét có đậm, có nhạt theo 3 mức độ: đậm, đậm vừa, nhtaj
- Chú ý khi kẻ chữ nét thanh nét đậm ở những chữ khó
- Cách sắp xếp khoảng cách giữa các con chữ trong cùng một dòng chữ
Trang 13Thấy được đặc điểm của mẫu
- Minh họa màu sắc bằng nhiều hình thức, chất liệu khác nhau
- Cho học sinh quan sát những bài tập có hòa sắc nóng, hòa sắc lạnh
- Vẽ màu theo nội dung bài và có sắc độ đậm nhạt
3 Vẽ tranh
Trang 14- Biết vẽ màu phù hợp với nội dung đề tài
Kỹ năng:
Vẽ được tranh có đề tài cụ thể
động, sinh hoạt và cảnh vật thiên nhiên (có thể dùng tranh ảnh)
- Giới thiệu tranh có bố cục đơn giản, khác nhau để học sinh quan sát
- Phân tích sự hải hòa của màu sắc trong tranh
4 Thường thức mĩ thuật
Tìm hiểu tác phẩn hội họa và điêu khắc Kiến thức
Biết tên và hiểu sơ lược về tác phẩm hội họa, điêu khắc và thân thế sự nghiệp của tác giả
Kỹ năng:
- Nêu được chủ đề chính của tác phẩm qua cách xây dựng bố cục, hình ảnh, cách dùng màu của tác giả
- Nhớ tên tác giả, tác phẩm
- Chuẩn bị các tranh phiên bản
- Tìm thêm ảnh tác giả cho học sinh xem khi giới thiệu tác phẩm
Nhận biết được hình dáng, đặc điểm các
bộ phận của đối tượng
- Chuẩn bị đồ dùng dạy học: tranh ảnh,
đồ vật phù hợp với nội dung đề tài
Trang 15 Bài tập cho hoạt động 1
- Học viên nghiên cứu và có ý kiến thêm những điểm giống và khác nhau của CT hiện hành và CT mới của môn mĩ thuật
- Học viên trao đổi, thảo luận trong nhóm và cho ý kiến: CT hiện hành của môn mĩ thuật có hình thành và phát triển năng lực của học sinh không?
+ Nếu không thì hãy cho biết tại sao?
+ Nếu có, theo thầy cô, đến lớp 5 học sinh đã được hình thành những phẩm chất và năng lực nào? CT hiện hành mĩ thuật lớp
5 góp phần phát triển thêm những phẩm chất và năng lực nào?
Hoạt động 2 Trao đổi nhóm và lựa chọn các chủ đề dạy học môn mĩ thuật lớp 5 theo chương trình mới phù hợp với
điều kiện nhà trường
Mục tiêu của hoạt động 2
Sau khi thực hiện hoạt động này, học viên sẽ:
- Biết cách lựa chọn các chủ đề phù hợp trong số các chủ đề gợi ý trong Chương trình giáo dục môn mĩ thuật mới
- Biết cách lựa chọn phương thức tạo hình phù hợp để tổ chức dạy học hiệu quả mỗi chủ đề
Trang 1616
- Biết thiết lập các chủ đề liên môn trong quá trình dạy học phát triển phẩm chất năng lực học sinh đối với môn mĩ thuật
1 Chủ đề dạy học môn mĩ thuật ở lớp 5 của CT hiện hành
Với chương trình hiện hành, mức độ cần đạt của môn mĩ thuật được quy định về kiến thức, kỹ năng qua mỗi bài học (tuần/ tiết/ bài) trên cơ sở nội dung chương trình Đây là yêu cầu cơ bản, tối thiểu nhất mà học sinh cần phải đạt được sau khi học xong tiết học, bài học, tuần học Những học sinh không đạt các yêu cầu cơ bản tối thiểu này coi như chưa hoàn thành yêu cầu bài học Việc đạt được các yêu cầu tối thiểu này được thông qua kết quả thực hiện các bài tập cụ thể của 5 phân môn: Thường thức mĩ thuật, vẽ trang trí, vẽ tranh đề tài, vẽ theo mẫu và tập nặn tạo dáng tự do Học sinh được hướng dẫn thực hiện bài tập thông qua các chủ đề khác nhau Các chủ đề này không được quy định trong CT hiện hành mà được quy định trong Sách giáo khoa và Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kỹ năng Giáo viên thực hiện theo và hầu như không có sự thay đổi
Trang 1717
Trang 1818
2 Dạy học theo chủ đề trong CT mới:
Dạy học theo chủ đề được thống nhất trong nội dung và yêu cầu cần đạt của CT mới ở cấp tiểu học Dạy học theo chủ
đề là sự kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống và hiện đại, ở đó giáo viên không dạy học chỉ bằng cách truyền thụ kiến thức mà còn hướng dẫn học sinh tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ có ý nghĩa thực
tiễn
Trong quá trình thực hiện, học sinh được nghiên cứu sâu các chủ đề dưới sự hướng dẫn của giáo viên Các em được giao bài tập làm việc cá nhân hoặc làm việc theo từng nhóm với từng nội dung cụ thể Việc thảo luận và hợp tác tìm ra giải pháp cho vấn đề chủ đề đặt ra giúp học sinh phát triển khả năng học độc lập và các năng lực chung và năng lực đặc thù của môn mĩ thuật Qua quá trình tự khám phá và thực hành, học sinh hiểu biết vấn đề sâu hơn là chỉ nghe giảng và chép bài
Khi dạy học theo chủ đề:
- Các nhiệm vụ học tập được giao cho học sinh và các em chủ động tìm hướng giải quyết vấn đề
- Kiến thức không bị dạy riêng lẻ mà được tổ chức lại theo một hệ thống Vì vậy, kiến thức các em tiếp thu được là những khái niệm trong một mạng lưới quan hệ chặt chẽ
Trang 1919
- Mức độ hiểu biết của học sinh sau phần học không chỉ là hiểu, biết, vận dụng mà còn biết phân tích, tổng hợp, đánh giá
- Kiến thức không chỉ là kiến thức mà còn liên quan đến những lĩnh vực và trong cuộc sống
Với cách tiếp cận dạy học theo chủ đề, học sinh không những được tăng cường tích hợp các vấn đề cuộc sống, thời sự vào bài giảng mà còn tăng cường sự vận dụng kiến thức của học sinh sau quá trình học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn, rèn luyện các kỹ năng sống vốn rất cần cho trẻ hiện nay
