Đặc biệt, trong kinh tế, thị trường đóng một vai trò hết sức quan trọng, nếu kinh tế phát triển giúp đất nước phát triển thì có một thị trường tiêu thụ rộng lớn, giàu có cũng là một lợi
Trang 1Ề TÀI : PHÂN TÍCH KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA THỊ
TRƯỜNG NÊU GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ NÔNG SẢN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Trang 2MỞ ĐẦU 3 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 5 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ NÔNG SẢN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 8 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ NÔNG SẢN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 14 KẾT LUẬN 17 TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của một đất nước Một đất nước giàu mạnh là một đất nước có nền kinh tế phát triển,
có quy mô cơ cấu kinh tế toàn diện và hơn thế nữa chính là có sự định hướng đúng đắn trong kinh tế thị trường Đặc biệt, trong kinh tế, thị trường đóng một vai trò hết sức quan trọng, nếu kinh tế phát triển giúp đất nước phát triển thì
có một thị trường tiêu thụ rộng lớn, giàu có cũng là một lợi thế mạnh thúc đẩy cho sự phát triến kinh tế Vì vậy, tìm hiểu thị trường giúp chúng ta nắm rõ hơn về thị trường tiêu thụ chủ chốt của nước ta, cũng như có những nhận thức đúng đắn về thị trường của đất nước đặc biệt trong bối cảnh kinh tế hội nhập Hơn thế nữa, khi đất nước ta là một đất nước nông nghiệp, mặt hàng nông sản là mặt hàng chủ yếu trong nền kinh tế thì đề xuất để đưa ra các giải pháp phát triển tiêu thụ nông sản trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế cũng
là một vấn đền hết sức quan trọng cần được giải đáp
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Làm rõ khái niệm và vai trò của thị trường và đề xuất những giải pháp phát triển thị trường tiêu thụ nông sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Phân tích khái niệm và vai trò của thị trường
Tìm giải pháp phát triển thị trường nông sản Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề thị trường
Phạm vi nghiên cứu: Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 4 Cơ sở lý luận: Quan điểm chủ nghĩa Mác- Lê nin về thị trường.
Phương pháp nghiên cứu: thống nhất, logic, lịch sử, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và hệ thống hóa
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn đề tài
Ý nghĩa lý luận: Góp phần làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin
về vấn đề thị trường và vai trò của nó
Ý nghĩa thực tiễn: Đưa đến cho người đọc cái nhìn cụ thể hơn về thị trường và nhận ra vai trò, tầm quan trọng của nó trong phát triển kinh tế
Trang 5NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1 Khái niệm thị trường
Thị trường là tổng hòa những quan hệ kinh tế trong đó nhu cầu của các chủ thể được đáp ứng thông qua việc trao đổi, mua bán với sự xác định giá cả
và số lượng hàng hóa, dịch vụ tương ứng với trình độ phát triển nhất của nền sản xuất xã hội
Thị trường ra đời, phát triển gắn liền với sự phát triển của sản xuất hàng hóa Cùng với sự phát triển nhanh chóng của sản xuất và trao đổi, khái niệm thị trường cũng có những quan niệm khác nhau
Theo nghĩa hẹp, thị trường là nơi diễn ra hành vi trao đổi, mua bán hàng
hóa giữa các chủ thể kinh tế với nhau Tại đó, người có nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ sẽ nhận được thứ mình cần và ngược lại, người có hàng hóa, dịch vụ
sẽ nhận được một số tiền tương ứng Thị trường có biểu hiện dưới hình thái thể là chợ, cửa hàng, quầy hàng lưu động, văn phòng giao dịch hay siêu thị
