Khái niệm Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng liên tục mức giá chung của nền kinh tế trong một khoảng thời gian.. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
CÁI NHÌN TỔNG THỂ VỀ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
TỪ TRƯỚC ĐẾN NAY
I MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết đề tài
Việt Nam đã thực hiện cơ chế mở cửa từ năm 1986, chính điều đó đã rung lên hồi chuông cảnh báo cho sự đổi thay của nền kinh tế Việt Nam trong những thập niên gần đây Trong nền kinh tế thị trường hoạt động đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt để thu được lợi nhuận cao và đứng vững trên thương trường, các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp phải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền kinh tế mới Bên cạnh bao vấn đề cần có để kinh doanh còn có những vấn đề nổi cộm khác trong kinh tế
như tỷ giá, lãi suất, lạm phát, tăng trưởng Và vấn đề nổi cộm hơn hết đó chính là lạm phát Có thể nói lạm phát như là một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là vấn đề
hết sức phức tạp, đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian và trí tuệ mới có thể mong muốn đạt
được kết quả khả quan Chống lạm phát không chỉ là việc của các nhà doanh nghiệp mà
còn là nhiệm vụ của chính phủ
Lạm phát ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao động Ở nước ta hiện nay, chống lạm phát, giữ vững nền kinh tế phát triển
ổn định, cân đối là một mục tiêu rất quan trọng
Từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức WTO cho đến nay, Việt Nam luôn đặt ra cho mình mục tiêu tăng trưởng, thế nhưng núp bóng đằng sau đó là nguy cơ lạm phát cao, đó
là gánh nặng vô cùng lớn đối với Nhà Nước ta Lạm phát lại càng trở thành vấn đề thời
sự của Việt Nam từ nay cho đến cuối năm 2010 do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra năm 2007-2008 làm lạm phát Việt Nam vượt qua ngưỡng hai con số Nỗi lo tăng giá của dân chúng và chức năng ổn định lạm phát của chính phủ vì thế đã trở thành một chủ đề nhạy cảm và nóng bỏng
Xuất phát từ vấn đề nghiên cứu lạm phát hiện nay là cần thiết, cấp bách, đặc biệt
thấy được tầm quan trọng của lạm phát, em xin chọn vấn đề: "Cái nhìn tổng thể về lạm phát ở Việt Nam từ trước đến nay" làm đề tài nghiên cứu của mình.
2 Mục đích nghiên cứu
– Hệ thống hóa lý luận về lạm phát, phân tích và đánh giá thực trạng tình hình lạm phát trong thời gian từ năm 1986 đến tháng tư năm 2010
– Dự báo mức lạm phát trong một vài tháng cuối năm 2010; đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao khả năng kiềm chế và chống lạm phát trong năm 2010
II THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
1 Khái niệm
Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng liên tục mức giá chung của nền kinh tế
trong một khoảng thời gian Mức giá chung của nền kinh tế là giá trung bình của tất cả các hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế Do vậy, khi xảy ra lạm phát không có nghĩa là
Trang 2tất cả mọi hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế đều tăng giá Có thể một vài mặt hàng giảm giá nhưng mặt hàng khác tăng giá đủ mạnh vẫn có thể gây nên lạm phát
Lạm phát cũng có thể hiểu là sự suy giảm sức mua trong nước của đồng nội tệ.
Nền kinh tế có lạm phát, một đơn vị tiền tệ có thể mua ngày càng ít hàng hoá, dịch vụ hơn Hay hiểu nôm na là khi có lạm phát chúng ta phải chi ngày càng nhiều đồng nội tệ hơn cho giỏ hàng hoá và dịch vụ cố định Trái ngược với lạm phát là giảm phát
Giảm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống liên tục Cũng
có thể nói giảm phát là lạm phát với giá trị âm Giảm phát thường xuất hiện khi kinh tế suy thoái hay đình đốn
2 Các lý thuyết về lạm phát
K.Marx cho rằng "lạm phát là sự tràn đầy các kênh, các luồng lưu thông những tờ
giấy bạc thừa làm cho giá cả (mức giá) tăng vọt và việc phân phối lại sản phẩm xã hội giữa các giai cấp trong dân cư
Theo Milton Friedman thì quan niệm: “lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéo
dài” Ông cho rằng: “lạm phát luôn luôn và bao giờ cũng là một hiện tượng tiền tệ”
Kinh tế học quan niệm: lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung
của nền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền
3 Nguyên nhân gây ra lạm phát
a) Lạm phát theo thuyết tiền tệ:
Lạm phát do cung tiền tệ cao là hiện tượng xảy ra khi tăng cung tiền tệ cao hơn tăng cung hàng hóa Trường hợp này xảy ra khi Ngân hàng Trung ương cung ứng một lượng tiền vượt quá cầu về tiền tệ của nền kinh tế để bù đắp thâm hụt Ngân sách nhà nước hay mở rộng tín dụng của các NHTM.
