Để minh họa điểm này, Kahneman và Frederick 2002 đã xem xét lại nhận thức tương tự mà Tversky và Kahneman 1974 đã sử dụng để giải thích những phương thức phán đoán đã sinh ra các xu hướn
Trang 1CÁC MẶT CỦA GIẢI PHÁP ĐÁNG TIN CẬY:
MỘT VIỄN CẢNH CỦA SỰ ĐÁNH GIÁ VÀ CHỌN LỰA THEO TRỰC GIÁC
DANIEL KAHNEMAN
5 KHẢ NĂNG DỄ NHẬN THỨC CỦA TƯ DUY ĐỂ ĐIỀU CHỈNH
Quan điểm hiện tại giả định rằng hệ thống 2 được bao gồm trong tất cả các hoạt động tự phát - bao gồm các diễn đạt rõ ràng của những phán đoán trực giác được bắt đầu trong hệ thống 1 Giả định này ám chỉ rằng những lỗi trong phán đoán trực giác gồm những thất bại của cả hai hệ thống: hệ thống 1, phát sinh lỗi; và hệ thống
2, tìm ra lỗi và đính chính (Kahneman & Tversky, 1982a) Để minh họa điểm này, Kahneman và Frederick (2002) đã xem xét lại nhận thức tương tự mà Tversky và Kahneman (1974) đã sử dụng để giải thích những phương thức phán đoán đã sinh
ra các xu hướng như thế nào: làm lu mờ mà một gợi ý hay đối với khoảng cách và các khối lượng lớn, nhưng đáng tin cậy trong gợi ý này gây ra các lỗi có thể đoán trước được của đánh giá khoảng cách Trong những ngày có nắng hay mù sương
Sự tương tự có khuynh hướng, nhưng phân tích những ví dụ nhận thức đã sao lãng một hiện tượng quan trọng Đương nhiên những người quan sát biết trời có nắng hoặc mù sương hay không, và họ có thể sử dụng kiến thức này để chống lại các xu hướng - nhưng hầu như họ không thực hiện được Trái ngược với những gì quan điểm trước đó ám chỉ, cách sử dụng như một gợi ý không dẫn đến các khuynh hướng trong phán đoán về khoảng cách là không tránh khỏi Tác động của mù sương trong các biểu tượng của khoảng cách là một thất bại trong hệ thống 1: hệ thống nhận thức không được phác họa để điều chỉnh đối với biến đổi này Tác động tương tự có thể được xác định trong các lỗi khác nhau của phán đoán trực giác
Nó hữu dụng để cân nhắc hệ thống 2 có thể xen vào như thế nào trong các vấn đề của Tom W và Linda đã được miêu tả ở phần trước
Trang 2"Tom W thực hiện giống như một cá nhân thư việ khoa học, nhưng có nhiều sinh viên tốt nghiệp hơn trong Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Do đó, tôi nên sửa lại những bảng xếp loại của mình" "Linda không thể giống một thủ quỹ ngân hàng
nữ quyền hơn là một thủ quỹ ngân hàng đơn thuần Do đó, tôi phải xếp loại hai kết quả này"
Những ví dụ giả thuyết này của hai hình thức minh họa lý luận mà các phán đoán trực giác có thể được đính chính Trong ví dụ Tom W., cá nhân ý thức được một nhân tố không phải là thành phần của phán đoán trực giác, và do đó tạo nên một
nỗ lực để điều chỉnh Trong ví dụ Linda, cá nhân nhận ra rằng câu hỏi có thể được trả lời bằng cách áp dụng một quy tắc quyết định hợp lý, tạo nên những trực giác
về tương phản không liên quan Cả hai sẽ đến dưới đề mục của "những khám phá thỏa đáng", mà đôi khi người ta có năng lực trong việc phát triển lý luận của họ về những sự kiện không rõ ràng (Nisbett, Krantz, Jepson & Kunda, 1983/2002)
Những ví dụ này của lý luận cũng không vượt quá tri thức đạt được của những sinh viên tốt nghiệp tại các trường đại học chuyên môn mà những bảng xếp loại được đưa ra trong Hình 8 Tuy nhiên, dữ liệu chỉ ra rằng thật sự rất ít các bên bị tiếp cận với các đính chính Sự bối rối giống như minh họa mơ hồ: tại sao những người này không đặt kiến thức của họ vào lối sử dụng đúng đắn? Trong ngữ cảnh của quan điểm hiện tại, câu hỏi có thể tái diễn đạt: tại sao các phương thức thống
kê không trở nên dễ nhận thức khi chúng được yêu cầu?
