Xây dựng nông thôn mới (NTM) là bước đầu tiên để tiến tới công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành nghị quyết số 26NQTW ngày 582008 về vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Nghị quyết đã xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới đến năm 2020. Ngày 1642009, Thủ Tướng Chính phủ đã có quyết định số 491QĐTTg ban hành bộ tiêu chí quốc gia (bao gồm 19 tiêu chí) về nông thôn mới. Đây là cơ sở để chỉ đạo xây dựng mô hình nông thôn mới nhằm thực hiện các mục tiêu quốc gia về nông thôn phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước 20.
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT IV DANH MỤC BẢNG V
MỞ ĐẦU 1
1 T ÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 2
3 M ỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
3.1 M ỤC TIÊU CHUNG 2
3.2 MỤC TIÊU CỤ THỂ 2
4 Đ ỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 3
4.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: 3
4.2 Phạm vi nghiên cứu: 3
Trang 2DANH MỤC BẢNG
Bảng 2 1: Cơ cấu kinh tế của huyện Nậm Pồ (2016-2018) 36Bảng 2 2: Mức độ đạt được nhóm tiêu chí Hạ tầng kinh tế - xã hội 49Bảng 2 3: Mức độ đạt được nhóm tiêu chí Kinh tế và tổ chức sản xuất 52
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng nông thôn mới (NTM) là bước đầu tiên để tiến tới công nghiệp hóa
và hiện đại hóa Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đãban hành nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về vấn đề nông nghiệp, nông dân
và nông thôn Nghị quyết đã xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới đến năm
2020 Ngày 16/4/2009, Thủ Tướng Chính phủ đã có quyết định số 491/QĐ-TTg banhành bộ tiêu chí quốc gia (bao gồm 19 tiêu chí) về nông thôn mới Đây là cơ sở đểchỉ đạo xây dựng mô hình nông thôn mới nhằm thực hiện các mục tiêu quốc gia vềnông thôn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước [20]
Xây dựng NTM là mục tiêu quốc gia, là vấn đề lớn, nhằm tạo ra sự chuyểnbiến về mọi mặt trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao chấtlượng sống của người dân, đồng thời cũng là để rút ngắn khoảng cách giữa nôngthôn và thành thị Trong quá trình đó, thực hiện chủ trương của đảng về phát triểnnông thôn, Bộ NN - PTNT đã phối hợp với các địa phương tiến hành xây dựng thíđiểm một số mô hình nông thôn mới ở quy mô xã, thôn, ấp, bản Nhưng do nhậnthức chưa thống nhất, chỉ đạo, đầu tư còn phân tán cho nên kết quả đạt được cònhạn chế Đối chiếu với yêu cầu, mục tiêu xây dựng giai cấp nông dân, phát triểnnông nghiệp, xây dựng NTM trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH theo chủ trươngcủa đảng, Nhà nước ta thì việc xây dựng nông thôn mới hiện nay còn rất nhiều vấn
đề khó khăn đặt ra cần phải giải quyết
Tại tỉnh Điện Biên, trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đãtích cực thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, quan tâm chú trọng đầu tưnhiều cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn, trong đó lãnh đạo, chỉ đạo thực hiệngắn liền với việc xây dựng nông thôn mới, chính quyền và nhân dân các địa phươngtích cực hưởng ứng, thực hiện phong trào xây dựng nông thôn mới Huyện Nậm
Pồ tuy mới được thành lập năm 2013 song đã tích cực hưởng ứng và thực hiện chủtrương, phong trào xây dựng nông thôn mới, kết quả đạt được đã dần góp phầnlàm thay đổi diện mạo nông thôn Tuy nhiên, sau 3 năm triển khai thực hiện
Trang 4Chương trình NTM chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện, hạ tầng kinh tế - xã hộinông thôn còn chậm, tỷ lệ hộ nghèo còn cao (chiếm 61,17%), thu nhập bình quânđầu người thấp (đạt 10,33 đồng/người/năm), mức độ đạt được so với các tiêu chíNTM còn thấp (bình quân đạt 5,67 tiêu chí/xã, huyện mới chỉ có 01 xã cơ bản đạtchuẩn NTM) Nguyên nhân đó là: xuất phát điểm các xã còn thấp, việc triển khaicòn lúng túng, hạ tầng KT - XH thiếu, nhu cầu kinh phí đầu tư xây dựng lớn, việchuy động nguồn kinh phí đầu tư trong xây dựng nông thôn mới khó khăn, vai tròtham gia của cộng đồng còn hạn chế, tiến độ triển khai thực hiện chưa đảm bảoyêu cầu, việc xây dựng NTM tại một số xã còn dàn trải, kém hiệu quả
Xuất phát từ những yêu cầu về phát triển nông thôn mới và giải quyết những
khó khăn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên”.
2 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu
Hiện tại trên địa bàn huyện Nậm Pồ chưa có công trình nào nghiên cứu vềthực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.Kết quả nghiên cứu của đề tài xác định được những thành công, bất cập trongquá trình triển khai thực hiện “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nôngthôn mới”, đề xuất các giải pháp có tính khả thi góp phần thúc đẩy quá trình xâydựng nông thôn mới ở huyện Nậm Pồ nói chung, tỉnh Điện Biên nói riêng Vì vậy,đây là luận cứ khoa học phục vụ cho sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quản lý củahuyện Nậm Pồ và UBND các xã Chà Cang, Chà Nưa, xã Si Pa Phìn trong việc thựchiện “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới” của Đảng vàNhà nước
3 Mục tiêu của đề tài
3.1 Mục tiêu chung
Đề tài góp phần quan trọng trong việc đánh giá quá trình xây dựng nông thônmới và đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học góp phần đẩy mạnh quá trình xâydựng Nông thôn mới ở huyện Nậm Pồ đảm bảo nhanh và bền vững
3.2 Mục tiêu cụ thể
Trang 5- Đánh giá thực trạng xây dựng nông thôn mới tại huyện Nậm Pồ, tỉnhĐiện Biên
- Phân tích những thuận lợi khó khăn, cơ hội và thách thức trong quá trình xâydựng nông thôn mới ở huyện Nậm Pồ
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng nôngthôn mới tại huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Chương trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên giaiđoạn 2016 - 2020
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian: Số liệu thu thập được từ các tài liệu đã công bố trong khoảng thờigian từ năm 2015 đến hết năm 2018; số liệu khảo sát thực trạng được điều tra năm
2016, các số liệu dự kiến tính đến năm 2020
- Không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu ở huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1 Chọn điểm điều tra nghiên cứu
Từ khi thành lập huyện Nậm Pồ tích cực triển khai thực hiện Chương trình mụctiêu quốc gia xây dựng NTM của tỉnh, song do cơ sở hạ tầng thấp kém, tỷ lệ hộ nghèocao chiếm 61,17%, trình độ dân trí chưa cao nên đến 6/2019 huyện mới đạt chuẩn 01
xã (Chà Nưa) đạt là xã NTM (đạt 19/19 tiêu chí) Huyện phấn đấu hết năm 2020 cóthêm 02 xã đạt xã NTM (xã Si Pa Phìn, Chà Cang) Đề tài đã lựa chọn 03 xã củahuyện Nậm Pồ để điều tra, gồm:
- Xã Chà Nưa, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, là xã miền núi biên giới cáchtrung tâm huyện khoảng 45 km Xã có 09 bản, có 596 hộ, 2.832 khẩu, tổng diện tíchđất tự nhiên 10.113,71 ha Chà Nưa là xã Điểm trong phát triển phong trào xâydựng NTM của huyện, năm 2018 đạt xã NTM với tiêu chí cơ bản đạt chuẩn 19/19tiêu chí
Trang 6- Xã Si Pa Phìn là xã vùng cao biên giới có đường biên giới giáp với nước bạnLào dài 26,6 km, cách trung tâm huyện 50 km với tổng diện tích đất tự nhiên12.957,23 ha Xã có 16 bản, có 1.103 hộ, 5.863 khẩu, giao thông đi lại tương đốithuận lợi Đến tháng 01/2019 xã đạt được 09/19 tiêu chí về xây dựng NTM, phấnđấu kế hoạch hết năm 2019 xã đạt 14/19 tiêu chí.
- Xã Chà Cang cách huyện Nậm Pồ khoảng 52 km Xã có 6 bản, có 1.026 hộ,4.843 khẩu, tổng diện tích đất tự nhiên 10.831,78 ha Đến tháng 01/2019 xã đạtđược 9/19 tiêu chí về xây dựng NTM, phấn đấu kế hoạch hết năm 2019 xã đạt 11/19tiêu chí
Chọn hộ nghiên cứu: đề tài đã điều tra, phỏng vấn 180 hộ của 03 xã đại diện
cho 03 vùng kinh tế khác nhau của huyện Nậm Pồ gồm các xã: Chà Nưa (60 hộ), Si
Pa Phìn (60 hộ) và Chà Cang (60 hộ) Hộ nghiên cứu phải nằm trong các xã đượcchọn, đồng thời mang tính đại diện cho các hộ trong vùng Hộ điều tra được chọndựa theo danh sách và các hộ thuộc các nhóm là hộ nghèo, cận nghèo, trung bình vàkhá trong bản
5.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp: nguồn tài liệu từ các báo cáo, các bảng, biểu thu
thập từ văn phòng điều phối xây dựng nông thôn mới của tỉnh, phòng nông nghiệp,phòng thống kê huyện Nậm Pồ, Cục thống kê tỉnh, huyện, UBND huyện huyệnNậm Pồ và Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của huyện Nậm Pồ, UBND cácxã: Chà Nưa, Si Pa Phìn, Chà Cang Ngoài ra còn tham khảo các đề tài, các báo cáokhoa học, các tạp chí chuyên ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn trong; quacác cổng thông tin điện tử, mạng Internet, được sử dụng làm nguồn tài liệu thuthập cho quá trình nghiên cứu
- Thu thập số liệu sơ cấp: Phỏng vấn hộ nông dân bằng các câu hỏi đã được
chuẩn bị sẵn Nội dung phỏng vấn hộ bao gồm:
+ Các thông tin chung về hộ
+ Sự tham gia, mức độ tham gia của hộ trong xây dựng mô hình NTM
+ Đánh giá của các hộ về sự tham gia
Trang 7+ Các ý kiến, nguyện vọng đóng góp để xây dựng NTM ở xã.