Khi lượng tiền M2 tăng, tổng cầu tăng, trong khi đó tổng cung chưa tăng kịp, dẫn đến tăng giá
b) Lạm phát do cầu kéo:
Việc tăng tổng mức cầu dẫn đến lạm phát gọi là lạm phát cầu kéo hay lạm phát nhu cầu Số cầu tăng do:
– Tổng khối lượng tiền lưu hành tăng (M) => Tổng số chi trả tăng=> tạo áp lực lạm phát
– Hoặc tốc độ luân chuyển tiền tệ tăng (V) => dân chúng giảm lòng tin về chế
độ tiền tệ => tâm lý chạy trốn đồng tiền mất giá
c) Lạm phát do chi phí đẩy
Khi chi phí sản xuất kinh doanh tăng sẽ đẩy giá cả tăng lên => nên gọi là lạm phát do chi phí đẩy
Trang 3– Như tiền lương tăng, giá dầu mỏ, nguyên vật liệu tăng => đẩy chi phí sản xuất tăng => tạo áp lực tăng giá => lạm phát do chi phí đẩy
Ta có công thức tính tỉ lệ lạm phát như sau:
(P1 - P0) x 100
P0
Trong đó : TLLP = Tỉ lệ lạm phát (%)
P1 = Chỉ số giá cả của thời kỳ nghiên cứu
P0 = Chỉ số giá cả thời kỳ trước đó Tuỳ theo mức độ của tỉ lệ lạm phát mà người ta chia lạm phát ra ba loại:
Lạm phát vừa phải, còn gọi là lạm phát 1con số có tỉ lệ lạm phát dưới 10%/năm.
Lạm phát ở mức độ này không gây ra những tác động đáng kể đối với nền kinh tế
Lạm phát phi mã khi mức tăng trưởng tương đối nhanh với tỉ lệ 2 hoặc 3 con số
một năm Loại này khi phát triển chín mùi sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng
Siêu lạm phát khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao, vượt xa lạm phát phi
mã Siêu lạm phát thường xảy ra những thiệt hại nghiêm trọng và sâu sắc Tuy nhiên chúng cũng ít khi xảy ra
4 Thực trạng lạm phát ở Việt Nam (1986-2010)
Khi thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế thì lạm phát, biến động giá cả tiêu dùng
là hiện tượng thường không thể tránh khỏi Có thể nói nó luôn đi đôi với tăng trưởng kinh
tế Chính vì vậy muốn ổn định nền kinh tế vĩ mô thì các nước đều phải rất coi trọng tình hình biến động của chỉ số giá tiêu dùng, tính toán dự tính nó cẩn thận
Có thể điểm qua lạm phát ở Việt Nam ta qua các giai đoạn tiêu biểu như sau:
Giai đoạn 1986-1993:
Có thể nói, giai đoạn 1986-1990 hệ thống Ngân hàng nói riêng, nền kinh tế Việt Nam nói chung vẫn ở giai đoạn cao trào của cuộc khủng hoảng toàn diện kinh tế - chính trị - xã hội sau sai lầm của cuộc tổng điều chỉnh Giá-Lương-Tiền năm 1985 Lạm phát vẫn ở mức 3 con số: Năm 1986 là 774,7%; năm 1987 là 323,1%, năm 1988 là 393% Đồng tiền bị mất giá khiến chính phủ phải tiến hành đổi tiền bất đắc dĩ
Nạn sốt giá, nhất là giá vàng vào quý I/1989 tăng gấp 3,2 lần so với đầu năm 1988 (5 triệu đồng/lạng đầu năm 1989 so với 1,6 triệu đồng/lạng năm 1988) Đồng tiền VND liên tục bị mất giá so với USD do tình trạng đổi tiền mới có sức mua bằng 10 lần sức mua của đồng tiền cũ (Quyết định 01/HĐBT-TĐ ngày 13/9/1985), tình trạng đô la hoá diễn ra trầm trọng và phổ biến, vật giá liên tục leo thang Các luồng vốn như FDI, ODA thì hết sức nhỏ nhoi và hạn chế, luồng tiền kiều hối tuy nhỏ so với bây giờ nhưng lại là nguồn tiền vô cùng quan trọng nhằm gia tăng lượng hàng nhập khẩu
TLLP =
Trang 4Để xoay chuyển tình hình, chính phủ Việt Nam đã đưa ra chính sách đổi mới mở