Một thành phần quan trọng của câu trả lời mà sự thay thế tượng trưng là một quy trình kín: các bên bị phán đoán khả năng có thể xãy ra như thể họ được để phán đoán tính tiêu biểu không tự giác về những gì họ đang làm Thuộc tính thay thế thích hợp với nhiêm vụ thực hiện và giá trị của nó tiếp cận với số ít hay không có tác động và với lòng tin cao độ Bởi vậy, có ít nguyên nhân cho những bên bị để hỏi về phán đoán của họ, có lẽ thậm chí ít hơn trong vấn đề đã được đề cập trước Ngược lại, khả năng dễ nhậ thức của phương thức thống kê thường thấp, nhưng nó
Trang 3có thể được gia tăng ít nhất trong hai hình thức: bằng cách gia tăng sự cảnh giác của các hoạt động hiệu thính, hay bằng cách cung cấp nhưng gợi ý mạnh mẽ hơn cho những quy tắc thích ứng
Một chương trình nghiên cứu thực tế được sắp xếp bởi Nisbett, Krantz và đồng nghiệp của họ để điều tra các nhân tố điều khiển khả năng dễ nhận thức của các phương thức thống kê (Nisbett và các đồng sự, 1983/2002) Thí dụ, Nisbett và các đồng sự đã nghiên cứu các vấn đề hình thức tương tự trong một số lĩnh vực Họ cũng chỉ ra rằng việc đề cập rõ ràng một thủ tục mẫu đã làm dễ dàng cho tư duy thống kê (Nisbett và các đồng sự 1983; Gigerenz, Hell & Blank, 1988) Zukier và Pepitone (1984) tìm thấy rằng những bên bị dường như sử dụng thông tin đánh giá
cơ bản khi đã chỉ dẫn để suy nghĩ như những nhà thống kê học hơn là khi hướng dẫn thi đua với các nhà tâm lý học Agnoli và Krantz (1989) phát hiện rằng sự đào tạo ngắn gọn trong sự hợp lý của các chuỗi đã nâng cao thực hành trong một hình thức đơn giản trong vấn đề của Linda Sự cân nhắc khả năng dễ nhận thức hiển nhiên thích ứng với sự hoạt hóa của lý luận thống kê, không chỉ với sự thay thế tượng trưng
Nisbett, Krantz và đồng nghiệp của họ đã kéo một sự phân biệt rõ rệt giữa phương thức thống kê và phương thức trực giác của họ, mà họ đã mô tả như "các quy tắc phán đoán nhanh chóng và nhiều hay ít tự động hơn" (2002, trang 510) Trong xu hướng giống nhau, quan điểm hiện tại phân công phương thức cạnh tranh đến các
hệ thống nhận thức khác nhau Thay thế tượng trưng đã được mô tả như một hoạt động của hệ thống 1, xãy ra một cách tự phát và không nỗ lực Ngược lại, các phương thức thống kê minh họa lý luận quyết định của hệ thống 2 (Sloman, 1996), cân nhắc kỹ càng và đòi hỏi một số tác động Đánh giá lưu ý rằng sự xen vào của
hệ thống 2 và ứng dụng của các phương thức thống kê và các quy tắc khác không bảo đảm một câu trả lời chính xác Các quy tắc mà người ta áp dụng trong lý luận cân nhắc kỹ càng và thỉnh thoảng cũng có sai sót
Trang 4Một ám chỉ về quan điểm trực giác được đề nghị ở đây là đào tạo thống kê không xóa sạch các phương thức khám phá trực giác như tính tiêu biểu, nhưng chỉ làm cho người ta có thể hạn chế một xu hướng được ưu tiên Các kết quả đã chỉ ra trong Hình 8, được thu thập từ những sinh viên tốt nghiệp thông thạo thống kê, các bên bị này tạo nên các dự đoán tuyệt đối giống như mọi người khác - bằng tính tiêu biểu Tuy nhiên, làm thành rắc rối thống kê tạo nên một sự khác biệt trong một hình thức mới được thay thế của Linda thành "một thủ quỹ ngân hàng" hay