5.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Phương pháp thống kê mô tả: sử dụng phương pháp này để hệ thống hoá vàphân tích các số liệu thu thập được từ điều tra qua đó đánh giá được xây dựng NTMtại huyện Nậm Pồ và các xã nghiên cứu
- Phương pháp thống kê so sánh: đề tài sử dụng phương pháp thống kê sosánh để tiến hành phân tích thực trạng xây dựng nông thôn mới của các xã nghiêncứu, sự đóng góp của người dân và các doanh nghiệp, HTX vào chương trình xâydựng NTM
- Phương pháp chuyên gia: phương pháp chuyên gia thông qua trao đổi vớicác cán bộ có kinh nghiệm về lĩnh vực xây dựng NTM của huyện, xã, các chủ hộtham gia chương trình từ đó góp phần hoàn thiện nội dung nghiên cứu
- Phương pháp phân tích SWOT: sử dụng phương pháp SWOT để xác địnhnhững điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong việc xây dựng nông thôn mớitại khu vực nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp, phân tích thông tin, viết báo cáo: tổng hợp các thôngtin điều tra phỏng vấn tại 3 xã; xử lý và phân tích thông tin, số liệu, bằng phần mềmExcel
5.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu
5.4.1 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển kinh tế
- Mức độ tăng trưởng kinh tế của huyện, xã
- Cơ cấu kinh tế huyện, xã: Nông lâm nghiệp; Công nghiệp - Xây dựng;Thương mại - Dịch vụ
- Một số chỉ tiêu bình quân: (Tổng GTSX; Lương thực bình quân/người; Thunhập bình quân đầu người )
- Mức độ thực hiện kế hoạch, tham gia đóng góp nguồn kinh phí
- Tổng hợp nguồn kinh phí nhân dân đóng góp cho các hoạt động
5.4.2 Chỉ tiêu đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng
Trang 8- Số lượng các công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng tại xã nhằm phát triểnkinh tế xã.
- Tỷ lệ đường giao thông nông thôn được cứng hoá
- Trụ sở và nhà văn hoá xã được nâng cấp, xây mới
- Tỷ lệ phòng học phổ thông được kiên cố hoá
- Số chợ nông thôn được nâng cấp kiên cố hoá
- Tỷ lệ xã có điểm bưu điện văn hoá xã
- Số thôn có nhà văn hoá
5.4.3 Chỉ tiêu đánh giá về mặt xã hội
- Tỷ lệ tăng, giảm hộ nghèo
- Tỷ lệ đơn vị đạt bản, khu dân cư văn hoá
- Tỷ lệ hộ được dùng nước, sử dụng điện và một số dịch vụ khác
- Mức độ cải thiện về đời sống và điều kiện sinh hoạt: thu nhập bình quân đầungười
- Số lao động qua đào tạo
- Số trường học, trạm y tế đạt chuẩn quốc gia
5.4.4 Chỉ tiêu đánh giá mức độ bảo vệ môi trường
- Tỷ lệ hộ dùng nước sạch
- Số tổ, đội thu gom rác; điểm thu gom rá,, lò đốt rác
- Tỷ lệ đường thôn xóm được bê tông hóa,…
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn được cấu trúc làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Tình hình xây đựng nông thôn mới của huyện Nậm Pồ, tỉnh ĐiệnBiên
Chương 3: Giải pháp xây dựng nông thôn mới của huyện Nậm Pồ, tỉnh ĐiệnBiên giai đoạn 2020-2025
Trang 9Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số khái niệm liên quan của xây dựng nông thôn mới
1.1.1 Nông thôn
Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn Có quanđiểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu phát triển cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nôngthôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị Quan điểm khác lại chorằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường phát triển hàng hóa và khảnăng tiếp cận thị trường Một số quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vùng códân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân trongvùng là sản xuất nông nghiệp Những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụthể của từng nước
Nông thôn là khái niệm chỉ hệ thống cộng đồng xã hội lãnh thổ được hìnhthành trong quá trình phân công lao động xã hội mà ở đó dân cư tương đối thấp; laođộng nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao, mối quan hệ cộng đồng chặt chẽ; do vậy, lốisống, phương thức sống của cộng đồng dân cư nông thôn khác biệt cộng đồng dân
cư thành thị (Nguyễn Chí Dũng, 2010)
Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theothời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới.Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý, có thể hiểunông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tậphợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trườngtrong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác(Nguyễn Văn Tâm, 2010)
1.1.2 Phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quanđiểm khác nhau Đã có nhiều nghiên cứu và triển khai ứng dụng thuật ngữ này ởnhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, thuật ngữ này được đề cập và có sự thay đổi
Trang 10nhận thức qua các thời kỳ Tuy nhiên chúng ta vẫn chưa có sự tổng hợp lý luận vềthuật ngữ này Nhiều tổ chức phát triển quốc tế đã nghiên cứu và vận dụng thuậtngữ này ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Phát triển là một quá trình làm thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống củacon người và phân phối công bằng những thành quả trong xã hội
Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống vềkinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn Nógiúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thônđược hưởng lợi từ sự phát triển (Vũ Thị Bình, 2006)
Trong điều kiện của Việt Nam tổng hợp các quan điểm từ các chiến lược pháttriển kinh tế xã hội của Chính phủ, thuật ngữ này được hiểu như sau: Phát triểnnông thôn là quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, vănhóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn
và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác (Nguyễn Văn Tâm,2010)
1.1.3 Nông thôn mới
Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra mục tiêu: Xây dựng nông thôn mới
có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hìnhthức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịchvụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổnđịnh, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự
xã hội được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng nângcao theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Như vậy, nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn, không phải là thị tứ,thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể kháiquát theo 5 nội dung cơ bản sau: Làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sảnxuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống vật chất và tinhthần của người dân nông thôn ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hóa dân tộcđược gìn giữ và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ
Trang 11Nông thôn mới chính là nông thôn tiến bộ, cơ sở hạ tầng đồng bộ, đời sốngvăn hóa phong phú Song, có điều không bao giờ thay đổi là nông thôn mới cũngphải giữ được tính truyền thống, những nét đặc trưng nhất, bản sắc từng vùng, từngdân tộc và nâng cao giá trị đoàn kết của cộng đồng, mức sống của người dân.
Trước hết NTM phải là nơi sản xuất nông nghiệp, tạo ra các sản phẩm cónăng suất, chất lượng cao theo hướng sản xuất hàng hóa Bên cạnh đó nông thônmới phải đảm nhận được vai trò gìn giữ văn hóa truyền thống dân tộc Làng quênông thôn Việt Nam khác hẳn so với các nước xung quanh, ngay cả ở Việt Nam,làng quê dân tộc Thái khác với dân tộc H’Mông, khác với dân tộc Êđê, Bana,người Kinh Nếu quá trình xây dựng NTM làm phá vỡ chức năng này là đi ngượclại với lòng dân và làm xóa nhòa truyền thống văn hóa muôn đời của người dânViệt Nam NTM phải giữ được môi trường sinh thái hài hòa
Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: Đáp ứng yêu cầuphát triển; có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; đạt hiệuquả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; tiến bộ hơn so với
mô hình cũ; chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cảnước Như vậy, có thể quan niệm: Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặcđiểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêucầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xâydựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt(Phan Xuân Sơn, 2008)
* Một số đặc trưng của mô hình nông thôn mới:
- Nông thôn là lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã,thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã
- Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại
- Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệpvới phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch
- Xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc
Trang 12- Dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị
ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường
- Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thứcvững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Ngày 16/4/2009 Thủ tướng Chính Phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg vềviệc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới gồm 19 tiêu chí ápdụng riêng cho từng vùng của Việt Nam Bộ tiêu chí cụ thể hóa đặc tính của xâydựng NTM thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH
Bộ tiêu chí cũng là căn cứ để xây dựng nội dung chương trình mục tiêu quốcgia về xây dựng NTM, là chuẩn mực để xác lập kế hoạch phấn đấu đạt 19 tiêu chínông thôn mới Ngoài ra nó còn là căn cứ để chỉ đạo và đánh giá kết quả thực hiệnxây dựng NTM của các địa phương trong từng thời kỳ; đánh giá công nhận xã,huyện, tỉnh đạt nông thôn mới
1.2 Vai trò nông thôn mới trong phát triển kinh tế xã hội
1.2.1.Về kinh tế
Nông thôn có nền sản xuất hàng hóa mở, hướng đến thị trường và giao lưu, hộinhập Để đạt được điều đó, cơ sở hạ tầng của nông thôn phải hiện đại, tạo điều kiệnthuận lợi cho mở rộng sản xuất, giao lưu buôn bán, chăm sóc sức khỏe cộng đồng.Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, kích thích mọi người thamgia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự phân hóagiàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị.Phát triển các hình thức sở hữu đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới cácHTX theo mô hình kinh doanh đa ngành Hỗ trợ các HTX ứng dụng tiến bộ khoahọc - công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất, kinh doanh, phát triển ngànhnghề ở nông thôn
Sản xuất hàng hóa với chất lượng sản phẩm mang nét độc đáo, đặc sắc củatừng vùng, địa phương Tập trung đầu tư vào những trang thiết bị, công nghệ sản
Trang 13xuất, chế biến nông sản sau thu hoạch vừa có khả năng tận dụng nhiều lao động vừađáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
1.2.2.Về chính trị
Phát huy dân chủ với tinh thần tôn trọng pháp luật, gắn lệ làng, hương ước vớipháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, phát huy tính tựchủ của làng xã
Phát huy tối đa Quy chế dân chủ cơ sở, tôn trọng hoạt động của các hội, đoànthể, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực vào xâydựng nông thôn mới
1.2.3.Về văn hóa - xã hội
Tăng cường dân chủ ở cơ sở, phát huy vai trò tự chủ trong thực hiện các chủtrương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân
cư, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu
1.2.4.Về con người
Xây dựng nhân vật trung tâm của mô hình NTM, đó là người nông dân sảnxuất hàng hóa khá giả, giàu có; là nông dân kết tinh các tư cách: công dân, thể nhân,dân của làng, người con của các dòng họ, gia đình
Có kế hoạch, chương trình, lộ trình xây dựng người nông dân nông thôn thànhngười nông dân sản xuất hàng hóa trong kinh tế thị trường, thành nhân vật trungtâm của mô hình nông thôn mới, người quyết định thành công của mọi cải cách ởnông thôn
Người nông dân và các cộng đồng nông thôn là trung tâm của mọi chiến lượcphát triển NN, NT Đưa nông dân vào sản xuất hàng hóa, doanh nhân hóa nông dân,doanh nghiệp hóa các cộng đồng dân cư, thị trường hóa nông thôn
1.2.5.Về môi trường
Môi trường sinh thái phải được bảo tồn xây dựng, củng cố, bảo vệ Bảo vệrừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải từcác khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững
Trang 14Các nội dung trên trong cấu trúc vai trò mô hình nông thôn mới có mối liên hệchặt chẽ với nhau Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trìnhhoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗtrợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, kích thích tinh thần Nhân dân tự nguyệntham gia, chủ động trong thực thi và hoạch định chính sách Trên tinh thần đó, cácchính sách kinh tế - xã hội ra đời tạo hiệu ứng tổng (Hồ Văn Thông, 2005).
