Trong đó, tín dụng chính thống cho nông nghiệp là công cụ chủ yếu, hiệu quả kích thích các hoạtđộng tạo thu nhập, giúp người nông dân có vốn đầu tư và tái sản xuất mở rộng, từ đógiúp ngư
Trang 1TRƯỜNG ……….
KHOA……….
- -Tiểu luận Đề tài:
Tình hình hoạt động của hệ thống tín dụng
nông nghiệp Việt Nam
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1.Tính cấp thiết của đề tài 1
PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
2.1 Phương pháp thu thập thông tin 3
PHẦN 4: KẾT LUẬN 25
Danh Sách Chữ Viết Tắt 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 3PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam, nông nghiệp được coi là nềnmóng cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt khi Việt Nam thực hiện chínhsách mở cửa, gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) Thương mại nông nghiệp
đã đóng góp lớn vào nguồn thu ngoại tệ, tăng thu nhập cho khu vực nông nghiệp, cảithiện đời sống của người dân nông thôn
Một trong những điều kiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp để phát
triển kinh tế nông thôn là phải tích lũy tư bản để có thể tái sản xuất mở rộng Trong đó,
tín dụng chính thống cho nông nghiệp là công cụ chủ yếu, hiệu quả kích thích các hoạtđộng tạo thu nhập, giúp người nông dân có vốn đầu tư và tái sản xuất mở rộng, từ đógiúp người nông dân vượt khỏi đói nghèo và vươn lên làm giàu
Tín dụng rất cấn thiết đối với các hộ nông nghiệp nhỏ ở nông thôn so với cácnghề khác bởi vì khoảng thời gian giữa lúc sử dụng đầu vào và mùa thu hoạch dài,trong quá trình sản xuất gặp phải rất nhiều rủi ro Điều đó liên quan đến cả kinh phímua đầu vào (giống, thuê làm đất,…) lẫn lao động Đối với các hộ nhỏ yêu cầu vốnlưu động đó rất khó có thể tìm thấy từ nguồn tiền tiết kiệm và cần phải tiếp cậnnguồn tín dụng ngắn hạn
Trong những năm gần đây, tín dụng Việt Nam đặc biệt là tín dụng chính thốngcho nông nghiệp đã có những bước phát triển đáng kể về quy mô, nguồn vốn, đốitượng vay vốn… Đạt được những thành công đó là nhờ có hệ thống ngân hàng cùngcác tổ chức tín dụng như: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngân hàngchính sách xã hội, quỹ tín dụng nhân dân,… đã tạo thành kênh huy động vốn cho vaytại chỗ đưa nguồn vốn đến những hộ nông dân có nhu cầu, từ đó có cơ hội vươn lênphát triển sản xuất, thoát nghèo và làm giàu
Theo đánh giá của các ngân hàng trong 3 năm gần đây, tín dụng nông nghiệp nông thôn tuy đã có những bước phát triển đáng kể nhưng số vốn mà các tổ chức tíndụng đã cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp – nông thôn mỗi năm vẫn còn quánhỏ so với nhu cầu thực tế Cần phải có một hệ thống tín dụng nông thôn vững mạnh
-để đáp ứng được nhu cầu vốn cho nông nghiệp tạo nên đà phát triển kinh tế nông thôn
Xuất phát từ vấn đề trên chúng em chọn đề tài “tình hình hoạt động của hệ
Trang 41.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Tìm hiểu hoạt động của hệ thống tín dụng cho nông nghiệp ở Việt Nam
Mục tiêu cụ thể:
+ Nhu cầu về vốn trong hoạt động nông nghiệp
+ Tình hình hoạt động của hệ thống tín dụng nông nghiệp Việt Nam trong thờigian qua
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.3.1 Đối tượng:
Hệ thống tín dụng chính thống cho cho nông nghiệp nông thôn (chủ yếu là các