* Quy trình lựa chọn và xây dựng nội dung dạy học một chủ đề đối với môn mĩ thuật:
Bước 1 Lựa chọn chủ đề phù hợp
Trước khi quyết định lựa chọn chủ đề nào để thực hiện, giáo viên quan tâm tới:
- Đặc điểm học sinh, vùng miền, đặc điểm tộc người
Có những chủ đề phù hợp với đối tượng học sinh này nhưng có thể không, hoặc chưa phù hợp với đối tượng học sinh khác Chính vì thế, trong Chương trình giáo dục phổ thông môn mĩ thuật có gợi ý nhiều chủ đề khác nhau của một lớp để giáo viên lựa chọn dạy học cho phù hợp
Ví dụ: Với những chủ đề: Thiên nhiên, Con người, Gia đình và Nhà trường đáp ứng yêu cầu cần đạt phần mĩ thuật tạo hình đối với học sinh lớp 5 trong CT mới, rất có thể với chủ đề Thiên nhiên, học sinh ở vùng nông thôn sẽ có nhiều cảm xúc hơn học sinh ở thành phố Bởi không gian sống đối với học sinh vùng nông thôn thoáng đãng hơn, cây cỏ hoa lá nhiều hơn
sẽ tạo nên những ấn tượng về thiên nhiên mạnh mẽ hơn không gian sống ở vùng đô thị chật hẹp
Học sinh ở mỗi vùng địa lý có các phong tục tập quán, đặc điểm tộc người và nghi lễ tôn giáo khác nhau Theo đó, khi chọn chủ đề cũng cần phù hợp với những đặc điểm này
Ví dụ: Với tiểu chủ đề “trang trí mặt nạ” trong chủ đề “Xã hội” sẽ không thực sự phù hợp với một số tộc người chỉ sử dụng mặt nạ trong những dịp cúng tế, trong những nghi lễ đặc biệt mang màu sắc huyền bí, linh thiêng
- Thời điểm tổ chức dạy học chủ đề
Trang 2020
Ở những thời điểm khác nhau, mỗi chủ đề gợi nên những cảm xúc khác nhau, hoặc là gần gũi, hoặc là không gắn kết với không khí chung Việc liên kết chủ đề học tập với không gian thời gian, với không khí chung có thể tạo ra sự kết nối quan trọng, tạo ra mối liên hệ liên quan rất nhiều tới kết quả bài tập
Ví dụ: Học sinh được học tập chủ đề “Nhà trường” vào dịp 20/11 sẽ tạo sự kết nối với các hoạt động khác đang diễn
ra chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam Tác động của không gian và khí thế chung trong trường học có ảnh hưởng tới tâm lý học tập của học sinh khi thực hiện các bài tập có chủ đề “Nhà trường”
Việc lựa chọn chủ đề cũng có thể góp phần ứng phó với tình hình thời sự diễn ra về đời sống, xã hội, môi trường… trong những tình huống này, việc giáo viên lựa chọn chủ đề phù hợp sẽ giúp học sinh có những cách tiếp cận khác nhau với tình hình thời sự đang diễn ra Qua đó hình thành các phẩm chất như: mối quan tâm, sự chia sẻ, đồng cảm… đồng thời khơi gợi ý thức trách nhiệm trong cuộc sống qua bài học/ chủ đề
- Điều kiện để có thể tiến hành học tập chủ đề
Với những học sinh có nhận thức tốt, học tập và sinh sống trong môi trường được tiếp cận với nhiều nguồn thông tin, các em sẽ xử lý được những chủ đề khó trong chương trình Ngược lại, có những không sinh chưa đủ khả năng và thông tin
để xử lý các chủ đề khó thì giáo viên nên cân nhắc, lựa chọn chủ đề thích hợp và gần gũi
Ví dụ: Trong CT mới, khi phải lựa chọn giữa 2 chủ đề “Quê hương” và chủ đề “Đất nước”, đại đa số các em sẽ khá khó khăn vì hai chủ đề này không thật sự rõ ràng đối với yêu cầu về mặt tạo hình khi yêu cầu học sinh lớp 5 thể hiện tư duy
và cảm xúc của mình Nhưng có thể các em học sinh ở vùng có điều kiện tiếp xúc với thông tin xã hội nhiều hơn, các em có thể nhận diện được chủ đề này ở nhiều khía cạnh khác nhau và có thể thực hiện được
Trang 2121
Bước 3 Xác định mục tiêu, yêu cầu cần đạt
Dựa vào yêu cầu cần đạt đối với mỗi khối lớp trong Chương trình giáo dục phổ thông, giáo viên lựa chọn mục tiêu và yêu cầu cần đạt cho chủ đề
Ví dụ:
Mục tiêu dạy học chủ đề “Thiên nhiên” đối với lớp 5:
- Học sinh lựa chọn, phối hợp được các vật liệu khác nhau để tạo nên một bức tranh, một tác phẩm sắp đặt về thiên nhiên theo tư duy của lứa tuổi
- Học sinh sử dụng được các yếu tố tạo hình khác nhau để mô phỏng được phong cảnh, sự vật, hiện tượng của cuộc sống xung quanh
- Học sinh vận dụng được một số nguyên lý tạo hình như cân bằng, tương phản, lặp lại… ở mức độ đơn giản trong quá trình tạo hình một sản phẩm có chủ đề “Thiên nhiên”
Bước 4 Xác định thời gian để hoàn thành bài tập theo chủ đề
Thiên nhiên
Biển
Hoa lá
Mây núi
Sông nước
Ruộng vườn
Cánh đồng
Trang 2222
Một chủ đề có thể được thực hiện trong một tiết và có thể nhiều hơn một tiết học tùy mục đích yêu cầu đặt ra
Bước 5 Thiết kế các hoạt động, các cách thức tạo hình theo chủ đề
Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý, khả năng của học sinh, giáo viên thiết kế các hoạt động học tập vừa sức, phù hợp Tùy điều kiện cơ sở vật chất từng trường, giáo viên có thể lựa chọn giải pháp tạo hình vừa phát huy trí tưởng tượng,
óc sáng tạo, khả năng tạo hình của học sinh vừa đảm bảo các yêu cầu cần đạt trong Chương trình giáo dục đã đặt ra