Theo nghĩa rộng, thị trường là tổng hòa các mối quan hệ lien quan đến
trao đổi, mua bán hàng hóa tron xã hội, được hình thành do những điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội nhất định Theo nghĩa này, thị trường là tổng thể các mối quan hệ kinh tế gồm: cung, cầu, giá cả; quan hệ hàng – tiền; quan hệ giá trị; qía trị sử dụng; quan hệ hợp tác, cạnh tranh; quan hệ trong nước, ngoài nước… Cùng với đó là các yếu tố kinh tế như nhu cầu người mua, người bán; tiền – hàng; dịch vụ mua bán… Tất các quan hệ và yếu tố kinh tế này được vận động theo quy luật của thị trường
2. Phân loại thị trường
Trang 6Nghiên cứu về thị trường có nhiều cách tiếp cận khác nhau tùy theo tiêu thức hoặc múc đích nghiên cứu
Căn cứ vào đối tượng hàng hóa đưa ra trao đổi, mua bán trên thị trường, có thể chia ra thị trường tài liệu sản xuất và thị trường tư liệu tiêu
dùng
Căn cứ vào phạm vi hoạt động, có thể chia ra thị trường trong nước và
thị trường thế giới
Căn cứ vào đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất có thể chia ra thị
trường các yếu tố đầu vào, thị trường hàng hóa đầu ra
Căn cứ vào tính chuyên biệt của thị trường có thể chia thành các loại thị
trường gắn với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
Căn cứ vào tính chất và cơ chế vận hành của thị trường, có thế chia ra
thị trường tự do, thị trường có điều tiết, thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo
Ngày nay, các nền kinh tế phát triển ngày càng nhanh và phức tạp hơn,
do hệ thống thị trường cũng biến đổi phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển của nền kinh tế Vì vậy, để tổ chức có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đòi hỏi phải hiểu rõ về bản chất hệ thống thị trường, những quy luật kinh tế cơ bản của thị trường và các vấn đền liên quan khác
3 Vai trò của thị trường
Xét trong mối quan hệ với thúc đẩy sản xuất và trao đổi hàng hóa (dịch vụ) cũng như thúc đẩy tiến bộ xã hội, vai trò của thị trường có thể được khái quát như sau:
Một là, thị trường là điều kiện, môi trường cho sản xuất phát triển.
Sản xuất hàng hóa càng phát triển, hàng hóa càng nhiều, đòi hỏi thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn Sự mở rộng thị trường đến lượt nó lại thúc đẩy
Trang 7sản xuất phát triển Vì vậy, thị trường là môi trường kinh doanh, là điều kiện không thể thiếu được của quá trình kinh doanh
Thị trường là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng Thị trường đặt ra các nhu cầu cho sản xuất cũng như nhau cầu tiêu dùng Vì vậy, thị trường có vai trò thông tin Định hướng cho mọi như càu sản xuất kinh doanh
Hai là, thị trường kích thích sự sáng tạo của mọi thành viên trong xã
hội, tạo ra cách thức phân bổ hiệu quả nguồn lực trong nền kinh tế.
Thị trường thúc đẩy các quan hệ kinh tế không ngừng phát triển Do đó đòi hỏi các thành viên trong xã hội phải không ngừng nỗ lực, sáng tạo để thích ứng được với sự phát triển của thị trường Sự sáng tạo được thị trường chấp nhận, chủ thể snags tạo sẽ được thụ hưởng lợi ích tương xứng Khi lợi ích được đáp ứng, động lực cho sáng tạo được thúc đẩy Cứ như vậy, kích thích sự sáng tạo của, mọi thành viên trong xã hội
Thông qua các quy luật thị trường, các nguồn lực cho sản xuất được điều tiết, sử dụng hiệu quả nhất, thị trường tạo ra cơ chế để lựa chọn các chủ thể có năng lực sử dụng nguồn lực hiệu quả trong nền sản xuất
Ba là, thị trường gắn kết nền kinh tế thành một chỉnh thể, gắn kết nền
kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới.
