Thông tin chung: - Tên đề tài: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu trọng trường trái đất, kết hợp với dữ liệu trọng lực đo trực tiếp trên biển để xây dựng cơ sở dữ liệu dị thường trọng lực trên c
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘNGHIÊN CỨU SỬ DỤNG DỮ LIỆU TRỌNG TRƯỜNG TRÁI ĐẤT, KẾT HỢP VỚI DỮ LIỆU TRỌNG LỰC ĐO TRỰC TIẾP TRÊN BIỂN ĐỂ XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU DỊ THƯỜNG TRỌNG LỰC TRÊN CÁC KHU VỰC KHÔNG THỂ BAY ĐO
TRỌNG LỰC THUỘC VÙNG BIỂN VIỆT NAM
MÃ SỐ: TNMT.2018.03.15
Tổ chức chủ trì: Liên đoàn Vật lý Địa chất
Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Nguyên Vượng
HÀ NỘI - 2020
Trang 2BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘNGHIÊN CỨU SỬ DỤNG DỮ LIỆU TRỌNG TRƯỜNG TRÁI ĐẤT, KẾT HỢP VỚI DỮ LIỆU TRỌNG LỰC ĐO TRỰC TIẾP TRÊN BIỂN ĐỂ XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU DỊ THƯỜNG TRỌNG LỰC TRÊN CÁC KHU VỰC KHÔNG THỂ BAY ĐO
TRỌNG LỰC THUỘC VÙNG BIỂN VIỆT NAM
Trang 3DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
TT
Họ và tên, học hàm, học vị
Chức danh nghiên cứu nhiệm
vụ
Tổ chức công tác
1 ThS Nguyễn Nguyên Vượng Chủ nhiệm đề tài chấtLiên đoàn Vật lý Địa
3 ThS Nguyễn Thị Lụa Thành viên chính chấtLiên đoàn Vật lý Địa
4 KS Hồ Hải Thành viên chính chấtLiên đoàn Vật lý Địa
5 KS Vũ Tuấn Hùng Thành viên chính chấtLiên đoàn Vật lý Địa
6 KS.Đào Văn Dinh Thành viên chính chấtLiên đoàn Vật lý Địa
7 TS Lê Minh Thành viên chính Viễn thám Việt NamHội Trắc địa Bản đồ
8 ThS Nguyễn Tuấn Anh Thành viên chính Thông tin địa lý ViệtCục Đo Đạc, Bản đồ và
Nam
9 KS CNTT Lê Minh Tuấn Thành viên chính GiaCục Viễn thám Quốc
10 KS Trần Đình Ấu Thành viên chính viễn thám Việt NamHội Trắc địa Bản đồ
11 KS Lê Ngọc Trình Thành viên chấtLiên đoàn Vật lý Địa
12 KS Trần Ngọc Toàn Thành viên Liên đoàn Vật lý Địa
chất
Trang 414 KS Đoàn Quang Tạo Thành viên viễn thám Việt NamHội Trắc địa Bản đồ
15 KS Chu Quốc Khánh Thành viên Việt NamHội KHKT Địa vật lý
16 KS Đặng Văn Hậu Thành viên Việt NamHội KHKT Địa vật lý
Trang 5THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu trọng trường trái đất, kết hợp với dữ liệu trọng
lực đo trực tiếp trên biển để xây dựng cơ sở dữ liệu dị thường trọng lực trên các khu vực không thể bay đo trọng lực thuộc vùng biển Việt Nam.
- Mã số: TNMT.2018.03.15
- Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Nguyên Vượng
- Tổ chức chủ trì: Liên đoàn Vật lý Địa chất
- Thời gian thực hiện: 30 tháng (từ tháng 7/2018 đến tháng 12/2020).
2 Mục tiêu:
- Xác lập tổ hợp phương pháp tổng hợp và xử lý dữ liệu trọng trường trái đất và trọng lực đo trực tiếp trên biển nhằm xây dựng dữ liệu dị thường trọng lực trên diện tích nghiên cứu thuộc vùng biển Việt Nam.
- Xây dựng được CSDL và ứng dụng phần mềm để quản lý, khai thác dữ liệu trường trọng lực trên khu vực nghiên cứu thuộc vùng biển Việt Nam.
3 Tính mới và sáng tạo:
Lần đầu tiên đã nghiên cứu và đưa vào áp dụng trong thực tiễn công tác địa vật lý ở Việt Nam các phương pháp nội suy và mô hình nội suy Kriging trên cơ sở sử dụng hàm hiệp phương sai lý thuyết và mô hình phương sai thực nghiệm nhằm nội suy giá trị trọng lực tại những khu vực không có tài liệu đo trọng lực trực tiếp, theo tài liệu vệ tinh trích xuất từ các
mô hình trọng trường Trái đất phù hợp và tài liệu đo trực tiếp ở các vùng lân cận.
Vùng biển rộng lớn Việt Nam có diện tích hơn 1 triệu ki lô mét vuông với cấu trúc địa chất phức tạp và nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá đang rất cần được nghiên cứu, đánh giá Trong việc nghiên cứu đó, tài liệu trọng lưc biển đóng vai trò hết sức quan trọng, nhưng do thời tiết phức tạp và nhiều vấn đề còn tranh chấp trên biển Đông nên nhiều khu vực chưa thể bay đo trọng lực được Do vậy, việc nghiên cứu áp dụng các phương pháp xử lý thống kê nhằm kết hợp tài liệu trọng lực vệ tinh có trên toàn vùng biển với tài liệu đo trực tiếp
có rải rác trên nhiều diện tích để nội suy trọng lực cho những vùng trống là một giải pháp sáng tạo nhằm tạo ra cơ sở dữ liệu trọng lực biển có độ chính xác đáp ứng yêu cầu công tác nghiên cứu địa chất hiện nay.
4 Kết quả nghiên cứu:
- Đã nghiên cứu xác định được mô hình trọng trường toàn cầu có độ chính xác cao phù hợp với dữ liệu trọng lực trên vùng biển Việt Nam, qua đó xác lập tổ hợp phương pháp tổng hợp và xử lý dữ liệu trọng trường trái đất kết hợp với dữ liệu trọng lực đo trực tiếp trên biển xây dựng dữ liệu dị thường trọng lực trên diện tích nghiên cứu thuộc vùng biển Việt Nam với độ chính xác tương đối cao.
- Mục tiêu xây dựng CSDL và ứng dụng phần mềm để quản lý, khai thác dữ liệu trường trọng lực trên khu vực nghiên cứu thuộc vùng biển Việt Nam đang thực hiện dở dang
do kinh phí cấp không đủ.
5 Sản phẩm:
- Quy trình xử lý, tính toán cải chính dữ liệu trọng lực vệ tinh từ các dữ liệu trọng lực
đo trực tiếp;
Trang 6- File dữ liệu cải chính trọng lực vệ tinh giới hạn bởi tọa độ: φ(6,5 0 -10,5 0 ); λ(107 0
-112 0 );
6 Phương thức chuyển giao, địa chỉ ứng dụng, tác động và lợi ích mang lại của kết quả nghiên cứu:
6.1 Phương thức chuyển giao:
- Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài sẽ được giao nộp vào các cơ quan thông tin, lưu trữ Nhà nước để tham khảo, sử dụng rộng rãi.