tổ chức tín dụng chính thống tại Việt Nam: Ngân hàng nông nghiệp và phát triểnnông thôn (NH NN&PTNT hay VBARD) và Ngân hàng chính sách Xã hội(VBSP), Quỹ tín dụng nhân dân
Trang 5PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập số liệu, thông tin thứ cấp: Các tài liệu liên quan đến mục tiêu nghiêncứu đã được công bố, lấy từ sách, báo và trên internet
2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp thống kê so sánh: so sánh quy mô, cơ cấu vốn, nhu cầu vốn, tìnhhình phát triển của tín dụng chính thống cho nông nghiệp qua các năm từ 2005-2009
Mục tiêu Phương pháp Kết quả
Nhu cầu về vốn trong
hoạt động nông nghiệp
Thu thập thôngtin, phân tích đánh giá
Nhu cầu về vốnhiện nay càng tăngTình hình họat động của
hệ thống tín dụng cho nông
nghiệp nông thôn ở Việt Nam
trong thời gian qua
Thu thập thôngtin, phân tích quy mô,tình hình biến động vàcác yếu tố ảnh hưởng
Thực trạng họatđộng tín chính thốngcho nông nghiệp hiệnnay Thành tựu vàhạn chế của hệ thốngtín dụng
Trang 6PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thị trường tín dụng nông thôn ở Việt Nam ngự trị bởi h a i ngân hàng quốcdoanh là ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (NH NN&PTNT hayVBARD), ngân hàng chính sách xã hội (VBSP) và hệ thống các quỹ tín dụng nhândân
3.1 Tình hình kinh tế nông nghiệp Việt Nam năm 2009
* Sản xuất nông nghiệp phát triển và tăng trưởng khá Giá trị sản xuất nông, lâm
nghiệp và thủy sản năm 2009 ước tăng 4,2% so năm 2008 (năm 2008 tăng 5,6%),trong đó nông nghiệp tăng 3,5%, lâm nghiệp tăng 2,8% và thủy sản tăng 4,5% Trongbối cảnh có nhiều khó khăn do thiên tai lớn gây thiệt hại nặng nề, nhất là ở các tỉnhmiền Trung và Tây Nguyên, thì đây là điều rất đáng ghi nhận, song hạn chế vẫn cònnhiều
* Trong trồng trọt, sản lượng lúa cả năm ước đạt 39,3 triệu tấn, là mức cao nhất từ
trước đến nay và tăng hơn nửa triệu tấn so với năm 2008 Mặc dù diện tích gieo cấygiảm do rét đậm trong vụ đông xuân các tỉnh phía Bắc và ảnh hưởng của mưa lũ lớntrong vụ hè thu và vụ mùa, nhưng nhờ năng suất lúa tăng nên sản lượng tăng cả 3 vụtrong năm Sản xuất ngô tiếp tục phát triển toàn diện cả diện tích, năng suất nên sảnlượng tăng khoảng 400 nghìn tấn so với năm 2008
* Sản lượng lương thực có hạt năm 2009 đạt trên 44 triệu tấn, tăng khoảng 700 nghìn
tấn so với năm 2008, là mức cao nhất từ trước đến nay Lương thực bình quân nhânkhẩu đạt khoảng 513 kg/người, tăng 11 kg so với năm 2008 (502kg), dù dân số tănghơn 1 triệu người Do đó an ninh lương thực quốc gia được bảo đảm ổn định trong mọitình huống Lượng gạo xuất khẩu cả năm đạt hơn 6 triệu tấn, tăng 33% so với năm
2008 Thiếu đói giáp hạt giảm 31% về số hộ, giảm 27,6% về số khẩu so với năm 2008,
dù thiên tai, bão lũ gây thiệt hại nặng nề hơn Sản xuất rau, màu, cây công nghiệp, cây
ăn quả tiếp tục phát triển và tăng trưởng khá Sản lượng cà-phê nhân vượt 1 triệu tấn,cao su mủ khô trên 700 tấn…
* Chăn nuôi phát triển toàn diện cả về gia súc, gia cầm Giá trị sản xuất chăn nuôi
năm 2009 ước tăng 7,5% và cao hơn tốc độ tăng năm 2008 (6%) và các năm trước đó
* Lâm nghiệp vẫn phát triển trong khó khăn Diện tích trồng rừng tập trung đạt trên
220 nghìn ha, tăng 5% so với năm 2008, sản lượng gỗ khai thác đạt 3.520 nghìn m3
Trang 7Diện tích rừng bị cháy, bị phá chỉ có 3.500 ha, tỷ lệ rừng được che phủ đạt 39,5%, caohơn năm 2008.