Xét trong phạm vi quốc gia, thị trường làm cho các quan hệ sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng trở thành một thể thống nhất Thị trường không phụ thuộc vào địa giới hành chính Thị trường gắn kết mọi chủ thể giữa các khâu, giữa các vùng miền vào một chỉnh thể thống nhất Thị trường phá vỡ ranh giới sản xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc để tạo thành hệ thống nhất định trong nền kinh tế
Xét trong quan hệ với nền kinh tế thế giới, thị trường làm cho kinh tế trong nước gắn liền với kinh tế thế giới Các quan hệ sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng không chỉ bó hẹp trong phạm vi nội bộ quốc gia, mà
Trang 8thông qua thị trường, các quan hệ đó có sự kết nối, liên thông với các quan hệ trên phạm vi thế giới Với vai trò này, thị trường góp phần thúc đẩy sự gắn kết nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ NÔNG SẢN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1 Đặc điểm của thị trường nông sản
Một là, giá cả dễ biến động trong thời gian ngắn.
Giá của các nông sản có thể thay đổi đột ngột trong vòng một tuần và thậm chí một ngày Sự biến đổi giá nhanh chóng thường do các lý do sau Trước hết, là sự phối hợp kém giữa cung và cầu, cung nhiều hơn cầu đẩy giá nông sản xuống thấp và ngước lại cung nhỏ hơn cầu sẽ đẩy giá nông sản lên cao Bên cạnh đó, điều phối hàng hóa nông sản chưa hợp lý làm tác động mạnh tới giá của các mặt hàng dễ hỏng như hoa quả và rau, sắn và cá tươi Những nông sản này không thể bảo quản lâu và phải bán đi nhanh chóng Do
đó, giá của những nông sản đó có xu hướng giảm nhiều vào cuối thời điểm buôn bán hoặc nếu có một lượng hàng lớn đột ngột xâm nhập làm cung vượt quá cầu thị trường
Hai là, thị trường nông sản mang tính mùa vụ.
Tính thời vụ thể hiện rõ ở sự biến động của giá cả thị trường theo thời
vụ, đặc biệt là tính không ổn định của giá cả thị trường đầu ra Nguồn cung của thị trường nông sản thường chỉ tập trung vào vụ thu hoạch, sau đó giảm vào vụ Tính chất thời vụ làm cho giá thành nông sản không ổn định có sự chênh lệch lớn giữa chính vụ và trái vụ
Ba là, phụ thuộc vào thời tiết.
Sự biến đổi về giá giữa các năm của các mặt hàng nông nghiệp cũng có thể thay đổi đáng kể giữa các năm Điều kiện tự nhiên như thời tiết, mưa, bão,
lũ lụt,…là những nguyên nhân chính của sự biến đổi giá này do sự tác động
Trang 9của chúng tới nguồn cung Ví dụ, thiên tai bão, lũ có thể ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp và dẫn đến sự gia tăng về giá Ngược lại, điều kiện thời tiết thuận lợi có thể có tác động tích cực tới mức độ sản xuất và khiến cho hàng hóa nông sản tràn ngập thị trường
Bốn là, thị trường nông sản mang tính rủi ro cao.
Tính rủi ro cao là một đặc trưng của thị trường nông sản Biến động giá
cả là một nguyên nhân chính của sự rủi ro này Người sản xuất có thể thấy rằng giá thị trường vào thời điểm thu hoạch không đủ chi trả cho các chi phí sản xuất trong khi các thương nhân không thể kiếm lời từ công việc buôn bán của mình Sản phẩm bị thối, hỏng cũng là một rủi ro Sản phẩm nông nghiệp
có thể chịu ảnh hưởng của sâu bệnh, bị dập nát hoặc giảm giá trị trong quá trình vận chuyển, lưu kho, mua bán, khiến người nông dân và thương nhân bị thua lỗ Thiên tai bất ngờ cũng là một rủi ro không lường trước được
Năm là, chi phí giao dịch và vận chuyển cao.