1.3 Kinh nghiệm trong và ngoài nước về xây dựng nông thôn mới và bài học kinh nghiệm được rút ra
1.3.1 Tình hình xây dựng nông thôn mới trên thế giới
1.3.1.1 Trung Quốc
Nông thôn Việt Nam và Trung Quốc có nhiều nét tương đồng Trung Quốc đãthực hiện nhiều chính sách cải cách ở nông thôn Đến năm 2009, thu nhập bìnhquân của cư dân nông thôn lần đầu tiên đạt mức trên 5.000 NDT tăng 8,5% so vớinăm trước Cũng trong năm 2009, Trung Quốc đầu tư làm mới và sửa chữa khoảng300.000 km đường bộ nông thôn; hỗ trợ trên 46 triệu người nghèo đảm bảo đờisống tối thiểu; triển khai thí điểm ở 320 huyện về bảo hiểm dưỡng lão xã hội nôngthôn (Phạm Anh - Văn Lợi, 2011)
Việc chỉ đạo của Chính phủ trước kia cũng theo kiểu mệnh lệnh hành chính,nên việc thực hiện khá miễn cưỡng Sau đó, việc thực hiện xây dựng NTM linh hoạthơn, dựa trên quy hoạch tổng thể (ngân sách nhà nước và địa phương) Căn cứ tìnhhình cụ thể ở các địa phương, đặc điểm tự nhiên, xã hội, để đưa ra chính sách, biệnpháp thích hợp Ngân sách nhà nước chủ yếu dùng làm đường, công trình thủy lợi,
… một phần dùng để xây nhà ở cho dân Đối với nhà ở nông thôn, nếu địa phươngnào ngân sách lớn, nông dân chỉ bỏ ra một phần, còn lại là tiền của ngân sách
Nhà nước đầu tư nhiều hơn vào nông nghiệp Đầu tiên là đầu năm 2006 TrungQuốc xoá bỏ thuế nông nghiệp đã tồn tại 2.600 năm, đã cắt 120 tỷ nhân dân tệ (15
tỷ USD) gánh nặng thuế của nông dân Việc xoá bỏ thuế làm cho ngân sách các xãgiảm nhiều, nhất là ở các vùng không có hoạt động phi nông nghiệp Ngân sách chophát triển nông thôn tăng lên Xây dựng một cơ chế để công nghiệp và đô thị thúc
Trang 15đẩy phát triển nông thôn Sự phân phối thu nhập quốc dân sẽ được điều chỉnh đểcho việc tiêu thụ thuế và đầu tư ngân sách và tài sản cố định và tín dụng sẽ tăng chonông nghiệp và nông thôn Hỗ trợ từ vốn nhà nước sẽ lớn và tăng liên tục Phần lớntrái phiếu và vốn ngân sách sẽ đi về phát triển nông thôn Đặc biệt đầu tư để cải tiếnsản xuất và điều kiện sống sẽ trở thành một luồng ổn định để tăng vốn cho xâydựng Năm 2005, Nhà nước đã chi 297,5 tỷ nhân dân tệ cho tam nông, năm 2006:339,7 tỷ nhân dân tệ và năm 2007: 391,7 tỷ nhân dân tệ (Đào Thế Tuấn, 2008).Công cuộc cải cách nông thôn của Trung Quốc trải qua nhiều dấu mốc Trong
đó, những mốc quan trọng là xóa bỏ công xã nhân dân; xác lập thể chế kinh doanhhai tầng kết hợp, lấy kinh doanh bao thầu gia đình làm cơ sở; mở cửa toàn diện thịtrường nông sản; xóa bỏ thuế nông nghiệp, và thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nôngdân Trung Quốc thực hiện nội dung hai mở, một điều chỉnh là mở cửa giá thu mua,thị trường mua bán lương thực; một điều chỉnh là chuyển từ trợ cấp gián tiếp qualưu thông thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực
Định hướng phát triển tài chính hỗ trợ tam nông ở Trung Quốc là nông nghiệphiện đại, nông thôn đô thị hóa và nông dân chuyên nghiệp hóa Trong chính sách tàichính, để tăng thu nhập cho nông dân, Trung Quốc tăng đầu tư hỗ trợ về giá muagiống, hỗ trợ thu mua lương thực không thấp hơn giá thị trường, mua máy móc thiết
bị nông nghiệp và vốn Cùng đó, Trung Quốc cũng tập trung xây dựng cơ chếhướng nghiệp, đào tạo kỹ năng làm việc, đặc biệt là lao động trẻ Ngoài ra, bên cạnhgiảm thu phí và thuế với nông dân, Trung Quốc còn có chủ trương, đảm bảo trongvòng 3 năm xóa bỏ tình trạng các xã, thị trấn không có dịch vụ tài chính tiền tệ cơbản Đồng thời, thúc đẩy việc mua đồ gia dụng, ô tô, xe máy tại các xã, bằng cáchnhà nước trợ cấp 13% trên tổng giá trị hàng hoá khi nông dân mua sản phẩm do nhànước định hướng (Phạm Anh - Văn Lợi, 2011)
1.3.1.2 Hàn Quốc: Phong trào làng mới
Sau trận lụt lớn năm 1969, người dân Hàn Quốc phải tu sửa lại nhà cửa,đường sá, ruộng vườn mà không có sự trợ giúp của chính phủ Trong khi đi thị sáttình hình dân chúng, Tổng thống Hàn Quốc lúc bấy giờ là Park Chung Hy nhận ra
Trang 16rằng viện trợ của chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự cứulấy mình Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp đỡ nhau là điểmmấu chốt để phát triển nông thôn.
Những ý tưởng này chính là nền tảng của phong trào “Saemaul Undong” đượcđích thân Tổng thống Park phát động vào ngày 22/4/1970 “Saemaul” theo nghĩatiếng Hàn là “sự đổi mới của cộng đồng” được ghép với “undong” có nghĩa là mộtphong trào và cụm từ “Saemaul Undong” có nghĩa là phong trào đổi mới cộng đồng
Vì phong trào bắt đầu từ nông thôn nên “Saemaul Undong” được hiểu là “phong tràođổi mới nông thôn” Sự ra đời kịp thời của “Saemaul Undong” vào đúng lúc nôngthôn Hàn Quốc đang trì trệ trong đói nghèo cần có sự bứt phá mạnh mẽ và những kếtquả khả quan đạt được ngay sau đó đã làm nức lòng nông dân cả nước Tới năm
1974, chỉ sau 4 năm phát động “Saemaul Undong”, sản lượng lúa tăng đến mức cóthể tự túc lương thực, phổ biến kiến thức nông nghiệp đã tạo nên một cuộc cách mạngtrong phương pháp canh tác, thu nhập một năm của hộ nông dân (674 nghìn wontương đương 562 USD) cao hơn so với hộ ở thành thị (644 nghìn won tương đương
537 USD) Vào năm 1980, bộ mặt nông thôn có thể nói đã hoàn toàn thay đổi với đầy
đủ điện, đường, nước sạch, công trình văn hóa… “Saemaul Undong” từ một phongtrào ở nông thôn đã lan ra thành một phong trào đổi mới toàn xã hội Hàn Quốc (PhạmXuân Liêm, 2011)
Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Trong 8năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631km đường làng nối vớiđường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322m đường; cứng hóađường ngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi làng là 1.280m; xây dựng được68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839km đê,kè; xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không cóquỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, câycối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh củacác hộ cho phong trào
Trang 17Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phươngtiện sản xuất Cụ thể là năm 1971 cứ 3 làng mới có 1 máy cày thì đến năm 1975trung bình mỗi làng đã có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm 1980 Từ đótạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao,giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúcđẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp tăng nhanh Năm 1979, Hàn Quốc đã
có 98% số làng tự chủ về kinh tế
Ông Le Sang Mu, cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về nông, lâm, ngưnghiệp cho biết: Chính phủ hỗ trợ một phần đầu tư hạ tầng để nông thôn tự mìnhvươn lên, xốc lại tinh thần, đánh thức khát vọng tự tin Thắng lợi đó được HànQuốc tổng kết thành 6 bài học lớn
Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nông
thôn phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc “Nhà nước bỏ ra 1 vật
tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của” Dân quyết định loại công trình, dự ánnào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thicông, nghiệm thu công trình Năm 1971, Chính phủ chỉ hỗ trợ cho 33.267 làng,mỗi làng 335 bao xi măng Năm 1972 lựa chọn 1.600 làng làm tốt được hỗ trợthêm 500 bao xi măng và 1 tấn sắt thép Sự trợ giúp này chính là chất xúc tác thúcđẩy phong trào nông thôn mới, dân làng tự quyết định mức đóng góp đất, ngàycông cho các dự án
Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập Khi kết cấu hạ tầng phục vụ sản
xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới,khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựngvùng chuyên canh hàng hóa Chính phủ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn đểchế biến và tiêu thụ nông sản cũng như có chính sách tín dụng nông thôn, cho vaythúc đẩy sản xuất Từ năm 1972 đến năm 1977 thu nhập trung bình của các hộ tănglên 3 lần
Thứ ba, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác định nhân
tố quan trọng nhất để phát triển phong trào “làng mới” là đội ngũ cán bộ cơ sở theo
Trang 18tinh thần tự nguyện và do dân bầu Hàn Quốc đã xây dựng 3 trung tâm đào tạo quốcgia và mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở địa phương Nhà nước đài thọ,
mở các lớp học trong thời gian từ 1-2 tuần để trang bị đủ kiến thức thiết thực như kỹnăng lãnh đạo cơ bản, quản lý dự án, phát triển cộng đồng
Thứ tư, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Hàn Quốc thành lập hội
đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của Chính phủ trên cơ sở công khai,dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương.Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự quyết định lựachọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình
Thứ năm, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng Hàn Quốc đã thiết
lập lại các hợp tác xã (HTX) kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của dân, cán bộHTX do dân bầu chọn Phong trào “làng mới” là bước ngoặt đối với sự phát triểncủa HTX hoạt động đa dạng, hiệu quả trong dịch vụ tín dụng, cung cấp đầu vào chosản xuất, tiếp thị nông sản, bảo hiểm nông thôn và các dịch vụ khác Trong vòng 10năm, doanh thu bình quân của 1 HTX tăng từ 43 triệu won lên 2,3 tỉ won
Thứ sáu, phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh toàn
dân Chính phủ quy hoạch, xác định chủng loại cây rừng phù hợp, hỗ trợ giống, tậphuấn cán bộ kỹ thuật chăm sóc vườn ươm và trồng rừng để hướng dẫn và yêu cầutất cả chủ đất trên vùng núi trọc đều phải trồng rừng, bảo vệ rừng Nếu năm 1970phá rừng còn là quốc nạn thì 20 năm sau rừng xanh đã che phủ khắp nước và đâyđược coi là một kỳ tích của phong trào“làng mới” (Tuấn Anh, 2012)
1.3.1.3 Nhật Bản: “Mỗi làng một sản phẩm”
Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản) đãhình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu pháttriển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chungcủa cả nước Nhật Bản Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, Phong trào
“Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ Sự thành côngcủa phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều địa phương trênđất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trên thế giới Một số
Trang 19quốc gia, nhất là những quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã thu được nhữngthành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụngkinh nghiệm phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”
Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được nhữngngười sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều người, nhiều khuvực và quốc gia có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn, nhất là pháttriển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất nước mình (Tuấn Anh, 2012)
1.3.1.4 Thái Lan: sự trợ giúp mạnh mẽ của nhà nước
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thônchiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nôngnghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cánhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong tràohọc tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học vàcác hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cườngcông tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp;giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnhtranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnhcông tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học vàhợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thờiphục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn
có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinhhọc, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiếnlược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ chonông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toànquốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuấtnông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủyđiện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…
Trang 20Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tậptrung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệpnông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyềnthống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cânđối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nôngnghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biếnnông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp pháttriển Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờmột số chính sách sau:
- Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọngnhất của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2005 là kế hoạch cơ cấulại mặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chấtlượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các mặt hàng: gạo, dứa,tôm sú, gà và cà phê Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu chochế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mới phát triển vàcàng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị chonông sản được khuyến khích trong chương trình Mỗi làng một sản phẩm và chươngtrình Quỹ làng
- Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan thườngxuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm Năm 2004, TháiLan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là bếp ăn của thếgiới” Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến và nông dân cóhành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để bảo đảm an toàn cho ngườitiêu dùng trong nước và xuất khẩu Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợcho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Do đó, ngày nay,thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính,như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU, chấp nhận
Trang 21- Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu tư, thuhút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước
để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc mở cửa chocác quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh Trong tiếp cận thị trường xuấtkhẩu, Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với chính phủ các nước
để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chếbiến Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhàmáy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn đấugiá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanhnghiệp vừa và nhỏ Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm chính của Cục Xúc tiếncông nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, nhưng việc xúc tiến và phát triển công nghiệpchế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều cơ quan cùng thực hiện Chẳng hạn, trong
Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, cùng với Cục Xúc tiến nông nghiệp, Cục Hợp tác
xã giúp nông dân xây dựng hợp tác xã để thực hiện các hoạt động, trong đó có chếbiến thực phẩm; Cục Thủy sản giúp đỡ nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến chếbiến thủy sản Cơ quan Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệpxúc tiến tiêu chuẩn hoá và hệ thống chất lượng; Cơ quan Phát triển công nghệ vàkhoa học quốc gia xúc tiến việc áp dụng khoa học và công nghệ cho chế biến; BộĐầu tư xúc tiến đầu tư vào vùng nông thôn (Tuấn Anh, 2012)
1.3.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
1.3.2.1 Những bài học kinh nghiệm trong xây dựng NTM giai đoạn 2010 2015.
Bài học kinh nghiệm trong xây dựng NTM của cả nước: Qua 5 năm thực
hiện chương trình xây dựng NTM giai đoạn 2010-2015 đã làm thay đổi nhận thứccủa đa số người dân, lôi cuốn người dân tham gia xây dựng NTM Cả nước có1.298 xã (14,5%) được công nhận đạt chuẩn NTM; số tiêu chí bình quân/xã là 12,9tiêu chí (tăng 8,2 tiêu chí so với 2010); số xã khó khăn nhưng có nỗ lực vươn lên(xuất phát điểm dưới 3 tiêu chí, nay đã đạt được 10 tiêu chí trở lên) là 183 xã [2]
Trang 22Chương trình xây dựng mô hình nông thôn mới trong giai đoạn 2010 - 2015
đã rút ra năm bài học kinh nghiệm:
Từ thực tế chỉ đạo, triển khai thực hiện chương trình trong 5 năm qua, nhiềubài học kinh nghiệm quý đã được rút ra, như: Xây dựng nông thôn thực chất là thựchiện các nội dung cụ thể để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Do đó, phải gắn xây dựng NTM với tái cơ cấu nông nghiệp và thực hiện các kếhoạch phát triển kinh tế-xã hội của địa phương
Phải thực sự phát huy vai trò chủ thể của người dân Công tác tuyên truyền,vận động quần chúng phải là giải pháp quan trọng hàng đầu Làm cho dân hiểu, dântin, dân hưởng ứng bằng sự tham gia bàn bạc, hiến kế, đóng góp công, của và chủđộng thực hiện các nhiệm vụ của mình là yếu tố quyết định sự thành công trong xâydựng nông thôn mới
Phải có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên sâu sát, quyết liệt của cáccấp ủy, chính quyền, sự tham gia tích cực và phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành,đoàn thể
Có cách làm phù hợp với điều kiện của từng địa phương thông qua lựa chọnnội dung, nhiệm vụ ưu tiên, vận dụng sáng tạo cơ chế chính sách Có phương thứchuy động các nguồn lực phù hợp Phải có hệ thống chỉ đạo, đồng bộ, hiệu quả; có
bộ máy giúp việc đủ năng lực, chuyên nghiệp, sát thực tế sẽ là yếu tố quan trọngđảm bảo cho công tác chỉ đạo có hiệu quả
Lồng ghép sử dụng có hiệu quả sự hỗ trợ ngân sách của Nhà nước và cácnguồn lực đa dạng; việc huy động, đóng góp của người dân phải được thực hiệntrên cơ sở thực sự tự nguyện, bàn bạc dân chủ, không gượng ép quá sức dân [2]
- Tăng cường huy động nguồn lực trong xây dựng NTM: Thực hiện Nghị
quyết 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Thủ tướngChính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 phê duyệtChương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020.Báo cáo tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trong 3năm (2011- 2013) đã huy động được hơn 485.000 tỷ đồng Trong đó, NSNN chiếm
Trang 2333,4%, vốn tín dụng 47,7%, vốn huy động từ các DN 6% và dân đóng góp chiếm12,9% Bên cạnh những ưu điểm trong quá trình triển khai chương trình, một số hạnchế cũng đã bộc lộ, bao gồm:
Quy mô huy động nguồn lực giữa các năm không ổn định, cơ cấu các nguồnlực huy động chưa đạt mục tiêu đề ra:
+ Quy mô huy động giữa các năm không ổn định: Năm 2012, huy động tăng40% so với năm 2011 nhưng sang năm 2013 quy mô huy động lại giảm 17,6% sovới năm 2012
+ Xét về cơ cấu nguồn lực, nguồn huy động từ NSNN và từ DN đạt thấp sovới mục tiêu đề ra Hai nguồn vốn còn lại là nguồn vốn tín dụng và huy động từ dân
cư có tỷ lệ huy động đạt cao hơn so với mục tiêu đề ra Nguồn vốn tín dụng chiếm
tỷ lệ cao nhất (47,7%), cao hơn so với mục tiêu (30%)
Khi xem xét cơ cấu của từng nguồn vốn theo năm cho thấy, nguồn NSNNtrong 3 năm 2011-2013 cơ bản ổn định trong khi vốn lồng ghép và vốn huy động từ
DN, đóng góp của cộng đồng dân cư vào Chương trình có xu hướng giảm Riêngchỉ vốn tín dụng là có xu hướng tăng rõ rệt trong cơ cấu nguồn vốn huy động choChương trình
Nguồn ngân sách trung ương bố trí cho Chương trình trong 3 năm qua cònchưa đảm bảo theo cam kết Nguồn ngân sách trung ương mới đạt khoảng 30% sovới kế hoạch phân bổ được Quốc hội thông qua cho cả giai đoạn 2011-2015), nguồnvốn hỗ trợ chuyển về còn chậm đã ảnh hưởng tới kế hoạch và tiến độ triển khai thựchiện
Cơ chế lồng ghép các nguồn lực từ các chương trình, dự án chưa rõ ràng vàchưa quan tâm tới đặc thù từng địa phương Thực tế các địa phương mới chỉ tiếnhành ghép vốn đối với các công việc, mục tiêu có cùng nội dung Tuy nhiên, điềunày lại gây khó trong tổng hợp kết quả đạt được của từng dự án, chương trình từviệc ghép các nguồn vốn của các chương trình, dự án trên địa bàn Ngoài ra, thực tếmức độ lồng ghép vốn giữa các địa phương cũng khác nhau như đồng bằng sông
Trang 24Hồng tỷ lệ vốn lồng ghép trong tổng vốn huy động được 3 năm qua đạt 12,86%nhưng ở vùng Đông Nam Bộ thì con số này chỉ là 1,82%.