- Liên đoàn Vật lý Địa chất có thể chuyển giao kết quả nghiên cứu cho các cá nhân, đơn vị có nhu cầu sử dụng theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
6.2 Địa chỉ ứng dụng:
- Các đơn vị trong và ngoài nước làm về điều tra cơ bản địa chất, đánh giá khoáng sản
sử dụng các tài liệu trọng lực đo trực tiếp, tài liệu trọng lực hàng không trên phạm vi các vùng biển của Việt Nam.
- Đề án “Bay đo từ - trọng lực tỷ lệ 1:250.000 biển và hải đảo Việt Nam”.
6.3 Tác động và lợi ích mang lại của kết quả nghiên cứu:
- Kết quả nghiên cứu là một bước nâng cao hiệu quả và chất lượng sử dụng các dữ liệu trọng lực vệ tinh được cập nhật thường xuyên và cung cấp miễn phí trên các trang mạng chuyên dụng áp dụng trên các vùng biển của Việt Nam.
- Việc áp dụng quy trình công nghệ tính toán kết hợp dữ liệu trọng lực vệ tinh và dữ liệu trọng lực đo trực tiếp góp phần phủ kín dữ liệu trọng lực trên các diện tích không thể đo trọng lực trực tiếp thuộc vùng biển Việt Nam, góp phần thúc đẩy tiến độ, nâng cao chất lượng, hoàn thiện công tác điều tra cơ bản, dự báo khoáng sản trên vùng biển thuộc chủ quyền của
đất nước.
Trang 7INFORMATION ABOUT RESEARCH RESULT
1 General information:
- Research topic: Using earth gravitational data, combined with gravity data which was measured directly above the sea to build a gravitational anomaly database on areas where people cannot conducted airborne gravity survey in Vietnam’s sea.
- Code: TNMT.2018.03.15
- Project manager: MSc Nguyen Nguyen Vuong
- Host organization: Geophysical Division
- Execution period: 30 months (from July 2018 to December 2020).
2 Objectives:
- Establish a combination of methods to synthesize and process earth gravitational data and gravity data which was measured directly above the sea in order to build gravitational anomalies in researched areas in Vietnamese territorial waters.
- Build a database and apply software to manage and exploit gravity data in the research area in the territorial waters of Vietnam.
3 The modernization and creativity:
For the first time, we have studied and applied in practice of the geophysical work in Vietnam for the interpolation methods and Kriging interpolation models based on the use of theoretical covariance and real variance model solutions to interpolate gravity values in areas where there are no direct gravitational measurements, according to satellite documents extracted from suitable Earth gravity models and direct measurements in the vicinity.
The vast sea area of Vietnam with an area of more than 1 million square kilometers with complex geological structure and many precious natural resources is in need of research and evaluation In this study, the marine gravity document plays a very important role, but due to the complicated weather and many disputed issues in the South China Sea, in many areas we cannot conduct airborne gravity survey Therefore, the study applying statistical processing methods to combine satellite gravity documents available with direct measurement documents scattered over many areas to interpolate gravity for those blank regions is an innovative solution to create an accurate marine gravity database that meets the requirements
of current geological research.
4 Research results:
- Research has determined the global gravitational model with high accuracy in accordance with gravity data on Vietnam’s sea waters, thereby establishing a combination of
Trang 8methods to synthesize and process earth gravitational data combined with gravity data measured directly above the sea to build gravitational anomaly database on the research area
of the Vietnam’s sea area with relatively high accuracy.
- The objective is to build a databases and to apply software to manage and exploit data on regional gravity field study of Vietnam's sea which was discontinued due to insufficient funding
6.2 Address of the application:
- Domestic and foreign units do basic geological surveys and mineral assessments using direct measured gravity documents, aviation gravity documents on the territorial waters
of Vietnam.
- Project "Magnetic-gravity flight at scale 1: 250,000 Vietnamese sea and islands".
6.3 Impacts and benefits of research results:
- The research results are one step to improve the efficiency and the quality of using satellite gravity data, which is regularly updated and provided free of charge on internet websites applied over Vietnam's territorial waters.
- The application of one computational technological procedure which combines satellite gravity data and direct measurement of gravity data which contributes to the coverage gravity data on areas where gravity cannot be directly measured in Vietnam’s territorial waters The goal is to speed up and improve quality of basic investigation and forecasting minerals in waters under the country's sovereignty.
Trang 10MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ x
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU xi
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
3 Nội dung nghiên cứu 3
4 Thời gian và kinh phí thực hiện 4
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4
6 Kết cấu của báo cáo 5
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
I.1 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước 6
I.1.1 Một số công trình nghiên cứu trọng lực biển trên thế giới 6
I.1.2 Một số mô hình trọng trường toàn cầu trên thế giới 7
I.2 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước 10
I.2.1 Vài nét về quá trình xây dựng hệ thống trọng lực ở Việt Nam 10
I.2.2 Các công trình nghiên cứu trọng lực biển ở Việt Nam 12
I.2.3 Một số đánh giá về tài liệu trọng lực biển trên Biển Đông 14
I.3 Các nội dung cần nghiên cứu trong đề tài 15
CHƯƠNG II PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
II.1 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu và cách tiếp cận 18