Giá của các loại nông sản khi đến tay người tiêu dùng thường rất cao, cao hơn rất nhiều so với giá ban đầu của sản phẩm mà người sản xuất bán ra Điều này là do chi phí marketing, các rủi ro và chi phí vận chuyển quá cao Những nguyên nhân đẩy giá nông sản cao khi đến tay người tiêu dùng: Thương lái tập hợp/thu mua các nông sản từ những nông dân ở vùng sâu, xa, sản xuất nhỏ lẻ thường tốn nhiều chi phí; các sản phẩm nông sản thường phải vận chuyển qua quãng đường dài, tốn chi phí vận chuyển Nếu bảo quản không tốt sẽ làm hư hỏng sản phẩm,…
Sáu là, thông tin thị trường không đầy đủ
Tiếp cận thông tin thị trường yếu kém là một nguyên nhân quan trọng của thị trường nông sản không hiệu quả Thiếu thông tin dẫn tới chi phí tiếp thị và rủi ro cao và dẫn đến phối hợp không tốt giữa cung và cầu
Trang 102 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ nông sản
Trong thời gian qua, mặc dù sản lượng hàng nông sản của nước ta đã được tăng lên đáng kể song chưa có nhiều chuyển biến về chất lượng Bên cạnh đó, việc tiêu thụ hàng nông sản nước ta cũng đang gặp nhiều khó khăn Trong những năm vừa qua, hàng nông sản nước ta luôn phải gặp tình cảnh
“được mùa mất giá” Điều này xuất phát từ nguyên nhân lớn nhất là sản xuất nông nghiệp của nước ta chủ yếu tự phát, chưa gắn với thị trường, với chuỗi giá trị ngành hàng Các doanh nghiệp kinh doanh về lĩnh vực nông nghiệp của nước ta chưa phát triển theo hướng bền vững, chưa mạnh dạn xây dựng các vùng nguyên liệu vì không có thị trường ổn định Các doanh nghiệp sản xuất hàng nông sản đang phụ thuộc quá nhiều vào một số thị trường xuất khẩu chủ yếu như Trung Quốc, Philipine, Indonexia, Malaysia… mà chưa mở rộng tới các thị trường cao cấp khác như các nước trong khối Liên minh Châu Âu, Mỹ…
Mối quan hệ giữa người nông dân và doanh nghiệp trong tiêu thụ hàng nông sản chưa có sự gắn kết cao Thực tế sản xuất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy, giữa doanh nghiệp và người nông dân thường xảy ra tình trạng “bội tín lẫn nhau” Người nông dân thường chỉ bán hàng nông sản qua thương lái mà ít làm việc trực tiếp với các doanh nghiệp nông sản vì sợ bội tín Điều này dẫn tới tình trạng tư thương, thương lái ép giá nông sản của nông dân
Các chính sách hỗ trợ tiêu thụ hàng nông sản của Nhà nước được đánh giá là chưa có tính tổng thể, chưa giải quyết tận gốc vấn đề Các chính sách của Nhà nước cũng chỉ mới dừng lại ở việc hỗ trợ doanh nghiệp, vì vậy, người nông dân chưa được hưởng lợi trực tiếp từ các chính sách này Ví dụ như mua tạm trữ hàng nông sản; cho doanh nghiệp vay vốn không lãi suất để mua hàng nông sản (đặc biệt là lúa) với giá rẻ…
Trang 113. Tình hình thị trường tiêu thụ nông sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Trong 10 năm trở lại đây công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể Nếu năm 2010, Việt Nam mới chỉ
có 18 thị trường xuất khẩu đạt hơn 1 tỷ USD, thì đến năm 2015 đã tăng lên 28 thị trường Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của các thị trường hơn 1 tỷ USD chiếm gần 90% kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước Tuy năm 2015