Nguyên nhân của những hạn chế:
+ Chương trình được triển khai thực hiện trong bối cảnh kinh tế thế giới cónhiều biến động phức tạp, kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn do tác động củacuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và những yếu kém nội tại chưa được giải quyết,dẫn đến khả năng huy động vốn hạn chế
+ Năng lực tham gia thị trường tín dụng nông thôn của nông dân còn hạn chế
do trình độ và khả năng tiếp cận nguồn vốn Các tổ chức tín dụng chưa quan tâm,chú trọng đến phát triển hoạt động tín dụng ở thị trường nông thôn
+ Việc cải thiện môi trường đầu tư ở khu vực nông thôn còn hạn chế Hệthống kết cấu hạ tầng mặc dù đã được quan tâm nhưng nhiều nơi còn yếu kém, trình
độ lao động khu vực nông thôn chưa cao nên việc thu hút vốn đầu tư cũng như sựtham gia của DN vào xây dựng nông thôn mới còn hạn chế
+ Sự phối hợp của các cấp, các ngành còn thiếu kịp thời, chặt chẽ nên ảnhhưởng đến định hướng đầu tư và huy động vốn (TS Vũ Như Thăng, 2015) [22]
1.3.2.2 Kết quả xây dựng nông thôn mới ở một số tỉnh TDMN phía Bắc giai đoạn 2011 - 2015
Ở Lai Châu: Qua 5 năm triển khai thực hiện, đến nay tỉnh Lai Châu đã triển
khai xây dựng nông thôn mới tại 96 xã, với sự nỗ lực quyết tâm của các cấp, cácngành, các tổ chức đoàn thể chính trị và Nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh,Chương trình mục tiêu Quốc gia XDNTM đạt được nhiều kết quả tích cực Tính đếnngày 30/6/2015, toàn tỉnh có 91/93 xã có đường ô tô đến trung tâm xã, liên xã, có22/96 xã đạt tiêu chí giao thông; 38/93 xã có hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêucầu sản xuất và dân sinh Bình quân tiêu chí chung toàn tỉnh đến hết năm 2015 đạt
11 tiêu chí/xã, tăng 8,12 tiêu chí so với năm 2011 Tính hết năm 2015, toàn tỉnh có
15 xã đạt 19 tiêu chí; 5 xã đạt 15-18 tiêu chí; 33 xã đạt 10-14 tiêu chí; 43 xã đạt 5-9tiêu chí
Trang 25Tuy nhiên, chương trình còn những hạn chế, yếu kém như: Việc triển khai thựchiện các nội dung trọng tâm về XDNTM ở nhiều xã còn hạn chế, chưa đảm bảo đủnguồn lực để thực hiện các nội dung theo kế hoạch, chưa có nhiều giải pháp hay, sángtạo trong tổ chức thực hiện; việc phát triển sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân ởnhiều địa phương chưa được quan tâm đúng mức; việc thực hiện lồng ghép các chươngtrình, dự án trong XDNTM chưa được đẩy mạnh…[2].
Ở Lào Cai: Sau 5 năm triển khai thực hiện, Chương trình đã đạt được những
kết quả sau:
Về tuyên truyển vận động, các Sở, ban, ngành đoàn thể và các đơn vị đã banhành 3.099 văn bản các loại chỉ đạo nông thôn mới (các huyện, thành phố ban hành2.958 văn bản các loại về công tác tuyên truyền) ban hành 3.800 cuốn gương ngườitốt việc tốt trong xây dựng NTM 5.000 cuốn Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thônmới; 1.000 cuốn tài liệu hỏi đáp xây dựng nông thôn mới; Ban Tuyên vận đã thựchiện 8.700 hội nghị tuyên vận cơ sở, trên 400 cuộc khảo sát, kiểm tra, tổ chức 92lớp tập huấn cho trên 6.000 lượt cán bộ tuyên vận, tổ tuyên vận, chỉ đạo 854 hộinghị tuyên vận các cấp, kiểm tra công tác tuyên vận Tổ chức được 5.438 hội nghịtuyên truyền, truyền thông về công tác xây dựng nông thôn mới; 1.200 buổi diễnvăn nghệ, 1.000 giải thể thao thu hút đông đảo nhân dân tham gia Tổ chức được3.060 buổi tuyên truyền bằng hình thức biểu diễn văn hóa, văn nghệ; in sao phátcho cơ sở 3.284 đĩa CD có nội dung tuyên truyền về Chương trình mục tiêu quốcgia xây dựng NTM Tổ chức 2 cuộc thi về sáng tác tranh tuyên truyền NTM (thu hút31.934 bài dự thi và 1.433 tác phẩm dự thi) Tổ chức trên 40 lễ hội văn hóa dân gian
ở các địa phương lồng ghép nội dung tuyên truyền xây dựng NTM Cấp phát102.882 tờ rơi, khẩu hiệu, áp phích tuyên truyền về xây dựng NTM của các cơquan, đơn vị cấp phát cho nhân dân trên địa bàn toàn tỉnh Ngoài ra, 9 huyện, thànhphố đã treo 14.078 băng zôn, khẩu hiệu, dựng 3.141 pa nô và cụm pa nô (lớn vànhỏ), in và phát hành 92.733 tờ rơi, tờ gấp ; Xây dựng được cổng chào kiên cố,bán kiên cố tại các xã, thôn, bản để tuyên truyền trực quan về xây dựng NTM Cácđịa phương còn có các hình thức tuyên truyền đa dạng như: Chiếu bóng lưu động,
Trang 26sáng tác tiểu phẩm, làm phim phóng sự, tuyên truyền miệng, tuyên truyền bằng xelưu động
Về huy động và sử dụng nguồn lực đầu tư thực hiện Chương trình: Tổngnguồn vốn đã bố trí thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM trên địa bàntỉnh Lào Cai giai đoạn 2011-2015 là 9.860,258 tỷ đồng, vượt 11,36% so Đề án.Trong đó: Vốn trực tiếp cho Chương trình: 1.956,397 tỷ đồng (19,84% tổng nguồn).Vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án khác: 6.394,986 tỷ đồng (64,86%) VốnTín dụng 220 tỷ đồng; Doanh nghiệp 461,739 tỷ đồng Dân góp 827,136 tỷ đồng,bao gồm (công lao động, hiến đất, tiền mặt và các hiện vật xây dựng cơ sở hạ tầngnông thôn; giá trị của các tiêu chí do nhân dân làm như nhà ở, chỉnh trang nhà cửa,
vệ sinh môi trường, chuồng trại chăn nuôi )
Về tiêu chí xây dựng nông thôn mới: Số xã đạt chuẩn nông thôn mới 20/143(Xã Mường Khương lên Thị trấn) đạt 13,9%; Thành phố Lào Cai hoàn thành nhiệm
vụ xây dựng nông thôn mới (5/5 xã đã hoàn thành); Bình quân số tiêu chí đạt chuẩn/xã: 9,63 tiêu chí, tăng 6,33 so với năm 2010; Bình quân thu nhập đầu người khu vựcnông thôn đạt 13,11 triệu đồng, tăng 5,67 triệu đồng/người/năm so với năm 2010(2010 là 7,44 triệu đồng) Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn năm 2014 là 22,4%,giảm 31,07% so với năm 2010 (Số liệu Niên giám thống kê tỉnh Lào Cai ban hànhtháng 7/2015) Hết năm 2015, toàn tỉnh có 31/144 xã đạt tiêu chí hộ nghèo, tăng 14
xã so với năm 2010 [4]
1.3.2.3 Tình hình xây dựng NTM ở tỉnh Điện Biên giai đoạn 2016 - 2018
Qua 03 năm (2016-2018) tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc giaxây dựng nông thôn mới, mặc dù điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh còn gặp nhiềukhó khăn, nguồn lực đầu tư cho Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới cònhạn chế Song, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự hỗ trợ của các Bộ, ngànhTrung ương, đặc biệt sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị cùng toàn thể nhân dâncác dân tộc trong tỉnh; Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tỉnh ĐiệnBiên đã đạt được một số kết quả như sau:
* Công tác lập quy hoạch, đề án xây dựng NTM:
Trang 27- Công tác lập quy hoạch: tính đến nay đã có 116/116 xã hoành thành phêduyệt quy hoạch chung, đạt 100% so với kế hoạch Tuy nhiên, trong quá trình triểnkhai công bố quy hoạch còn chậm so với tiến độ, một số quy hoạch chất lượng chưađáp ứng được theo yêu cầu.
- Lập đề án xây dựng NTM: đến nay 100% số xã hoàn thành việc xây dựng
đề án Công tác lập đề án xây dựng NTM cấp xã chưa đảm bảo về thời gian, tiến độtheo kế hoạch do năng lực cán bộ xã, cán bộ huyện một số nơi còn hạn chế, các xãvùng cao địa hình phức tạp, giao thông đin lại khó khăn, nhận thức người dân cònhạn chế nên việc khảo sát đánh giá thực trạng và lấy ý kiến tham gia của người dâncòn gặp nhiều khó khăn
* Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân:
Tỉnh Điện Biên đã thực hiện triển khai Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệptheo hướng liên kết chuỗi giá trị để nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.Thực hiện tốt các Chương trình, dự án về phát triển sản xuất và xóa đói giảm nghèo;nhiều tiến bộ kỹ thuật được thử nghiệm, mở rộng trong sản xuất bằng nhiều hìnhthức như tập huấn cho nông dân gắn liền với xây dựng các mô hình ở tất cả các lĩnhvực sản xuất nông nghiệp, bằng nhiều nguồn vốn khác nhau Nông dân đã từngbước tiếp thu các tiến bộ khoa học áp dụng vào sản xuất, tạo ra những chuyển biếnmới trong sản xuất nông - lâm nghiệp, nâng cao thu nhập, phát triển sản xuất
- Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đến tháng 6/2018 ước đạt
15 triệu đồng/người/năm, tăng 4,9 triệu đồng/người/năm so với năm 2015 (năm
2015 là 10,1 triệu đồng/người/năm) Tiêu chí số 10 về thu nhập có 16/116 xã đạt,tăng 06 xã so năm 2015
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 54,31%, số xã đạt tiêu chí số 12 về tỷ lệ lao động
có việc làm là 116/116 xã, chiếm tỷ lệ 100% tổng số xã tăng 50 xã so với năm 2015
- Tổng số hợp tác xã trên địa bàn tỉnh là 196 hợp tác xã (HTX) (số HTX đanghoạt động là 138 HTX, số HTX ngừng hoạt động là 58 HTX) Các HTX nôngnghiệp, đặc biệt là các HTX dịch vụ nông nghiệp đã tổ chức cung cấp các dịch vụliên quan đến đầu vào sản xuất cho các thành viên, các hộ nông dân thông qua các
Trang 28khâu đầu vào sản xuất nông nghiệp như: Ứng trước vật tư, phân bón, thuốc bảo vệthực vật; tu sửa nâng cấp các công trình thủy lợi; giao thông nội đồng Mặc dùhiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp còn ở mức độ nhất định, nhưng thời gianqua HTX nông nghiệp đã trở thành chỗ dựa tin cậy, đòn bẩy thúc đẩy kinh tế hộphát triển, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới trênđịa các xã Tiêu chí số 13 có 45/116 xã đạt tăng 25 xã so năm 2015.