Tuy bão lũ nhiều, nhưng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản vẫn phát triển và tăngtrưởng tốt Sản lượng thủy sản cả năm đạt trên 4,9 triệu tấn, tăng 4,5% so với năm
2008, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 2,6 triệu tấn, sản lượng đánh bắt trên 2,3 triệutấn, đều cao hơn năm 2008 Sản xuất thủy sản không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùngtrong nước, mà còn tăng số lượng xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nămước đạt 4,3 tỉ USD, mức cao nhất từ trước đến nay và tăng so với năm 2008
Tuy nhiên, hạn chế của nông, lâm nghiệp và thủy sản 2009 là tính bền vững chưacao Trong sản xuất, xu hướng tự phát chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn phổbiến Diện tích lúa vụ thu đông (vụ 3 ở vùng đồng bằng sông Cửu Long) vẫn phát triển
tự phát, chưa ổn định Sản lượng các cây trồng khác tăng – giảm không ổn định, nhất
là cây vụ đông ở vùng đồng bằng sông Hồng, như cây bông, mía, cà-phê, cao-su…Chăn nuôi trâu, bò đều giảm và tình trạng nhập bò ngoại (Thái Lan) với số lượng lớnkhông qua kiểm dịch đang tiềm ẩn nguy cơ lây lan dịch bệnh, nhưng chưa có biệnpháp quản lý của các ngành, các địa phương Nuôi trồng và khai thác thủy sản vẫnchưa ổn định cả về diện tích mặt nước, kỹ thuật, con giống, ngư trường, ngư cụ, tàuthuyền… nên tốc độ tăng trưởng đã chậm lại so với các năm trước
3.2 Nhu cầu về vốn trong hoạt động nông nghiệp
Khu vực nông nghiệp, nông thôn Việt Nam chiếm hơn 70% dân số nhưng chỉchiếm 17% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của hệ thống tổ chức tín dụng Kinh tế thịtrường phát triển, nông nghiệp, nông thôn và người nông dân càng khó có cơ hội tiếpcận với các nguồn tài chính - tín dụng, tuy nhiên nguồn tín dụng đó hầu như chưa đápứng được nhu cầu vốn hiện tại của người dân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệpnông thôn Nguồn tài chính đầu tư cho nông nghiệp nông thôn hiện nay chưa đượctương xứng với quy mô và tầm quan trọng của nông nghiệp
Trong sản xuất nông nghiệp với chu kỳ sản xuất kinh doanh dài, quá trình sảnxuất lại có thể gặp nhiều rủi ro do khi toến hành sản xuất luôn cần một khoản vốn nhấtđịnh (cần nguồn vốn lớn) Nhưng đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ, những hộgia đình không thể tự đáp ứng được nhu cầu vốn đó Người nông dân Việt Nam vớithu nhập thấp (khoảng 800.000 đ/người/tháng), trong khi đó tình hình biến động củagiá cả và lạm luôn có xu hướng tăng cao thì khả năng tích lũy của những người nông
Trang 8dân là rất thấp, không thể nào có đủ vốn để đầu tư tái sản xuất mở rộng quy mô Trongkhi đó xu hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp lại phải cần có đủ sốnguồn vốn cần thiết, do vậy nhu cầu về vốn trong lĩnh vực nông nghiệp nông thônngày càng rất lớn.
Theo các chuyên gia, tăng trưởng tín dụng trong ngành nông - lâm - ngư nghiệpthời gian qua tuy có tốc độ nhanh nhưng mới đáp ứng khoảng 40% nhu cầu vay vốncủa các tổ chức kinh tế và hộ gia đình Tỷ lệ hộ nông dân được vay vốn chỉ đạt khoảng70% và gặp nhiều vướng mắc trong quy định về thế chấp, thu hồi nợ
