Theo đó, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật về văn hóa và du lịch được quan tâm đầu tư; di sản văn hóa vật thể, phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị; phong trào “Toà
Trang 1Số 03-ĐA/TU Lào Cai, ngày 11 tháng 12 năm 2020
ĐỀ ÁN Phát triển văn hoá, du lịch tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2020 - 2025
PHẦN THỨ NHẤT
SỰ CẦN THIẾT VÀ CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
I SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Những năm qua, lĩnh vực văn hóa và du lịch tỉnh Lào Cai đã có bước phát triển mạnh mẽ; nhận thức về vai trò của của văn hoá và du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội được nâng lên Văn hóa được xác định là một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển bền vững và ngày càng gắn kết chặt chẽ với phát triển du lịch Lào Cai đã xây dựng và triển khai nhiều đề án, chương trình, quy hoạch lớn về lĩnh vực văn hóa,
du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh và bố trí nguồn lực bảo đảm thực hiện Theo đó, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật về văn hóa và du lịch được quan tâm đầu tư; di sản văn hóa vật thể, phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị; phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục tác động sâu rộng, tích cực trong đời sống, xã hội; công tác giao lưu đối ngoại, hợp tác quốc tế về văn hóa, du lịch ngày càng phát triển Nhiều cơ chế, chính sách tạo cơ sở pháp lý cho công tác xây dựng và phát triển văn hóa tại địa phương được ban hành Từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa đô thị và nông thôn Chú trọng xây dựng con người Lào Cai có nhân cách, lối sống tốt đẹp, phát huy truyền thống yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo; góp phần ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội
Du lịch Lào Cai đã có bước tăng trưởng mạnh mẽ, đang dần trở thành lĩnh vực
“đột phá” trong phát triển kinh tế của tỉnh và được đánh giá là địa phương dẫn đầu khu vực Tây Bắc Năm 2019, tổng lượt khách du lịch đến Lào Cai đạt 5,1 triệu lượt; tổng thu du lịch năm 2019 đạt 19.200 tỷ đồng Năm 2020, do ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19, các chỉ tiêu về du lịch không giữ được tốc độ tăng trưởng, do vậy cần tập trung các giải pháp nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, sản phẩm và nhân lực du lịch, chuẩn bị các điều kiện tốt nhất để quảng bá, kích cầu du lịch; giữ vững thương hiệu du lịch Lào Cai
Tuy nhiên, hạ tầng phục vụ phát triển văn hóa, du lịch còn thiếu, chưa đồng bộ,
nhất là tại Khu du lịch quốc gia Sa Pa; nguồn nhân lực tham gia phát triển văn hóa, du
lịch còn hạn chế; bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể chưa thực sự gắn kết với phát triển du lịch; chất lượng các hoạt động dịch vụ văn hóa và du lịch chưa cao; sản phẩm văn hóa, du lịch chưa đa dạng, chưa đặc sắc; công tác xúc tiến, quảng bá du lịch tại thị trường khách quốc tế chưa nhiều; hợp tác quốc tế về văn hóa, du lịch chưa phát huy hết hiệu quả
Trang 2Nguyên nhân là do việc đầu tư kết cấu hạ tầng du lịch đòi hỏi vốn lớn, song nguồn
hỗ trợ đầu tư hạ tầng du lịch của Trung ương đối với tỉnh còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của địa phương; nhân lực chất lượng cao về du lịch thường tập trung tại các đô thị lớn, chưa quan tâm đến thị trường lao động Lào Cai; quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường, sự bùng nổ của công nghệ thông tin, các luồng văn hoá độc hại xâm nhập mạnh mẽ đến vùng sâu, vùng xa, dẫn đến nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc thiểu số có nguy cơ mai một cao Bên cạnh đó, tác động của các vấn đề môi trường như thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, đặc biệt là của đại dịch Covid-19 đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng, toàn diện, kéo dài đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhất là đối với lĩnh vực văn hóa, du lịch
Mặt khác, quá trình triển khai thực hiện các dự án kết cấu hạ tầng giao thông, điện nước, công trình công cộng chưa đảm bảo tiến độ; ngân sách đầu tư cho phát triển du lịch và văn hoá còn hạn hẹp, chưa thu hút được nhiều nguồn lực đầu tư từ xã hội để tổ chức các hoạt động văn hóa, cung cấp dịch vụ văn hóa phục vụ phát triển du lịch; thiếu các cơ chế, chính sách đột phá để thu hút nguồn lực đầu tư phát triển du lịch; chưa xây dựng được chiến lược, kế hoạch phát triển sản phẩm du lịch đặc sắc, xúc tiến quảng bá
du lịch dài hạn, khoa học, khả thi; công tác đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ phục vụ du lịch chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn của các doanh nghiệp, địa phương
Nhằm tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động văn hóa; Xử lý hài hoà giữa bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch bền vững ở địa phương, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Lào Cai; Khai thác có hiệu quả các tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch của tỉnh, khắc phục những tồn tại, hạn chế, tận dụng các cơ hội mới, phấn đấu phát triển đột phá lĩnh vực du lịch, làm động lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao mức đóng góp vào tăng trưởng GRDP của tỉnh, tạo hạ tầng vững chắc, phát triển mạnh mẽ sản phẩm du lịch đặc thù, giải quyết việc làm và hỗ trợ cho tăng trưởng, phát triển của nhiều ngành, lĩnh vực khác như: vận tải, logictics, ăn uống, chăm sóc sức khỏe, giải trí, sản xuất nông nghiệp, phát triển làng nghề,…
Do vậy, cần thiết phải xây dựng Đề án “Phát triển văn hoá, du lịch tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2020 - 2025”.
II CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
- Nghị quyết số 01-NQ/ĐH ngày 16 tháng 10 năm 2020 của Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020 - 2025
Trang 3PHẦN THỨ HAI MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP GIAI ĐOẠN 2020 - 2025
I MỤC TIÊU
1 Mục tiêu tổng quát
Phát triển đồng bộ lĩnh vực văn hoá, du lịch, gắn với xây dựng con người Lào Cai đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững Du lịch là lĩnh vực đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, xây dựng Khu du lịch quốc gia Sa Pa giàu bản sắc, hiện đại, đáp ứng tiêu chuẩn du lịch Asean Tập trung đầu tư phát triển hạ tầng du lịch, các công trình văn hóa lớn; ưu tiên phát triển sản phẩm du lịch đặc thù, gắn với bản sắc độc đáo của các dân tộc; quan tâm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển; đổi mới hình thức tuyên truyền, quảng bá du lịch, nhất là về Khu du lịch quốc gia Sa Pa; tăng cường liên kết, hợp tác trong nước và quốc tế về du lịch Tiếp tục hoàn thiện
hệ thống cơ chế, chính sách; bảo tồn, khai thác, phát huy các di sản văn hóa truyền thống phục vụ phát triển du lịch; Xây dựng môi trường văn hóa, nếp sống văn hóa văn minh, hiện đại, giàu bản sắc
Phấn đấu đến năm 2025, đưa Lào Cai trở thành điểm đến hấp dẫn nhất của khu vực miền núi phía Bắc; Là một trong 10 điểm đến của Việt Nam được du khách yêu thích nhất
2 Mục tiêu cụ thể giai đoạn 2020-2025
2.1 Về văn hóa
- Hằng năm, tỷ lệ hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá đạt trên 86%; tỷ lệ thôn, bản, tổ dân phố đạt tiêu chuẩn văn hoá đạt trên 80%
- Nghiên cứu đầu tư xây dựng từ 02 công trình văn hóa quy mô cấp tỉnh (Nhà hát tỉnh, Tượng đài,…).
- 100% xã, phường, thị trấn có Trung tâm văn hóa, thể thao (Nhà văn hóa xã) đạt chuẩn
- Bảo tồn tối thiểu 06 lễ hội, nghi lễ truyền thống; 02 nghề thủ công truyền thống Sưu tầm, bảo tồn văn hóa phi vật thể 02 nhóm ngành dân tộc ít người có nguy
cơ mai một cao Lập hồ sơ khoa học và đề nghị công nhận 05 di tích lịch sử văn hóa,
10 di sản văn hóa phi vật thể Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa nghệ thuật 05 nhóm ngành dân tộc Mông, Tày, La Chí, Hà Nhì, Nùng 100% số xã, phường, thị trấn có mô hình Câu lạc bộ phòng, chống bạo lực gia đình
- Quan tâm phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, phát huy được lợi thế của địa phương, chú trọng xây dựng các sản phẩm, dịch vụ văn hóa có thương hiệu, gắn liền với quảng bá hình ảnh, con người Lào Cai, có khả năng tham gia sâu rộng vào chuỗi sản phẩm, dịch vụ văn hóa trong nước
2.2 Về du lịch
- Phấn đấu đón từ 10 triệu lượt khách du lịch trở lên
- Tổng thu từ khách du lịch: Phấn đấu đạt 44.750 tỷ đồng; đóng góp vào GRDP
từ 22 - 23%
Trang 4- Thu hút 40.000 - 42.000 lao động trong lĩnh vực du lịch (trong đó 18.000 lao động trực tiếp, 24.000 lao động gián tiếp)
- Tập trung phát triển 08 nhóm sản phẩm du lịch đặc thù (nghỉ dưỡng cao cấp; văn hóa, cộng đồng; sinh thái, nông nghiệp, làng nghề; du lịch thể thao; hội thảo, sự kiện; mua sắm; du lịch thực tế ảo - du lịch thông minh; du lịch biên giới) theo Kế hoạch
Phát triển sản phẩm du lịch trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2021-2025
- Tổng số cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh: 1.400 cơ sở; số buồng khách sạn tiêu chuẩn từ 3 - 5 sao: 10.000 buồng
II NHIỆM VỤ
1 Về phát triển văn hóa
1.1 Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa, gắn với xây dựng con người Lào Cai đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững
- Nghiên cứu xây dựng Nghị quyết chuyên đề về xây dựng văn hóa con người Lào Cai đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững
- Triển khai hiệu quả công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, gắn với với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh trên địa bàn toàn tỉnh
- Tập trung đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hoá từ tỉnh đến cơ sở; Số lượng 750 lượt người
- Tổ chức tập huấn nghiệp vụ công tác gia đình cấp huyện, xã và cộng tác viên tại cộng đồng khu dân cư; Số lượng 300 lượt người
- Triển khai thực hiện Đề án "Tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình Việt Nam" tại 25 xã trên địa bàn tỉnh; hỗ trợ triển khai xây dựng 45 mô hình bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình tại 45 xã, phường, thị trấn
- Đẩy mạnh giáo dục, cung cấp cho các thành viên gia đình về chủ trương, chính sách, luật pháp liên quan đến gia đình Tập trung giải quyết các vấn đề về tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, bạo lực gia đình tại các địa phương, đặc biệt đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa Hỗ trợ triển khai xây dựng mô hình Câu lạc bộ phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống tại 40 xã đông đồng bào dân tộc thiểu số, có tỷ lệ tảo hôn cao; thành lập mô hình câu lạc bộ phòng, chống bạo lực gia đình tại 75 xã, phường, thị trấn, đảm bảo 100% các xã, phường, thị trấn có Câu lạc bộ hoạt động; Mô hình gắn hương ước, quy ước với bảo vệ rừng và xây dựng nông thôn mới tại 50 xã
- Hỗ trợ hoạt động đội văn nghệ thôn, bản trên toàn tỉnh Xây dựng 50 đội văn nghệ thôn bản tiêu biểu phục vụ phát triển du lịch
- Chú trọng xây dựng các sản phẩm, dịch vụ văn hóa đa dạng, đặc sắc đáp ứng
nhu cầu, thị hiếu của người dân, phục vụ phát triển du lịch (như: nghệ thuật biểu diễn;
ca khúc; tác phẩm văn học, mỹ thuật, nhiếp ảnh; bảo tàng, thư viện…)
1.2 Đẩy mạnh giao lưu, hợp tác về văn hoá, góp phần quảng bá hình ảnh văn hoá, con người Lào Cai
Trang 5- Thực hiện khảo sát, nghiên cứu, góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử gắn với các địa chỉ đỏ nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến và làm việc tại Vân Nam, Trung Quốc
- Lập hồ sơ khoa học tuyến đường sắt Điền Việt đề nghị công nhận là di sản thế
giới (di sản chung 3 nước Việt Nam - Trung Quốc - Cộng hòa Pháp)
- Xây dựng phim tư liệu ký sự về Đường sắt Điền Việt
- Tiếp tục triển khai các hoạt động giao lưu, hợp tác văn hóa (thư viện, bảo tàng,
…) với Châu Hồng Hà (Vân Nam- Trung Quốc).
- Tiếp tục triển khai các hoạt động giao lưu, hợp tác văn hóa gắn với du lịch với vùng Nouvelle Aquitaine (Cộng hòa Pháp): Đào tạo, chuyển giao kỹ thuật vận hành bảo tàng theo mô hình là trung tâm diễn giải văn hóa và điểm tham quan, du lịch; trưng bày, giới thiệu di sản văn hóa Lào Cai tại vùng Nouvelle Aquitaine (Cộng hoà Pháp),…
1.3 Đầu tư, bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, cơ sở vật chất văn hoá phục vụ phát triển du lịch, góp phần xóa đói, giảm nghèo
1.3.1 Bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá phi vật thể
a) Bảo tồn lễ hội, phong tục tập quán xã hội tiêu biểu phục vụ phát triển du lịch: Nghi lễ Then cầu mùa của người Giáy tỉnh Lào Cai; Tết cơm mới của người Dao đỏ huyện Bát Xát; Lễ cúng rừng của người Nùng, huyện Si Ma Cai, huyện Mường Khương; Nghi lễ Then Khoăn, của người Tày ở huyện Văn Bàn; Tết tháng 7 của người
La Chí, huyện Bắc Hà; Nghi lễ then của người Tày xã Phú Nhuận, huyện Bảo Thắng
b) Sưu tầm, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể có nguy cơ mai một của các dân
tộc ít người: Ngành Dao Tuyển, tỉnh Lào Cai; nhóm ngành Mông Trắng huyện Văn
Bàn, Bát Xát, Bắc Hà, Si Ma Cai và thị xã Sa Pa
c) Bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc phục vụ phát triển du
lịch: Xây dựng và triển khai Dự án bảo tồn phát huy trang phục truyền thống các dân
tộc trên địa bàn tỉnh tỉnh Lào Cai giai đoạn 2021 – 2025 phục vụ phát triển du lịch