* Về xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu:
Xây dựng cơ sở hạ tầng là khâu đột phá, thúc đẩy tiến độ xây dựng NTM.Trong điều kiện nguồn lực đầu tư còn hạn chế, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, cácngành thực hiện việc rà soát, lựa chọn những danh mục công trình cấp bách, thiếtthực để đầu tư Sau 3 năm tiếp tục triển khai, cơ sở hạ tầng được xây dựng khangtrang, diện mạo nông thôn đã có nhiều thay đổi
- Giao thông: đến nay có 116/116 xã có đường ô tô đến trung tâm xã, đảm bảocho nhân dân đi lại được các mùa trong năm Đến nay, có 29/116 xã đạt tiêu chí số 2
về giao thông (đạt 25%), tăng 21 xã so với năm 2015
- Thủy lợi: Các công trình thủy lợi đã được chú trọng đầu tư nâng cấp và xâydựng mới, cơ bản đáp ứng đầy đủ nhu cầu sản xuất của người dân Toàn tỉnh có81/116 xã đạt tiêu chí về thủy lợi, tăng 41 xã so với năm 2015
- Về điện: Trên địa bàn tỉnh có 116/116 đã có điện lưới Quốc gia, số hộ dânđược dùng điện là 112.234/127.433 hộ có điện đạt tỷ lệ 88,07%, trong đó khu vựcnông thôn là 88.339/103.532 hộ có điện đạt tỷ lệ 85,33%, các hệ thống điện cơ bảnđều đảm bảo đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của ngành điện Có 52/116 xã đạt tiêu chí số 4
về điện, tăng 18 xã so với năm 2015
- Trường học: Hệ thống cơ sở vật chất giáo dục ở các cấp không ngừng đượcđầu tư nâng cấp đáp ứng cơ bản nhu cầu dạy và học của các cấp học Số xã đạt tiêuchí số 5 về trường học là 46/116 xã, tăng 13 xã so với năm 2015
- Cơ sở vật chất văn hóa: Từng bước được đầu tư xây dựng, nâng cấp, đến naytoàn tỉnh có 33/116 xã đạt tiêu chí số 6 về cơ sở vật chất văn hóa, đạt 28,44%, tăng 30
xã so với năm 2015
Trang 29- Cơ sở hạ tầng thương mại: Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 38 chợ đang hoạtđộng, trong đó số chợ do Ban quản lý các xã quản lý là 32 chợ, số chợ doanh nghiệp,hợp tác xã quản lý là 6 chợ Số xã có chợ trong quy hoạch là 91 xã, số xã không cóchợ theo quy hoạch là 25 xã Có 64/116 xã đạt tiêu chí số 7 về cơ sở hạ tầng thươngmại, tăng 52 xã so với năm 2015.
- Thông tin và truyền thông: Toàn tỉnh có 80/116 xã đạt chỉ tiêu xã có điểmphục vụ bưu chính đạt 68,96%, 100/116 xã đạt chỉ tiêu xã có dịch vụ viễn thông,internet; 22/116 xã đạt chỉ tiêu xã có đài truyền thanh và hệ thống loa đến các thôn,bản; 112/116 xã đạt chỉ tiêu xã có ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản
lý, điều hành Có 56/116 xã đạt tiêu chí số 8 về thông tin và truyền thông; tiêu chí số
8 giảm 37 xã so với năm 2015
- Về nhà ở dân cư: Khu vực nông thôn, tỷ lệ nhà ở kiên cố và bán kiên cố đạt76,97% Số xã đạt tiêu chí số 9 về nhà ở dân cư là 24/116 xã, tăng 19 xã so với năm 2015
* Về phát triển giáo dục, y tế và bảo vệ môi trường:
- Về giáo dục toàn tỉnh hiện có 315/499 trường mầm non và phổ thông đạt chuẩnquốc gia, đạt 63,13%; có 253/499 trường mầm non, phổ thông được cấp giấy chứngnhận chất lượng giáo dục, đạt 50,7%
+ Tiêu chí số 5 về trường học: có 46/116 xã đạt tiêu chí số 5 về trường học,chiếm 39,65%, tăng 13 xã so với năm 2015
+ Tiêu chí số 14 về giáo dục và đào tạo: Có 38/116 đạt tiêu chí số 14 về giáo dục
và đào tạo, chiếm 32,75%, tăng 15 xã so với kết quả thực hiện năm 2015
- Y tế: tỷ lệ bác sỹ/vạn dân đạt 10,4%; dược sỹ đại học/vạn dân đạt 0,88%;
tỷ lệ trạm y tế xã có bác sỹ hoạt động 48,5%; tỷ lệ thôn, bản các nhân viên y tế đạt91,6%; tỷ lệ người tham gia các hình thức bảo hiểm y tế là trên 98,7%; Số xã đạttiêu chí 15 là 41/116 xã, đạt 35,34%, tăng 08 xã so với năm 2015
- Văn hóa: toàn tỉnh có 1.443/1776 thôn, bản, tổ dân phố được công nhậnthôn, bản, tổ dân phố văn hóa Đến nay, toàn tỉnh có 33/116 xã đạt tiêu chí số 16 vềvăn hóa, chiếm 28,44%, tăng 16 xã so với năm 2015 Tỷ lệ (≥70%) thôn, bản đạttiêu chuẩn văn hóa theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 30- Công tác bảo vệ môi trường, xử lý, thu gom rác thải đã được các cấp quantâm chỉ đạo thực hiện; xây dựng cảnh quan, môi trường xanh - sạch - đẹp, an toàn
đã có 53/116 xã đạt (chiếm 45,75); các cơ sở sản xuất - kinh doanh, nuôi trồng thủysản, làng nghề từng bước xây dựng đạt tiêu chuẩn đảm bảo quy định về bảo vệ môitrường, có 78/116 xã đảm bảo quy định về môi trường chiếm 67,2% Đến nay, trêntoàn tỉnh có 21/116 xã đạt tiêu chí số 17 về môi trường và an toàn thực phẩm, tăng
16 xã so với năm 2015
* Về xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và giữ gìn an ninh, trật tự xã hội:
-Đến nay, tổng số cán bộ, công chức xã trên địa bàn tỉnh Điện Biên là 2.532/2.843người (xã, phường, thị trấn) Trong đó, tỷ lệ cán bộ, công chức xã đạt chuẩn về trình độvăn hóa (THPT) là 1867 đạt 65,7%; đạt chuẩn về trình độ chuyên môn từ trung cấp trởlên là 2422 83,2%; đạt chuẩn về trình độ lý luận chính trị là 1585 đạt 55,8%; đạt chuẩn
về trình độ quản lý nhà nước là 1435 đạt 50,5% Đảng bộ (chi bộ), chính quyền xã đạt
“trong sạch vững mạnh”: có 65/116 đơn vị đạt, chiếm 56,03%, tăng 10 xã so vớinăm 2016 Toàn tỉnh có 25/116 xã đạt tiêu chí số 18 về hệ thống chính trị và tiếp cậnpháp luật, giảm 05 xã so với năm 2015
- Số xã đạt chuẩn về tiêu chí số 19 quốc phòng và an ninh là 98/116 xã, giảm
12 xã với năm 2015 Nguyên nhân giảm tiêu chí là do tình hình an ninh, trật tự ởmột số địa bàn tội phạm gia tăng; việc xây dựng nếp sống văn minh, xóa bỏ tập tụclạc hậu ở một số địa bàn còn chậm chuyển biến; tình trạng hoạt động lợi dụng tôngiáo, di cư tự do, tệ nạn xã hội, tệ nạn ma túy còn diễn biến phức tạp ảnh hưởng đếnANTT và đời sống của nhân dân
* Kết quả huy động các nguồn lực thực hiện Chương trình: Giai đoạn
2016-2018, cụ thể phân bổ như sau:
+ Tổng nguồn vốn và cơ cấu các nguồn vốn huy động giai đoạn 2016 -2018
là 4.066.356 triệu đồng; cơ cấu vốn phân theo các nguồn như sau:
- Vốn trực tiếp Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới: 585.650triệu đồng (bao gồm vốn sự nghiệp hỗ trợ đề án 29 xã biên giới) chiếm 14,4%;
Trang 31- Vốn ngân sách địa phương (đầu tư trực tiếp cho Chương trình): 24.759 triệuđồng chiếm 0,60%;
- Vốn lồng ghép các Chương trình, dự án: 3.307.463 triệu đồng, chiếm 81,33%;
- Vốn tín dụng: 74.000 triệu đồng, chiếm 1,81%;
- Vốn đầu tư doanh nghiệp: 1.892 triệu đồng, chiếm 0,04%;
- Vốn đóng góp của cộng đồng dân cư (chủ yếu bằng công lao động, hiến đất,góp đất): 72.592 triệu đồng, chiếm 1,78%
+ Kết quả phân bổ nguồn vốn ngân sách Nhà nước và các nguồn vốn ngoài ngânsách để thực hiện các nội dung thành phần của Chương trình giai đoạn 2016 -2018:
- Ngân sách Trung ương: Vốn đầu tư phát triển: 329.150 triệu đồng; Vốn sựnghiệp: 169.500 triệu đồng; Vốn Trái phiếu Chính phủ: 87.000 triệu đồng;
- Vốn ngân sách địa phương: 24.759 triệu đồng
* Kết quả thực hiện bộ tiêu chí Quốc gia về NTM:
Tính đến tháng 6/2018, tỉnh Điện Biên có 16 xã đạt chuẩn và cơ bản đạt chuẩn
nông thôn mới, trong đó có 13 xã đạt chuẩn và 03 xã cơ bản đạt chuẩn, vượt chỉ tiêu
09 xã (Thủ tướng Chính phủ giao giai đoạn 2016-2018 là 07 xã)
- Tỷ lệ số xã đạt chuẩn nông thôn mới là 13,79%, vượt 7,79% so với nhiệm
vụ kế hoạch giao (Kế hoạch giao: Tỷ lệ số xã đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 là 6%).