Thực tế cho thấy, do các kênh tín dụng còn phân tán, việc cho vay ưu đãi đượcthực hiện qua nhiều đầu mối (Quỹ tín dụng nhân dân, Ngân hàng Nông nghiệp vàPTNT, Ngân hàng Chính sách Xã hội) với nhiều mức lãi suất cho vay khác nhau nênkhách hàng thiếu thông tin đầy đủ để tiếp cận khoản vay ưu đãi Thêm nữa, nhu cầuvay cao nhưng ngân hàng không đáp ứng nổi Điển hình như làng nghề xã Chuyên Mỹ(Phú Xuyên - Hà Nội), nhu cầu vay vốn phát triển sản xuất lên tới 50 tỉ đồng, trong khiquỹ tín dụng của xã có số dư nợ cho vay 11 tỉ đồng, vốn vay của Agribank khoảng 7 tỉđồng Vì thế, người dân cần vốn phải đi vay ngoài với lãi suất cao Đối với những hộlàm kinh tế trang trại, tuy mức vay không thế chấp khoảng 10 triệu đồng, nhưng vẫncòn thấp so với nhu cầu để phát triển sản xuất Đặc biệt, trong việc tiếp cận nguồn tíndụng nông thôn, nhiều hộ nông dân phản ánh tình trạng “cò” tín dụng làm khó ngườivay Thêm vào đó, cán bộ ngân hàng nhiều nơi vẫn coi giá trị tài sản bảo đảm tiền vay
là điều kiện tiên quyết khi xem xét cho vay mà không tính đến hiệu quả của dự án, khảnăng trả nợ của người vay Gia đình ông Nguyễn Văn Huệ ở thôn Lại Hoàng (GiaLâm - Hà Nội) vay 20 triệu đồng từ quỹ Hội Phụ nữ để đầu tư phát triển chăn nuôi.Tuy nhiên, do chưa nắm vững kỹ thuật, lại gặp nhiều rủi ro nên gia đình ông đã trắngtay Nợ cũ chưa trả xong, tài sản thế chấp không còn nên ông không thể vay tiếp ôngthan thở: “Khi chưa thể hoàn trả vốn vay từ ngân hàng mà muốn khôi phục sản xuất,chúng tôi đành phải tiếp tục vay từ quỹ Hội Phụ nữ với lãi suất cao hơn, cho dù thủ tụctục cho vay thường đơn giản và nhanh chóng Dù vậy, chúng tôi vẫn phải chấp nhận”.Mặt khác, đến nay Quyết định số 67 của Thủ tướng Chính phủ về một số chínhsách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp có một số điểm không phùhợp với thực tế Chẳng hạn, nếu không có bảo đảm nông dân chỉ được vay tối đa đến
Trang 910 triệu đồng nhưng hiện nay là quá thấp, không phù hợp với nhu cầu vốn cho sảnxuất, kinh doanh của các hộ nông dân
Xã Đông Yên, Quốc Oai, Hà Tây (cũ) bình quân thu nhập chỉ đạt có 3,6 triệuđồng/người, tỷ lệ nghèo toàn xã 32,6% Chủ tịch Hội Nông dân xã Vũ Văn Chỉ chohay, những tổ chức hội như của ông đều nhận uỷ thác của ngân hàng Chính sách đểcho hộ nghèo vay trung bình mỗi hộ 7-10 triệu đồng với lãi suất 0,65%/tháng trongthời gian 24 tháng Khoản vay tương đối ít, thời gian lại eo hẹp Nuôi con gà, con lợncòn có thể quay vòng vốn được nhưng chăn bò, chăn trâu như lời ông Chỉ từ khi mua
về đến lúc nó “nhớ giống” cũng phải 1 năm, “nhớ giống” xong may mắn chửa cũngtrên 9 tháng, cộng với thời gian nuôi đến tuổi xuất chuồng độ 5-6 tháng nữa là đã trênhai năm rưỡi Nếu như trả theo thời hạn vay là 24 tháng thì người dân phải bán bòđúng giai đoạn đẻ, khả năng sinh lời chưa có Thuận buồm, xuôi gió còn thế, huống hồđầu tư trong nông nghiệp, lợi nhuận thấp đã đành còn rủi ro lớn, không thể nói trước.Rủi ro ấy được chia làm hai loại: rủi ro dịch bệnh và rủi ro thị trường Tỷ như trướcđây dân Đông Yên có 40 hộ được vay ngân hàng bò với mức 4 triệu/hộ Lúc ấy bòđang đắt, mỗi con có giá khoảng 8-10 triệu đồng nên muốn mua dân lại phải vay nóngđến hơn một nửa bên ngoài Sau hai năm bỏ bao công sức chăm sóc, khi dân bán cả bòlẫn bê chỉ được cỡ 6 triệu đồng, lỗ nặng Anh Nguyễn Văn Tiềm (thôn Đông Hạ) vayđược 6 triệu đầu tư mua bò và lợn nái bảo: “Con bò còn cắt cỏ cho ăn được nhưng lợn