d) Bảo tồn và phát huy Nghề thủ công truyền thống đặc sắc các dân tộc Dao,
Mông: Nghề làm tranh thờ của dân tộc Dao (ngành Dao đỏ); Nghề làm khèn Mông, sáo
Mông phục vụ phát triển du lịch
e) Bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá nghệ thuật các dân tộc:
- Phục dựng, bảo tồn và phát triển múa gậy tiền dân tộc Mông; múa xoè dân tộc Tày (xoè vòng, xoè đập lưng,…); múa sừng trâu của người La Chí; múa ngựa của người Nùng
- Sưu tầm, bảo tồn và phát triển dân ca Mông (một số bài hát cổ), dân ca Hà Nhì, huyện Bát Xát
g) Nghiên cứu, lập hồ sơ khoa học 10 di sản văn hóa phi vật thể đề nghị Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, gồm:
Tri thức dân gian trong canh tác ruộng bậc thang của người Hà Nhì; Nghệ thuật trang trí trên trang phục người Dao Họ ở các huyện Bảo Thắng, Văn Bàn; Nghề đan lát người
Hà Nhì Đen, huyện Bát Xát; Nghệ thuật múa ngựa giấy người Nùng Dín, huyện Mường Khương; Tết mừng cơm mới của người Xá Phó, huyện Văn Bàn; Nghi lễ cúng rừng của người Pa Dí, huyện Mường Khương; Nghi lễ “Ta pao phù” của người Bố Y, huyện Mường Khương; Tết tháng 7 của người Mông Xanh, huyện Văn Bàn; trang phục
Trang 6dân tộc Bố Y huyện Mường Khương; trang phục dân tộc Phù Lá (ngành Phù Lá Hán) huyện Bắc Hà
h) Nghiên cứu, lập hồ sơ nghệ nhân (nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú) cho
25 nghệ nhân, dự kiến đến năm 2025 trên địa bàn toàn tỉnh có 50 nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú trong lĩnh vực văn hóa phi vật thể
1.3.2 Đầu tư, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích danh thắng và cơ sở vật chất Nhà Bảo tàng tỉnh phục vụ phát triển du lịch
a) Xây dựng hồ sơ di tích xếp hạng cấp tỉnh đối với các di tích danh thắng trên địa bàn tỉnh, gồm: Đồn Pháp (thị trấn Bắc Hà, huyện Bắc Hà); Đền Ông Tiên (cây 2, thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương); Phế tích Thành cổ Giàng Chẩn Mìn (xã Lùng Thẩn, huyện Si Ma Cai); Đình Làng Nhớn (xã Cam Đường, thành phố Lào Cai); Di tích Đền Mẫu Sảng Chải (thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương);… Nghiên cứu, khảo sát lập hồ sơ đối với Di tích nơi Bác Hồ lên thăm Lào Cai (thành phố Lào Cai)
b) Cắm mốc giới khoanh vùng bảo vệ đối với các di tích danh thắng trên địa bàn
tỉnh, gồm: Di tích đền Kim Sơn (huyện Bảo Yên); Di tích Đền Vạn Hòa (thành phố Lào
Cai); Di tích Đền Ngòi Bo (thành phố Lào Cai); Di tích Đền Đồng Ân (huyện Bảo Thắng); Di tích Đền Mẫu Thượng (huyện Sa Pa); Di tích Đền Mẫu Sơn (huyện Sa Pa);
Di tích Khu căn cứ cách mạng Việt Tiến (huyện Bảo Yên); Di tích danh thắng Động Thiên Long (huyện Bắc Hà); Khu di tích Chiến thắng Đồn Coóc (huyện Văn Bàn); Di tích Đền Cô Ba (xã Phú Nhuận, huyện Bảo Thắng)
c) Trùng tu, tôn tạo 02 di tích danh thắng: Đền Phúc Khánh, thị trấn Phố Ràng
huyện Bảo Yên thuộc quần thể Phế tích lịch sử Thành cổ Nghị Lang (Di tích Quốc gia năm 2001); Di tích lịch sử cách mạng Khu căn cứ Soi Cờ - Soi Giá, xã Gia Phú, huyện Bảo Thắng (Di tích cấp tỉnh năm 2007)
d) Nghiên cứu, thám sát dấu tích cổ: Thành cổ Trung Đô (huyện Bắc Hà); Thành
cổ Nghị Lang (địa phận xã Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên)
e) Sưu tầm, phục chế hiện vật, sản xuất video, sách ảnh phục vụ trưng bày tại Bảo tàng tỉnh
g) Sưu tầm, bổ sung, phục chế, hoàn thiện hệ thống hiện vật tại Bảo tàng tỉnh:
- Lào Cai tiền sử, sơ sử: Cổ sinh; thời đại đồ đá; thời đại kim khí
- Các hiện vật thuộc các giai đoạn lịch sử: Các triều đại phong kiến; thời kỳ Pháp thuộc, Cách mạng và kháng chiến chống Pháp, chiến tranh chống Mỹ, chiến tranh Biên giới; Lào Cai hội nhập và phát triển
- Các hiện vật dân tộc học; tài nguyên thiên nhiên: Hiện vật phục vụ không gian
trưng bày ngoài trời (mô hình nhà, mô hình lễ hội,…).