II.2 Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sử dụng 19
II.3 Tính mới, tính độc đáo và sáng tạo của nghiên cứu 19
Trang 11III.1 Nghiên cứu, đánh giá các mô hình trọng trường Trái đất và lựa chọn mô hình
phù hợp nhất với vùng biển Việt Nam 21
III.1.1 Tổng quan về trọng lực vệ tinh 21
III.1.2 Tổng quan về các mô hình trọng trường Trái đất 24
III.1.3 Đánh giá các mô hình trọng trường Trái đất và lựa chọn mô hình phù hợp với Việt Nam 28
III.1.3 Kết hợp các mô hình trọng trường Trái đất và dữ liệu trọng lực đo trực tiếp 44
III.2 Nghiên cứu các phương pháp nội suy trọng lực và xử lý kết hợp dữ liệu trọng lực vệ tinh và dữ liệu trọng lực đo trực tiếp 52
III.2.1 Nội suy dị thường trọng lực 52
III.2.2 Một số phương pháp nội suy trọng lực 56
III.2.3 Thử nghiệm chọn phương pháp nội suy 63
III.2.5 Nghiên cứu xác định hàm hiệp phương sai và biểu đồ phương sai 66
III.2.6 Trình tự tiến hành xác định hàm phương sai và biểu đồ phương sai thực nghiệm 71
III.3 Nghiên cứu triết xuất các dữ liệu trọng lực tại các khu vực khó tiếp cận bằng các hàm nội suy tối ưu 73
III.3.1 Xác định mô hình ngoại suy số cải chính 73
III.3.2 Tính toán giá trị trọng lực vệ tinh tại mỗi ô chuẩn 74
III.3.3 Cải chính trọng lực vệ tinh bằng số cải chính ngoại suy 74
III.3.4 Tạo mô hình kết quả 75
III.3.5 Kiểm tra mô hình kết quả 77
CHƯƠNG IV ÁP DỤNG THỬ NGHIỆM TÍNH TOÁN CẢI CHÍNH GIÁ TRỊ TRỌNG LỰC VỆ TINH 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
1 Kết luận 80
2 Một số tồn tại 81
3 Kiến nghị 81
Trang 12TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC 84
Trang 13DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 14DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1: Mô hình trọng trường toàn cầu GOCE 9
Hình 2: Sơ đồ bay của vệ tinh CHAMP 22
Hình 3: Sơ đồ bay của vệ tinh GRACE 23
Hình 4: Sơ đồ và vị trí khu đo Vịnh Bắc Bộ 29
Hình 5: Sơ đồ và vị trí khu đo Hà Tiên – Phú Quốc 30
Hình 6: Dữ liệu 3’x3’ các mô hình trọng lực vệ tinh 31
Hình 7: Kết quả so sánh giá trị dị thường FAI đo tàu biển vùng Vịnh Bắc Bộ và các mô hình trọng lực vệ tinh 34
Hình 8: Độ lệch chuẩn của mô hình EGM2008 trên khu đo phía Bắc 35
Hình 9: Độ lệch chuẩn của mô hình EIGEN-6C4 trên khu đo phía Bắc 35
Hình 10: Độ lệch chuẩn của mô hình SGG-UGM-1 trên khu đo phía Bắc 35
Hình 11: Độ lệch chuẩn của mô hình GECO trên khu đo phía Bắc 36
Hình 12: Độ lệch của mô hình trọng lực vệ tinh toàn cầu so với dữ liệu trọng lực mặt đất, hàng không và tàu biển 36
Hình 13: Sơ đồ bố trí tuyến đo trọng lực tàu biển khu vực Hà Tiên – Phú Quốc 37
Hình 14: Kết quả so sánh giá trị dị thường FAI đo tàu biển vùng Hà Tiên – Phú Quốc và các mô hình trọng lực vệ tinh 38
Hình 15: Độ lệch chuẩn của mô hình EGM2008 trên tuyến đo phía Nam 39
Hình 16: Độ lệch chuẩn của mô hình EIGEN-6C4 trên tuyến đo phía Nam 40
Hình 17: Độ lệch chuẩn của mô hình SGG-UGM-1 trên tuyến đo phía Nam 40
Hình 18: Độ lệch chuẩn của mô hình GECO trên tuyến đo phía Nam 40
Hình 19: Sơ đồ bay đo trọng lực hàng không năm 2018 47
Hình 20: Sơ đồ khu vực nội suy và ngoại suy 64
Hình 21: Đồ thị biểu đồ bán phương sai 67
Hình 22: Biểu đồ bán phương sai 72
Hình 23: Mô hình số cải chính trọng lực 75
Hình 24: Mô hình dữ liệu trọng lực vệ tinh kích thước 1,2’x1,2’ 76
Trang 15Hình 26: Kết quả so sánh mô hình trọng lực đo trực tiếp và cải chính ngoại suy 78
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 1: Các mô hình trọng trường GOCE 8
Bảng 2: Các mô hình trọng trường kết hợp GOCE và GRACE 9
Bảng 3: Các mô hình trọng lực vệ tinh đưa vào lựa chọn 30
Bảng 4: Kết quả đánh giá Mô hình trọng trường vệ tinh với các dữ liệu trọng lực trực tiếp vùng biển Vịnh Bắc Bộ 34
Bảng 5: Kết quả đánh giá Mô hình trọng trường vệ tinh với các dữ liệu trọng lực trực tiếp vùng biển Hà Tiên – Phú Quốc 39
Bảng 6: Kết quả sai số các mô hình trọng trường trên khu đo Vịnh Bắc Bộ 41
Bảng 7: Kết quả sai số các mô hình trọng trường trên khu đo Hà Tiên – Phú Quốc 42
Bảng 8: Quy mô các khu vực đo trọng lực biển Việt Nam 44
Bảng 9: Thông số kỹ thuật các khu vực đo trọng lực 45
Bảng 10: Sai số đo đạc trên các khu vực đo trọng lực biển 46
Bảng 11: Hướng tuyến đo các vùng bay đo năm 2018 47
Bảng 12: Kết quả tính sai số các phương pháp nội suy và ngoại suy 65
Bảng 13: Dữ liệu trọng lực tại các ô lưới sau cải chính 76
Trang 16MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Bản đồ trường dị thường trọng lực có vai trò quan trọng trong điều tra địachất và đánh giá khoáng sản, đồng thời có nhiều giá trị khoa học và thực tiễntrong các lĩnh vực khác như trắc địa, hải dương học, v.v Trong lĩnh vực địachất và địa vật lý, trường trọng lực cung cấp thông tin quan trọng để:
- Nghiên cứu xác định các cấu trúc sâu của vỏ trái đất trên lục địa cũngnhư ngoài biển, xác định thành phần vật chất các lớp của vỏ trái đất
- Nghiên cứu kiến tạo, xác định các hệ thống đứt gãy có vai trò quan trọngtrong việc hình thành các mỏ quặng, đặc biệt là quặng ẩn sâu
- Nghiên cứu phát hiện và khoanh định các khối magma ẩn, đặc biệt làmagma ngầm dưới đáy biển có tiềm năng chứa nhiều loại quặng quý như sắt,vàng, đồng, nikel, mangan, …
Do có vai trò quan trọng như vậy nên nghiên cứu xác định trường trọnglực và thành lập bản đồ dị thường trọng lực bao trùm diện tích lãnh thổ và lãnhhải luôn là một trong những nhiệm vụ được quan tâm hàng đầu ở mỗi quốc gia
Diện tích vùng biển Việt Nam bao gồm cả vùng đặc quyền kinh tế chiếmhơn một triệu kilomet vuông, có rất nhiều khu vực tranh chấp giữa Việt Nam vàcác nước liền kề, ngoài ra điều kiện thời tiết ở Biển Đông rất khắc nghiệt,thường xuyên có bão, mưa giông và những đột biến về khí hậu, do vậy việc đotrọng lực hàng không trên biển sẽ gặp rất nhiều khó khăn, chắc chắn sẽ có nhiềukhu vực chưa thể đo được trọng lực hàng không Vì vậy để xây dựng trườngtrọng lực và thành lập bản đồ trọng lực thống nhất phủ kín vùng biển và hải đảoViệt Nam cần thiết phải nghiên cứu phương pháp sử dụng kết hợp trường trọnglực Trái đất từ các mô hình trọng trường thế giới (được cung cấp miễn phí trênInternet) và trọng lực đo trực tiếp (tàu biển và máy bay) là phương pháp tối ưuđáp ứng được nhiệm vụ này
