1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trên cơ sở phân tích quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia, hãy bình luận về hành vi tôn tạo, bồi đắp các cấu trúc địa lý của Trung Quốc tại Trường Sa và những vấn đề pháp lý đặt ra liên quan đến quy chế pháp lý của các cấu trúc

24 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết sẽ làm rõ các quy chế pháp lý, điều kiện xây dựng, lắp đặt, sử dụng, khai thác các đảo, thiết bị, công trình nhân tạo; quy chếpháp lý, quyền và nghĩa vụ của các quốc gia đối với

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh các quốc gia đang nỗ lực mở rộng lãnh thổ, chiếm giữ khônggian phát triển, đặc biệt là không gian biển thì vấn đề xây dựng các đảo, công trình,thiết bị nhân tạo đã và đang được các quốc gia quan tâm và thực hiện Bởi lẽ, các đảo,công trình, thiết bị nhân tạo được xây dựng hợp pháp trên biển sẽ mang lại nhiều lợiích cho QGVB trong việc bảo vệ và thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tàiphán Tuy nhiên, một thực tế đáng lo ngại đó chính là việc bồi đắp, mở rộng các đảo

đá nhỏ, hay các bãi ngầm, rạn san hô, bãi cạn lúc chìm lúc nổi để biến chúng thành đảonhân tạo đang được một số quốc gia thực hiện với mục đích duy trì, củng cố yêu sách

về chủ quyền đối với các vùng biển xung quanh các “đảo” này, đặc biệt là ở các đảo vàvùng biển đang có tranh chấp và chồng lấn Thực trạng đó đã và đang được TrungQuốc tiến hành với quy mô rất lớn tại khu vực biển Đông, đặc biệt là tại quần đảoTrường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam Liên quan đến vấn đề này, nhóm 1 xin

chọn đề tài: “Trên cơ sở phân tích quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia, hãy bình luận về hành vi tôn tạo, bồi đắp các cấu trúc địa lý của Trung Quốc tại Trường Sa và những vấn đề pháp lý đặt ra liên quan đến quy chế pháp lý của các cấu trúc này” Bài viết sẽ làm rõ các quy chế pháp lý, điều kiện

xây dựng, lắp đặt, sử dụng, khai thác các đảo, thiết bị, công trình nhân tạo; quy chếpháp lý, quyền và nghĩa vụ của các quốc gia đối với đảo, công trình và thiết bị nhântạo theo quy định của Công ước Luật biển năm 1982 Đồng thời, phân tích và làm rõtác động từ thực trạng tôn tạo, bồi đắp các cấu trúc địa lý của Trung Quốc tại TrườngSa

A NỘI DUNG

1 Quy chế pháp lý của vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia và các đảo,

thực thể khác thuộc quần đảo Trường Sa

1.1 Quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia

1.1.1 Vùng tiếp giáp lãnh hải

Theo quy định tại Điều 33 của Công ước Luật biển năm 1982, vùng tiếp giáplãnh hải là vùng biển nằm phía ngoài và tiếp liền với lãnh hải, có chiều rộng khôngvượt quá 24 hải lí tính từ đường cơ sở của QGVB Như vậy, về mặt vị trí, vùng tiếp

Trang 2

giáp lãnh hải là vùng biển nằm giữa một bên là các vùng biển thuộc chủ quyền quốcgia và một bên là nhóm các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán củaQGVB Do đó, vùng tiếp giáp lãnh hải có ý nghĩa như “vùng đệm” giữa vùng biểnthuộc lãnh thổ quốc gia và những vùng biển nằm bên ngoài lãnh thổ của QGVB

Tại vùng tiếp giáp lãnh hải, các quốc gia không có chủ quyền mà tại đây chỉ tồntại một số quyền chủ quyền riêng biệt và hạn chế nhằm ngăn ngừa và trừng trị đối vớinhững vi phạm trong 04 lĩnh vực hải quan, y tế, thuế khóa và nhập cư theo Điều 33Công ước Luật biển năm 1982 Như vậy, hoàn toàn có thể nhận thấy rằng, ngoài 4 lĩnhvực kể trên, thẩm quyền tài phán trong vùng tiếp giáp lãnh hải, về mặt nguyên tắc, vẫnthuộc về quốc gia mà tàu mang cờ Điều này thể hiện rõ nét bản chất của vùng tiếpgiáp lãnh hải với tư cách là một vùng biển “tiếp nối” giữa lãnh thổ quốc gia với vùnglãnh thổ thuộc quyền chủ quyền, có sự “chuyển giao” về quy chế pháp lý và là nơiQGVB chỉ thực hiện các hoạt động bảo vệ an ninh, trật tự trên lãnh thổ của mình trướckhi tàu thuyền nước ngoài đi vào và rời khỏi lãnh thổ quốc gia