- Phục chế hiện vật chất liệu đồng tiêu biểu thời sơ sử: Sưu tập trống đồng (07
hiện vật); sưu tập chậu, bát, nồi, bình đồng (14 hiện vật); sưu tập thạp, khay, đỉnh, sanh, lưỡi cày, liễm đồng (13 hiện vật)
h) Sưu tầm, quay phim, dựng 05 video chuyên đề (dạng tư liệu): Cổ sinh, thời đồ
đá, thời kỳ đồ đồng; đa dạng sinh học, tài nguyên thiên nhiên; Lào Cai qua các triều đại phong kiến; Lào Cai trong kháng chiến chống Mỹ, Pháp, biên giới; tổng quan văn hóa các dân tộc, nhóm ngành dân tộc (giai đoạn 01 lựa chọn 06/13 dân tộc)
Trang 7i) Biên tập, xuất bản sách về cổ vật Lào Cai: Nghiên cứu, giới thiệu bằng hình
ảnh về các hiện vật, bộ sưu tập hiện vật là cổ vật thuộc các thời kỳ tiền sử, sơ sử, đã khai quật, sưu tầm trên địa bàn tỉnh Lào Cai
1.4 Tăng cường đầu tư hệ thống thiết chế, trang thiết bị văn hóa gắn với phục vụ phát triển du lịch
1.4.1 Cấp tỉnh
- Đầu tư xây dựng Nhà hát tỉnh Lào Cai (nhà biểu diễn nghệ thuật truyền thống) tại thành phố Lào Cai; quy mô trên 1.200 chỗ ngồi và các công trình phụ trợ
- Nghiên cứu đầu tư xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh tại Công viên Hồ Chí Minh (thành phố Lào Cai); nghiên cứu chuẩn bị đầu tư xây dựng tượng đài Trần Hưng Đạo (tại thành phố Lào Cai)
- Đầu tư xây dựng hệ thống công viên, khu vui chơi giải trí hiện đại, cầu cảng văn
hóa…(Nâng cấp Công viên Nhạc Sơn; Công viên văn hóa Phường Bình Minh, thành phố Lào Cai; Cầu Phú Thịnh, phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai; Công viên văn hóa Ý Lình Hồ, thị xã Sa Pa;…)
- Đầu tư hệ thống trang thiết bị trưng bày cố định cho Nhà Bảo tàng tỉnh
- Đầu tư thiết bị chiếu phim cho 02 đội chiếu phim lưu động và trang thiết bị cho Đội Tuyên truyền lưu động cấp tỉnh thuộc Trung tâm Văn hoá và Điện ảnh tỉnh
- Xây dựng cơ sở dữ liệu, nâng cấp Thư viện điện tử: Số hoá tài liệu, bảo dưỡng, sửa chữa, nâng cấp hệ thống trang thiết bị thư viện điện tử thuộc Thư viện tỉnh Lào Cai; xây dựng cơ sở dữ liệu số hoá về tài liệu, hiện vật Bảo tàng tỉnh
- Nghiên cứu xây dựng mô hình hoạt động của Nhà văn hóa tỉnh (gồm Trung tâm Văn hóa và Điện ảnh, Rạp chiếu phim, Thư viện) và Nhà thi đấu đa năng theo mô hình
hoạt động của Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội (gồm một chuỗi dịch vụ như tổ chức
sự kiện văn hóa, thể thao; thư viện đa phương tiện; trung tâm dạy ngoại ngữ, mỹ thuật,
…)
1.4.2 Cấp huyện
- Đầu tư xây dựng và nâng cấp các Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Truyền thông các huyện, thị xã: Văn Bàn, Bắc Hà, Sa Pa,…
- Đầu tư trang thiết bị cho 06 đội tuyên truyền lưu động cấp huyện (Bảo Yên, Bảo Thắng, Si Ma Cai, Mường Khương, thị xã Sa Pa, thành phố Lào Cai)
1.4.3 Cấp cơ sở
- Đầu tư xây dựng 23 Trung tâm Văn hoá - Thể thao xã (nhà văn hóa xã) đạt chuẩn, theo mẫu định hình
- Đầu tư, sửa chữa, nâng cấp, mở rộng 500 nhà văn hoá thôn, bản, tổ dân phố trên địa bàn toàn tỉnh, đáp ứng yêu cầu về tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, hội họp của Nhân dân
- Hỗ trợ đầu tư trang thiết bị cho 100 Trung tâm Văn hoá - Thể thao xã (nhà văn hóa xã); 1.000 nhà văn hóa khu dân cư trên địa bàn tỉnh
2 Về phát triển đột phá du lịch
Trang 8Trong giai đoạn 2020 - 2025, ngành du lịch Lào Cai xác định khai thác tốt tiềm năng, lợi thế trở thành khâu đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tập trung phát triển Khu du lịch quốc gia Sa Pa và một số trọng điểm du lịch của tỉnh (thành phố Lào Cai, Bắc Hà, Bát Xát)
2.1 Đầu tư phát triển hạ tầng du lịch, kết nối Khu du lịch quốc gia sang phân khu Y Tý (Bát Xát)
2.1.1 Đầu tư phát triển hạ tầng Khu du lịch quốc gia Sa Pa
- Đầu tư hệ thống đường giao thông kết nối Khu du lịch Sa Pa với các địa phương trong tỉnh: Tuyến đường Sa Pa - Bát Xát - Thành phố Lào Cai; Sa Pa - Bảo
Thắng - Văn Bàn; Sa Pa - Thành phố Lào Cai - Bắc Hà (nhiệm vụ Đề án số 4: Phát triển, nâng cao chất lượng các đô thị và giao thông trọng điểm tỉnh Lào Cai giai đoạn
2020 - 2025).