Khi thiết kế các hoạt động tổ chức dạy học môn mĩ thuật, giáo viên lưu ý:
- Không nhất thiết phải dồn ép các hoạt động để đạt được các mục tiêu về kiến thức kỹ năng ngay khi bắt đầu bài học Đầu tiên, hãy thu hút, tạo sự hấp dẫn cho học sinh với giờ học bằng các hoạt động khởi động, dẫn dắt như: Trò chơi, đố vui hoặc một vài hình thức thi vui vẻ…
- Giáo viên phải định hình được trong quá trình thiết kế: Hoạt động nào hoặc chuỗi các hoạt động nào sẽ giúp học sinh có được nhận thức ở tầng bậc nào: Biết/ hiểu/ vận dụng/ phân tích/ đánh giá/ sáng tạo Hoạt động nào và chuỗi hoạt động nào hình thành và phát triển phẩm chất nào, năng lực nào của học sinh Hoạt động nào hoặc chuỗi hoạt động nào phù hợp với mức độ nhận thức và kỹ năng của đa số học sinh Hoạt động nào hoặc chuỗi các hoạt động nào có thể giúp giáo viên phân hóa học sinh một cách rõ nét nhất
- Giáo viên cũng phải đưa vào các hoạt động các ý đồ nhằm hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực cụ thể cho học sinh Đặc biệt là các năng lực đặc thù môn mĩ thuật
1 Học viên hoạt động theo nhóm để thực hành các bước lựa chọn và xây dựng một nội dung dạy học theo chủ đề ở lớp 5
2 Học viên phát hiện những khó khăn khi bắt tay vào lựa chọn và xây dựng một nội dung dạy học theo chủ đề môn
mĩ thuật
Trang 2323
Nội dung 2 Dạy học môn mĩ thuật lớp 5 theo yêu cầu hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
Hoạt động 1 Học viên nghiên cứu cá nhân tài liệu liên quan về các phẩm chất và năng lực cần hình thành và phát
triển cho học sinh lớp 5 thông qua dạy học môn mĩ thuật theo CT mới
Sau khi thực hiện hoạt động này, học viên sẽ:
- Nắm được các phẩm chất chủ yếu, các năng lực cốt lõi và năng lực đặc thù cần hình thành và phát triển cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng thông qua học tập môn mỹ thuật
- So sách được sự giống nhau và khác nhau về cách tổ chức dạy học mĩ thuật lớp 5 theo CT hiện hành và cách tổ chức dạy học mĩ thuật lớp 5 theo CT mới
- Thiết kế được bài học để tổ chức dạy học được theo yêu cầu hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực học sinh qua môn mĩ thuật lớp 5
1 Năng lực và dạy học phát triển năng lực học sinh 1 :
Năng lực chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể Năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động, nó là điều kiện của hoạt động, nhưng cũng phát triển trong chính hoạt động đó Quá trình dạy học, giáo dục nhằm hình thành, rèn luyện, phát triển năng lực ở cá nhân tất yếu phải đưa cá nhân tham gia vào các hoạt động
Nói đến năng lực là nói tới một kết quả nào đó của một công việc cụ thể, do một con người cụ thể thực hiện (năng lực học tập, năng lực tư duy, năng lực tự quản lý bản thân, … Vậy không tồn tại năng lực chung chung
Năng lực là sự tác động của một cá nhân cụ thể tới một đối tượng cụ thể để có một sản phẩm nhất định
a) Phân biệt năng lực với kiến thức, kỹ năng, thái độ:
1 Modun2 “Sử dụng phương pháp dạy học mỹ thuật phát triển phẩm chất năng lực học sinh” Dự án RGEP 2020
Trang 24Thái độ: Cách nhìn, cách nghĩ, cách hành động trên cơ sở nhận thức chủ quan trước một vấn đề, một tình hình Thái độ luôn chứa đựng ý thức rõ ràng về mục đích và hành động của chủ thể và có tác dụng chi phối nhất định tới hoạt động thực tiễn của cá nhân
Năng lực: Được cấu thành từ những bộ phận cơ bản:
- Kiến thức về lĩnh vực hoạt động;
- Kỹ năng tiến hành hoạt động;
- Những điều kiện tâm lí để tổ chức và thực hiện tri thức, kỹ năng đó trong một cơ cấu thống nhất và theo một định hướng rõ ràng, chẳng hạn ý chí- động cơ, tình cảm- thái độ đối với nhiệm vụ,…
Như vậy, “Kĩ năng” chỉ là một yếu tố cơ bản và quan trọng cấu thành nên năng lực Đôi khi năng lực có thể thể hiện dưới dạng kỹ năng, kĩ xảo (khả năng thực hiện thành thục một loại hoạt động nào đấy trong một hoặc nhiều bối cảnh khác nhau) Đồng thời, nếu chỉ có kiến thức, kỹ năng, thái độ, một cách riêng rẽ thì cũng không tạo thành năng lực mà phải có
sự kết hợp linh hoạt và có tổ chức các thành tố này
Phát triển năng lực cần dựa trên cơ sở phát triển các thành phần (kiến thức, kỹ năng, thái độ), trong đó phải được “thực hành”, huy động tổng hợp các thành phần trong các tình huống đa dạng, từ đó mà năng lực được hình thành, phát triển
b) Quan hệ giữa nội dung kiến thức và năng lực
Tiếp cận năng lực được cụ thể hóa bằng một sản phẩm nhân cách với các phẩm chất và năng lực làm tiêu điểm hướng tới của tất cả các yếu tố cấu thành Chương trình mới, đó là: nội dung, phương thức, hình thức dạy học, giáo dục; kiểm tra-
Trang 2525
đánh giá, quản lý, kiểm định chất lượng; kế hoạch giáo dục; mô hình hoạt động của nhà trường phổ thông; năng lực nghề nghiệp giáo viên Vì vậy, Chương trình giáo dục theo tiếp cận năng lực còn được gọi là chương trình theo tiếp cận chuẩn đầu ra