Bên cạnh đó, vùng tiếp giáp lãnh hải đồng thời là một bộ phận của vùng đặcquyền kinh tế; chính vì thế, tại vùng biển này đồng thời được hưởng thêm cả quy chếcủa vùng đặc quyền kinh tế (hay còn gọi là “quy chế kép”) Đối với các quốc gia khác,trong vùng tiếp giáp lãnh hải, bởi đây không phải là vùng biển thuộc chủ quyền quốcgia nên các quốc gia khác đều được hưởng các quyền tự do cơ bản như tự do hàng hải,

tự do hàng không, tự do đặt dây cấp và ống dẫn ngầm

1.1.2 Vùng đặc quyền kinh tế

Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng biển nằm ở phía ngoài và tiếp liền với lãnhhải, có chiều rộng không vượt quá 200 hải lí tính từ đường cơ sở của QGVB, được đặtdưới chế độ pháp lý riêng biệt quy định trong phần V của Công ước Luật biển năm

1982 Xét về quy chế pháp lý, đây là một vùng biển mà trong đó tồn tại song song cảquyền chủ quyền, quyền tài phán của QGVB cũng như quyền tự do biển cả của cácquốc gia khác Điều này thể hiện rõ nét sự dung hòa và cân bằng về quyền và lợi íchgiữa các quốc gia trong vùng đặc quyền kinh tế Cụ thể:

* Quyền chủ quyền và quyền tài phán của QGVB:

- Điều 56 Công ước Luật biển năm 1982 quy định, trong vùng ĐQKT, QGVB

có quyền chủ quyền đối với việc thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lí các tài nguyên

Trang 3

thiên nhiên, sinh vật cũng như không sinh vật ở vùng nước bên trên đáy biển, ở đáybiển và trong lòng đất dưới đáy biển cũng như các hoạt động khác nhằm thăm dò vàkhai thác vùng này vì mục đích kinh tế QGVB thi hành các biện pháp thích hợp đểkhai thác, quản lý và bảo tồn nhằm duy trì các nguồn lợi sinh vật trong vùng ĐQKTkhông bị khai thác quá mức

- QGVB có đặc quyền trong việc cho phép xây dựng và triển khai các đảo nhântạo hay các công trình thiết bị trong vùng ĐQKT Tính đặc quyền được thể hiện ởviệc, chỉ QGVB mới được quyền xây dựng các đảo nhân tạo, các thiết bị công trìnhtrong vùng ĐQKT của mình, các quốc gia khác muốn xây dựng, lắp đặt đảo nhân tạo,thiết bị công trình trong vùng ĐQKT phải xin phép và được sự cho phép của QGVB;Nếu như trong trường hợp cho phép quốc gia khác xây dựng đảo nhân tạo, thiết bịcông trình trong vùng biển của mình, QGVB có toàn quyền đưa ra các quy định, luật

lệ điều chỉnh việc xây dựng, khai thác, sử dụng những công trình, thiết bị này Thêmvào đó, QGVB cũng có quyền tài phán đặc biệt đối với vấn đề này; quyền tài phán nàycủa QGVB không chỉ mở rộng đối với các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình đặttrong vùng ĐQKT mà còn đối với cả các đảo nhân tạo, các công trình thiết bị đặt trênđáy biển và lòng đất dưới đáy biển của vùng1

- QGVB có toàn quyền cho phép nghiên cứu khoa học biển trong vùng ĐQKTcủa mình Các quốc gia muốn nghiên cứu khoa học biển trong vùng ĐQKT phải xinphép và được sự đồng ý của QGVB Bên cạnh đó, QGVB có quyền xây dựng và banhành các quy định, luật lệ điều chỉnh hoạt động nghiên cứu khoa học trong vùngĐQKT của mình, đồng thời có quyền áp dụng các biện pháp thích hợp để xử lý trongtrường hợp quốc gia khác vi phạm các quy định mà mình đã ban hành2

- Công ước Luật biển năm 1982 cũng công nhận cho QGVB quyền tài phán vềlĩnh vực bảo vệ và giữ gìn môi trường biển tại các Điều 56, 208, 210, 211 của Côngước Quốc gia ven biển có quyền ban hành các quy định, luật lệ để ngăn ngừa, hạn chế

và chế ngự ô nhiễm đối với môi trường biển phát sinh từ hoạt động của tàu thuyền, từcác đảo nhân tạo, thiết bị công trình cũng như bất kì hoạt động nào liên quan đến đáybiển, vùng lòng đất dưới đáy biển thuộc quyền chủ quyền của mình

1 Điều 56, 60 Công ước Luật biển năm 1982.