- Đầu tư, nâng cấp hoàn thiện và đưa vào khai thác hệ thống đường giao thông kết nối các phân khu du lịch (thuộc Khu du lịch quốc gia) với nhau: Đô thị du lịch Sa
Pa kết nối với các phân khu du lịch Tả Phìn, Ngũ Chỉ Sơn (Bản Khoang - Tả Giàng Phình cũ); Séo Mý Tỷ - Tả Van, Thanh Bình (Thanh Kim cũ); Mường Hum Phân khu
du lịch Tả Phìn kết nối với Ngũ Chỉ Sơn (Bản Khoang - Tả Giàng Phình cũ) - Mường Hum - Y Tý - Bản Qua và ngược lại
- Đầu tư nâng cấp tuyến đường phát triển du lịch bền vững: Đường Trịnh Tường – Phìn Hồ - Y Tý (30km); Nút giao Phố Lu – Sa Pa (36km); Sa Pả - Sâu Chua – Hầu
Thào (13,8km); Bắc Ngầm – Bắc Hà (25km); Ô Quý Hồ, Sa Pa - Y Tý (Dự án phát triển Đô thị và du lịch bền vững tỉnh Lào Cai giai đoạn 2020 - 2025, vốn vay Ngân hàng Thế giới WB).
- Đầu tư, nâng cấp hệ thống đường giao thông trong 07 phân khu du lịch
- Đầu tư, phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng giao thông trên địa bàn toàn tỉnh, phục vụ phát triển du lịch (Đề án do Sở Giao thông vận tải và Xây dựng chủ trì)
2.1.2 Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và các dịch vụ hỗ trợ phục vụ phát triển du lịch đạt chuẩn các tiêu chí ASEAN
- Nâng cấp hệ thống các khách sạn từ 3 sao trở lên theo tiêu chuẩn Việt Nam, đáp ứng các tiểu chuẩn Bông sen xanh
- Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các dự án lớn: Công viên văn hóa Mường Hoa; Công viên văn hóa Sa Pa; Sân Golf Bát Xát; Khu quần thể du lịch, vui chơi giải trí ga
đi Cáp treo; Dự án du lịch sinh thái Biển Mây Bát Xát,…
Tiếp tục thu hút các dự án đầu tư lớn về vui chơi giải trí, trung tâm thương mại -dịch vụ, hệ thống nhà hàng ẩm thực, casino tại khu vực Đồi Con Gái; dự án du lịch cao cấp kết hợp sinh thái nông nghiệp, hệ thống resort đạt chuẩn quốc tế tại khu vực thung lũng Mường Hoa - Lao Chải - Hầu Thào; dự án nghỉ dưỡng tại khu vực Sâu Chua,…
- Đầu tư xây dựng và hoàn thiện hạ tầng viễn thông, điện, nước, dịch vụ tài chính phục vụ khách du lịch; cải thiện, nâng cấp dịch vụ vệ sinh môi trường Xây dựng hệ thống biển chỉ dẫn du lịch; xây dựng từ 07 - 10 nhà vệ sinh công cộng theo Tiêu chuẩn nhà vệ sinh công cộng ASEAN tại Khu du lịch quốc gia Sa Pa
Trang 9- Nâng cấp Nhà du lịch Sa Pa trở thành Nhà du lịch cấp vùng theo tư vấn của chuyên gia vùng Nouvelle Aquitaine (Cộng hòa Pháp) để phục vụ khách du lịch có thu phí
- Thu hút các dự án đầu tư lớn về du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái nông nghiệp,
du lịch cộng đồng, chăm sóc sức khỏe, thể thao mạo hiểm tại: Tả Phìn, Bản Khoang - Tả Giàng Phình (xã Ngũ Chỉ Sơn mới), Tả Van - Séo Mý Tỷ, Thanh Kim (xã Thanh Bình mới), (thị xã Sa Pa); Mường Hum, Y Tý, Bản Qua (sân Golf), (huyện Bát Xát)
- Đầu tư xây dựng 04 Nhà du lịch vệ tinh thuộc Nhà du lịch cấp vùng tại 04 phân khu du lịch: Tả Van, Thanh Kim (xã Thanh Bình mới); Tả Phìn (thị xã Sa Pa); Mường Hum (huyện Bát Xát)
2.2 Phát triển sản phẩm du lịch tỉnh Lào Cai giai đoạn 2020 - 2025