- Bình quân số tiêu chí đạt/xã là 8,11 tiêu chí, tăng 2,61 tiêu chí/xã so với năm
2015 nhưng chưa đạt chỉ tiêu Thủ tướng Chính phủ giao giai đoạn 2016-2020 là 8,5tiêu chí/xã
- Các xã còn lại có 13 xã cơ bản đạt từ 10 -14 tiêu chí, có 39 xã đạt từ 5 - 9 tiêuchí; còn 24 xã đạt dưới 5 tiêu chí chiếm 20,68%, giảm 44 xã so với năm 2015 (năm
2015 còn 68 xã dưới 5 tiêu chí)
1.3 Các kết luận qua phân tích tổng quan
Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước về tiến trình xây dựng mô hìnhphát triển nông thôn mới và nghiên cứu tình hình phát triển nông thôn của nước tatrong những năm qua cho thấy xây dựng mô hình nông thôn mới là sự nghiệp mang
Trang 32tính chiến lược, việc xây dựng mô hình nông thôn ở mỗi vùng có những kết quả khácnhau, nhưng có thể khái quát thành những kinh nghiệm trong quá trình xây dựng môhình nông thôn mới cho miền núi như:
- Cần phát huy vai trò chủ thể của nhân dân Phát huy vai trò của cả hệ thốngchính trị và của toàn xã hội để xây dựng NTM, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm, đểkhông một ai đứng ngoài cuộc, phải thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở để “dânbiết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và hưởng thụ”
- Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, vận động xây dựng NTM mộtcách thường xuyên, sâu rộng, thiết thực với nhiều hình thức để cán bộ và nhân dân,mọi người, mọi nhà hiểu được ý nghĩa, quyền lợi và trách nhiệm của mình, từ đóchung sức, chung lòng, bắt tay xây dựng NTM
- Phải tranh thủ và huy động được nhiều nguồn lực đầu tư, lồng ghép các cácchương trình, dự án, tạo ra nguồn lực tổng hợp đầu tư xây dựng nông thôn mới mộtcách đồng bộ, hiệu quả Nguồn vốn đầu tư xây dựng NTM là rất lớn, do đó phải đadạng hoá nguồn lực đầu tư Phát huy nội lực địa phương là chính, tận dụng tối đanguồn lực và lợi thế tại chỗ
- Việc xây dựng NTM phải có cách làm chủ động, sáng tạo, phù hợp với điềukiện và đặc điểm từng địa phương, không thể máy móc rập khuôn Việc xây dựng đề
án và chỉ đạo thực hiện căn cứ vào đặc điểm cụ thể, lợi thế cũng như nhu cầu thiếtthực của địa phương và người dân tại chỗ để quyết định nội dung nào làm trước
- Làm tốt công tác tuyên truyền, vận động giáo dục, thuyết phục để đội ngũ
cán bộ đảng viên và nhân dân nhận thức rõ và thấy được tầm quan trọng để xâydựng nông thôn mới, đây là một chương trình lớn mang tính tổng hợp về kinh kế, vănhóa xã hội, an ninh quốc phòng, do đó đòi hỏi phải có sự vào cuộc đồng bộ, quyết tâmcao của cả hệ thống chính trị Từ đó hiểu rõ nội dung, cách làm, nghĩa vụ và tráchnghiệm của từng tổ chức và cá nhân trong xây dựng NTM Để xóa bỏ tư tưởng trôngchờ Nhà nước, cần có sự phân công đăng ký nhiệm vụ đối với từng tổ chức, từngngành, tăng cường kiểm tra đôn đốc, đánh giá phân loại vào thi đua khen thưởng
Trang 33- Xây dựng nội quy, quy chế hoạt động, phân công rõ trách nhiệm cho từngcấp từng bộ phận, từng thành viên, quản lý, cụ thể, rõ ràng, không để tình trạng nétránh, tập trung lãnh đạo với phương châm “dễ làm trước khó làm sau” không nóngvội, càng không để mất cơ hội.
- Thực hiện chủ trương xã hội hóa, huy động các nguồn lực trong cộng đồng
dân cư, con em thành đạt xa quê và các doanh nghiệm có tiềm lực và tâm huyết vớinông thôn, khai thác các nguồn thu tại địa phương “Lấy sức dân để lo cho dân” tạonguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng thuộc nhómkhông có hỗ trợ của nhà nước
- Phát huy tốt quy chế dân chủ công khai, minh bạch, thực hiện tốt công tác
kiểm tra giám sát, kịp thời chấn chỉnh, điều chỉnh, uốn nắn những lệch lạc tạo niềmtin cho quần chúng nhân dân
Tồn tại và bất cập trong xây dựng nông thôn mới:
- Nguồn nhân lực ở cả cấp trung ương và địa phương không đáp ứng đượcnhu cầu công việc Cán bộ tham gia chương trình chưa nhận thức rõ việc áp dụngcách tiếp cận khuyến khích sự tham gia của cộng đồng
- Việc xây dựng mô hình phát triển nông thôn mới mang xu hướng như các dự
án đầu tư Các nguồn lực trong cộng đồng không được huy động triệt để phục vụcho yêu cầu phát triển Trong khi đó, các mô hình đều đòi hỏi có sự đầu tư lớn từcác nguồn bên ngoài cộng đồng, tâm lý ỷ lại, trông chờ hoàn toàn vào sự đầu tư hỗtrợ của Nhà nước là phổ biến
- Đối tượng tác động của Chương trình là người dân nông thôn không được xácđịnh rõ ngay từ đầu Do vậy, người dân nông thôn không được tham gia tích cựctrong các hoạt động của Chương trình Tổ chức thực hiện không lưu tâm đến vai trò
tổ chức cộng đồng cấp thôn xóm nên chưa thực sự tạo được động lực mạnh mẽ đểhuy động người dân tham gia tích cực vào các hoạt động phát triển tại chính cộngđồng nơi họ sinh sống
- Tuy đội ngũ cán bộ chủ chốt tại các xã điểm đã được tập huấn, đào tạo,nhưng do nhiều nguyên nhân, nhận thức của cán bộ lãnh đạo các cấp và người dân
Trang 34tại các xã điểm về phát triển nông thôn mới còn nhiều bất cập Do vậy, khi thựchiện xây dựng mô hình tại địa phương, họ vẫn còn đứng ngoài cuộc, chưa thực sựcho rằng họ đóng vai trò chính và quan trọng, quyết định sự thành bại của mô hìnhphát triển nông thôn mới.
- Ngoài ra, đội ngũ cán bộ trong hệ thống hỗ trợ công tác phát triển nông thônchưa thực sự tin rằng cán bộ và người dân tại các xã điểm tham gia xây dựng môhình có thể tự làm được nên thường nghĩ và làm thay phần việc đáng ra địa phươngphải làm Đội ngũ cán bộ hỗ trợ “quên” vai trò chính của mình là (1) phát hiện vàkhơi dậy khả năng tiềm tàng, tính tự tin của người dân để huy động sự tham gia tíchcực của họ và (2) tư vấn, hỗ trợ để người dân tự lập kế hoạch xây dựng mô hìnhnông thôn mới cho chính họ và cộng đồng của họ
Trang 35Chương 2
TÌNH HÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
CỦA HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
2.1 Tổng quan về huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
2.1.1 Vị trí địa lý
Nậm Pồ là một huyện miền núi, biên giới, nằm về phía Tây bắc của tỉnh ĐiệnBiên, cách thành phố Điện Biên Phủ khoảng 140 km, có diện tích tự nhiên là149.559,12 ha, có đường biên giới Quốc gia dài 119,7 km, có 2 cửa khẩu phụ.Huyện được thành lập theo Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 25/8/2012 của Chínhphủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập đơn vị hành chính cấp xã,cấp huyện thuộc tỉnh Điện Biên; địa giới hành chính như sau
Phía Đông giáp huyện Mường Chà;
Phía Tây giáp huyện Mường Nhé và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào;Phía Nam giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào;
Phía Bắc giáp huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu
2.1.3 Khí hậu
Nậm Pồ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa khô (mùa đông) vàmùa mưa (mùa hè) Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, có gió
Trang 36mùa đông lạnh khô, chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng (gió Lào); ít mưa, chịunhiều sương muối và rét hại gây bất lợi cho đời sống và sản xuất nông nghiệp Mùamưa từ tháng 5- 10, mưa nhiều với đặc tính diễn biến bất thường, phân hóa đa dạng,
ít chịu ảnh hưởng của bão, nhưng chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam chứa mộtlượng ẩm lớn kèm theo các nhiễu động khí quyển mạnh và thường xuyên đã tạo racác cơn mưa dông, mưa rào kéo dài 2 đến 3 ngày, thường xuất hiện dông, mưa đá
Độ ẩm tương đối trung bình thường từ 78–93% Có lượng mưa lớn, bình quân từ1.800 - 2.500 mm/năm, mưa tập trung từ tháng 6- 9
2.1.4 Thuỷ văn
Hệ thống thủy văn của huyện thuộc phụ lưu vực Sông Đà, có hệ thống khe,suối chằng chịt độ dốc cao, lưu vực ngắn đổ chủ yếu vào bốn dòng suối chính là:Suối Nậm Pồ, suối Nậm Chà, suối Nậm Chim, Nậm Bai Đây là nguồn nước mặtcung cấp cho sinh hoạt và sản xuất của người dân trong huyện, cũng là tiền năngphát triển thủy điện nhỏ
2.1.5 Các nguồn tài nguyên
* Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt của huyện chủ yếu được cung cấp bởi
hệ thống sông Suối Nậm Pồ, suối Nậm Chà, suối Nậm Chim, Nậm Bai, Nậm He vànhiều hệ thống các khe suối nhỏ nằm ở các khe núi, ao, hồ khác Do nằm trên địahình phức tạp, chia cắt mạnh và có độ dốc lớn nên việc khai thác và sử dụng nguồnnước mặt cũng có nhiều hạn chế Chất lượng nguồn nước khá tốt, là nguồn cung cấpnước chủ yếu cho sinh hoạt và sản xuất của người dân trong huyện Hiện chưa có tàiliệu cụ thể nghiên cứu về trữ lượng nước ngầm, nhưng qua khảo sát sơ bộ tại một sốgiếng nước trong khu vực có rừng cho thấy mực nước ngầm nằm ở độ sâu 6-10m,