2 Điều 56, 246 Công ước Luật biển năm 1982

Trang 4

* Quyền và nghĩa vụ của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế:

Trong vùng ĐQKT, tất cả các quốc gia dù có biển hay không có biển đều đượchưởng ba quyền tự do cơ bản, đó là quyền tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do đặtdây cáp và ống dẫn ngầm Và các quyền tự do khác như quyền truy đuổi hay quyềnkhám xét tàu thuyền được áp dụng tại vùng ĐQKT trong chừng mực không làm ảnhhưởng đến việc thực thi quyền chủ quyền và quyền tài phán của QGVB Ngoài cácquyền tự do trên, các quốc gia khác có thể tham gia khai thác lượng cá dư thừa trongvùng ĐQKT của QGVB khi quốc gia này công bố có lượng cá dư thừa trên cơ sở cácthỏa thuận với QGVB và tuân theo các thể thức do QGVB quy định

1.1.3 Vùng thềm lục địa

Theo đó, Khoản 1 Điều 76 Công ước Luật biển năm 1982 đã quy định, thềm lụcđịa của quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnhhải của quốc gia đó, trên toàn bộ phận kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốcgia cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến vị trí cách đường cơ sở dùng để tínhchiều rộng lãnh hải 200 hải lý khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảngcách gần hơn

* Quyền của QGVB: TLĐ không phải là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia nêntheo quy định tại Điều 77 của Công ước, QGVB không thực hiện chủ quyền mà chỉ cónhững quyền chủ quyền thể hiện qua thẩm quyền riêng biệt về thăm dò và khai thác tàinguyên thiên nhiên tại vùng này Các quyền chủ quyền của QGVB đối với TLĐ mangtính chất đặc quyền; điều này có nghĩa rằng không một quốc gia nào có quyền tiếnhành thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên ở TLĐ của QGVB, nếu không được sựcho phép của quốc gia này, kể cả trong trường hợp QGVB không thăm dò hay khôngkhai thác tài nguyên thiên nhiên của TLĐ

QGVB không chỉ có quyền chủ quyền đối với tài nguyên của TLĐ mà còn đốivới cả chính TLĐ Công ước Luật biển năm 1982 quy định: “Quốc gia ven biển có đặcquyền cho phép và quy định việc khoan ở thềm lục địa bất kỳ vào mục đích gì” và

“quốc gia ven biển có quyền được khai thác lòng đất dưới đáy biển bằng cách đàođường hầm, bất kể độ sâu của các vùng nước ở nơi ấy là bao nhiêu” (Điều 81, 85)

Bên cạnh đó, QGVB còn có các quyền tài phán đối với các đảo nhân tạo, cácthiết bị, công trình trên thềm lục địa, quyền tài phán về nghiên cứu khoa học biển,

Trang 5

quyền tài phán về bảo vệ và gìn giữ môi trường biển tương tự như trong vùng đặcquyền kinh tế nhằm ngăn ngừa, hạn chế ô nhiễm do các hoạt động liên quan đến đáybiển thuộc quyền tài phán quốc gia

* Quyền của các quốc gia khác:

Quy chế pháp lý của TLĐ cũng khẳng định, các quyền của QGVB đối với TLĐkhông đụng chạm đến chế độ pháp lý của vùng nước ở phía trên hay của vùng trời trênvùng nước này Do đó, QGVB thực hiện các quyền của mình đối với thềm lục địakhông được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền tự do biển cả của các quốc giakhác đã được Luật biển quốc tế thừa nhận (điều 78 Công ước Luật biển năm 1982)

Tất cả các quốc gia đều có quyền tự do hàng hải, tự do hàng không, quyền lắpđặt các dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa Tuy nhiên, tuyến đường đi của ốngdẫn hoặc cáp cần có sự thỏa thuận của quốc gia ven biển Đặc biệt, khi đặt các dây cáp

và ống dẫn ngầm, các quốc gia phải tính đến các dây cáp và ống ngầm đã được đặt từtrước, đặc biệt họ cần lưu ý không làm hại đến khả năng sửa chữa các đường dây cáp

và ống dẫn đó Ngoài ra, trong điều kiện khi quốc gia ven biển thi hành các biện pháphợp lý nhằm thăm dò thềm lục địa, khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa

và ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm do ống dẫn ngầm gây ra, quốc gia ven biển

có quyền hạn chế quyền lắp đặt hệ thống ống dẫn ngầm của các quốc gia khác (điều 79Công ước Luật biển năm 1982)

1.2 Quy chế pháp lý của các đảo, thực thể khác thuộc quần đảo Trường Sa

Trên thực tế về mặt thuật ngữ, người ta thường gọi Trường Sa là quần đảo, tuynhiên, trên phương diện pháp lý do Trường Sa không đáp ứng đủ các tiêu chí của

“quần đảo” theo Điều 46.b Công ước Luật biển 1982 Trường Sa không thể có thềmlục địa (TLĐ) và vùng đặc quyền kinh tế (ĐQKT) riêng Việc hoạch định đường cơ sởtại đây cũng không thể thực hiện tương tự như đối với quốc gia quần đảo quy định tạiĐiều 46 Công ước Các vùng biển thuộc quần đảo này phụ thuộc vào quy chế pháp lícủa các đảo và thực thể khác trong đó Đây cũng là quan điểm chính thức của ViệtNam, Philippines và đa số quan điểm của các học giả pháp lí nổi tiếng

Theo Điều 121 Công ước Luật biển 1982, một đảo muốn có các vùng biển: lãnhhải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng ĐQKT và TLĐ thì đảo đó phải là: một vùng đất tự

Trang 6

nhiên, có nước bao bọc, ở trên mặt nước khi thủy triều lên và thích hợp cho con ngườiđến ở hay cho một đời sống kinh tế riêng