cứ phải ăn cám nên vay được có 6 triệu thì thiếu quá, phải vay ngoài đến 20 triệu.Nông dân ở đâu hưởng lợi từ hạt thóc chứ ở ngoài Bắc ruộng ít, đủ ăn đã là may Thờibuổi lạm phát, mọi thứ bổ lên đầu chúng tôi nên phải bán thóc Hạt thóc bán đầu vụ rẻmạt, cuối vụ đong ăn giá lại tăng vọt” Thê thảm hơn là gia cảnh của anh Nguyễn VănTuấn, vay chương trình bò cao sản được 4 triệu, vay ngoài thêm 1 triệu mua con bò,đùng cái nó ốm, bán chạy được 2,4 triệu Dồn vốn nuôi con lợn mẹ cũng hỏng nốt nênanh tiếp tục vay lãi ngoài để gom đủ 7 triệu mua một con bò, mới lấy giống Nhìn ngôinhà tuệch toạc, gia chủ áo quần rách như bị chó cắn, tôi cứ ám ảnh mãi bởi câu nói củaanh: “Sợ lắm rồi, có cho vay cũng không dám vay nữa” Ông Nguyễn Công Liêu -Tổtrưởng tổ vay vốn thôn Đông Hạ bảo: “Có hàng mấy trăm hộ dân nhưng bình bầu,nâng lên, đặt xuống mãi mới có 18 hộ nghèo được vay vốn Hiệu quả của những lầnvay vốn này còn hạn chế do vay được quá ít, thời gian chưa đủ quay vòng vốn, do rủi
ro trong nông nghiệp nhưng người nghèo họ sòng phẳng lắm, vẫn vay ngoài để đập
Trang 10vào trả nợ” Ngoài chương trình vay hộ nghèo, ở thôn còn có 4 hộ được vay làmbiogas theo chương trình nước sạch, vệ sinh môi trường Số lượng vay cực ít, nghềchăn nuôi của thôn lại đang phát triển mạnh gây ô nhiễm môi trường nên đường làngngõ xóm, cống rỗng trong làng, ngoài ngõ ngập ngụa phân trâu, phân bò đến ngộp thở.Quyết định số 497/QĐ-TTg (ngày 17-4-2009) về hỗ trợ lãi suất vốn vay mua máymóc thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp…trong thời gian vừa qua tuy đã xoadịu một phần nào “cơn khát” vốn cho nông dân nhưng những hạn chế về quy định, thủtục của quyết định khiến nhiều nông dân không tiếp cận được nguồn vốn kích cầu củachính phủ theo quyết định
Hiện nay, nhiều nông dân ở ĐBSCL vẫn đang rất khát vốn đầu tư máy móc thiết
bị, vật tư… phục vụ sản xuất kinh doanh dù chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn theoquyết định 497/QĐ-TTg được triển khai nhiều tháng qua Thực tế cho thấy việc tậptrung nguồn vốn kích cầu cho nông dân rất cần thiết nhưng đầu tư cách nào để pháthuy tối đa hiệu quả, tránh ào ạt theo phong trào, gây lãng phí lớn…Nông dân HuỳnhVăn Hận, ấp Trường Đông, xã Tân Thới, huyện Phong Điền, Cần Thơ nói: “Mới hômtrước tôi đến Ngân hàng Nông nghiệp huyện xin vay tiền mua máy gặt đập liên hợptheo Quyết định 497 của Chính phủ thì được cán bộ nơi đây khẳng định là vay mua bất
kỳ thứ gì cũng phải thế chấp Khi vay phải có tài sản giá trị bằng 50% giá tiền sảnphẩm cần mua để thế chấp Hiện nay, bằng khoán đất đang thế chấp Ngân hàng Pháttriển nhà thì làm sao vay mới theo QĐ 497 được?”
Nông dân Nguyễn Văn Hiếu, xã Trung Kiên, quận Ô Môn, TP Cần Thơ băn khoăn:
“Tôi đi hỏi thủ tục vay vốn không lãi suất để mua máy cày công suất lớn nhưng khicán bộ ngân hàng cho biết điều kiện là phải mua máy Việt Nam sản xuất thì tôi hơi lonên chưa quyết định Vả lại, cày ruộng thuê cho bà con nông dân thì khó có thể hoànvốn cho ngân hàng trong vòng 2 năm, nếu kéo dài thì lại phải chịu lãi suất như quyđịnh”
Nông dân Nguyễn Văn Khanh ở xã Phú Hữu A, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giangcho biết: “Tôi đang cần vốn để đầu tư lắp đặt hệ thống máy tưới nước, phân bón,thuốc, kỹ thuật… cho 1 ha bưởi 5 roi đặc sản nhưng kẹt 1 điều là tài sản có giá trị thếchấp là giấy đỏ đã nằm trong ngân hàng Đến tết năm 2010, tôi bán mùa bưởi thì dưsức trả nợ nhưng tiếc một điều là khi đó đã hết thời hạn giải ngân vay ưu đãi…”
Trang 11ông Lê Văn Lực, nông dân xã Đông Hiệp (Cờ Đỏ – Cần Thơ) nói: “nếu mua một máybơm nước giá trị chỉ vài triệu đồng thì nông dân không ngồi chờ gói hỗ trợ Nhưng khimua máy cày, máy cắt… với giá trị vài trăm triệu thì thời gian phải trả vốn trong hainăm, khó lo kịp nên ít người dám vay”.