"một thủ quỹ ngân hàng tích cực trong vận động nữ quyêng" (Tversky &
Kahneman, 1983) Số lần xãy ra lỗi tồn tại còn cao, nhưng tỷ lệ lỗi rơi vào giữa phép ngụy biện một cách đầy kịch tính
Hiệu quả của hệ thống 2 bị làm suy yếu bởi áp lực thời gian (Finucance,
Alhakami, Slovic & Johnson, 2000), bằng sự bao hàm đồng thời trong một nhiệm
vụ được giao nhận thức khác (Gilbert, 1989, 1991, 2002), và rất bất ngờ, bằng sự tồn tại trong một trạng thái (Isen, Nygen & Ashby, 1988; Bless và các đồng sự, 1996) Trái lại, điều kiện dễ dàng trong hệ thống 2 được đính chính xác thực với
sự hiểu biết (Stanovich & West, 2002) với "nhu cầu cho nhận thức" (Shafir & LeBeouf, 2002) và với sự trình bày tư duy thống kê (Nisbett và các cộng sự, 1983; Agnoli & Krantz, 1989; Agnoli, 1991)
Quan sát có thể phác thảo các thí nghiệm mà đôi khi "làm mất đi những minh họa nhận thức" được sử dụng như một tranh luận chống lại sự hữu ích của những ý niệm của những phương thức hay khuynh hướng (Gigerenzer, 1991) Tuy nhiên, trong cơ cấu tổ chức hiện tại, không có điều bí ẩn về các điều kiện dưới các minh họa nào nảy sinh hay không Một phán đoán trực giác vi phạm một quy tắc mà bên
bị chấp nhận sẽ không được nhắc đến, nếu quy tắc tiếp cận sớm hơn Tranh luận này không lòng vòng bởi vì chúng tôi có đầy đủ kiến thức khoa học (đầy đủ như kiến thức dân gian được chia ra rộng rãi) về các điều kiện mà làm cho dễ dàng hay trở ngại khả năng dễ nhận thức của các quy tắc hợp lý hay thống kê
Trang 5Các ví dụ về những đính chính có thể trong vấn đề của Tom W và Linda đã minh họa hai kết quả có thể xãy ra của sự can thiệp trong hệ thống 2: phán đoán trực giác có thể được sửa đổi, hay bác bỏ và được thay thế bằng một kết luận khác Một
dự đoán chung có thể được tạo ra về trường hợp trước đó, đương nhiên là thường xuyên nhất Bởi vì ấn tượng trực giác đến trước để đáp ứng như một sự vững chắc đối với những phán đoán đến sau, và những sửa đổi đính chính từ những sự vững chắc bình thường không đủ Sự biến đổi trong đề tài này là thông thường trong văn chương (Epley & Gilovich, 2002; Epstein, 1994; Gilbert, 2002; Griffin & Tversky, 1992; Sloman, 2002; Wilson, Genterbar & Brekkem 2002)
Ám chỉ phương pháp luận của phân tích này là những phán đoán và ưu tiên trực giác được nghiên cứu kỹ càng nhất trong các phác thảo Những phác thảo bên trong vấn đề với nhiều thử nghiệm khuyến khích sự chọn lựa của các chiến lược đơn giản hóa mà những câu trả lời được được giải quyết một cách máy mó, không nghiên cứu sâu vào các chi tiết của mỗi vấn đề Những phác thảo đặc biệt không được lưu ý, bởi vì chúng cung cấp một gợi ý không thể nhầm lẫn mà mỗi nhân tố được thao tác phải thích ứng với phán đoán (Kahneman & Frederick, 2002)
Không thích hợp để nghiên cứu các phán đoán trực giác trong các điều kiện được bảo đảm để phá vỡ thuộc tính trực giác Vấn đề khó khăn của những phác họa dựa trên thí nghiệm được lưu ý trược đó rất lâu bởi Kahneman và Tversky (1982a),
những người đã vạch ra rằng "những phác họa ws được kết hợp với các vấn đề có