so với năm 2014, do khó khăn về thời tiết, nhu cầu và giá cả thị trường khiến giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính đạt 14,04 tỷ USD, giảm 1,9%; nhưng xuất khẩu nông nghiệp vẫn có nhiều điểm sáng tích cực, tổng giá trị xuất siêu đạt 7,09 tỷ USD Xuất khẩu các mặt hàng lâm sản chính đạt 7,23 tỷ USD, tăng 10,2% Đặc biệt, có sự cải thiện cơ cấu theo hướng nâng cao tỷ lệ thành phẩm cao cấp và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, bảo quản nông sản xuất khẩu, tiêu biểu là trong 6,55 triệu tấn gạo xuất khẩu, thì gạo trắng cao cấp và gạo thơm chiếm 47% (gạo trắng cao cấp chiếm gần 28,5%, tăng gần 36,5% và gạo thơm chiếm gần 23%, tăng gần 18,5%) Xuất khẩu tiêu đạt 135.000 tấn, với giá trị kim ngạch 1,26 tỷ USD, tuy giảm 13% về khối lượng, nhưng tăng 5% về giá trị Xuất khẩu điều đạt 328.000 tấn, tăng 8,3% và là năm đầu tiên đạt kim ngạch hơn 2,5 tỷ USD, tăng 20,2% Điều này
đã thể hiện đầu tư công nghệ chế biến và máy móc thiết bị, năng xuất lao động từng bước được nâng cao
Với tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng hằng năm đạt khoảng 5-7%, góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu năm 2018 đạt mức kỷ lục 40,3 tỷ USD, đứng thứ hai Đông Nam Á, thứ 13 trên thế giới với 10 nhóm mặt hàng nông, lâm, thủy sản có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ đô la Mỹ; trong đó có 6 mặt hàng
có kim ngạch trên 3 tỷ đô la Mỹ Việt Nam đã hình thành và phát triển hệ thống công nghiệp chế biến nông sản với trên 7.500 doanh nghiệp quy mô công nghiệp gắn với xuất khẩu có công suất thiết kế đảm bảo chế biến trên
Trang 12120 triệu tấn nguyên liệu nông sản mỗi năm Ngoài ra, hàng vạn cơ sở chế biến nông sản nhỏ, lẻ, hộ gia đình rải khắp cả nước thực hiện sơ chế và chế biến chủ yếu phục vụ tiêu dùng nội địa, tăng thu nhập cho nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới
Tại một số thị trường mới như Trung Đông, Singapo, lượng tiêu thụ điều Việt Nam cũng tăng rất mạnh, đến gần 80% Việt Nam hiện đang chế biến tới 50% sản lượng điều xuất khẩu trên thế giới Tuy vậy, nhu cầu xuất khẩu tăng, nhưng sản lượng điều thô trong nước chỉ đáp ứng được 40% nên Việt Nam phải nhập khẩu tới 60% từ châu Phi, Indonesia về để chế biến Một thuận lợi cho ngành điều Việt Nam là hầu hết 11 nước thành viên TPP đều có nhu cầu cao nhập khẩu điều của Việt Nam Nếu theo đúng cam kết, khi thực thi TPP, thuế nhập khẩu điều vào các thị trường này giảm từ 2 - 5% xuống còn 0%, sẽ giúp cho Việt Nam tăng sức cạnh tranh về mặt hàng này
Thị trường nông sản của Việt Nam không những ngày càng đáp ứng tốt hơn thị trường trong nước, mà không ngừng mở rộng ra thị trường thế giới Trong thời gian qua, Việt Nam đã ký kết một số hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương với các nước trên thế giới (FTA với Hàn Quốc, FTA với Liên minh Châu Âu, TPP, FTA vói Cộng đồng kinh tế ASEAN, ), vì thế thời gian tới, nước ta sẽ có cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu hàng nông sản với thuế thấp hoặc không thuế suất Bên cạnh đó, nước ta cũng có cơ hội
để nhập khẩu các nguyên, phụ liệu nông nghiệp một cách thuận lợi hơn Theo
số liệu của Viện Nghiên cứu Thương mại Bộ Công Thương, ngành nông nghiệp nước ta tạo ra khoảng 20% GDP và thu hút trên 55% lao động cả nước, với hàng chục triệu hộ nông dân, 10.500 hợp tác xã nông nghiệp và hơn 33.000 doanh nghiệp, trong đó đã có 16 doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận Việt Nam hiện có hàng chục mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực mang tầm vóc quốc