Với yêu cầu về độ chính xác trọng lực tương đương với độ chính xác củabản đồ trọng lực 1:250.000 là khoảng 3 mGal thì phương án đề xuất trên hoàntoàn khả thi, bởi:
Trang 17- Hiện có nhiều mô hình trọng trường Trái đất (GOCE, GRACE,CHAMP, EGM2008, …) đã được công bố với độ chính xác từ 1- 6 mgl;
- Dữ liệu các mô hình trọng trường Trái đất (trên biển và đất liền) hiệnđược cung cấp trên nhiều Website, trong đó có những Website có uy tín nhưhttp://earth- info.nima/gandG hay http://icgem.gfz-potsdam.de của ICGEM(International Centre for Global Earth Models);
- Chúng ta đã có cơ sở dữ liệu địa hình đáy biển Việt Nam tỷ lệ
từ 1- 2 mGal và sẽ có dữ liệu đo trọng lực hàng không trên một diện tích lớn
Do vậy, để giải quyết bài toán trên, vấn đề đặt ra là phải thực hiện một sốnội dung như: nghiên cứu để hiểu rõ cơ sở khoa học của trọng lực vệ tinh, xâydựng các phương pháp toán học xử lý kết hợp dữ liệu trọng trường trái đất và dữliệu đo trọng lực trực tiếp, xây dựng thử nghiệm CSDL dị thường trọng lực trênmột khu vực thử nghiệm Từ đó tiến tới xây dựng CSDL trường trọng lực vàthành lập bộ bản đồ dị thường trọng lực phủ kín vùng biển Việt Nam
Để triển khai nhiệm vụ nói trên, ngày 15 tháng 05 năm 2018, Bộ trưởng
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ra Quyết định số 1538/QĐ-BTNMT về việcphê duyệt tổ chức chủ trì, cá nhân chủ nhiệm và dự toán kinh phí nhiệm vụ khoahọc và công nghệ cấp Bộ mở mới năm 2018, bắt đầu thực hiện từ năm 2018 Đềtài được triển khai dựa trên các cơ sở pháp lý sau:
- Căn cứ Thông tư số TT 66/2017- BTNMT ngày 22 tháng 12 năm 2017của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành quy chế quản lý
đề tài, dự án khoa học và công nghệ của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
- Căn cứ Thông tư số 55/2015/TTLT-BTC-BKHCN ngày 22 tháng
4 năm 2015 của Bộ tài chính- Bộ Khoa học và Công nghệ về Hướng dẫn địnhmức xây dựng, phân bổ dự toán và quyết toán kinh phí đối với nhiệm vụ khoahọc và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước;
- Căn cứ Quyết định số 1538/QĐ-BTNMT về việc phê duyệt tổ chức chủtrì, cá nhân chủ nhiệm và dự toán kinh phí nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp
Bộ mở mới năm 2018 ngày 15 tháng 5 năm 2018
- Căn cứ Hợp đồng thực hiện nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ số:TNMT.2018.03.15 ngày 28 tháng 6 năm 2018 ký giữa Bộ Tài Nguyên và Môi
Trang 18trường và Liên đoàn Vật lý Địa chất về việc thực hiện đề tài: Nghiên cứu sửdụng dữ liệu trọng trường trái đất, kết hợp với dữ liệu trọng lực đo trực tiếp trênbiển để xây dựng cơ sở dữ liệu dị thường trọng lực trên các khu vực không thểbay đo trọng lực thuộc vùng biển Việt Nam;
- Căn cứ Quyết định số 28/QĐ-BTNMT ngày 04 tháng 01 năm 2018 vàQuyết định số 1339/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 04 năm 2018 của Bộ trưởng BộTài nguyên và Môi trường về việc giao, bổ sung, điều chỉnh dự toán ngân sáchNhà nước năm 2018 cho Liên đoàn Vật lý Địa chất;
- Căn cứ Quyết định số: 3939/QĐ-BTNMT ngày 28 tháng 12 năm 2018
và Quyết định số 2222/QĐ-BTNMT ngày 30 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng
Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc giao, điều chỉnh dự toán ngân sách Nhànước năm 2019 cho Liên đoàn Vật lý Địa chất;
- Căn cứ Quyết định số 822/QĐ-BTMNT ngày 01 tháng 4 năm 2020 của
Bộ TNMT về việc điều chỉnh cá nhân chủ nhiệm, thành viên chính và gia hạncác đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ;
- Căn cứ Quyết định: số 3473/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2019, số1411/QĐ-BTNMT ngày 29/6/2020 và số 2345/QĐ-BTNMT ngày 22/10/2020của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc giao dự toán, điều chỉnh dựtoán ngân sách nhà nước năm 2020 cho Liên đoàn Vật lý Địa chất;
- Căn cứ Dự toán kinh phí các năm 2018, 2019 và 2020 của Đề tài đã đượcphê duyệt;
- Căn cứ Thuyết minh Đề tài đã được phê duyệt
2 Mục tiêu của đề tài
- Xác lập tổ hợp phương pháp tổng hợp và xử lý dữ liệu trọng trường tráiđất và trọng lực đo trực tiếp trên biển nhằm xây dựng dữ liệu dị thường trọnglực trên diện tích nghiên cứu thuộc vùng biển Việt Nam
- Xây dựng được CSDL và ứng dụng phần mềm để quản lý, khai thác dữliệu trường trọng lực trên khu vực nghiên cứu thuộc vùng biển Việt Nam
Trang 193 Nội dung nghiên cứu
4 Thời gian và kinh phí thực hiện
Đề tài được thực hiện trong 30 tháng từ tháng 7 năm 2018 đến tháng 12
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài khi được ứng dụng sẽ bổ sung, cung cấp
hệ thống dữ liệu trọng lực trên phần lớn biển và hải đảo của Việt Nam, đây làmột trong những tài liệu quan trọng phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học,phát triển kinh tế - xã hội được nhiều ngành kinh tế khai thác sử dụng
- Các bản đồ trường trọng lực được sử dụng để nghiên cứu cấu trúc địachất, nghiên cứu các hệ thống đứt gãy kiến tạo, làm tiền đề để phân vùng dự báotriển vọng khoáng sản vùng biển và hải đảo Việt Nam
- Các số liệu trọng lực giúp các nhà khoa học giải quyết nhiều nhiệm vụkhoa học cơ bản của ngành Trắc địa - Bản đồ, như: tính toán, xác định mặtGeoid độ chính xác cao, xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống tọa độ, độ cao quốcgia
Trang 20- Việc xây dựng dữ liệu trọng lực có độ chính xác cao luôn cần thiết,nhưng đi kèm là đòi hỏi chi phí kinh tế không nhỏ Với khả năng cung cấp liêntục và luôn được cập nhật, các dữ liệu trọng lực vệ tinh sẽ đem lại hiệu quả tolớn trong việc xây dựng CSDL trường trọng lực, và do vậy CSDL này cũngđược cập nhật liên tục, có độ chính xác cao, phủ kín lãnh thổ và lãnh hải nướcnhà.