Quần đảo Trường Sa nằm ở khu vực Biển Đông, phần lớn là những bãi cátkhông thể trồng trọt; vào khoảng chục đảo khác là do những mỏm đá tạo thành.3 Trong

Vụ kiện Biển Đông4, Tòa kết luận rằng tất cả các thực thể trên quần đảo Trường Sa vàbãi Scarborough hoặc là bãi lúc nổi lúc chìm hoặc là đảo đá Không có bất kỳ thực thểnào là đảo với đầy đủ các vùng biển (islands with full entitlements).5 Điều này có

nghĩa: Một, các bãi lúc nổi lúc chìm sẽ có quy chế pháp lý của vùng biển mà bãi đó thuộc về Hai, không một đảo nào ở Trường Sa có thể có vùng ĐQKT và TLĐ, mà chỉ

có lãnh hải rộng tối đa 12 hải lý và vùng tiếp giáp lãnh hải rộng tối đa 12 hải lý tính từranh giới ngoài của lãnh hải

UNCLOS có quy định về quy chế pháp lý của các thực thể thường thấy ở trênbiển, bao gồm bãi san hô (Điều 6), bãi lúc nổi lúc chìm (Điều 13), đảo nhân tạo, côngtrình và kiến trúc nhân tạo (Điều 60 và 80), và đảo (Điều 121) Trong đó, bãi san hô,bãi lúc nổi lúc chìm và đảo là các thực thể tự nhiên

3 Xem: Monique Chemillier - Gendreau, Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, NXB Chính trị Quốc gia, 1998.

4 Xem: The South China Sea Arbitration (The Republic of Philippines v The People's Republic of China), cpa.org/en/cases/7/, truy cập lần cuối ngày 10/10/2021

https://pca-5 Xem: Arbitral Tribunal, PCA Case No 2013-19, South China Sea Arbitration, Philippines v China, 12/7/2016, p.643 – 648

Trang 7

đất hoàn toàn bị chìm ngập dưới biển được xác định là một phần của đáy biển vàkhông có bất kì vai trò gì trong hoạch định các vùng biển Như vậy, việc sử dụng cáckhái niệm “đảo, đảo đá, bãi cạn, cồn san hô và bãi ngầm” thuộc quần đảo Trường Sachỉ mang tính tương đối, không theo nghĩa của Công ước Luật biển mà theo thói quenngôn ngữ thông thường

Theo quy định của Công ước Luật biển, chỉ những “vùng đất” thuộc quần đảoTrường Sa không bị ngập dưới mực nước biển mới có hiệu lực trong hoạch định cácvùng biển Nếu đó là bãi cạn lúc nổi lúc chìm thì có thể được sử dụng để xác địnhđường cơ sở khi chúng ở cách một hòn đảo khoảng cách không vượt quá chiều rộngcủa lãnh hải Đối với những “vùng đất” cao hơn mặt biển ngay cả khi thuỷ triều lêncao, chúng có thể được hưởng quy chế của đảo hoặc đảo đá khi không đủ điều kiệncho người đến ở hay không có đời sống kinh tế riêng

Đến nay, chưa có một tài liệu nghiên cứu nào xác định chính xác số lượng cáccấu trúc ở Trường Sa Đa số các tài liệu cho rằng Trường Sa hầu như bao gồm các đảo,

đá nằm ở khu vực trung tâm Biển Đông, mỗi đảo có diện tích rất nhỏ, cằn cỗi, thời tiết

khắc nghiệt, bão tố nhiều, không thích hợp cho con người đến ở và cho đời sống kinh

tế riêng nên xung quanh các đảo này chỉ có thể có nội thuỷ và lãnh hải, không có vùng

ĐQKT và TLĐ như quy định tại khoản 3 Điều 121 Công ước Luật biển Theo cố vấn

pháp lí của Bộ ngoại giao Philippines, “quần đảo Trường Sa đang có tranh chấp hoàn

toàn là đá san hô và nó chỉ có các cây tràm, cây bụi và thực vật cằn cỗi mọc thưa thớt Khu vực này hoàn toàn không thể đáp ứng cho con người đến ở”;6 một học giả Trung

Quốc kết luận, những đảo này “rõ ràng là quá bé để cho phép sử dụng lâu dài”7

Trong bản tranh tụng do Philippines gửi lên Tòa trọng tài theo Phụ lục VII vụPhilippines – Trung Quốc, theo quan điểm của nước này, bãi Vành Khăn, Cỏ Mây, Xu

Bi, Ga Ve, Ken Nan (bao gồm cả Tư Nghĩa) là các bãi nửa nổi nửa chìm; Scarborough,Gạc Ma, Châu Viên và Chữ Thập chỉ là đá và tất cả những cấu trúc này đều không cóvùng ĐQKT và TLĐ riêng Phán quyết của Tòa trọng tài được thành lập theo Phụ lục

VII đã đưa ra kết luận rằng “không có cấu trúc nổi nào ở Trường Sa có khả năng duy

trì sự cư trú của con người hoặc có một đời sống kinh tế riêng, do đó, theo Điều 121