ý nghĩa của sự giải thích trong một số phạm vi nghiên cứu tâm lý học (Poulton, 1975) Trong các nghiên cứu trực giác, họ chịu trách nhiệm thúc đẩy tác động thay thế được định để thử nghiệm" (trang 500) Không may, sự thận trọng phương pháp luận bị lờ đi
6.NHỮNG PHƯƠNG THỨC NGUYÊN MẪU
Phần này giới thiệu một nhóm phương thức nguyên mẫu phân chia một kiểu mẫu kiên định đáng lưu ý và một kiểu mẫu cơ cấu thông thường của các minh học nhận
Trang 6thức, tương tự với những tác động đã quan sát trong vấn đề của Tom W và Linda (Kahneman & Frederick, 2002) Phương thức nguyên mẫu có thể được miêu tả như một thay thế của một mức độ trung bình cho một tổng số - một quá trình được nghiên cứu rộng rãi bởi Anderson trong các hoàn cảnh khác nhau (Anderson,
1981, trang 58-70, 1991a,b) Phần này cũng được thảo luận các điều kiện dưới mà
hệ thống 2 hạn chế hay giảm bớt những khuynh hướng kết hợp với các phương thức này
Các thuộc tính mở rộng và nguyên mẫu
Các đánh giá mục tiêu trong một số nhiệm vụ có ý nghĩa của việc tạo ra phán đoán
và kết luận là thuộc tính mở rộng của các hạng mục hay chuỗi Giá trị của một thuộc tính mở rộng trong một chuỗi là một khối tập hợp (không cần thiết phải cộng vào) của các giá trị trên sự mở rộng của nó Mỗi nhiệm vụ dưới đây được minh họa bằng một ví dụ của thuộc tính mở rộng trong những nhiệm vụ này ở mức
độ nhận thức thấp, và bởi thế được đưa ra cho phương thức thay thế
(i) sự giải thích hạng mục (ví dụ, khả năng có thể xãy ra mà tập hợp các thủ quỹ ngân hàng trong đó có Linda/số thủ quỹ ngân hàng)
(ii) định giá một số lượng hàng hóa cộng đồng hay cá nhân
(iii) sự đánh giá chung của một sự việc trải qua trong quá khứ và được kéo dài qua
thời gian (ví dụ, sự bác bỏ toàn bộ của một thủ tục y khoa/thời gian thủ tục)
(iv) đánh giá của sự hỗ trợ mà một mẫu quan sát cung cấp cho một giả thuyết (ví
dụ, khả năng có thể xãy ra một mẫu chỉ rõ những trái banh màu/số lượng banh màu)
Các thuộc tính mở rộng được chỉ đạo bởi một nguyên tắc chung của việc thêm vào
có điều kiện, mà quy định rằng mỗi yếu tố của chuỗi cộng vào giá trị tổng thể một
Trang 7khoảng phụ thuộc vào những yếu tố sẵn có Trong các trường hợp đơn giản, giá trị
là để cộng vào: tổng chiều dài của chuỗi đường kẻ trong Hình 3 chỉ là tổng các chiều dài riêng lẻ của chúng Trong các trường hợp khác, mỗi yếu tố xác thực của chuỗi gia tăng giá trị tập hợp, nhưng quy tắc kết hợp không được cộng vào (phần phụ tiêu biểu)
Một hạng mục hay chuỗi đồng nhất hoàn toàn có một nguyên mẫu cũng có thể được mô tả bởi các thuộc tính nguyên mẫu của nó Ở đâu các thuộc tính mở rộng quen thuộc với một tổng số, thuộc tính nguyễn mẫu trung bình Như sự trình bày các đường kẻ trong Hình 3 đã minh họa, các thuộc tính mở rộng dễ nhận thức Quan sát này đuợc cung cấp tư liệu đầy đủ Bất cứ khi nào chúng ta nhìn, hay chúng ta nghĩ, một tổng thể hay hạng mục có nguyên mẫu, thông tin về nguyên mẫu trở nên dễ nhận thức Thảo luận đặc trưng của những hạng mục ở mức độ cơ bản bao gồm những chứng minh dễ dàng với nét đặc trưng nào của nguyên mẫu tiếp cận (Rosch & Mervis, 1975) Thậm chí trước đó, Posner và Kede (1968, 1970) đã tường thuật các thí nghiệm mà những người quan sát được đưa ra trong nhiều thí nghiệm sự méo mó khác nhau của một hình dạng đơn lẻ Hình dạng nguyên mẫu không bao giờ được chỉ ra, nhưng những người quan sát sai lầm khi tin tưởng rằng nó thường được đưa ra Gần đây hơn, một số nghiên cứu tâm lý xã hội đã chỉ ra tên một hạng mục xã hội quen thuộc làm gia tăng khả năng dễ nhận thức của các nét điểm được kết hợp chặt chẽ với chuẩn hóa của nó (Fiske, 1998)