Năng lực và nội dung kiến thức đều có vai trò vừa là mục tiêu, vừa là nội dung giáo dục hình thành nhân cách Trong mối quan hệ năng lực -nội dung có tác động hai chiều năng lực được cấu trúc bởi kiến thức, kỹ năng, thái độ Như vậy, muốn có năng lực ắt phải có kiến thức, muốn có thái độ tất yếu phải tổ chức cho người học hoạt động, đến lượt mình hoạt động chỉ thực hiện được bằng việc vận dụng kiến thức, kỹ năng để giải quyết một nhiệm vụ có giá trị trong một bối cảnh nhất định Nội dung kiến thức vừa có chức năng nguyên liệu- là “Cái” để chủ thể nhận thức gia công trí tuệ trong quá trình giải quyết vấn đề có giá trị nhận thức và đời sống, qua đó hình thành được phương thức hành động, tức là biết “Cách” làm Hoạt động lại được xuất hiện trong tình huống sư phạm Kiến thức là thành tố chính của năng lực nên khi thiết kế bài học,
giáo viên phải lựa chọn cấu trúc, thành phần nội dung kiến thức sao cho có giá trị trong nhận thức và đời sống
Các môn học và hoạt động giáo dục trong nhà trường áp dụng các phương pháp tích cực hoá hoạt động của học sinh, trong đó giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động cho học sinh, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề để khuyến khích học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, nguyện vọng của bản thân, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và những kiến thức, kỹ năng đã tích luỹ được để phát triển
Các hoạt động học tập của học sinh bao gồm hoạt động khám phá vấn đề, hoạt động luyện tập và hoạt động thực hành (ứng dụng những điều đã học để phát hiện và giải quyết những vấn đề có thực trong đời sống), được thực hiện với sự hỗ trợ của thiết bị dạy học, đặc biệt là công cụ tin học và các hệ thống tự động hoá của kĩ thuật số
Các hoạt động học tập nói trên được tổ chức trong và ngoài khuôn viên nhà trường thông qua một số hình thức chủ yếu sau: học lí thuyết; thực hiện bài tập, thí nghiệm, trò chơi, đóng vai, dự án nghiên cứu; tham gia xêmina, tham quan, cắm trại, đọc sách; sinh hoạt tập thể, hoạt động phục vụ cộng đồng
Tuỳ theo mục tiêu, tính chất của hoạt động, HS được tổ chức làm việc độc lập, làm việc theo nhóm hoặc làm việc chung cả lớp nhưng phải bảo đảm mỗi HS được tạo điều kiện để tự mình thực hiện nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tế
Trang 2626
2 Các phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh trong CT mới
Các phẩm chất chủ yếu hình thành vàphát triển cho học sinh cấp tiểu học trong Chương trình giáo dục phổ thông2
Phẩm chất Yêu nước:
+ Yêu thiên nhiên và có những việc làm thiết thực bảo vệ thiên nhiên
+ Yêu quê hương, yêu tổ quốc, tôn trọng các biểu trưng của đất nước
+ Kính trọng, biết ơn người lao động, người có công với quê hương, đất nước; tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa đối với những người có công với đất nước
Phẩm chất Nhân ái:
* Yêu quý mọi người
+ Yêu thương, quan tâm chăm sóc người thân trong gia đình
+ Yêu quý bạn bè, thầy cô; quan tâm động viên, khích lệ bạn bè
+ Tôn trọng người lớn tuổi, giúp đỡ người già, người ốm yếu, người khuyết tật; nhường nhịn và giúp đỡ em nhỏ + Biết chia sẻ với những bạn có hoàn cảnh khó khăn, các bạn ở vùng sâu, vùng xa, người khuyết tật và đồng bào bị ảnh hưởng của thiên tai
* Tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người:
+ Tôn trọng sự khác biệt của bạn bè trong lớp về cách ăn mặc, tính nết và hoàn cảnh gia đình
+ Không phân biệt, đối xử, chia rẽ các bạn
+ Sẵn sàng tha lỗi vì những hành vi mắc lỗi của bạn
2 Yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu của học sinh – Chương trình giáo dục phổ thông (ban hành kèm theo Thông tư số 32…)
Trang 2727
Phẩm chất Chăm chỉ:
* Ham học:
+ Đi học đầy đủ, đúng giờ
+ Thường xuyên hoàn thành nhiệm vụ học tập
+ Ham học hỏi, thích đọc sách để mở rộng hiểu biết
+ Có ý thức học được kiến thức, kỹ năng học được ở nhà trường để vận dụng vào cuộc sống hàng ngày
* Chăm làm:
+ Thường xuyên tham gia các công việc của gia đình vừa sức với bản thân
+ Thường xuyên tham gia các công việc của trường, của lớp vừa sức với bản thân
Phẩm chất Trung thực:
+ Thật thà, ngay thẳng trong học tập, lao động và sinh hoạt hàng ngày; mạnh dạn nói lên ý kiến của mình
+ Luôn giữ lời hứa, mạnh dạn nhận lỗi, sửa lỗi và bảo vệ cái đúng, cái tốt
+ Không tự tiện lấy đồ vật, tiền bạc của người thân, bạn bè, thầy cô và những người khác
+ Không đồng tình với các hành vi thiếu trung thực trong học tập và trong cuộc sống
Phẩm chất Trách nhiệm:
* Có trách nhiệm với bản thân:
+ Có ý thức giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể, chăm sóc sức khỏe
+ Có ý thức sinh hoạt nề nếp
* Có trách nhiệm với gia đình:
Trang 2828
+ Có ý thức bảo quản, giữ gìn đồ dùng cá nhân và gia đình
+ Không bỏ thừa đồ ăn thức uống, có ý thức tiết kiệm tiền bạc, điện nước trong gia đình