6 Xem: Coquia J.R (1990)., “Maritime Boundary Problems in the South China Sea”, U.B.C.L Review, tr 117 - 120

7 Xem: Tao Cheng (1975), “Dispute over the South China Sea Islands”, Texas International Law Journal, tr 267

Trang 8

(3), các cấu trúc như vậy không có vùng ĐQKT và TLĐ”.8 Kết luận này đã được tất cảcác thẩm phán thông qua trên cơ sở phân tích những quy định của UNCLOS, thực tiễnquốc tế cũng như những tư liệu do Tòa thu thập và Philippines cung cấp Trước khi cóphán quyết cuối cùng của Tòa, một số quốc gia trong khu vực cũng đã bày tỏ quanđiểm về việc không thừa nhận các thực thể ở Trường Sa đáp ứng đủ các điều kiện để

có vùng ĐQKT và TLĐ riêng Đệ trình chung của Malaysia và Việt Nam cũng như đệtrình riêng của Việt Nam năm 2009 lên CLCS chỉ thể hiện TLĐ kéo dài từ lãnh thổcủa hai nước mà không tính đến các đảo tại Hoàng Sa, Trường Sa Indonesia trongcông hàm gửi LHQ đáp lại đệ trình mở rộng TLĐ của Việt Nam – Malysia đã bày tỏ

quan điểm rằng: “những cấu trúc xa xôi hẻo lánh hoặc rất nhỏ ở biển Đông không phù

hợp để có vùng ĐQKT và TLĐ của chính chúng” 9

Như vậy, các đảo đá trong quần đảo Trường Sa đều có diện tích rất nhỏ, cằncỗi, thời tiết khắc nghiệt, bão tố nhiều, không thích hợp cho con người đến ở và chođời sống kinh tế riêng nên xung quanh các đảo này chỉ có thể có nội thuỷ và lãnh hảirộng 12 hải lí, không có vùng ĐQKT và TLĐ (theo khoản 3 Điều 121 Công ước Luậtbiển) Đây cũng là quan điểm của chính thức của Việt Nam về quy chế các đảo tronghai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa

1.2.2 Quy chế các bãi đá ngầm, bãi cạn lúc nổi lúc chìm:

Bãi cạn lúc nổi lúc chìm không thể bị chiếm hữu, trừ trường hợp chúng nằmtrong khu vực lãnh hải của QGVB và không được xem là lãnh thổ đất liền Do đó, cácbãi cạn lúc nổi lúc chìm không có vùng lãnh hải riêng khi chúng nằm ngoài giới hạncủa lãnh hải của một đảo hoặc lục địa.10 Các bãi cạn lúc nổi lúc chìm chiếm phần lớntrong những cấu tạo tự nhiên tại Trường Sa Do vậy mà việc xác định vai trò củachúng là công việc hết sức quan trọng Tuy nhiên, vấn đề này đã được quy định rất rõràng tại Điều 13 Công ước 1982

8 Xem: Arbitral Tribunal, PCA Case No 2013-19, South China Sea Arbitration, Philippines v China, 12/7/2016, p.626

9 Xem: Note Verbale from the Republic of Indonesia to the Secretary – General of the United Nations, 703/VII/10 (8 July 2010)

No.480/POL-10 Xem: Sovereignty over Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks and South Ledge (Malaysia v Singapore), 2008 ICJ Rep 12, các đoạn 291-9 Trong đó ICJ phân biệt Middle Rocks với South Ledge, South Ledge được phân loại là bãi cạn lúc chìm lúc nổi; trích dẫn đi kèm với thảo luận chính thức tại Maritime Delimitation and Territorial Questions between Qatar and Bahrain (Qatar v Bahrain), 2001 ICJ Rep 40, các đoạn 205-6.

Trang 9

Theo khoản 2 Điều 13 Công ước Luật Biển, quốc gia chỉ có thể thực hiện chủquyền của mình trên các bãi cạn này mà không hề có chủ quyền, quyền chủ quyền hayquyền tài phán đối với các vùng biển bao quanh.

Cũng theo khoản 1 Điều 13 Công ước, trong trường hợp khoảng cách giữa bãicạn lúc nổi lúc chìm với các đảo thuộc Trường Sa có khoảng cách bằng hoặc ít hơn 12hải lý, ngấn nước triều thấp nhất ở trên bãi cạn có thể được dùng để vạch đường cơ sở

để tính chiều rộng lãnh hải của các đảo nếu trên các bãi cạn đó có đèn biển hoặc cáccông trình nổi thường xuyên Có thể thấy rằng rất ít các bãi cạn lúc nổi lúc chìm thuộcTrường Sa được xếp vào trường hợp này

Trong Vụ kiện Biển Đông, Tòa có kết luận quan trọng rằng: bãi lúc nổi lúcchìm không thể là đối tượng thủ đắc lãnh thổ Luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổchỉ áp dụng với đất liền và đảo (gồm cả đảo đá) Một thực thể ở trạng thái tự nhiên làbãi lúc nổi lúc chìm sẽ không thể trở thành lãnh thổ thuộc chủ quyền quốc gia dù đượccải tạo một cách nhân tạo thành một thực thể luôn nổi