Triển khai thực hiện Kế hoạch Phát triển sản phẩm du lịch trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2021 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030, phấn đấu đưa Lào Cai trở thành địa phương
có nhiều sản phẩm du lịch hấp dẫn nhất so với các tỉnh miền núi trong cả nước, cụ thể:
2.2.1 Sản phẩm du lịch lưu trú nghỉ dưỡng cao cấp:
- Duy trì và nâng cấp sản phẩm đã có: Tập trung nâng cấp Khu du lịch quốc gia
Sa Pa trở thành “Kinh đô du lịch mùa hè của Việt Nam” Duy trì, nâng cấp giữ vững chất lượng các khách sạn cao cấp 3 - 5 sao Đầu tư thêm các hạng mục đối với Khu nghỉ dưỡng Topas - nơi được bình chọn là một trong các khu nghỉ dưỡng độc đáo nhất thế giới Tiếp tục tạo không gian xanh tại Khu biệt thự nghỉ dưỡng Jade Hill (Sa Pa), đầu tư thành các biệt thự nghỉ dưỡng đẳng cấp
- Phát triển các sản phẩm du lịch mới: Đầu tư, khai thác suối khoáng nước nóng (phường Pom Hán, thành phố Lào Cai); phát triển sản phẩm du lịch "Thiên đường nghỉ dưỡng núi tại Sa Pa” quy mô trên 400 phòng; sản phẩm du lịch "Nghỉ dưỡng phục hồi sức khỏe" (xã Tả Phìn, thị xã Sa Pa); Khu nghỉ dưỡng Lếch Dao (xã Thanh Bình, thị xã
Sa Pa); Du lịch nghỉ dưỡng (xã Y Tý, huyện Bát Xát) Xây dựng công viên vui chơi giải trí huyện Bát Xát gắn với sân Golf và các biệt thự nghỉ dưỡng, tắm nước khoáng nóng; sân Golf Bắc Cường (thành phố Lào Cai) Xây dựng sản phẩm với các phân khu chức năng theo quy hoạch chi tiết đô thị du lịch Y Tý
2.2.2 Sản phẩm du lịch văn hóa - cộng đồng:
- Duy trì và nâng cấp sản phẩm đã có: Mở thêm các dịch vụ trải nghiệm, tổ chức sự
kiện văn hóa, phật giáo lớn thu hút du khách tại Quần thể du lịch văn hóa tâm linh cáp treo Sa Pa Duy trì chương trình du lịch tâm linh dọc sông Hồng (Lào Cai – Yên Bái – Phú Thọ); Chương trình "Hành trình khám phá cung đường di sản Văn hóa ruộng bậc thang Tây Bắc”; Chương trình du lịch khám phá nét văn hóa của chợ phiên vùng cao; các Chương trình du lịch gắn với lễ hội văn hóa truyền thống đặc sắc của các dân tộc Dao, Mông, Tày, Giáy, Hà Nhì Duy trì 10 mô hình du lịch cộng đồng đạt tiêu chuẩn Asean tại thị xã Sa Pa và huyện Bắc Hà; đầu tư nâng cấp các điểm du lịch cộng đồng đang khai thác thuộc thị xã Sa Pa và các huyện Bắc Hà, Bát Xát, Mường Khương, Bảo Yên
- Phát triển các sản phẩm du lịch mới:
+ Sản phẩm du lịch văn hóa: Quy hoạch, xây dựng hạ tầng đô thị, cảnh quan để
đưa vào khai thác các tour du lịch Lào Cai (Đền Thượng, Chùa Tân Bảo, Cầu Kiều, Cột mốc biên giới; Đền Thượng, Thành cổ Lưu Vĩnh Phúc, Công viên Hồ Chí Minh, Đền Cấm, Đền Quan, Đền Vạn Hòa, Đền Đôi Cô, Chùa Cam Lộ, ); Xây dựng Bảo
Trang 10tàng tỉnh Lào Cai thành điểm thăm quan trải nghiệm độc đáo nhất vùng Tây Bắc và trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học về di chỉ khảo cổ, văn hóa, lịch sử; hình thành các không gian văn hóa nghệ thuật điêu khắc, bích họa, kiến trúc nghệ thuật, ảnh viện ngoài trời, ; xây dựng đường dạo bờ kè sông Hồng; xây dựng bức tường tranh gốm