6 Kết cấu của báo cáo
Báo cáo gồm: 84 trang A4, 13 biểu bảng, 26 hình vẽ minh họa và đượckết cấu như sau:
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, có 4 chương:
Chương I: Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu
Chương II: Phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương III: Kết quả nghiên cứu
Chương IV: Áp dụng thử nghiệm lập bản đồ dị thường trọng lực
Trong quá trình thực hiện đề tài, các tác giả đã nhận được sự quan tâm,giúp đỡ và nhiều ý kiến đóng góp quý giá của Lãnh đạo và các chuyên viên VụKHCN Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản ViệtNam, Lãnh đạo Liên đoàn Vật lý Địa chất, Cục Đo đạc Bản đồ và Thông tin địa
lý Việt Nam, Cục Viễn thám Quốc Gia, Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ ViệtNam và nhiều chuyên gia trong các lĩnh vực địa vật lý, trắc địa Tập thể tác giảxin tỏ lòng biết ơn chân thành đối với những giúp đỡ nói trên
Trang 21CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
I.1 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước
I.1.1 Một số công trình nghiên cứu trọng lực biển trên thế giới
Đo và nghiên cứu trọng lực biển đã được tiến hành và công bố trongnhiều công trình nghiên cứu trên thế giới Có thể kể đến một số công trình sau:
- Công trình của Cheinway Hwang và Bary Parsons (1995) về xác định dịthường trọng lực bằng các số liệu đo cao vệ tinh của các vệ tinh ERS-1,TOPEX/POSEIDON, Geosat/ERM Các tác giả đã tính ra gradient độ cao trungbình Geoid để từ đó tính ra dị thường trọng lực trên biển Trên cơ sở sử dụng kếthợp các số liệu trọng lực vệ tinh và số liệu đo trọng lực trực tiếp bằng tầu biển
đã thiết lập được giá trị dị thường trọng lực có độ chính xác ±5,7 mGal trênvùng biển khu vực Reykjanes Ridge
- Công trình nghiên cứu của Cheinway Hwang, Xiaoli Deng, Hsin YingHsu, Yuting Liu Trong năm 2006 đã sử dụng các số liệu đo cao của vệ tinhGeosat/GM để tính ra độ cao mặt biển và từ đó sử dụng phép nội suy Collocasia
để tính ra dị thường trọng lực ở khu vực gần đảo Đài Loan Kết quả cho thấy,chỉ ở khu vực gần bờ có kết quả không tốt chủ yếu do hiệu ứng thuỷ triều trongkết quả đo cao vệ tinh chưa được xử lý
- Năm 1997 David T Sandwell và Walter H.Smith trong công trình
“Marine Gravity anomaly from Geosat and ERS1 Satellite Altimetry” đã xácđịnh dị thường trọng lực toàn cầu bằng việc sử dụng các số liệu đo cao vệ tinhGeosat Từ các số liệu đo cao của 2 vệ tinh trên đã tính ra dị thường trọng lực vàgradient trọng lực bằng phương pháp Fourier Kết quả này được so sánh với kếtquả đo trực tiếp trọng lực bằng tầu có độ chính xác từ 4mGal đến 7 mGal Khicác vệt đo cao vệ tinh trùng với tuyến đo của tầu, độ chính xác đạt 3mGal
- Ole Baltazar Andersen, Per Knudsen, A M.Berry (2010) đã xác định dịthường trọng lực trên biển và xây dựng mô hình trọng lực toàn cầuDNSC08GRAV bằng các dữ liệu đo cao vệ tinh của các vệ tinh ERS, Jason,Envisat, Geosat, T/P và ICEsat Các tác giả sử dụng mô hình EGM2008 bằng kỹthuật tính toán để xác định được phần dư độ cao Geoid và từ đó xác định phần
dư dị thường trọng lực Bằng phương pháp đó các tác giả đã xác định được dịthường trọng lực có độ chính xác ±3,9mGal trên khu vực Northwest AtlanticOcean
Trang 22Khi nâng cấp mô hình trọng trường toàn cầu DNSCO8GRAV, OleBaltazar Anderrsen (2010) đã bổ sung các dữ liệu đo mới của vệ tinh ERS vàENVISAT kết quả xây dựng mô hình trọng trường DTU10GRAV có độ chínhxác ±3,8mGal ở trên biển.
I.1.2 Một số mô hình trọng trường toàn cầu trên thế giới
I.1.2.1 Mô hình trọng trường toàn cầu EGM96
Mô hình trọng trường toàn cầu EGM96 (Lemoine F.G, Kenyon S.C,Factor J.K, Trimmer R.G et al) đã được xây dựng có các hệ số điều hoà cầu cóbậc và hạng được khai triển tới 360 (n=m=360) Mô hình trọng trường EGM96
là kết quả hợp tác của 3 cơ quan của Mỹ bao gồm: Cục ảnh và Bản đồ quốc gia(NIMA), Uỷ ban nghiên cứu vũ trụ (NASA) và Trường đại học tổng hợp Ohio.Các cơ quan này hợp tác thu thập xử lý các dữ liệu trọng lực mặt đất, trọng lựchàng không, trọng lực vệ tinh và từ mô hình OSU91 bao gồm:
+ 86750 ô chuẩn 30’x30’ và 6500 ô chuẩn 10’x10’ dữ liệu trọng lực mặtđất
+ 146042 ô chuẩn 30’x30’ dữ liệu đo cao vệ tinh ở trên các đại dương từcác dự án vệ tinh Geosat, ERS-1, TOPEX/POSEIDON, Doppler Trannet củaquân đội Mỹ
+ 1064 ô chuẩn 30’x30’ từ mô hình OSU91
dị thường trọng lực khoảng không tự do của mô hình EGM96 trên mặt đất trongkhoảng từ 25,6 ÷ 35,2 mGal (Lemoine F.G et al, 1998) và đạt 6-7 mGal trênbiển (Kefei Z.H –Đại hoc Curtin Australia)
I.1.2.2 Mô hình trong trường toàn cầu EGM-2008
Theo công bố trong tài liệu của N.K Pavlis, Simon A.Holmes, SteveC.Kenyon và John K Factor (2008), mô hình trọng trường toàn cầu EGM2008(Earth Gravitation Model 2008) do NGA (National Geospatial IntelligenceAgency), Mỹ xây dựng năm 2008 Đây là mô hình trọng lực toàn cầu có hệ sốđiều hoà cầu được khai triển tới bậc 2059 Số liệu trọng lực để xây dựng mô
Trang 23recovery and Climate Experiment), Dữ liệu đo cao vệ tinh từ SIO/NOAA(Scripps Institution of Oceanography and National Oceanic and AtmosphericAdministration) và mô hình trọng trường DNSCO7 của Danish National SpaceCenter (DNSC) Ngoài ra còn từ các dự án ArcGP (Arctic Gravity Project) vàmột số các dữ liệu tính toán bổ sung của NGA Mô hình Grid trọng lực củaEGM2008 có kích thước ô chuẩn 5’x5’ phủ chùm toàn bộ trái đất có tất cả9.331.200 ô chuẩn trên.