1.2.3 Quy chế các đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo trên biển

Hiện tại, có 3 loại đảo, công trình và thiết bị nhân tạo ở trong và xung quanhquần đảo Trường Sa và các vùng lân cận là: 1) Các thiết bị nhân tạo nổi tạm thời nhưgiàn khoan dầu (khi chúng không còn hoạt động, các giàn khoan này sẽ được tháo dỡ

và loại bỏ); 2) Các công trình, thiết bị nhân tạo gắn kết tạm thời hoặc vĩnh viễn với đảo

tự nhiên như đường băng sân bay; 3) Các đảo nhân tạo được xây dựng trên các loại đá

tự nhiên và các rạn san hô vĩnh cửu.11

Các công trình nhân tạo nhìn chung không được coi là đảo vì chúng rõ ràngkhông phải là các vùng đất được hình thành một cách tự nhiên Cả Công ước 1958 vềLãnh hải và Công ước Luật biển năm 1982 đều không ghi nhận quy chế đảo cho cáccông trình thuộc loại này Vấn đề quy chế của các đảo nhân tạo, thiết bị và công trìnhnhân tạo trên biển được quy định trong Công ước Luật biển 1982 như sau: Trong vùngĐQKT của mình, QGVB có đặc quyền tiến hành xây dựng, cho phép và quy định việcxây dựng, khai thác và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình nhân tạodùng vào các mục đích được trù định ở Điều 56 hoặc các mục đích khác Như vậy,

11 Xem: Keyuan Zou (2011), Tác động của các đảo nhân tạo đối với tranh chấp quần đảo Trường Sa,

http://nghiencuubiendong.vn , truy cập lần cuối ngày 10/10/2021

Trang 10

Công ước 1982 chỉ đề cập đến việc xây dựng các công trình nhân tạo trong vùng

ĐQKT (Điều 60.1) Công ước khẳng định các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình

nhân tạo không được hưởng quy chế đảo, không có lãnh hải riêng và sự có mặt của chúng không có ảnh hưởng đến việc hoạch định lãnh hải, vùng ĐQKT hoặc TLĐ (Điều

60.8) Công ước cho phép QGVB khi cần có thể lập ra xung quanh các đảo nhân tạo,các thiết bị hoặc công trình những khu vực an toàn với kích thước hợp lý; trong cáckhu vực này, QGVB có thể áp dụng các biện pháp thích hợp để bảo đảm an toàn hànghải, cũng như an toàn của các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình (Điều 60.4)

Như vậy, Công ước Luật biển năm 1982 chỉ ghi nhận hiệu lực pháp lý của một

số công trình nhân tạo nằm ngay sát và liên kết với bờ biển thành một chỉnh thể thốngnhất Trong trường hợp xây dựng ở ngoài khơi xa bờ, những công trình này sẽ khôngảnh hưởng đến việc xác định và mở rộng các vùng biển.12

Một trong những vấn đề phức tạp là việc xây dựng các công trình nhân tạo trêncác bãi cạn lúc chìm lúc nổi Về mặt pháp lý, các bãi cạn lúc chìm lúc nổi không thể cóquy chế pháp lý của đảo, cho dù ở đó có công trình nhân tạo thường xuyên nhô trênmặt biển Các công trình nhân tạo được xây dựng gắn với bờ biển hoặc trên các bãi cạnlúc chìm lúc nổi mà khoảng cách của chúng với lục địa hoặc một đảo tự nhiên khôngquá 12 hải lý thì chúng có vai trò trong việc xác định đường cơ sở thẳng dùng để tínhchiều rộng của lãnh hải của QGVB theo khoản 4 Điều 7 UNCLOS Ngược lại, nếucông trình nhân tạo được xây dựng ở lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, vùng ĐQKT và TLĐthì QGVB chỉ được thiết lập vùng an toàn không quá 500m Và dĩ nhiên các công trìnhnhân tạo, sẽ không có bất kỳ vai trò gì trong quá trình phân định biển vì chúng không

có lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, vùng ĐQKT và TLĐ theo quy định tại Điều 60 khoản 8của UNCLOS

2 Bình luận về tính hợp pháp của hành vi tôn tạo, bồi đắp các cấu trúc địa lý

của Trung Quốc tại Trường Sa

Từ khoảng cuối năm 2013 đầu năm 2014, Trung Quốc bắt đầu tăng cường tiếnhành các hoạt động tôn tạo, bồi đắp các cấu trúc địa lý mà nước này đang chiếm đóngtrái phép tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam nhằm hiện thực hóa yêu sách “đường

12 Xem: Nguyễn Toàn Thắng (2015), “Hoạt động xây dựng của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa và vấn đề giải quyết tranh chấp ở Biển Đông”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Xây dựng các công trình nhân tạo trên Biển Đông và tác động đối với hoà bình, an ninh, kinh tế, thương mại của khu vực, Hồ Chí Minh.