* Có trách nhiệm với nhà trường và xã hội:
+ Tự giác thực hiện nghiêm túc nội quy của nhà trường và các quy định, quy ước của tập thể; giữ vệ sinh chung, bảo
vệ của công
+ Không gây mất trật tự, đánh nhau, cãi nhau
+ Nhắc nhở bạn bè chấp hành nội quy trường lớp; nhắc nhở mọi người chấp hành quy định, quy ước nơi công cộng + Có trách nhiệm với công việc được giao ở trường, ở lớp
+ Tích cực tham gia các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội phù hợp với lứa tuổi
* Có trách nhiệm với môi trường sống:
+ Có ý thức chăm sóc và bảo vệ cây xanh và các con vật có ích
+ Có ý thức giữ vệ sinh môi trường, không xả rác bừa bãi
+ Không đồng tình với các hành vi xâm hại thiên nhiên
3 Các năng lực cốt lõi trong CT mới
* Năng lực chung:
Năng lực tự chủ và tự học
- Tự lực: Tự làm được những công việc của mình ở nhà và ở trường theo sự phân công, hướng dẫn
- Tự khẳng định, bảo vệ quyền và nhu cầu chính đáng: Có ý thức về quyền và mong muốn của bản thân; bước đầu biết cách trình bày và thực hiện một số quyền lợi và nhu cầu chính đáng
- Tự điều chỉnh tình cảm, thái độ và hành vi của mình:
Trang 29+ Tìm được những cách giải quyết khác nhau cho cùng một vấn đề
+ Thực hiện được các nhiệm vụ khác nhau với các yêu cầu khác nhau
- Định hướng nghề nghiệp:
+ Bộc lộ được sở thích, khả năng của bản thân
+ Biết tên, hoạt động chính và vai trò của một số nghề nghiệp; liên hệ được những hiểu biết đó với nghề nghiệp của người thân trong gia đình
- Tự học, tự hoàn thiện:
+ Có ý thức tổng kết và trình bày được những điều đã học
+ Nhận ra và sửa chữa sai sót trong bài kiểm tra qua lời nhận xét của thầy cô
+ Có ý thức học hỏi thầy cô, bạn bè và người khác để củng cố và mở rộng hiểu biết
+ Có ý thức học tập và làm theo những gương người tốt
Năng lực giao tiếp và hợp tác
- Xác định được mục đích,nội dung, phương tiện và thái độ giao tiếp
+ Nhận ra được ý nghĩa của giao tiếp trong việc đáp ứng các nhu cầu của bản thân
+ Tiếp nhận được những văn bản về đời sống, tự nhiên và xã hội có sử dụng ngôn ngữ kết hợp với hình ảnh như truyện tranh, bài viết đơn giản
Trang 3030
+ Bước đầu biết sử dụng ngôn ngữ kết hợp với hình ảnh, cử chỉ để trình bày thông tin và ý tưởng
+ Tập trung chú ý khi giao tiếp; nhận ra được thái độ của đối tượng giao tiếp
- Thiết lập, phát triển các mối quan hệ xã hội; điều chỉnh và hóa giải các mâu thuẫn
+ Có hiểu biết ban đầu về một số nước trong khu vực và trên thế giới
+ Biết tham gia một số hoạt động hội nhập quốc tế theo hướng dẫn của nhà trường
Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Trang 3131
- Nhận ra ý tưởng mới: Biết xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới đối với bản thân từ các nguồn tài liệu cho sẵn theo hướng dẫn
- Phát hiện và làm rõ vấn đề:
+ Biết thu nhận thông tin từ tình huống, nhận ra những vấn đề đơn giản và đặt được câu hỏi
+ Biết thu nhận thông tin từ tình huống, nhận ra những vấn đề đơn giản và đặt được câu hỏi
- Hình thành và triển khai ý tưởng mới: Dựa trên hiểu biết đã có, biết hình thành ý tưởng mới đối với bản thân và dự đoán được kết quả khi thực hiện
- Đề xuất, lựa chọn giải pháp: Nêu được cách thức giải quyết vấn đề đơn giản theo hướng dẫn
- Thiết kế và tổ chức hoạt động:
+ Xác định được nội dung chính và cách thức hoạt động để đạt mục tiêu đặt ra theo hướng dẫn
+ Nhận xét được ý nghĩa của các hoạt động
- Tư duy độc lập: Nêu được thắc mắc về sự vật, hiện tượng xung quanh; không e ngại nêu ý kiến cá nhân trước các thông tin khác nhau về sự vật, hiện tượng; sẵn sàng thay đổi khi nhận ra sai sót
* Năng lực đặc thù môn mĩ thuật:
Năng lực quan sát và nhận thức thẩm mĩ
- Quan sát thẩm mỹ
+ Nhận biết được một số yếu tố thẩm mĩ thẩm mĩ cơ bản trong đời sống và ở sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật
+ Nhận biết được một số yếu tố tạo hình ở đối tượng thẩm mĩ
+ Nhận biết được dấu hiệu của một số nguyên lí tạo hình ở sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật
- Nhận thức thẩm mỹ:
Trang 3232
+ Bước đầu cảm nhận được vẻ đẹp của đối tượng thẩm mĩ
+ Nhận biết được chủ đề của sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật
+ Bước đầu nhận biết được giá trị của sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật trong đời sống
+ Biết liên tưởng vẻ đẹp của đối tượng thẩm mĩ với thực hành sáng tạo
Năng lực sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ
- Sáng tạo thẩm mỹ:
+ Nêu được ý tưởng thể hiện được đối tượng thẩm mĩ ở mức độ đơn giản
+ Vận dụng được một số hình thức thực hành, sáng tạo thể hiện ý tưởng thẩm mĩ
+ Vận dụng được một số yếu tố, nguyên lý tạo hình trong thực hành sáng tạo ở mức độ đơn giản
+ Sử dụng được một số công cụ, thiết bị trong thực hành sáng tạo
- Ứng dụng thẩm mĩ:
- Biết thể hiện tính ứng dụng của sản phẩm trong thực hành, sáng tạo ở mức độ đơn giản