sứ kết hợp trình diễn ánh sáng (từ cầu Cốc Lếu đến Cầu Phố Mới) tạo điểm nhấn về đêm thu hút du khách lưu trú tại thành phố Lào Cai
Đầu tư chống xuống cấp và tổ chức tour du lịch riêng trải nghiệm di tích lịch sử Khu Chạm khắc cổ Sa Pa, di tích danh thắng ruộng bậc thang Sa Pa (thị xã Sa Pa); ruộng bậc thang thung lũng Thề Pả (huyện Bát Xát) Khai thác sản phẩm du lịch tâm linh tại Bát Xát; xây dựng Đền Cô Ba (xã Phú Nhuận), Đền Đồng Ân (xã Thái Niên) huyện Bảo Thắng; xây dựng quần thể tâm linh Chùa Ba mẹ con (huyện Bắc Hà); Bảo tồn, tôn tạo hang động Na Măng (xã Pha Long), động Hàm Rồng (thị trấn Mường Khương) huyện Mường Khương; hang động Mường Vi, huyện Bát Xát; Đầu tư các hang động huyện Văn Bàn Bảo tồn, khai thác các di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố thành sản phẩm du lịch: Nghi lễ Xuống đồng (Lễ hội lồng tồng) người Tày; Nghi lễ Cấp sắc Dao; Lễ hội Đền Cô, xã Tân An; Lễ hội Đền Bảo Hà (xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên)
+ Sản phẩm du lịch cộng đồng: Phát triển du lịch văn hóa gắn với du lịch cộng
đồng xã Tả Phời, Hợp Thành (thành phố Lào Cai); sản phẩm du lịch trải nghiệm văn hóa gắn với du lịch cộng đồng các dân tộc Sa Pa với chủ đề “Sa Pa - Xứ sở trải nghiệm
và tìm hiểu văn hóa truyền thống”; Hình thành 05 điểm du lịch cộng đồng theo tiêu chuẩn ASEAN gắn với đặc trưng 05 dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã gồm: Mông (xã Mường Hoa), Tày (Bản Hồ), Dao (Tả Phìn), Phù Lá (Liên Minh), Giáy (Tả Van) Khai thác du lịch cộng đồng của huyện Bát Xát, hình thành các làng du lịch cộng đồng gắn với đặc trưng các dân tộc; Xây dựng du lịch cộng đồng xã Bản Liền, làng Văn hóa phía Nam hồ Na Cồ, thị trấn Bắc Hà, huyện Bắc Hà gắn với trải nghiệm du lịch văn hóa, nghỉ dưỡng Du lịch văn hóa, trải nghiệm: Kết hợp du lịch văn hóa cộng đồng xã Khánh Yên Thượng, huyện Văn Bàn gắn với dân tộc Tày Xây dựng Làng du lịch cộng đồng gắn với thăm quan trải nghiệm vùng chè xã Phú Nhuận, huyện Bảo Thắng; xây dựng Làng du lịch văn hóa cộng đồng xã Lùng Thẩn, Cán Cấu, Sín Chéng, Bản Mế huyện Si Ma Cai
2.2.3 Sản phẩm Du lịch sinh thái gắn với nông nghiệp - làng nghề:
- Duy trì và nâng cấp sản phẩm đã có:
Đầu tư nâng cấp Công viên Nhạc Sơn, điểm du lịch sinh thái Thảo Nguyên Xanh, hệ thống hang động, thác nước xã Tả Phời, thành phố Lào Cai trở thành điểm tham quan, du lịch cấp tỉnh; Đầu tư nâng cấp đầu tư điểm du lịch sinh thái: Vườn đá, Hàm Rồng, Cát Cát, Thác Bạc, Vườn Hồng Cổ, Vườn Hồng Mộng Mơ, Suối Vàng, Thác tình yêu, rừng già Sín Chải tại thị xã Sa Pa; Thung lũng hoa Bắc Hà, Trang trại hoa hồng Km7 huyện Bắc Hà; điểm sinh thái quế xã Xuân Hòa huyện Bảo Yên; Làng sinh thái Quang Minh; Khu sinh thái Anh Anh xã Xuân Giao huyện Bảo Thắng
Khôi phục và đầu tư xây dựng các nghề truyền thống: Nghề làm trống, nghề làm thuốc tắm của người Dao (Sa Pa); nghề chạm khắc bạc của người Mông (Sa Pa) người Dao (Bát Xát); nghề rèn đúc của người Mông, đan lát của người Hà Nhì (Bát Xát);