Ông Trần Hoàng Minh (Tư Minh), nông dân sản xuất lúa giống ở huyện Thoại Sơn(An Giang) canh tác 4ha lúa, mỗi năm sản xuất 60 - 70 tấn lúa giống các loại Lúagiống nhưng khi bán cho nông dân khác về hình thức cũng giống như bán lúa hànghoá Vì thế, Tư Minh muốn hạt giống của mình làm ra phải có bao bì riêng, ghi rõ xuất
xứ và một số thông tin vắn tắt về loại giống đó, tóm lại Tư Minh muốn làm thươnghiệu riêng cho cho hạt giống của mình Tuy nhiên, để làm như vậy, theo Tư Minh, vấn
đề đầu tiên là hoàn thiện máy móc trang thiết bị khép kín quy trình sản xuất “Máy gặtđập, lò sấy, xe tải nhỏ…, ước tính vốn đầu tư khoảng 300 triệu đồng Mình làm gì cóvốn để đầu tư các loại máy móc được xem là tài sản cố định ấy”, Tư Minh nói
Cá nhân đã thế, với mô hình làm ăn tập thể cũng không khá hơn Phó Chủ nhiệm Hợptác xã (HTX) Nông nghiệp Bình Hoà (Thanh Bình - Đồng Tháp) Nguyễn Văn Mẫm,than vãn: “HTX có 560 ha đất trồng lúa, với 2 cái máy gặt đập liên hợp mỗi năm mớichỉ giải quyết khâu gặt đập cho tối đa 20% diện tích lúa của xã viên Nếu vay đượcvốn theo chương trình của Chính phủ sẽ tiếp tục đầu tư trang bị thêm máy gặt để giảiquyết bức xúc thiếu lao động khi vào mùa thu hoạch” Ông Phạm Văn Tới, Phó Chủtịch Hội Nông dân huyện Chợ Gạo (Tiền Giang) cho biết, nhu cầu vốn trong nông dânrất lớn nhưng tập trung nhiều ở khâu thu hoạch Toàn huyện Chợ Gạo hiện có chưa tới
80 máy gặt, trong đó chỉ có khoảng 7 máy gặt đập liên hợp, còn lại là máy gặt xếp dãy.Với số lượng này, hằng năm yêu cầu cơ giới hoá khâu thu hoạch chỉ mới thực hiệnđược khoảng 40% - 50% diện tích
Nhu cầu vay vốn để sản xuất của người nông dân là rất lớn, nhất là vào thời điểmtrước, trong và sau thu hoạch, người dân rất cần vốn để để sản xuất cho vụ sau hoặc
mở rộng sản xuất, hoặc để tìm một hướng làm ăn mới Đặc biệt là trong thu hoạchkhông thể bỏ qua vai trò của các thương lái, ngay cả các DN và nông dân có hợp đồngbao tiêu sản phẩm vẫn phải thông qua các thương lái như một cầu nối không thể thiếu.Thương lái thiếu vốn, nông dân cũng khó tiêu thụ được sản phẩm Chính vì vậy vẫncần một cơ chế tín dụng cho nhóm này
Trang 12Chẳng hạn như ở Đà Nẵng thời điểm thu hoạch vụ lúa đông xuân và một vấn đề thời
sự được bàn bạc nhiều trên các cánh đồng là chuyện lúa đã phơi khô, đóng bao sẵnsàng nhưng vẫn vắng bóng người mua Có hai lý do chính là thương lái thiếu vốn vàthị trường nông sản (lúa gạo) đang hồi phục nhưng chưa đủ mạnh để họ tiến hành thumua rộng rãi Nên vấn đề vốn và thông tin về gói kích cầu nông nghiệp của Chính phủđang mở ra nhiều hy vọng để tăng thu nhập cho nông dân, tạo nên một chiến lược pháttriển cho nông nghiệp Năm nay lúa được mùa với năng suất bình quân dự kiến khoảngtrên 50 tạ/ha Thế nhưng nông dân chưa hẳn đã vui bởi giá lúa rớt xuống còn 4.500đồng/kg, đã thế thương lái lại không tổ chức thu mua khiến lượng lúa thu hoạch về,nhiều hộ không có nơi cất, đành đóng bao chất đầy một góc nhà Trong khi ở vụ lúatrước, giá lúa đạt 6.000-6.200 đồng/kg, thương lái thu mua lúa tươi ở ngay ngoài đồng
Bà Lương Thị Thiệp ở xã Hòa Tiến, Hòa Vang cho biết, khi bà ngỏ ý với thương láivấn đề mua lúa, nhiều người đã từ chối vì đang thiếu vốn và những người đi thu mualúa sẵn sàng cho nông dân mượn một số tiền để đầu tư cho vụ hè thu, chứ họ chưa đủsức để cân lúa đại trà Nhu cầu vốn không chỉ dừng lại ở thương lái mà hầu như ngườinông dân nào được hỏi cũng bày tỏ nguyện vọng có một nguồn vốn để đầu tư mở rộngsản xuất, hoặc tìm một hướng làm ăn mới Ông Nguyễn Văn Hòa ở tổ 2 thôn Yến Nê
1, xã Hòa Tiến triển khai mô hình trồng nấm rơm được 9 năm nay, có 2 trại nuôi Trạichính với hơn 250 mô nấm, mỗi lần cho thu hoạch khoảng 25-30kg, mỗi tháng 2 vụ.Giá nấm tính trung bình khoảng 35.000 đồng/kg cho ông một mức thu nhập tương đốikhá và ổn định Ông đã hai lần vay tiền ngân hàng để đầu tư cho trại nấm và khi biếttin Chính phủ sẽ hỗ trợ nông dân mức lãi suất ưu đãi trong thời gian tới, ông dự địnhvay mở thêm trại, mua nhiệt kế dùng đo nhiệt độ trại nấm, sửa sang lại nhà xưởng…