Trang 11

lưỡi bò (đường đứt khúc 9 đoạn)” phi lý ở Biển Đông Trung Quốc đã tiến hành cáchoạt động nạo vét, lấn biển để bồi đắp, cải tạo trên diện rộng các cấu trúc địa lý, huyđộng một lượng lớn máy móc, trang thiết bị để đồng loạt đẩy mạnh xây dựng13 nhằm

mở rộng diện tích các vị trí Trung Quốc chiếm đóng trái phép của Việt Nam Khôngchỉ vậy, Trung Quốc còn cắt phá các rạn san hô nhằm thay đổi trạng thái nguyên bảncủa các thực thể ấy, với ý định biến chúng thành các đảo nhân tạo nhằm khẳng địnhchủ quyền phi pháp, từng bước hiện thực hóa yêu sách của mình.14

Những thực thể Trung Quốc chiếm được một cách phi pháp ở Trường Sa củaViệt Nam chỉ là những bãi đá chìm, hay bãi cạn lúc chìm lúc nổi, có rất ít thực thểđược xem là đảo Tuy nhiên, Trung Quốc đã ồ ạt xây dựng các đảo nhân tạo trên cácđảo/bãi đá còn đang tranh chấp với tốc độ bồi đắp chóng mặt, những thực thể đó đangtrở thành đảo nhân tạo có diện tích lớn hơn nhiều tất cả các đảo/đá tự nhiên ở Trường

Sa, phá vỡ tình trạng tự nhiên và gia tăng thêm căng thẳng trên Biển Đông

Hành vi tôn tạo, bồi đắp các cấu trúc địa lý của Trung Quốc đã đi ngược lại vớiCông ước Luật biển 1982; làm thay đổi tính chất tự nhiên của các thực thể địa lý, pháhủy môi trường và hệ sinh thái biển, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến trình quản lýxung đột và giải quyết tranh chấp với các quốc gia liên quan trong khu vực

2.1 Hành vi của Trung Quốc vi phạm chủ quyền của Việt Nam với quần đảo

Trường Sa

Theo luật pháp quốc tế, Trung Quốc không có quyền xây dựng các đảo nhân tạotrên quần đảo Trường Sa của Việt Nam Bởi lẽ, vào năm 1988 và năm 1995, TrungQuốc đã sử dụng vũ lực tấn công, chiếm đóng 7 bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa chủquyền của Việt Nam Việc Trung Quốc sử dụng vũ lực xâm chiếm quần đảo Trường

Sa của Việt Nam là trái pháp luật quốc tế, vì chủ quyền của một quốc gia đối với lãnhthổ có được bằng hành động sử dụng vũ lực để xâm lược không được thừa nhận theopháp luật quốc tế Đó là hành động đơn phương vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối

13 Trung Quốc huy động nhiều máy móc các loại, ví dụ như tàu vận tải công suất lớn, tàu quốc Thiên Kình mở luồng, hút phun cát, cấp tập xây dựng trên bãi đá Huy Gơ (“Cận cảnh hoạt động xây dựng trái phép của Trung Quốc ở Trường Sa”, http://www.doisongphapluat.com/the-gioi/the-gioi-24h/can-canh-hoat-dong-xay-dung-trai-phep-cua-trung-quoc-o- truong-sa-a50204.html , truy cập lần cuối ngày 10/10/2021)

14 Xem: South China Sea: China’s Unprecedented Spratlys Building Program, china-sea-chinas-unprecedented-spratlys-building-program/ , truy cập lần cuối ngày 10/10/2021

Trang 12

https://thediplomat.com/2015/04/south-với quần đảo Trường Sa và do đó không có giá trị pháp lý.15 Do vậy, hành vi xây dựngcác đảo nhân tạo trên quần đảo Trường Sa là hoàn toàn trái với luật pháp quốc tế, đặcbiệt là UNCLOS 1982.

Các hành động san lấp, bồi đắp và cải tạo trên diện rộng tại các cấu trúc địa lý ởHoàng Sa và đặc biệt ở bảy cấu trúc địa lý mà Trung Quốc chiếm đóng trái phép ởTrường Sa là hành vi tiếp nối các hành động vi phạm chủ quyền của Trung Quốc đốivới chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này

2.2 Hành vi của Trung Quốc vi phạm nghĩa vụ giữ nguyên hiện trạng của các

vùng biển đang có tranh chấp

Các thực thể bị Trung Quốc bồi đắp và cải tạo ở Trường Sa đang nằm trong khuvực có tranh chấp chủ quyền Điều 74 và 83 của UNCLOS 1982 đòi hỏi rằng trong cáckhu vực có các yêu sách EEZ hoặc TLĐ mở rộng mâu thuẫn nhau thì các bên tranh

chấp: "trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, sẽ thực hiện mọi nỗ lực để tham gia vào các

dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và trong giai đoạn chuyển tiếp này, không gây phương hại cho hay cản trở việc đi đến các thỏa thuận cuối cùng."