cửa, ban bố một loạt các biện pháp xóa nạn lạm phát Một là nâng cao tồn khoản và lãi
suất vay mượn của ngân hàng vượt mức lạm phát tiếp đó là để lãi suất được tự do hóa Tháng 4 năm 1989 NHNN tăng lãi suất tồn khoản dân chúng mới quan tâm đến việc gửi
tiền tiết kiệm Năm 1989 lượng tiền gửi đạt mức1300 tỷ đồng Hai là bãi bỏ chế độ vật
giá kép (có giá bình thường và giá cung cấp khác nhau), phần lớn vật giá đều được thị trường hóa
Ba là Việt Nam áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ Ngân hàng không phát hành
thêm tiền mà dùng cách vay nợ, giảm ngân sách chi, tăng thu đảm bảo thu chi cân đối
Bốn là thực hiện chính sách hối suất linh hoạt Trước đó chế độ lãi suất gồm hai nội
dung: Hối suất do nhà nước quy định và hối suất thị trường song song tồn tại; đến năm
1989, Việt Nam thống nhất hai hối suất này làm một Một trong những quyết định quan trọng lúc này là việc lần đầu tiên mạnh tay nới lỏng tỷ giá USD/VND vào cuối năm 1988
Sự thay đổi tỉ giá đã có tác động rất mạnh đến cán cân thương mại Tỉ lệ nhập siêu so với xuất khẩu đã lập tức giảm mạnh từ 47,6% trong năm 1986 xuống gần như cân bằng vào năm 1989 và thậm chí đã có xuất siêu vào năm 1990
Nhập siêu
-47,6% -30% -0,8% +2,5% -3,2%
Đến năm 1989 lạm phát chỉ còn 40%, năm 1992 giảm còn 17,5%, và năm 1993 chỉ còn 5,2%, coi như chấm dứt tai nạn kinh tế lần thứ nhất
Giai đoạn 1994 – 2000
Nền kinh tế đã khắc phục được tình trạng trì trệ suy thoái, đạt mức tăng trưởng cao, liên tục và tương đối toàn diện Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 1993-1995 là 8,2% và có khả năng tiếp tục tăng mạnh khi năm 1995 đạt tỷ lệ tăng trưởng 9,5% đã khiến các nhà hoạch định chính sách nghĩ đến việc phải kiềm chế tốc độ tăng trưởng cao quá đáng và đề ra những giải pháp cấp bách để kiềm chế lạm phát Tuy nhiên
từ năm 1996, cụ thể hơn từ 1997, xuất phát từ nhiều nguyên nhân trong đó có ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ tại Thái Lan, tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng như mức lạm phát của Việt Nam đã liên tục giảm Đáng lưu ý là đã có mầm mống xuất hiện hiện tượng giảm phát thông qua chỉ số giá âm ở một vài tháng trong các năm 1996, 1997
và 1999
Năm Tăng trưởng (GDP %) Lạm phát (CPI)(%)
Trang 5Trong khi đang là giai đoạn phục hồi của các nền kinh tế bị khủng hoảng nặng ở Châu Á thì kinh tế Việt Nam lại đang trên đà đi xuống Tốc độ tăng GDP 6 tháng đầu năm 1999 chỉ đạt 4,3 % trong khi chỉ số giá giảm liên tục Mức lạm phát 9 tháng chỉ là 0,2% trong 6 tháng đầu năm 1999 chỉ số giá tiêu dùng CPI liên tiếp mang dấu âm
Tháng 1: 1,7% Tháng 3: -0,7% Tháng 5: -0,4%
Tháng 2: 1,9% Tháng 4: -0,6% Tháng 6: -0,3%
Chỉ số giá cả tháng 7 tiếp tục giảm 0,4% làm cho tỷ lệ lạm phát 7 tháng đầu năm
1999 chỉ ở mức 1,2%, chỉ số giá tiêu dùng giảm, giảm mạnh nhất vào tháng 10 (giảm 1%