Bởi vì khả năng nhận thức cao của chúng mà các thuộc tính nguyên mẫu là các đặc điểm tự nhiên được chọn lựa cho vai trò của các thuộc tính khám phá Một phương thức nguyên mẫu bao trùm quá trình thay thế một thuộc tính của nguyên mẫu cho một thuộc tính mở rộng hạng mục của nó (Kahneman & Frederick, 2002) Thí dụ nguyênbản của một phương thức nguyên mẫu là giá trị sử dụng của tính tiêu biểu trong giải thích hạng mục Khả năng có thể xãy ra là Linda trở thành
Trang 8một thủ quỹ ngân hàng là một biến đổi mở rộng, nhưng điểm giống nhau của cô đối với một thủ quỹ ngân hàng là thuộc tính nguyên mẫu
Hai phương thức thử nghiệm của các phương thức nguyên mẫu
Vì các thuộc tính nguyên mẫu và mở rộng được chỉ đạo bởi các quy tắc khác nhau riêng biệt, sự thay thế một thuộc tính nguyên mẫu cho một thuộc tính mở rộng kế thừa hai khuynh hướng có thể thử nghiệm: sao lãng việc mở rộng và vi phạm sự nhàm chán Những phương thức thử nghiệm của hai giả thuyết được thảo luận luân phiên
Các phương thức thử nghiệm tính mở rộng
Nhân đôi các chu kỳ của tất cả các giá trị trong chuỗi sẽ không tác động đến các thuộc tính nguyên mẫu, bởi vì những biện pháp của khuynh hướng trọng tâm chỉ phụ thuộc cào các chu kỳ có liên quan Ngược lại, giá trị của một thuộc tính mở rộng sẽ gia tăng đều đều với sự mở rộng Giả thuyết rằng các phán đoán của một thuộc tính mục tiêu được dàn xếp bởi một phương thức nguyên mẫu tăng thêm hỗ trợ nếu các phán đoán không quan tâm đến những biến đổi của sự mở rộng
Đề xuất mở rộng bị sao lãng trong một phán đoán đặc thù có tính chất của một giả thuyết vô hiệu hóa: nó chỉ đúng đắn một cách chính xác nếu tất cả các cá nhân trong kiểu mẫu hoàn toàn không quan tâm đến những biến đổi của sự mở rộng Giả thuyết sẽ bị bác bỏ, trong một nghiên cứu rộng rãi một cách đầy đủ, thậm chí nếu một sự cân đối nhỏ của những người tham gia chỉ ra một số mức độ quan tâm với sự mở rộng Cơ hôi của một số cá nhân đáp lại sự mở rộng được ưu tiên cao, bởi vì các bên bị được đào tạo ý thức được sự thích ứng của biến đổi này một cách tổng quát (Kahneman & Frederick, 2002) Mọi người đồng ý rằng WTP đối với việc cứu sống những con chim nên gia tăng với số lượng chim được cứu sống, kéo dài một thủ tục y khoa từ các hình thức rộng hơn thì đáng tin cậy hơn Bởi vậy sao lãng sự mở rộng hoàn toàn là một phương thức thử nghiệm thật vô lý của các
Trang 9phương thức nguyên mẫu Tuy nhiên, kết quả cực đoan này có thể đạt được dưới các điều kiện ưu tiên, như các ví dụ sau:
* Nghiên cứu của Tom W (xem Hình 8) đã minh họa một kiểu mẫu định giá cơ bản trong giải thích tuyệt đối Phát hiện này quả quyết khi nhiệm vụ đòi hỏi một
bảng phân loại các kết quả đa số (Kahneman & Tversky, 1973) Như đã lưu ý trong phân trước, những người tham dự dùng phép ngụy biện trong thí nghiệm đã