Mô hình có các hằng số đặc trưng sau:
Elipsoid WGS-84 với:
A = 6378137,00m;
F =1/298.257223563;
Dữ liệu của mô hình EGM2008 cũng bao gồm: Dị thường khoảng không
tự do, dị thường Bouger, dị thường phần dư địa hình Để tính dị thường phần dưđịa hình (dị thường RTM), Nga đã lấy mô hình số độ cao toàn cầu DTM2006.0
độ phân giải 5’x5’ làm mặt địa hình trung bình và mô hình số độ cao độ phângiải cao DTM2006.0 30”x30” làm mặt địa hình thực Theo kết quả đánh giá của
N K.Pavlis, độ chính xác của dị thường trọng lực của mô hình EGM2008 đạttrung bình toàn cầu là ±4.1 mGal, trong đó vùng thiếu dữ liệu mặt đất (Fill-in)
±7.6 mGal, vùng biển (có dữ liệu Altimetry và dữ liệu đo trực tiếp) đạt
±3,0mGal Tuy nhiên ở mỗi khu vực cụ thể, độ chính xác sẽ khác nhau phụthuộc vào mật độ và độ chính xác của dữ liệu trọng lực đo trực tiếp trong khuvực đó
I.1.2.3 Một số mô hình trọng trường vệ tinh GOCE
Vệ tinh trọng lực GOCE (Gravity field and Steady-State OceanCirculation Explorer) được Uỷ ban vũ trụ châu Âu (ESA-European SpaceAgency) phóng lên quỹ đạo từ tháng 3/2009 đến 6/2013 Trong thời gian trênnhờ vào kết quả đo trọng lực và đo gradient trọng lực vệ tinh của Goce đã tiếnhành xây dựng được một số các mô hình trọng trường sau:
- Mô hình trọng trường GOCE
Bảng 1: Các mô hình trọng trường GOCE
ST
Trang 241 Go_CONS_GCF_2_DIR_R1 240 Bruinsma et al, 2010
2 Go_CONS_GCF_2_DIR_R3 240 Bruinsma et al, 2010
3 Go_CONS_GCF_2_DIR_R4 260 Bruinsma et al, 2013
4 Go_CONS_GCF_2_DIR_R5 300 Bruinsma et al, 2013
- Mô hình kết hợp GOCE và GRACE
Bảng 2: Các mô hình trọng trường kết hợp GOCE và GRACE
và 10,14 mGal, còn độ chính xác của dị thường trọng lực mô hình kết hợp giữa
vệ tinh GOCE và GRACE cho các mô hình EIGEN-6S2, GOCO03S cũngkhoảng 10 mGal Theo công bố của G.N Guimarals, A.C Matos và D.I.Litzkov các mô hình Go_CONS_GCF_2 _TIM_R3 được đánh giá ở Braziliacũng đạt độ chính xác 10,47 mGal, mô hình GOCO02S đạt 10,34 mGal, môhình EGM2008 đạt độ chính xác 10,66 mGal Nhìn chung độ chính xác dịthường trọng lực trên đất liền của các mô hình GOCE khi so sánh với các giá trịtrọng lực đo trực tiếp có độ chính xác trong khoảng từ 9,50 đến 10,50 mGal
Trang 25I.2 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
I.2.1 Vài nét về quá trình xây dựng hệ thống trọng lực ở Việt Nam
Công tác xây dựng hệ thống trọng lực ở việt Nam trải qua các thời kỳ:
Giai đoạn từ 1933-1975
- Từ 1933 đến1935, các nhà địa vật lý người Pháp đã tiến hành đo 107
điểm trọng lực ở Lào, Việt Nam và Campuchia, riêng ở Việt Nam đo 30 điểm độchính xác đạt ±2,5mGal Trên cơ sở đó đã thành lập bản đồ trọng lực tỷ lệ1/10.000.000 phủ chùm 3 nước ở bán đảo Đông Dương
- Trong thời kỳ từ 1954 đến 1973:
Năm 1957 trên cơ sở xây dựng lưới trọng lực quốc tế gồm Liên xô, TrungQuốc, Việt Nam và một số nước ở châu Á Liên Xô trước đây đã xây dựng 01điểm trọng lực đo bằng hệ thống máy con lắc tương đối OVM ở sân bay GiaLâm, được đo nối với điểm gốc trọng lực quốc tế Posdam (Đức) thông qua việc
đo nối với điểm trọng lực gốc Liodovo ở Moskva Độ chính xác của điểm đạtkhoảng ± 0.1 mGal Điểm trọng lực Gia Lâm là điểm gốc cơ sở cho phát triểncông tác trọng lực ở Miền Bắc nước ta trong giai đoan 1957-1974
Trên cơ sở đó Tổng cục Địa chất với sự hợp tác giúp đỡ của chuyên giaLiên Xô đã tiến hành công tác xây dựng lưới trọng lực khống chế và đo trọnglực chi tiết trên toàn miền bắc Việt Nam và kết quả đã thành lập bản đồ dịthường trọng lực tỷ lệ 1/500.000 phủ chùm toàn bộ Miền Bắc và bản đồ trọnglực tỷ lệ 1/200.000 vùng đồng bằng Bắc Bộ
Ở Miền Nam trong giai đoạn 1960-1961 người Mỹ đã đo 01 điểm trọnglực ở sân bay Tân Sơn Nhất bằng hệ thống máy trọng lực đo tương đối Lacosteand Romberg của Mỹ thông qua việc đo nối với hệ thống lưới trọng lực quốc tế(hệ Posdam) ở các điểm trọng lực tuyệt đối Tokyo và Singapor Độ chính xáccủa điểm đạt ±0.03 mGal Trên cơ sở điểm gốc trọng lực Tân Sơn Nhất đã tiến
(±0.03 - ±0.07 )mGal, được bố trí ở các địa phương: Tân An, Sa Đéc, Mỹ Tho,Rạch Giá, Bạc Liêu, Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ, Sài Gòn, Đà Lạt (2điểm), Nha Trang, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Huế, Buôn Ma Thuật, Pleiku Lướitrọng lực trên được sử dụng làm các điểm khống chế cho mọi công tác đo trọnglực ở miền nam Việt Nam trước năm 1975
Giai đoạn 1973- 1988
Trang 26Trong giai đoạn này đã tiến hành việc xây dựng và hoàn thiện hệ thốnglưới trọng lực nhà nước và tiến hành công tác đo trọng lực chi tiết trên toàn bộlãnh thổ Việt Nam Cụ thể như sau:
- Thời kỳ 1973-1977: Trong thời gian nay với sự hợp tác giúp đỡ của chuyên
gia Liên Xô trước đây đã thiết lập ở nước ta hệ thống trọng lực bao gồm haiđường đáy trọng lực là Tam Đảo –Vĩnh Yên, Ba Rịa-Vũng Tầu và các lướitrọng lực hạng I, II, III và hệ thống trọng lực chi tiết
Các lưới trọng lực hang I, II và hạng III đã đáp ứng kịp thời cho việc đotrọng lực chi tiết phục vụ cho công tác trắc địa và địa chất ở nước ta trong suốtthời gian đó nhất là việc triển khai đo trọng lực ở các tỉnh phía nam
Trong thời gian này để phục vụ cho công tác trắc địa nhằm tính chuyển về
hệ độ cao chuẩn Cục Đo đạc và Bản đồ nhà nước đã đo khoảng gần 10.000 điểmtrọng lực chi tiết dọc theo các đường thuỷ chuẩn hạng I và hạng II trong cảnước
Trong thời gian từ năm 1960 đến năm 2000, Tổng cục Địa chất đã tiếnhành đo trọng lực chi tiết trong cả nước phục vụ công tác địa chất và thăm dòkhoáng sản với mật độ vùng đồng bằng 1-2km/điểm, vùng trung du từ3-4km/điểm, vùng núi 7-10km/điểm
Kết quả đã xây dựng được bản đồ dị thường trọng lực tỷ lệ 1/500.000 phủchùm cả nước và bản đồ trọng lực tỷ lệ 1/200.000 vùng đồng bằng Bắc Bộ, dảiđồng bằng miền trung và đồng bằng Nam Bộ Toàn bộ phần lãnh thổ Việt Nam
được xây dựng thành lưới trọng lực có kích thước ô chuẩn 3’x3’ (5kmx5km) vớitổng cộng 12.991 ô chuẩn Độ chính xác trung bình trong các ô chuẩn đạt 3mGal
Giai đoạn 1987-2013
Trong thời gian từ năm 1987-1988
Đã hiện đại hoá lưới trọng lực nhà nước xây dựng trong thời kỳ 1973 đến
1977 với sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô trước đây đã tiến hành xây dựng 04điểm trọng lực cơ sở gồm điểm gốc trọng lực Hà Nội, Điểm Đà Nẵng, ĐiểmNha Trang và điểm thành phố Hồ chí Minh Trong thời gian này cũng xây dựnglại lưới trọng lực hạng I gồm 10 điểm Độ chính xác của lưới trọng lực hạng Iđạt 0.03 mGal
Thời kỳ từ 2003-2013.
Trang 27Là thời kỳ xây dựng hệ thống trọng lực ở Việt nam với độ chính xác caogấp nhiều lần độ chính xác của các lưới trọng lực đã được xây dựng trước đây.