so tháng 9) Giảm phát sẽ gây ra nguy hại cho nền kinh tế nếu nguyên nhân do mức cầu giảm năng lực sản xuất dư thừa và mức cung ứng tiền thu hẹp Khi ấy giảm phát sẽ gây ra những tác hại to lớn Người tiêu dùng sẽ trì hoãn việc mua hàng với hy vọng giá ngày mai sẽ thấp hơn giá hôm nay Tâm lý này sẽ làm giảm mức cầu xã hội buộc các nhà sản xuất phải liên tục giảm giá hàng Nếu kéo dài, nhiều doanh nghiệp sẽ phải ngừng sản xuất hoặc phá sản Giá hàng hạ làm tăng mức dư nợ thực tế của các doanh nghiệp không trả được nợ ngân hàng kéo ngân hàng đến bờ phá sản Nó còn làm các khoản thu ngân sách giảm sút, kìm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế Nguy hại hơn là giảm phát có thể vô hiệu quá chính sách lãi suất một công cụ quan trọng để điều hành chính sách tiền tệ quốc gia
Trong năm 1999, nỗ lực chính sách lớn nhất là áp dụng các giải pháp “kích cầu” nhằm khắc phục tình trạng giảm phát Những giải pháp được coi là mạnh nhất trong số
đó là 4 lần giảm lãi suất, tăng đầu tư nhà nước, tăng lương cho người lao động trong khu vực nhà nước bằng cách giảm ngày làm việc Tuy nhiên thực tế cho thấy hiệu quả áp dụng các giải pháp này là rất thấp Năm 1999, ngân hàng nhà nước đã liên tiếp hạ lãi suất trần 4 lần (tính chung giảm 20-30% so đầu năm) và nới lỏng các điều kiện tín dụng nhằm khuyến khích vay để chi tiêu và đầu tư
Mặc dù kết quả đạt được còn rất chậm chạp và khiêm tốn nhưng nó phát huy hiệu quả đáng kể giảm phát của Việt Nam trong năm 1999 được coi là đã chấm dứt với tỷ số giá tiêu dùng liên tiếp tăng trở lại ở mức dương là 0,4% và 0,5% vào tháng 11 và tháng
12 năm 1999 và tính chung cả năm là 0,1% Tuy nhiên đó vẫn là nguy cơ tiềm tàng còn
có khả năng tái giảm phát trong năm tới
Giai đoạn 2001 - 2005
Tốc độ tăng trưởng tương đối cao, mọi mặt của đời sống xã hội được cải thiện và phát triển: Tỉ lệ lạm phát các năm giai đoạn này cũng tăng dần lên từ 0,6% năm 2000 lên 9,5% năm 2004 (Năm 2001, chỉ số giá ở mức 0,8%, 2002 là 4%, năm 2003 là 3,0%) Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển mạnh của nền kinh tế, năm 2004, chỉ số giá tiêu dùng là 9,5%, tỉ lệ lạm phát vượt ngưỡng do quốc hội đề ra (5%) Năm 2005, tỉ lệ lạm phát ở mức 8,5%
Giai đoạn 2006 – nay
Lạm phát trong những năm 2006-2008
Ngày 11 tháng 1 năm 2006 trải qua 12 năm phấn đấu, Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO Tình hình tăng trưởng kinh tế và đầu tư quá nóng đã khiến cho
Trang 6Việt Nam trở thành một trong những nước bị lạm nhiều nhất tại châu Á hiện nay Năm
2007 chỉ số giá tiêu dùng tăng tới 12.63%, cao nhất tính từ thời gian sau khi đã khắc phục được hậu quả lạm phát hồi thập kỷ 80 thế kỷ XX, vượt quá mức dự kiến và vượt xa mức tăng GDP 8.44% Tháng 5 và 6 năm 2008, CPI lập kỷ lục tăng 25,2% và 26,8%, đỉnh điểm vào tháng 7 năm 2008 khi lên tới trên 30% Kết thúc năm 2008, lạm phát lùi về còn 19.89%, đây là mức cao nhất trong vòng 17 năm qua Chính phủ có kế hoạch giảm lạm phát xuống mức một chữ số vào năm 2009 hoặc chậm nhất vào năm 2010
Tìm hiểu nguyên nhân chính gây ra lạm phát ở Việt Nam có thể giúp chúng ta dự báo về lạm phát trong lương lai và có những chính sách đúng đắn nhằm ngăn chặn tác hại của lạm phát đến sự phát triển kinh tế Những nguyên nhân gây ra lạm phát vẫn không nằm ngoài khuôn khổ lý thuyết
Lạm phát do cầu kéo:
Biểu hiện rõ nhất của lạm phát cầu kéo là nhu cầu nhập khẩu lương thực trên thị trường thế giới tăng, làm giá xuất khẩu tăng (giá xuất khẩu gạo bình quân của nước ta năm 2007 tăng trên 15% so với năm 2006) kéo theo cầu về lương thực trong nước cho xuất khẩu tăng Trong khi đó, nguồn cung trong nước do tác động của thiên tai, dịch bệnh không thể tăng kịp
Bắt đầu từ năm 2007, giá gạo tăng vọt trên thị trường thế giới có ảnh hưởng lớn đối với Việt Nam Nguyên nhân tăng giá chủ do giới dầu cơ tung tin đồn người Thái Lan đang tích trữ gạo vì sợ mất mùa, tiếp đó là tin đồn Việt Nam đã hết gạo xuất khẩu, trong nước sẽ xảy ra nạn đói kéo dài, từ cuối năm 2007 giá gạo thế giới đã tăng giá gấp 7 lần so với trước
Tất cả các yếu tố nói trên gây ra lạm phát cầu kéo, đẩy giá một số hàng hoá và dịch vụ, nhất là lương thực thực phẩm tăng theo Giá lương thực, thực phẩm cuối năm
2007 tăng 18,92% so với cuối năm 2006
Lạm phát chi phí đẩy:
Giá nguyên liệu, nhiên liệu ( đặc biệt là xăng dầu, các sản phẩm hoá dầu, thép và phôi thép…) trên thế giới trong những năm gần đây tăng mạnh Trong điều kiện kinh tế nước ta phụ thuộc rất lớn vào nhập khẩu ( nhập khẩu chiếm đến 90% GDP ) giá nguyên liệu nhập tăng làm tăng giá thị trường trong nước Chỉ riêng mặt hàng xăng dầu đã làm ảnh hướng rất lớn đến chỉ số lạm phát nước ta Trong ngày giao dịch đầu tiên năm 2008, giá dầu đã đột phá kỷ lục 100 đô la/thùng, báo hiệu một thời kỳ không yêu ổn của thị trường năng lượng toàn cầu Trong nửa năm 2008, giá dầu liên tục đi lên, lần lượt các mốc đáng sợ: 120 đô la, 130, 145 đô la/ thùng… Như vậy chỉ trong vòng nửa năm, giá dầu tăng gần 50% Việt Nam cũng sản xuất ra dầu nhưng do kỹ thuật lọc dầu còn hạn chế nên chủ yếu phải nhập nhiều dầu thành phẩm, chiếm tỷ trọng cao trong kim ngạch nhập khẩu
Nếu giả định rằng nếu tốc độ cung tiền không tăng thì dù cho giá thế giới tăng, giá trong nước cũng không thể tăng được vì khi đó sức mua có khả năng thanh toán sẽ giảm xuống và giá không tăng Khi lượng cung tiền không tăng, nhu cầu sẽ được điều chỉnh
Trang 7theo hướng ưu tiên cho các nhu cầu cấp thiết phù hợp với tiêu dùng, về triển vọng lạm phát trong tương lai tăng
Trang 8Đúng là giá lương thực – thực phẩm
và giá nguyên, nhiên liệu thế giới tăng cao
trong năm 2007 Do hai nhóm hàng hóa
này đều là những sản phẩm ngoại thương
chủ đạo của Việt Nam và đồng thời chiếm
tỷ trọng lớn trong cơ cấu CPI Tuy nhiên
đây chắc chắn không phải là nguyên nhân
gây ra lạm phát cao ở Việt Nam trong suốt
năm nay Quan sát bảng sau chúng ta thấy
cùng chịu một sự tăng giá như nhau nhưng
hầu hết các hàng hóa trên thế giới đều
không chịu mức lạm phát cao như Việt
Nam Như vậy ngoài nguyên nhân do sự
tăng giá của các hàng hóa (lạm phát do chi
phí đẩy) nguyên nhân rất quan trọng gây
nên bùng nổ lạm phát ở Việt Nam chính là
lạm phát do nguyên nhân cung tiền
Nền kinh tế 2007 2008 1/2009 Hoa Kỳ 2.10 4.30 (1.40) Khu vực Eu 1.80 3.20 (0.10) Nhật Bản 0.00 0.70 (1.10) Đức 1.70 2.90 (0.20) Canada 1.10 2.20 (0.30) Nga 8.20 12.60 (1.70) Trung Quốc 2.20 7.20 (1.70) Ấn Độ 5.00 7.36 7.81 Thái Lan 3.00 4.30 (4.00) Malaysia 3.20 2.30 (1.40) Indonesia 6.26 7.36 3.63 Hàn Quốc 1.68 3.89 1.99 Singapo 0.30 6.60 (0.50) Việt Nam 12.60 19.89 10.24