ý thức được đánh giá cơ bản và có khả năng của việc sử dụng kiến thức này trong
dự đoán của họ - nhưng ý nghĩ của việc thực hiện rất hiển nhiên đã không xãy ra với bất cứ ai trong số họ Kahneman và Tversky cũng cung cấp tư liệu hầu hết sao lãng đánh giá cơ bản trong một thí nghiệm (nghiên cứu kỹ sư/luật sư) mà đánh giá
cơ bản được phát biểu rõ ràng Tuy nhiên, việc sao lãng thông tin được đánh giá rõ ràng trong phác họa này là một phát hiện không vững chắc (Kahneman &
Frederick, 2002; Khehler, 1996, Evans, Handley, Over & Perham, 2002)
*Những người tham gia trong một nghiên cứu của Desvousges và các cộng sự của ông đã chỉ ra sự hài lòng của họ khi đóng góp tiền đề hạn chế sự chết chóc của các loài chim di trú Số lượng chim sẽ được cứu sống không giống với các kiểu mẫu phụ khác Các khoản được định giá mà các hộ gia đình sẽ chi trả $80, $78 và $88
để cứu 2.000; 20.000 hay 200.000 con chim tương ứng Frederick và Fishhoff (1998) đã xem xét biểu hiện khác của phạ vi sao lãng trong các nghiên cứu về sự
tự nguyện chi trả (WTP) đối với hàng hóa cộng đồng Ví dụ, Kahneman và
Knetsch phát hiện rằng quan sát các bên bị ở Toronto hầu như sẵn sàng chi trả nhiều để làm sạch ao hồ trong miền nhỏ của Otario hay làm sạch tất cả các ao hồ trong thị trấn đó (Kahneman, 1986)
*Trong một nghiên cứu đã mô tả của Redelmeier và Kahneman (1996), các bệnh nhân thuật lại cảm giác đau đớn mỗi 60 giây trong suốt thủ tục (xem Hình 9) và sau đó là một ước lượng đánh giá tổng quát của sự đau đớn mà họ đã chịu Tương quan của những ước lượng đánh giá tổng quát với thời gian của thủ tục (mà được
Trang 10sắp xếp từ 4 đến 66 phút trong nghiên cứu đó) là 03 Mặt khác những ước lượng đánh giá tổng quát có tương quan (r = 67) với một mức trung bình của sự đau đớn
đã được thuật lại trong hai trường hợp: khi sự đau đớn lên đến điểm đỉnh, và chỉ trước khi thủ tục kết thúc Ví dụ, bệnh nhân A trong Hình 9 đã báo cáo một định giá tiêu cực hơn về cao trào/kết thúc đã được quan sát trong các nghiên cứu khác (Fredrickson & Kahneman, 1993; một thảo luận của Kahneman, 2000a, 2000c)
Trong các phát hiện đã thảo luận ở phần trước, hữu dụng để cân nhắc các tình huống mà người ta sẽ sao lãng sự mở rộng hoàn toàn Các tác động mở rộng được
dự đoán, trong mô hình hiện tại, nếu một cá nhân (i) có thông tin về sự mở rộng của chuỗi thích ứng; (ii) được nhắc nhở sự thích ứng của việc mở rộng; và (iii) có thể dò ra những phán đoán trực giác của mình sao lãng sự mở rộng Các điều kiện này ít ra cũng đáng giữ lại - và hoàn tất sự sao lãng được quan sát - khi phán đoán đánh giá một vật thể riêng lẻ và khi sự mở rộng chuỗi không được đề cập rõ ràng Trong một thí nghiệm khác, các điều kiện cho một tác động xác thực của sự mở rộng hoàn toàn được đáp ứng trong phác thảo nghiên cứu của các nhà tâm lý học: thí nghiệm các thành phần bên trong chủ đề, mà cac giá trị của sự mở rộng trái ngược với những giá trị của các biến đổi khác nhau trong phác thảo Như đã lưu ý tới trước đó, phác họa này cung cấp một gợi ý rõ ràng mà nhà thí nghiệm cân nhắc