Từ năm 2003 đến năm 2013 Viện nghiên cứu Địa chính nay là Viện khoa học
Đo đạc và Bản đồ thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hợp tác với liên bangNga thực hiện dự án “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống trọng lực ở Việt Nam”.Kết quả đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống trọng lực cơ sở và hạng I bao gồm:
- Lưới trọng lực cơ sở: Đã xây dựng 11 điểm trọng lực cơ sở được đo bằngmáy trọng lực tuyệt đối GBL của Liên bang Nga với độ chính xác 5 µGal(0.005mGal), độ chính xác này cao gấp 8-10 lần độ chính xác của lưới trọnglực đã xây dựng trước đây
- Lưới trọng lực hạng I: Đã đo 31 điểm trọng lực hạng I bằng máy trọng lựctuyệt đối GBL với độ chính xác 0.01 mGal, các điểm đo được phân bổ đềutrong các địa phương trong cả nước
Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống trọng lực quốc gia với 42 điểmgồm 11 điểm trọng lực cơ sở và 31 điểm trọng lực hạng I, gia tốc trọng trường gđược xác định trực tiếp bằng các máy đo trọng lực tuyệt đối đạt độ chính xác0.005 mGal đã đáp ứng các yêu cầu cho công tác nghiên cứu trong lĩnh vực địađộng lực xác định vi chuyển dịch của vỏ trái đất, nghiên cứu cấu trúc sâu củacác lớp vật chất của vỏ trái đất và các nghiên cứu do tác động của biến đổi khíhậu và nước biển dâng với sự biến đổi của trường trọng lực ở nước ta và khuvực
I.2.2 Các công trình nghiên cứu trọng lực biển ở Việt Nam
Những công trình, dự án trọng lực trên Biển Đông trong thời gian qua baogồm các chương trình khảo cứu rộng và các nghiên cứu nhỏ mang tính chuyên
đề Các chương trình khảo cứu có thể kể đến như sau:
- Trong các năm 1973-1979 các công ty dầu khí của Liên Xô, Anh, Pháp,
Na Uy đã tiến hành khảo sát địa vật lý theo các lô trên thềm lục địa biển ViệtNam, các tầu của Liên xô như Poisk, Ikatel, Gambuxep và Malugin đã tiến hànhmột loạt khảo sát địa vật lý trên một số cấu tạo triển vọng có dầu ở Bạch Hổ,Rồng, Đại Hùng…trên biển Đông nước ta
- Trong thời gian 1984-1985 các tầu thăm dò của Liên xô đã tiến hànhkhảo sát địa chất khu vực rìa phía tây và tây nam vịnh Bắc Bộ, thềm lục địamiền trung và Đông bắc vịnh Thái Lan Kết quả thành lập được bản đồ dịthường Bouger tỷ lệ 1/500.000, lưới chiếu UTM với đường đẳng trị 5 -8 mGal,
theo công thức Helmert (1901-1909)
Trang 28- Năm 1987 đoàn khảo sát Bộ địa chất và Khoáng sản Trung Quốc đã tiếnhành đo địa vật lý trên toàn bộ vùng Biển Đông, kết quả đã thành lập được bản
đồ trọng lực tỷ lệ 1/2.000.000 phép chiếu Mercator toàn Biển Đông với đườngđẳng trị 10-20 mGal Trọng lực bình thường được tính theo công thức Cassinic(1930)
- Trong thời gian từ 1990-1992 tàu Gagarinsky (Nga) đã đo trọng lực trêntoàn bộ vùng thềm lục địa Việt Nam, kết quả thành lập bản đồ dị thường Bouger
tỷ lệ 1/500.000 phép chiếu UTM với đường đẳng trị 5 mGal, lực trọng trườngbình thường tính theo công thức Helmert (1901-1909) Đây là bộ bản đồ trọnglực có độ chính xác tốt, các kết quả đo và tính toán có độ tin cậy cao
- Trong khuôn khổ chương trình 48B “Đặc điểm các trường địa vật lý ởViệt Nam và vùng biển kế cận” Bùi công Quế và Nguyễn Hiệp từ năm 1995-
1999 đã thành lập bản đồ dị thường Bouger tỷ lệ 1/1.000.000 toàn bộ BiểnĐông Bản đồ được thành lập dựa trên các tài liệu của tầu Gagarinsky và tài liệucủa Bộ Địa chất Khoáng sản Trung Quốc
- Trong thời gian từ 2007-2009 Viện khoa học Đo đạc và Bản đồ thựchiên dự án “Điều tra đặc điểm Địa chất, Địa động lực, Khoáng sản, Địa chất môitrường và tai biến Địa chất trên vùng biển Việt Nam” đã đo được tổng cộng58.989 điểm trọng lực với độ chính xác 1,0-1,2mGal bằng máy ZLS DinamicGravity Meter D06 Tuy vậy các điểm đo được phân bố không đều: khu vựcquanh đảo Bạch Long Vỹ có 28.158 điểm, các điểm đo khác nằm rải rác ở cáckhu vực miền trung và phía nam biển nước ta
- Trong đề tài nghiên cứu cấp nhà nước của Đặng Hùng Võ, Lê Minh,Phạm Hoàng Lân et al (2003) đã sử dụng dị thường trọng lực của mô hìnhEGM96 để xây dựng mô hình Grid trọng lực với ô chuẩn 3’x3’ trên toàn bộ khu
sử dụng thuần tuý dị thường trọng lực lấy từ EGM96 Độ chính xác dị thườngtrọng lực trong các ô chuẩn phần đất liền từ dữ liệu đo trực tiếp là 3,4 mGal và6-7 mGal phần biển từ dữ liệu của mô hình EGM
- Năm 2008-2011 trong khuôn khổ thực hiện dự án chính phủ “Xây dựng
mô hình Geoid địa phương trên lãnh thổ Việt Nam, Cục Đo đạc và Bản đồ Việtnam đã sử dụng Mô hình EGM2008 để xây dựng mô hình Grid trọng lực phủchùm toàn bộ khu vực Việt Nam với ô chuẩn là 3’x3’ Độ chính xác trên các ôchuẩn đạt ± 3.0mGal cho vùng lãnh thổ từ dữ liệu đo trọng lực trực tiếp và 4-5mGal cho vùng biển từ mô hình EGM 2008
Trang 29Một số công trình nghiên cứu mang tính chuyên đề về trọng lực biển thựchiện ở Việt Nam gồm có:
- Nguyên văn Sáng và nnk.đã công bố một số kết quả nghiên cứu:
+ Xác định dị thường trọng lực từ số liệu đo cao vệ tinh ENVISATgồm số liệu 10 chu kỳ đo kết hợp với số liệu đo trọng lực trực tiếp ở BiểnĐông đạt độ chính xác khoảng 6mGal (2012)
+ Báo cáo “Khảo sát độ chính xác của một số mô hình trọng lực trênBiển Đông” (8/2016), trong đó đã so sánh dị thường trọng lực tính từ các
mô hình trọng lực toàn cầu với số liệu đo trọng lực trực tiếp, kết quả cho
mô hình GO_CONS_EGM_DIR_2I ±14,7mGal và mô hình GOCE-DIR4
là ±15,7mGal
+ Báo cáo “Đánh giá độ chính xác của số liệu trọng lực biển đo bằngmáy ZLS Dinamic gravimeter” (12/2016), bằng cách phân tích đánh giácác số liệu đo trọng lực thực tế khu vực quanh đảo Bạch Long Vỹ các tácgiả đã đánh giá độ chính xác đo trọng lực bằng máy ZLS đạt 1.86 mGal