và trồng thêm nấm sò, nấm bào ngư, những loại mà thị trường khá ưa chuộng HiệnCâu lạc bộ Nấm của xã Hòa Tiến có 20 thành viên, trại sản xuất khá nhỏ nên tiềmnăng phát triển vẫn còn rất lớn Theo ý kiến của ông Hòa, cả thành phố có hàng trăm
hộ dân triển khai làm mô hình trồng nấm thì vẫn chưa đáp ứng hết nhu cầu thị trường,chưa kể nhiều tiểu thương ở một số huyện lân cận của Quảng Nam thường xuyên tìmđến chợ đầu mối Hòa Cường thu mua nấm của nông dân
Gặp nhiều nông dân ở huyện Hòa Vang cũng như các quận có sản xuất nông nghiệp,
bà con đều ngỏ ý được vay vốn với mức lãi suất thấp để đầu tư mua một số loại máymóc phục vụ sản xuất như máy cày, máy tuốt, thậm chí cả máy gặt đập liên hợp trị giá
Trang 13khoảng 100 triệu đồng Ông Nguyễn Quang Nga, Chủ tịch Hội Nông dân thành phố
Đà Nẵng cho rằng, nhu cầu vốn của nông dân khá cao vì hầu hết trên các lĩnh vựcnông nghiệp đều thiếu vốn, nếu chính sách ưu đãi vốn cho nông nghiệp của Chính phủđược triển khai rộng rãi sẽ tạo ra hàng nghìn việc làm, tăng thu nhập cho nông dân
3.3 Tình hình hoạt động tín dụng nông nghiệp
3.3.1 Tình hình hoạt động
Hoạt động tín dụng nông nghiệp, nông thôn thời gian gần đây đã có những bướcphát triển nhất định Mạng lưới cho vay nông nghiệp, nông thôn ngày càng mở rộng,thể hiện ở việc các ngân hàng như NHNNo&PTNT, Ngân hàng chính sách xã hội, Hệthống quỹ tín dụng nhân dân…đều mở rộng mạng lưới cho vay trong lĩnh vực này
Hệ thống Agribank, Ngân hàng Chính sách xã hội và hệ thống quỹ tín dụng nhândân chiếm 85% dư nợ cho vay khu vực nông nghiệp Nguồn vốn, doanh số cho vay và
dư nợ tín dụng ngày càng tăng (đến 31/10/2008, dư nợ cho vay lĩnh vực này đạt294.853 tỷ đồng, chiếm 23% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế) Đối tượng tiếp cậnnguồn vốn tín dụng cũng ngày càng mở rộng với trên 9 triệu hộ dân và doanh nghiệp ởnông thôn đã tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng
+ Ngân hàng chính sách xã hội:
Ngày 04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàngPhục vụ người nghèo sau khi tách ra khỏi Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nôngthôn (NHNo&PTNT) để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách xã hội đượcquy định tại Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ NHCSXHchính thức khai trương vào ngày 11/3/2003
Là một tổ chức tín dụng Nhà nước, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, nhằmgóp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo, vì mục tiêucông bằng xã hội, nêu cao tinh thần tương thân, tương ái, truyền thống nhân nghĩa củadân tộc Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội đã trở thành người bạn đồng hànhgiúp người nghèo và các đối tượng chính sách, những người không đủ điều kiện đểtiếp cận với vốn tín dụng thương mại, có cơ hội để tiến kịp với sự phát triển của xãhội
Đến năm 2008 NHCSXH đã nhận bàn giao 3 chương trình tín dụng ưu đãi doNHNo&PTNT, Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng Công thương chuyển qua; triển khaithêm 7 chương trình mới của Chính phủ; nhận uỷ thác 13 triệu EUR và 53 triệu USD
Trang 14của các tổ chức quốc tế, 1.400 tỉ đồng của các địa phương cho các chương trình, dự ánphát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo
Tính đến ngày 30/6/2008, tổng nguồn vốn của NHCSXH đạt 45.000 tỉ đồng, tănggấp 5 lần so với cuối năm 2002 Tổng dư nợ đạt 42.200 tỉ đồng, tăng gấp gần 5 lầntrong 5 năm Trong đó, 90% nguồn vốn được đầu tư cho 4 chương trình: hộ nghèo,vùng khó khăn và giải quyết việc làm Có hơn 9,1 triệu lượt hộ nghèo được vay vốn,góp phần giúp gần 1,4 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo; tạo thêm 1,9 triệu việc làmmới; xây dựng hơn 820.000 công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn…
Nợ xấu, nợ quá hạn giảm dần từ 13,75% khi nhận bàn giao (đầu năm 2003) xuống còn2% (cuối năm 2007) Tỉ lệ sử dụng nguồn vốn đạt trên 95%; tỉ lệ thu lãi cũng đạt trên95% số lãi phải thu