- Biết trưng bày, giới thiệu sản phẩm mĩ thuật của cá nhân và nhóm học tập
- Biết vận dụng sản phẩm, tác phẩm nghệ thuật phục vụ cho học tập và đời sống
* Năng lực phân tích và đánh giá tác phẩm:
Năng lực phân tích thẩm mĩ:
+ Chia sẻ được cảm nhận về đối tượng thẩm mĩ ở mức độ đơn giản
+ Biết tìm hiểu tác giả, sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật
+ Mô tả được một số yếu tố, dấu hiệu của nguyên lý tạo hình ở sản phẩm, tác phẩm mi thuật trong thực hành, thảo luận và liên hệ thực tiễn
Trang 3333
- Đánh giá thẩm mĩ:
+ Bước đầu đánh giá được đối tượng thẩm mĩ thông qua một số yếu tố và nguyên lý tạo hình
+ Bước đầu học hỏi được kinh nghiệm thực hành sáng tạo thông qua đánh giá đối tượng thẩm mĩ
Ở bước này, giáo viên sẽ hướng dẫn cách thực hiện yêu cầu bài tập bằng nhiều cách, nhưng đa số giáo viên thị phạm, làm mẫu Ví dụ: thị phạm cách vẽ một cái chai thông qua các bước Thị phạm cách vẽ một bức tranh thông qua các bước Thị phạm cách vẽ đường diềm, hình vuôn thông qua các bước… Những bước này thường là quy định mang tính cơ bản, không thể bỏ qua
- Học sinh thực hành:
Ở bước này, hoc sinh tập trung thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của bài học Giáo viên thực hiện việc quan sát, hỗ trợ khi cần thiết và nhắc nhở, điều chỉnh nếu học sinh có biểu hiện thực hiện không đúng với yêu cầu của bài
- Đánh giá, nhận xét:
Trang 3434
Giáo viên chủ động nhận xét bài tập của học sinh hoặc gợi ý, yêu cầu học sinh nhận xét bài chéo nhau Đích đến của hoạt động này nhằm xác định kết quả học tập của học sinh theo yêu cầu của bài học
b) Theo chương trình mới
CT mới khuyến khích giáo viên đưa ra nhiều giải pháp đổi mới hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học cho phù hợp, phát huy khả năng sáng tạo của học sinh và hình thành, phát triển các phẩm chất và năng lực trong chương trình
Để đổi mới dạy học, mỗi chủ đề, mỗi bài học nên được thiết kế và tổ chức đảm bảo các hoạt động cơ bản sau đây:
- Khởi động
Mục đích là tạo tâm thế hứng khởi, bắt đầu vào bài học cho học sinh Hoạt động khởi động cũng nhằm mục đích tạo sự
tò mò, quên đi những tác động trước đó, giúp các em tập trung vào nhiệm vụ học tập, hứng thú với học bài mới
Giáo viên sẽ tạo tình huống có liên quan đến nội dung học tập trên cơ sở huy động kiến thức, kinh nghiệm của học sinh, làm cho học sinh có cơ hội bộc lộ những gì đã biết, giúp học sinh nhận ra những điều chưa biết, không biết và nóng lóng muốn được biết Từ đó, giúp học sinh suy nghĩ và bộc lộ suy nghĩ, cách nhìn của mình về vấn đề sẽ diễn ra trong bài học Vì vậy, hoạt động khởi động sẽ hiệu quả nếu giáo viên đưa ra những hình thức tổ chức học tập hấp dẫn học sinh, cuốn học sinh vào những vấn đề cần khám phá tiếp theo
Kết thúc hoạt động khởi động là các “nút thắt” để chuyển tiếp hoạt động Một giáo viên giỏi có thể tạo những nút thắt bất ngờ để dư âm của hoạt động khởi động nối tiếp những cảm xúc tích cực cho các hoạt động tiếp theo
Trang 3535
Kết thúc hoạt động này, trên cơ sở kết quả làm việc của học sinh thể hiện ở các sản phẩm học tập đã sinh hoàn thành, giáo viên đưa ra một số thông tin căn bản, cần thiết để học sinh đối chiếu, ghi nhận, khắc sâu và tiến đến vận dụng
- Luyện tập
Mục đích của hoạt động này là giúp học sinh củng cố, hoàn thiện kiến thức, kỹ năng vừa lĩnh hội được
Trong hoạt động này, học sinh được luyện tập, củng cố các kiến thức, kỹ năng đã được học thông qua việc áp dụng vào giải quyết các yêu cầu trong bài tập thực hành, các câu hỏi, các vấn đề phát sinh khác trong quá trình làm bài…
Kết thúc hoạt động này, nếu cần, giáo viên cần giúp học sinh lĩnh hội cả về tri thức lẫn phương pháp, biết cách thức giải quyết vấn đề đặt ra trong “Hoạt động khởi động”
Hoạt động này giúp học sinh không ngừng học hỏi, thực hành, vận dụng…, không bao giờ dừng lại với những gì đã học
và hiểu rằng ngoài những kiến thức được học trọng nhà trường còn rẩt nhiều điều có thể và cần phải tiếp tục học, luôn có tâm thế học tập suốt đời
Giáo viên cần khuyến khích học sinh tiếp tục tìm tòi, liên hệ và mở rộng kiến thức ngoài sách vở, ngoài lớp học Học sinh tự đặt ra các tình huống có vẩn để nảy sinh từ nội dung bài học, từ thực tiễn cuộc sống, vận dụng các kiên thức, kĩ năng
đã học để giải quyết bằng những cách khác nhau
Trang 3636
Cũng như hoạt động vận dụng, hoạt động này không nhất thiết phải tổ chức ở trên lớp và không nhất thiết tất cả học sinh đều phải tham gia Tuy nhiên, giáo viên cần quan tâm, tổ chức một cách hấp dẫn để động viên, thu hút nhiều học sinh tham gia một cách tự nguyện; khuyển khích những học sinh có sản phẩm chia sẻ với các bạn trong lớp
5 Môn mĩ thuật trong Chương trình giáo dục phổ thông mới 3