có thể khai thác dùng trong sinh hoạt cho Nhân dân
Nhìn chung, tài nguyên nước của huyện khá dồi dào, khá thuận lợi cho đầu tưkhai thác thủy điện; nhưng do địa hình dốc, diện tích đồi núi trọc khá nhiều nên việckhai thác phục vụ sinh hoạt và sản xuất khó khăn
* Tài nguyên đất
Trang 37Trải qua quá trình Feralit, bào mòn, rửa trôi, bồi tụ, hình thành mùn, trên địabàn huyện Nậm Pồ có các loại đất sau:
Đất mùn đỏ vàng trên đất đá biến chất, loại đá mẹ Firit (Hs);
* Tài nguyên rừng: Là một huyện có tài nguyên rừng và thảm thực vật khá
phong phú, đa dạng chủng loại cây được phân bố đều trên địa bàn 15/15 xã, hiệncòn tồn tại một số loài cây quý hiếm nằm trong sách đỏ như: Pơ mu, Sa Mu vànhiều loại quý hiếm có giá trị kinh tế cao cũng như trong nghiên cứu khoa học gồm:giổi, sấu, trám, muồng hoa vàng nhưng hiện nay số lượng không đáng kể Các câyrừng nhân tạo chủ yếu là: Keo, tre
Nậm Pồ có tài nguyên rừng rất lớn, chưa tính diện tích đất đồi núi chưa sửdụng có khả năng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp và diện tích rừng phát triển saunương rẫy thì huyện hiện có khoảng 60.000 ha đất có rừng tự nhiên chiếm khoảng40% tổng diện tích tự nhiên của huyện
Đất lâm nghiệp chưa có rừng (theo quy hoạch 3 loại rừng) trên địa bàn huyện
có khoảng 52.000 ha, tập trung chủ yếu ở các xã Si Pa Phìn khoảng 8.000 ha, Phìn
Hồ khoảng 5.000 ha, Pa Tần khoảng 5.000 ha, Vàng Đán khoảng 3.400 ha v.v
* Tài nguyên khoáng sản: Nậm Pồ chưa có nghiên cứu đánh giá về tài
nguyên khoáng sản trên địa bàn, theo khảo sát sơ bộ tài nguyên khoáng sản trên địabàn huyện chỉ có khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường như: đá kết xâydựng thông thường tuy nhiên trữ lượng nhỏ, phân bố không tập trung
Hiện có các điểm mỏ đá đã được cấp phép khai thác gồm mỏ đá Pa Tần xã PaTần của Công ty TNHH Trường Thọ Điện Biên; mỏ đá Huổi Nhạt 2, xã Chà Nưacủa công ty cổ phần đầy tư xây dựng và thương mại Huy Hoàng;
Trang 38Còn một số điểm mỏ đá chưa khai thác gồm: Huổi Sang xã Nà Hỳ; Nà Cang
xã Chà Nưa; Km 51; Km 53 bản Pa Tần xã Pa Tần; Phi Lĩnh xã Si Pa Phìn; NàKhoa xã Nà Khoa; Nậm Chim xã Si Pa Phìn; Nà Hỳ 1 xã Nà Hỳ v.v
Trữ lượng cát sỏi trên các suối của huyện trữ lượng ít, không tập trung, chấtlượng không cao do lẫn phù sa đất
2.2 Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở huyện Nậm Pồ
Chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Nậm Pồ được tổ chức triểnkhai thực hiện có nhiều thuận lợi và khó khăn Tuy nhiên, với tinh thần đoàn kết, nỗlực, quyết tâm phấn đấu, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong huyện đã đạtđược những kết quả quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội Để đánh giá quátrình triển khai, thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Nậm Pồ,cùng với việc nghiên cứu tập trung các nội dung tại 03 xã Chà Nưa, Si Pa Phìn và
xã Chà Cang kết hợp nghiên cứu sự phát triển kinh tế - xã hội chung của huyện đểphân tích
2.2.1 Phát triển kinh tế
Trong lĩnh vực phát triển kinh tế, huyện đã tập trung chỉ đạo, đẩy mạnh cácgiải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế, tích cực huy động các nguồn lực để tổ chức,phát triển có hiệu quả các mô hình
Đối với cơ cấu kinh tế chung của huyện, trong những năm qua đã có sựchuyển dịch và tăng tỷ trọng sản xuất của ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụthương mại, giảm dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp Năm 2018, cơ cấu kinh tếnông - lâm nghiệp và thủy sản chiếm 50,48% giảm 12,2% so với năm 2016; côngnghiệp - xây dựng chiếm 24,18 % tăng 4,12% so với năm 2016; thương mại - dịch
vụ chiếm 25,34% tăng 8,08% so với năm 2016 và thu nhập bình quân đầu ngườinăm 2018 đạt 10,33 triệu đồng/năm
Bảng 2 1: Cơ cấu kinh tế của huyện Nậm Pồ (2016-2018)
2016
Năm 2017
Năm 2018
Trang 39(Nguồn: Báo cáo KT-XH năm 2018 của UBND huyện Nậm Pồ)
Nhằm thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế huyện đã tập trung tổ chức pháttriển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất lúa 02 vụ, phát triển trồng cây sanhân dưới tán rừng, với cơ cấu cây trồng phù hợp cho từng vùng Xây dựng cácvùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa, an toàn, bền vững, đáp ứng nhu cầu tiêu thụtrong huyện; khai thác triệt để lợi thế của cánh đồng Nà Hỳ, Nà Bủng, Chà Nưa….Tổng diện tích cây lương thực có hạt năm 2018 ước đạt 8.376,6 ha (tăng 537 ha sovới năm 2015); tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 19.005,45 tấn (tăng2.550,05 tấn so với năm 2015), lương thực có hạt bình quân đầu người ước đạt363,27 kg/người/năm
Lĩnh vực chăn nuôi - thủy sản tiếp tục có bước phát triển đa dạng, nhiều môhình chăn nuôi trang trại gắn với phát triển kinh tế vườn, đồi, ứng dựng các tiến bộkhoa học kỹ thuật mới đã xuất hiện Xác định các sản phẩm chủ lực cần được đầu tưphát triển như chăn nuôi đại gia súc, bảo vệ phát triển rừng: ước tính tổng đàn giasúc trong toàn huyện là 67.939 con tăng 10.345 con so với năm 2016; gia cầm151.989 con tăng 25.827 con so với năm 2016 Diện tích thủy sản toàn huyện đạt120,55 ha, tổng sản lượng ước đạt 155,13 tấn Công tác bảo vệ, phát triển rừng đượcquan tâm chỉ đạo, giai đoạn 2015 đến nay đã trồng 119,17 ha rừng (rừng sản xuất88,09 ha, rừng phòng hộ 31,08 ha); bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, độ che phủ rừngđạt 39,55%; hàng năm lập hồ sơ chi trả dịch vụ môi trường rừng gần 50 nghìn ha.Ngoài ra còn một số sản phẩm có tiềm năng khác trong thời gian tới cần đánh giá vàđịnh hướng phát triển như cây dược liệu (sa nhân, quế, sả); chít; mật ong rừng…Chỉ đạo xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2016-2020
và hàng năm; thành lập 15 hội dùng nước tại 15 xã để quản lý, vận hành các côngtrình thủy lợi, nước sinh hoạt trên địa bàn theo quy định Hiện địa bàn huyện có 03hợp tác xã đang hoạt động (HTX nông lâm nghiệp và dịch vụ xã Na Cô Sa, HTXtiểu thủ công nghiệp Chà Cang và HTX nuôi ong rừng Chà Nưa) Ngoài ra còn cómột số tổ, nhóm hợp tác sản xuất tại các xã Chà Nưa, Chà Cang Việc phát triển
Trang 40kinh tế hộ, kinh tế trang trại được khuyến khích phát triển, hiện nay toàn huyện cótrên 173 mô hình kinh tế hộ, chủ yếu là mô hình chăn nuôi.
Lĩnh vực đầu tư xây dựng trong giai đoạn vừa qua tăng nhanh nhờ có sự quản
lý, huy động nguồn vốn Huyện đã tăng cường các giải pháp huy động các nguồn vốn
để đấu tư phát triển kinh tế xã hội Tổng nguồn lực huy động để thực hiện Chươngtrình giai đoạn 2016-2018 khoảng 405.239,995 triệu đồng, trong đó (Vốn trực tiếpcho Chương trình: 79.886 triệu đồng; vốn từ các Chương trình, dự án khác:325.353,995 triệu đồng ) Các nguồn vốn đầu tư của huyện được tập trung nhiều chophát triển hạ tầng giao thông, giáo dục, y tế, thủy lợi từng bước xây dựng nông thônphát triển
Lĩnh vực thương mại - dịch vụ: đã tổ chức tốt việc cung ứng hàng hóa phục
vụ cho sản xuất và tiêu dùng, gắn với tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường,nâng cao chất lượng các dịch vụ thương mại đáp ứng nhu cầu của các thành phầnkinh tế và người dân Cơ sở vật chất, hạ tầng thương mại được đầu tư xây dựng,phát triển theo đúng quy hoạch Tổng mức bán lẻ hàng hóa và kinh doanh dịch vụnăm 2018 đạt 200,79 tỷ đồng
2.2.2 Về xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn
Những năm qua, huyện đã chú trọng quan tâm đầu tư xây dựng, nâng cấp vàphát triển các kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn nhằm đáp ứng ngày càngtốt hơn yêu cầu phát triển nhất là về thuỷ lợi, giao thông, điện, thông tin truyềnthông, hạ tầng y tế, giáo dục, nước sinh hoạt, văn hoá thể thao Cụ thể như sau:
- Giao thông: được được coi là khâu đột phá trong xây dựng hạ tầng nông
thôn Để nâng cấp hệ thống giao thông nông thôn phục vụ phát triển kinh tế - xãhội, Việc đầu tư hoàn thiện hệ thống giao thông, nhất là các tuyến đường liên bản, trụcbản được quan tâm đầu tư; từ năm 2014 đến nay thực hiện xây dựng nông thôn mớitrên địa bàn huyện hệ thống giao thông được đầu tư mở mới, nâng cấp 40 công trìnhvới tổng chiều dài 152,1 km Hiện nay hệ thống giao thông trên toàn huyện có tổngchiều dài 890,63 km bao gồm cả hệ thống đường Quốc lộ và Tỉnh lộ Trong đó cáctuyến đường giao thông do UBND huyện quản lý có tổng số 677,83 km bao gồm