Trang 9Nguồn Tổng Cục Thống Kê
Lạm phát tiền tệ:
Nguyên nhân lạm phát do cung ứng quá nhiều tiền lý do: vay nợ ngân hàng tăng nhanh, vốn đầu tư nước FDI ngoài chảy vào nhanh
Với dân số gần 100 triệu người, Việt nam khá hấp dẫn với giới đầu tư nước ngoài, nên được cá nhà tư bản quốc tế ưu chuộng thổi phồng một thời là Việt Nam có thể đuổi kịp Ấn Độ và Trung Quốc Từ sau khi gia nhập WTO kinh tế VN phát triển liên tục với tốc độ cao vài năm đầu 5%, các năm khác 7%, có năm tăng đến 9% Chính vì những yếu
tố đó làm VN trở thành ngôi sao sáng trên bầu trời Đông Nam Á Làn sóng đầu tư nước ngoài lên tới hơn 20 tỉ USD trong năm 2007 nhưng vốn thực hiện được lại rất khiêm tốn chỉ 4,5 tỉ USD
Trong đó vốn đầu tư trực tiếp (FDI) giải ngân lên tới 8 tỷ USD trong năm 2007, năm 2008 lên tới 11.7 tỷ USD, chiếm gần 1/3 lượng vốn đầu tư trong nền kinh tế Dòng vốn đầu tư gián tiếp (FPI) cũng tăng lên nhanh chóng, trong năm 2007 ước tính có trên 7
tỷ USD đổ vào Việt Nam Vốn viện trợ phát triển (ODA) nhận được khoảng 2 tỷ USD (năm 2007 là 2 tỷ USD, 2008 là 2.2 tỷ USD) Kiều hối chuyển về Việt Nam hàng năm từ 5-7 tỷ USD Mặc dù, Việt Nam luôn bị thâm hụt thương mại cao nhưng khoản thâm hụt này ít hơn các dòng tiền chuyển vào Việt Nam dẫn đến cán cân tài khoản vãng lai vẫn thặng dư Dự trữ ngoại tệ của ngân hàng thương mại liên tục tăng cao (năm 2006 tăng 4.6
tỷ USD, năm 2007 tăng 10.6 tỷ USD, năm 2008 2.4 tỷ USD)
Theo nhận định của một số chyên gia thì bản thân FDI không phải là một thứ vốn đích thực, nó có tình chất trục lợi rất cao, rất giống tiền nóng quốc tế mang nặng tính đầu
cơ, do đó nó cũng có sức phá hoại nhất định Khi tình hình kinh tế có chiều hướng tốt, giá trị tài sản được đánh giá thấp, FDI sẽ vào nhiều Tuy nhiên khi bọt xà phòng vỡ tung, các tài sản lấy FDI là chính sẽ mất lòng tin vào thị trường và rút ra rất nhanh hoặc các khoản đầu tư đã hứa hẹn sẽ không thực hiện được Thủ đoạn ”Rút củi đáy nồi” làm cho đống tiền Việt Nam bị mất giá đi rất nhiều
Do vốn nước ngoài FDI chảy vào tăng đột biến, buộc Ngân hàng Nhà nước phải đóng vai trò người mua ngoại tệ cuối cùng và đưa thêm tiền đồng vào lưu thông để ổn định tỷ giá, tăng thêm nguồn dự trữ ngoại hoái, giảm bớt thâm hụt ngân sách Và theo thống kê thì lượng tiền Ngân hàng Nhà nước tung ra để mua ngoại tệ là rất lớn (khoảng 160.000 tỷ đồng) với tỷ giá khoảng 16.000 VND/USD để giữ giá USD không làm ảnh hưởng nhiều đến xuất khẩu; kết quả làm cho tính lưu động của tiền tệ quá thừa, lạm phát tăng nhiệt
Năm 2007 vay nợ ngân hàng tăng 54%, sang năm 2008, 4 tháng đầu năm tăng 14%
so với năm 2007, tăng 65% so với cùng kỳ năm trước Cuối tháng 6 năm 2007, GDP của Việt Nam tăng 22%, còn mức cung tiền mặt cho lưu thông và tiền gửi ngân hàng đã tăng lên đến 110% Trong cùng giai đoạn này, GDP của Trung Quốc tăng 29%, nhưng mức cung tiền chỉ tăng 50% Chênh lệch giữa tăng GDP và tăng cung tiền của Thái Lan là hầu như không đáng kể Mức cung tiền vượt GDP nhiều lần thì lạm phát cao là điều không tránh khỏi
Trang 10Tính đến tháng 8 năm 2007, lần đầu tiên Việt Nam bị lạm phát tới hai chữ số, lúc