Mĩ thuật là môn học thuộc lĩnh vực giáo dục nghệ thuật Trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Mĩ thuật hình thành, phát triển ở học sinh năng lực mĩ thuật, biểu hiện của năng lực thẩm mĩ trong lĩnh vực mĩ thuật; đồng thời góp phần cùng các môn học và hoạt động giáo dục khác hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung, đặc biệt là giáo dục ý thức kế thừa, phát huy văn hoá nghệ thuật dân tộc phù hợp với sự phát triển của thời đại
Chương trình môn Mĩ thuật được xây dựng theo cấu trúc tuyến tính và đồng tâm với hai mạch nội dung Mĩ thuật tạo hình và Mĩ thuật ứng dụng; tạo cơ hội cho học sinh được trải nghiệm và vận dụng mĩ thuật vào đời sống; giúp học sinh nhận thức được mối liên hệ giữa mĩ thuật với văn hoá, xã hội, kết nối mĩ thuật với các môn học và hoạt động giáo dục khác; làm tiền đề cho học sinh định hướng nghề nghiệp trong tương lai, cũng như chủ động tham gia các hoạt động văn hoá nghệ thuật
và đời sống xã hội
Nội dung giáo dục mĩ thuật được phân chia theo hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp
– Giai đoạn giáo dục cơ bản: Mĩ thuật là nội dung giáo dục bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 9 Chương trình tạo cơ hội
chohọc sinh làm quen và trải nghiệm kiến thức mĩ thuật thông qua nhiều hình thức hoạt động; hình thành, phát triển ở học sinh khả năng quan sát và cảm thụ nghệ thuật, nhận thức và biểu đạt thế giới; khả năng cảm nhận và tìm hiểu, thể nghiệm các giá trị văn hoá, thẩm mĩ trong đời sống và nghệ thuật
– Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp: Mĩ thuật là môn học được lựa chọn theo nguyện vọng và định
hướngnghề nghiệp của học sinh Nội dung giáo dục mĩ thuật được mở rộng, phát triển kiến thức, kĩ năng mĩ thuật đã hình thành ở giai đoạn giáo dục cơ bản, tiếp cận các nhóm ngành nghề liên quan đến nghệ thuật thị giác và có tính ứng dụng
3 Đặc điểm môn học trong Chương trình giáo dục phổ thông môn mĩ thuật (ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018…)
Trang 3737
trong thực tiễn; giúp học sinh phát triển tư duy độc lập, khả năng phản biện phân tích và sáng tạo nghệ thuật; hiểu được vai trò và ứng dụng của mĩ thuật trong đời sống; tạo cơ sở cho học sinh được tìm hiểu và có định hướng nghề nghiệp phù hợp với bản thân dựa trên nhu cầu thực tế, thích ứng với xã hội
* Đặc điểm học tập môn mĩ thuật của học sinh tiểu học
- Trẻ em ở lứa tuổi này đã có nhận thức, cảm xúc về thế giới xung quanh và có nhu cầu biểu đạt nó Tuy nhiên, các phương tiện để biểu đạt như viết, nói… còn bị hạn chế rất nhiều Trong khi đó, tạo hình lại là phương tiện biểu đạt phù hợp nhất Thông qua các hình vẽ, nét vẽ, các cách tạo hình, tạo dáng sự vật hiện tượng, thông qua màu sắc, cách sắp xếp bố cục… các em có thể nói lên suy nghĩ, cảm xúc của mình trước những sự vật, hiện tượng, con người và thế giới xung quanh mình
- Màu sắc và hình ảnh từ thế giới xung quanh luôn sinh động vô cùng hấp dẫn trẻ Sự hấp dẫn đó kéo theo sự thu hút
và kích thích nhu cầu khám phá, tìm hiểu Từ khám phá tìm hiểu, các em có nhu cầu biểu đạt lại và bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc của mình cho người khác biết hoặc cho chính bản thân mình được thỏa mãn
- Công việc tạo hình với hàng loạt những thao tác cùng những vật dụng gần gũi nhưng đa dạng, những cách làm dễ dàng nhưng lạ lẫm, những biến hóa không hề khó khăn nhưng đầy bí ẩn… đã luôn hấp dẫn và mê hoặc trẻ
- Được khám phá, phản ánh thế giới sinh động xung quanh, được thể hiện và được ghi nhận bản thân là một nhu cầu rất lớn của trẻ Và công việc tạo hình cùng với những sản phẩm của nó luôn thỏa mãn nhu cầu này của trẻ
Vì vậy, trẻ em lứa tuổi học sinh tiểu học luôn có sự ham thích đặc biệt với môn mỹ thuật Tuy nhiên, các giờ học mĩ thuật sẽ thu hút và có hiệu quả nếu giáo viên có các giải pháp tổ chức các hoạt động phù hợp với trẻ, dẫn dắt, kích hoạt năng lượng, năng lực của từng đứa trẻ Ngược lại, các giờ học mĩ thuật khuôn mẫu, sơ cứng, máy móc, lý thuyết dài dòng sẽ làm cho trẻ không có hứng thú học tập, từ đó xuất hiện tâm lý chán nản, bế tắc và môn mĩ thuật có thể sẽ không đạt được các mục tiêu đặt ra trong Chương trình giáo dục phổ thông
Thông qua các hoạt động dạy học môn mĩ thuật, học sinh được hình thành đồng thời các năng lực chung và năng lực cốt lõi:
Trang 3838
- Tự chủ và tự học, tự tìm tòi, khám phá và tạo sản phẩm mang dấu ấn cá nhân là yêu cầu cơ bản của môn mĩ thuật
Kết quả mỗi bài học mĩ thuật là quá trình hình thành năng lực “Tự chủ, tự học” một cách tự giác nhất của mỗi học sinh
- Thông qua việc tổ chức các hoạt động dạy học mĩ thuật, học sinh có cơ hội trao đổi, thể hiện ý tưởng và thống nhất
phân công nhiệm vụ, cách thức thực hiện cũng như cùng nhau quyết định các vấn đề liên quan đến bài tập… năng lực “Giao
tiếp và hợp tác” được thể hiện một cách cụ thể