Năm 2009, mặc dù gặp nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế, song toàn hệthống NHCSXH đã nỗ lực phấn đấu, tập trung thực hiện kế hoạch tăng trưởng tín dụngtrên cơ sở huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước giao; tích cựctriển khai các chương trình, dự án tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chínhsách góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội Đặc biệt, thực hiệnNghị quyết 30a của Chính phủ về giảm nghèo nhanh, bền vững tại 62 huyện nghèotrong cả nước, đã có 144.000 hộ nghèo được vay vốn dư nợ gần 700 tỷ đồng với lãisuất cho vay bằng 0%
Bên cạnh đó, VBSP cũng hoàn thành tốt các chủ trương của Chính phủ về chovay hỗ trợ lãi suất, cho vay đối với thương nhân hoạt động thương mại tại VKK.VBSP cũng thực hiện quyết liệt Đề án 30 của Chính phủ về đơn giản hoá thủ tục hànhchính trong quản lý Nhà nước, nhằm cắt giảm những thủ tục hành chính trong quan hệvới khách hàng Đó là giải pháp phát hành Sổ vay vốn và Biên lai thu lãi tiền vay, đơngiản hoá thủ tục, giúp tăng cường quản lý vốn hiệu quả
Phát huy những kết quả đã đạt được, năm 2010 toàn hệ thống VBSP tập trunghuy động nguồn vốn và cho vay các chương trình ưu đãi, đảm bảo chỉ tiêu tăng trưởngtín dụng được Thủ tướng giao Trong đó, đảm bảo có cơ cấu nguồn vốn ngân sách Nhànước chiếm 50% trong tổng nguồn vốn; huy động nguồn vốn trả lãi, chú trọng nguồnvốn 2% của các tổ chức tín dụng; huy động nguồn vốn trung và dài hạn ngoài thịtrường Đối với công tác cho vay, năm 2010 VBSP thực hiện chỉ tiêu tập trung vào các
dự án chính như: cho vay hộ nghèo, cho vay đối với HSSV có hoàn cảnh khó khăn,
Trang 15cho vay hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở triển khai mạnh mẽ cho vay qua thẻ ATM đối vớitín dụng HSSV Để hoàn thành các mục tiêu trên, VBSP đề nghị Chính phủ cấp bổsung vốn điều lệ lên 12.000 tỷ đồng Đặc biệt, Nhà nước cần đứng ra huy động tráiphiếu chuyển cho VBSP cho vay các chương trình tín dụng Đồng thời, cho phépVBSP tích cực triển khai huy động tiền gửi tiết kiệm dân cư
+ Quỹ tín dụng nhân dân:
Bắt đầu từ một chương trình thí điểm chịu sự giám sát của NHNN vào tháng
7/1993, QTDND là một loại hình kinh tế hợp tác xã (HTX) hoạt động trong lĩnh vực
tiền tệ - tín dụng - ngân hàng theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về kết quả hoạt động, trong những năm qua QTDND đã thực hiện tốt mục tiêu tươngtrợ giữa các thành viên, phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên để giúpnhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiệnđời sống
Hoạt động của QTDND không vì mục tiêu lợi nhuận mà chủ yếu là tương trợgiúp đỡ thành viên, tạo điều kiện về vốn, tư vấn cho họ trong mở rộng sản xuất kinhdoanh, phát triển kinh tế đặc biệt là kinh tế nông nghiệp Vì vậy, trong những năm quaQTDND đã phát huy vai trò huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư để cho vay các thànhviên và hộ nghèo không phải là thành viên cư trú trên địa bàn hoạt động Thực tếchứng minh rằng, ở những nơi có QTDND, hàng ngàn hộ nông dân đã có cơ hội thuậnlợi để tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng, gửi tiền nhàn rỗi và vay vốn khi cần thiết.Đồng vốn của QTDND đã giúp cho thành viên và hộ nghèo mở rộng sản xuất kinhdoanh, phát triển ngành nghề, cải thiện sinh hoạt, nâng cao đời sống Đồng vốn củaQTDND đã giúp cho nhiều vùng cây công nghiệp, cây con đặc sản, các trang trại quy
mô lớn được hình thành và phát triển
Đồng vốn của QTDND đã khơi dậy tiềm năng kinh tế của nhiều địa phương,nhiều ngành nghề đặc biệt là nghề truyền thống được phục hồi, vườn tạp được cải tạo,tăng năng suất cây trồng vật nuôi, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nôngnghiệp, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động và tạo ra nhiều sản phẩm hànghoá cho xã hội
Hoạt động của QTDND trong những năm qua đã góp phần tích cực trong côngcuộc xoá đói giảm nghèo, hạn chế tệ nạn cho vay nặng lãi và các hình thức biến tướngcủa nó ở nông thôn Thông qua việc cho vay hỗ trợ vốn QTDND đã tạo điều kiện cho