Như đã phân tích ở phần 1, UNCLOS đã phân định quy chế riêng biệt đối vớiđảo được hưởng quy chế vùng ĐQKT (200 hải lý) và TLĐ trong khi các bãi đá, bãicạn lúc nổi lúc chìm sẽ có thể được hưởng tiêu chuẩn tối đa là vùng lãnh hải 12 hải lý.Ngoài ra, đối với các đảo nhân tạo thì Điều 121 của UNCLOS quy định rất rõ ràng:

“Các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình không được hưởng quy chế của các đảo.Chúng không có lãnh hải riêng và không có tác động gì đối với việc hoạch định ranhgiới lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế hoặc TLĐ”

Bằng các hoạt động nạo vét biển, sử dụng tàu cuốc để cắt những mảng san hô,

đổ cát xây đảo quy mô lớn, Trung Quốc đang cố gắng làm thay đổi tình trạng tự nhiêncủa các cấu trúc, dần dần xóa đi bản chất tự nhiên ban đầu của những thực thể này, từ

đó làm cơ sở để tiếp tục đưa ra các yêu sách vùng biển Tuy nhiên, hoạt động nhân tạocủa con người không làm thay đổi bản chất pháp lý của các cấu trúc tự nhiên, không

có giá trị trong việc chuyển hóa “bãi cạn”, “đá” thành “đảo” Điều này đã được Tòa

trọng tài khẳng định trong vụ Philippines hiện Trung Quốc, theo đó “… việc quy định

15 Xem: Trung Quốc bồi đắp, tôn tạo trái phép các cấu trúc địa lý trên Biển Đông: Đấu tranh của Việt Nam và phản ứng của cộng đồng quốc tế, http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/5944-trung-quoc-boi-dap-va-ton-tao-trai-phep- cac-cau-truc-dia-ly-tren-bien-dong , truy cập lần cuối ngày 10/10/2021

Ngày đăng: 19/11/2021, 19:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Bảy cấu trúc địa lý tại Trường Sa đang bị biến đổi thành các “đảo nhân tạo” - Trên cơ sở phân tích quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia, hãy bình luận về hành vi tôn tạo, bồi đắp các cấu trúc địa lý của Trung Quốc tại Trường Sa và những vấn đề pháp lý đặt ra liên quan đến quy chế pháp lý của các cấu trúc
Hình 1 Bảy cấu trúc địa lý tại Trường Sa đang bị biến đổi thành các “đảo nhân tạo” (Trang 21)
Hình 2: Hình ảnh vệ tinh mô tả tuyến đường băng và các các công trình khác trên bãi đá Chữ Thập - Trên cơ sở phân tích quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia, hãy bình luận về hành vi tôn tạo, bồi đắp các cấu trúc địa lý của Trung Quốc tại Trường Sa và những vấn đề pháp lý đặt ra liên quan đến quy chế pháp lý của các cấu trúc
Hình 2 Hình ảnh vệ tinh mô tả tuyến đường băng và các các công trình khác trên bãi đá Chữ Thập (Trang 21)
Hình 3: Hình ảnh vệ tinh mô tả hệ thống radar tại bãi đá Châu Viên - Trên cơ sở phân tích quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia, hãy bình luận về hành vi tôn tạo, bồi đắp các cấu trúc địa lý của Trung Quốc tại Trường Sa và những vấn đề pháp lý đặt ra liên quan đến quy chế pháp lý của các cấu trúc
Hình 3 Hình ảnh vệ tinh mô tả hệ thống radar tại bãi đá Châu Viên (Trang 22)
Hình 4: Hình ảnh vệ tinh đảo nhân tạo tại bãi Gaven - Trên cơ sở phân tích quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia, hãy bình luận về hành vi tôn tạo, bồi đắp các cấu trúc địa lý của Trung Quốc tại Trường Sa và những vấn đề pháp lý đặt ra liên quan đến quy chế pháp lý của các cấu trúc
Hình 4 Hình ảnh vệ tinh đảo nhân tạo tại bãi Gaven (Trang 22)
Hình 5: Hình ảnh vệ tinh đảo nhân tạo trên Bãi Tư Nghĩa - Trên cơ sở phân tích quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia, hãy bình luận về hành vi tôn tạo, bồi đắp các cấu trúc địa lý của Trung Quốc tại Trường Sa và những vấn đề pháp lý đặt ra liên quan đến quy chế pháp lý của các cấu trúc
Hình 5 Hình ảnh vệ tinh đảo nhân tạo trên Bãi Tư Nghĩa (Trang 23)
Hình 6: Ảnh vệ tinh Gạc Ma Tương quan giữa diện tích đảo nhân tạo và diện tích toàn bộ rạn đá - Trên cơ sở phân tích quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia, hãy bình luận về hành vi tôn tạo, bồi đắp các cấu trúc địa lý của Trung Quốc tại Trường Sa và những vấn đề pháp lý đặt ra liên quan đến quy chế pháp lý của các cấu trúc
Hình 6 Ảnh vệ tinh Gạc Ma Tương quan giữa diện tích đảo nhân tạo và diện tích toàn bộ rạn đá (Trang 23)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w