- Mỗi nội dung bài học là một thách thức mang tính cá nhân với học sinh: Từ việc tìm ý tưởng đến việc quyết định giải pháp, thời gian đầu tư thực hiện, đến việc vượt qua những rào cản về mặt kỹ thuật, đối mặt với những độ khó, thậm chí
“thất bại” của công việc tạo hình, đến việc kết nối các ngôn ngữ tạo hình để tạo nên tiếng nói chung tác động đến thị giác và cảm xúc người thưởng thức… học sinh đều phải tự mình hoặc cùng bạn bè giải quyết Từ những vấn đề đơn giản đến phức
tạp, môn mĩ thuật giúp học sinh vượt qua chính mình và “vỡ òa” với những thành quả đạt được Năng lực “Giải quyết vấn
đề” trở nên rõ ràng hơn thông qua việc các hoạt động trong thực hành môn học
- Với môn mĩ thuật, không có đáp án chung cho các sản phẩm của mỗi nội dung, chủ đề bài học; không có đích đến cụ thể cho quá trình giải quyết vấn đề, mà chỉ có sự phát hiện, gia công và tái hiện liên tục, sự thăng hoa của cảm xúc và sự điêu luyện của thủ pháp mà thôi Giá trị của mỗi sản phẩm mĩ thuật có thể là sự đổi mới, có thể là sự khác lạ, có thể là sự bất ngờ… Giá trị đó có thể coi là quá trình sáng tạo và bản thân nó là kết quả sáng tạo đúng nghĩa nhất Trong và kết thúc quá trình học tập, mỗi học sinh được tạo cơ hội để sáng tạo, được thúc đẩy và được ghi nhận sự sáng tạo Tiếp nối quá trình ở
nhiều giai đoạn thì năng lực “Sáng tạo” đã được hình thành ở các em và cũng là phẩm chất đặc biệt ở những người được
học tập mĩ thuật
Việc hình thành và phát triển các năng lực cốt lõi đều có tính khả thi đối với các hoạt động thực hành mĩ thuật ở học sinh tiểu học
- Học viên lấy các ví dụ về dấu hiệu biểu hiện của phẩm chất “nhân ái” khi học sinh tham gia thực hiện một chủ đề cụ thể của môn mĩ thuật lớp 5
Trang 3939
- Học viên thiết kế quy trình dạy học một chủ đề cụ thể mĩ thuật lớp 5 áp dụng các hoạt động: Khởi động, khám phá, luyện tập, vận dụng và tìm tòi mở rộng
Hoạt động 2 Học viên lập ma trận tổng thể đối chiếu quan hệ giữa: Chủ đề nội dung, yêu cầu cần đạt, các chỉ báo
phẩm chất, năng lực đối với học sinh lớp 5 khi dạy học một chủ đề cụ thể
Sau khi thực hiện hoạt động này, học viên sẽ:
- Biết cách lập ma trận tổng thể đối chiếu quan hệ giữa: Chủ đề nội dung, yêu cầu cần đạt, các chỉ báo phẩm chất, năng lực đối với học sinh lớp 5 khi dạy học một chủ đề cụ thể
- Biết tổ chức dạy học một bài học, một chủ đề mĩ thuật đáp ứng các yêu cầu liên quan trong ma trận đã lập
- Hướng dẫn được đồng nghiệp trong quá trình xây dựng ma trận
Chủ đề: Là một chủ đề cụ thể quy định, gợi ý trong Chương trình đối với 1 khối lớp cụ thể Giáo viên lựa chọn chủ đề cho phù hợp với điều kiện cụ thể tại thời điểm tổ chức dạy học
Ví dụ: Lựa chọn chủ đề “Nhà trường” trong dịp đầu năm học mới hoặc kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11; lựa chọn chủ đề “Quê hương” để tổ chức dạy học vào các dịp lễ tết, mùa xuân sẽ phù hợp với không khí vui tươi, phong cảnh đẹp… Giáo viên phân tích từ chủ đề lớn để thiết lập ra các chủ đề nhỏ hơn để gần gũi hơn với học sinh về hình ảnh, màu sắc…
Ví dụ; từ chủ đề “Nhà trường”, giáo viên thiết lập các chủ đề nhỏ hơn liên quan đến nhà trường như “Những người bạn nhỏ”, “Cô giáo”, “Lớp em”… để gần gũi hơn và học sinh dễ hình dung đến các yếu tố tạo hình khi thực hiện bài tập
Nội dung chủ
đề
Yêu cầu cần đạt/ chỉ báo năng lực đặc thù
Chỉ báo phẩm chất thông qua nội dung và cách thức tổ chức dạy học
Chỉ báo năng lực chung thông qua nội dung và cách thức tổ chức dạy học
Trang 40+ Nhận biết được một
số yếu tố tạo hình ở đối tượng thẩm mĩ
+ Nhận biết được dấu hiệu của một số nguyên lí tạo hình ở sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật
+ Bước đầu cảm nhận được vẻ đẹp của đối tượng thẩm mĩ
+ Nhận biết được chủ
đề của sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật
+ Bước đầu nhận biết được giá trị của sản phẩm, tác phẩm mĩ
+ Có những việc làm thiết thực bảo
Nhân ái:
* Yêu quý mọi người + Yêu thương, quan tâm chăm sóc người thân trong gia đình
+ Yêu quý bạn bè, thầy cô; quan tâm động viên, khích lệ bạn bè
+ Tôn trọng người lớn tuổi, giúp đỡ người già, người ốm yếu, người khuyết tật; nhường nhịn và giúp đỡ
em nhỏ
+ Chia sẻ với những bạn có hoàn cảnh khó khăn, các bạn ở vùng sâu, vùng xa, người khuyết tật và đồng
- Tự làm được những công việc của mình ở nhà và ở trường theo sự phân công, hướng dẫn
- Tự khẳng định, bảo vệ quyền và nhu cầu chính đáng: Có ý thức về quyền và mong muốn của bản thân; bước đầu biết cách trình bày và thực hiện một số quyền lợi và nhu cầu chính đáng
- Tự điều chỉnh tình cảm, thái độ và hành vi của mình:
+ Nhận biết và bày tỏ được tình cảm, cảm xúc của bản thân; biết chia sẻ tình cảm, cảm xúc của bản thân với người khác
+ Hòa nhã với mọi người, không nói hoặc làm những điều xúc phạm tới người khác
+ Thực hiện đúng kế hoạch học tập, lao động; không mải chơi, làm ảnh hưởng đến việc học