đó chính phủ Việt Nam vẫn chưa thực sự quan tâm Đến tháng 1 năm 2008, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ban bố các biện pháp chủ yếu chỉ đạo và thực hiện kế hoạch kinh tế và ngân sách năm 2008: Đề ra mục tiêu thực hiện tốc độ tăng trưởng 8.5% - 9% thực hiện 10 biện pháp lớn nhằm cải thiện tình hình đầu tư và kinh doanh, tích cực thu hút vốn nước ngoài, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng Rõ ràng lúc này chính phủ vẫn coi trọng việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, chưa đề cập đến vấn đề chống lạm phát Chính phủ VN không muốn thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế bị chậm lại hoặc dừng hẳn lại; để duy trì tốc
độ tăng trưởng chính phủ đành cam chịu để vật giá tăng vọt chứ không muốn hi sinh tốc
độ tăng trưởng kinh tế
Sự tăng lên liên tục của tổng cung và tổng cầu trong dài hạn tạo nên tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đồng thời đã kéo theo sự tăng lên không ngừng trong mức giá Mặt khác, do năng lực sản xuất (tổng cung) tăng chậm hơn so với tốc độ tăng của tổng cầu nên
đã đẩy mức giá tăng cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, năm
2006 và 2007 đánh dấu năm phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng, tăng trưởng tín dụng năm 2006 đạt 50.18%, năm 2007 đạt 49.1% Như vậy tăng trưởng tín dụng cao và dòng tiền mua ngoại tệ của NHNN đã làm cho cung tiền tăng mạnh dẫn đến lạm phát
Trước tình hình lạm phát tăng cao trong năm 2007-2008 chính phủ đã đưa ra 8 giải pháp khắc phục:
Một là, phải thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, chủ động và linh hoạt, bảo đảm
mục tiêu chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm huy động các nguồn vốn phục
vụ phát triển
Hai là, về chính sách tài khóa, phải phấn đấu tăng thu, thắt chặt chi tiêu công, nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách Nhà nước; hạn chế bội chi ngân sách, không mở rộng thêm các khoản chi, loại bỏ các dự án đầu tư không hiệu quả
Ba là, bảo đảm cân đối cung cầu đối với các loại vật tư quan trọng như: Xăng dầu,
điện, xi măng, sắt thép, phân bón, thuốc trừ sâu và các hàng tiêu dùng thiết yếu như lương thực, thực phẩm…
Bốn là, tăng cường các biện pháp quản lý thị trường giá cả, không cho đầu cơ tăng
giá, đặc biệt là các mặt hàng thép, vật liệu xây dựng, lương thực, phân bón
Năm là, thúc đẩy mạnh mẽ xuất khẩu và giảm nhập siêu, nhất là đối với các ngành
hàng Việt Nam có nhiều tiềm năng, tập trung tháo gỡ ngay các khó khăn trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhất là việc chuyển ngoại tệ thành VNĐ và tình trạng thiếu vốn tín dụng…cho các doanh nghiệp xuất khẩu
Sáu là, tháo gỡ mọi khó khăn vướng mắc, bảo đảm cho đầu tư và sản xuất kinh
doanh phát triển ổn định, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, nhất là chăn nuôi
Bảy là, thực hiện các giải pháp, chính sách hỗ trợ người nghèo bị thiệt hại do thiên
tai và do giá tăng đột biến trong thời gian qua; tiếp tục tập trung thực hiện các biện pháp
hỗ trợ nông dân bị thiệt hại trong đợt rét đậm, rét hại vừa qua