- Năm 2017 Phạm văn Tuyên, Đại học Mỏ Địa chất đã sử dụng số liệu 52chu kỳ của vệ tinh Cryosat-2 để xác định dị thường trọng lực trong khu vực biểnvịnh Bắc bộ, sau đó kết hợp với số liệu dị thường trọng lực đo trực tiếp bằng tầubiển, kết quả là dị thường trọng lực nhận được có độ chính xác 3.56 mGal
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu phương pháp xác định
dị thường trọng lực cho vùng biển xung quanh quần đảo Trường Sa bằng số liệu
đo cao vệ tinh và số liệu trọng lực Vệ tinh” (7/2018 ) của Vũ Văn Trí, Nguyễnvăn Sang và nnk đã trình bày phương pháp xác định dị thường trọng lực từ sốliệu đo cao vệ tinh trên cơ sở sử dụng mô hình trong lực toàn cầu EGM2008, môhình mặt động lực trung bình toàn cầu MDT, kỹ thuật bình sai giữa các vệt quét(cung) giao cắt của tập hợp các điểm đo cao vệ tinh trên biển để xác định đượcphần dư độ cao Geoid Sử dụng phần dư độ cao Geoid xác định phần dư dịthường trọng lực bằng phương pháp Collocasia, sau đó cải chính vào mô hìnhEGM toàn cầu 2008 Đây là phương pháp đã được Ole Baltazar Andderrson vàmột số tác giả áp dụng để xây dựng mô hình ANSC08GRA (2010) Trong côngtrình nghiên cứu các tác giả đã trình bày lý thuyết và thực hành xác định cáchàm hiệp phương sai trọng lực Trong phần thực hành đã sử dụng 52 chu kỳ đocao vệ tinh của vệ tinh Cryosat để tính dị thường độ cao ở khu vực quần đảoTrường sa bằng phương pháp trên và so sánh với 625 điểm trọng lực đo trựctiếp Độ lệch giữa các kết quả trên là 0.67 mGal Trong báo cáo cho biết các tác
Trang 30giả đã sử dụng các kết quả đo trọng lực các năm 1987, 1990 và 1992 của các dự
án Việt nam-Pháp và Việt Nam-Nga để đánh giá độ chính xác, tuy vậy không cókết quả phân tích đánh giá độ chính xác của các trị đo trọng lực trực tiếp
I.2.3 Một số đánh giá về tài liệu trọng lực biển trên Biển Đông
Trên cơ sở phân tích các kết quả nghiên cứu nói trên, có thể đưa ra một sốnhận xét về tài liệu trọng lực có trên vùng biển sau:
- Số lượng dữ liệu trường trọng lực trên Biển Đông còn ít, phân bổ khôngđều, độ chính xác thấp Đã thành lập bản đồ dị thường trọng lực khu vực thềmlục địa ở tỷ lệ 1/500.000, các khu vực khác ở tỷ lệ 1/1000.000, với đường đẳngtrị 5-8 mGal Các dữ liệu trọng lực đo trực tiếp trên biển trước năm 2005 đượcxem xét đánh giá độ chính xác để có thể sử dụng cho đề tài
- Các dữ liệu trọng lực trong các dự án “Điều tra đặc điểm Địa chất, Địađộng lực, Khoáng sản, Địa chất môi trường và tai biến Địa chất trên vùng biểnViệt Nam” có độ chính xác 1-1,2mGal, phân bổ không đều và còn ít, tuy vậyđây là các dữ liệu có độ tin cậy và độ chính xác khá tốt để sử dụng xác định địthường trọng lực các khu vực còn trống và không thể đo trọng lực trực tiếp đượcbằng việc kết hợp với các dữ liệu trọng lực vệ tinh
- Trên toàn bộ khu vực Biển Đông đã có nhiều mô hình trọng trường thếgiới, độ chính xác của các mô hình khoảng 4-5 mGal, do vậy cần nghiên cứu tìm
ra mô hình nào có độ chính xác và độ tin cây tốt nhất đáp ứng việc xây dựng mô
hình trọng lực trên biển Đông có độ chính xác 3mGal Để áp dụng các mô hình
trọng trường EGM toàn cầu cần phải tính toán xử lý đồng bộ các dữ liệu trọnglực vệ tinh và trọng lực đo trực tiếp, đồng bộ hoá các kết quả đo về một hệ quychiếu, tính toán đầy đủ các số cải chính và tìm ra các phương pháp xử lý thíchhợp
- Các công trình nghiên cứu trọng lực biển ở nước ta còn ít, tuy vậy một
số công trình đã có những nghiên cứu khá chi tiết về việc sử dụng các dữ liệu đocao vệ tinh và mô hình EGM2008 để xác định dị thường trọng lực trên biển Cáckết quả nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo bổ ích cho các nghiên cứu của đềtài
I.3 Các nội dung cần nghiên cứu trong đề tài
Từ những phân tích trên, để giải quyết mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài,những nội dung chủ yếu cần thực hiện là nghiên cứu cơ sở khoa học của trọnglực vệ tinh, xây dựng các phương pháp toán học xử lý kết hợp dữ liệu trọng
Trang 31trường trái đất và dữ liệu đo trọng lực trực tiếp, xây dựng thử nghiệm CSDL dịthường trọng lực trên một khu vực thử nghiệm Cụ thể như sau:
Nội dung 1: Nghiên cứu tổng quan về trọng lực biển và các mô hình trọng lực toàn cầu
- Tổng quan về các công trình nghiên cứu trọng lực biển ở Việt Nam vàtrên thế giới
- Tổng quan về cơ sở của trọng lực vệ tinh
- Nghiên cứu các nguồn sai số xác định trọng lực vệ tinh
- Thu thập, nghiên cứu đánh giá dữ liệu một số mô hình trọng lực vệ tinh(GOCE, GRACE, CHAMP, EGM2008)
- Thu thập, phân tích, đánh giá các dữ liệu trọng lực trực tiếp hiện có trênbiển Việt Nam
Nội dung 2: Nghiên cứu xây dựng các phương pháp tổng hợp xử lý kết hợp dữ liệu trọng lực vệ tinh và dữ liệu đo trọng lực trực tiếp
- Phân tích đánh giá khả năng ứng dụng dữ liệu trọng lực vệ tinh trongviệc xây dựng CSDL trường trọng lực biển
- Nghiên cứu sử dụng kết hợp các mô hình trọng lực vệ tinh GOCE,GRACE và EGM 2008 trong việc xây dựng CSDL trọng lực biển
- Nghiên cứu các phương pháp nội suy trọng lực
- Thử nghiệm đánh giá các phương pháp nội suy trên một khu vực đã có
Trang 32- Nghiên cứu triết xuất các dữ liệu trọng lực tại các khu vực khó tiếp cậnbằng các hàm nội suy tối ưu
- Thử nghiệm xây dựng một mảnh bản đồ dị thường trọng lực tỷ lệ1:250.000 ở khu vực không có dữ liệu đo trọng lực trực tiếp
- Xây dựng quy trình tính toán xử lý các dữ liệu trọng lực trong khu vựckhông thể đo trọng lực trực tiếp trên Biển Đông
- Đề xuất phương án xây dựng và hoàn thiện dữ liệu trọng lực các vùngbiển Việt Nam trên diện tích không thể bay đo với ô chuẩn 1’x1’ có độ chínhxác 3mGal
Nội dung 4: Xây dựng CSDL và ứng dụng phần mềm để quản lý, khai thác dữ liệu dị thường trọng lực trên khu vực nghiên cứu thuộc vùng biển Việt Nam
- Chuẩn hóa dữ liệu
- Nghiên cứu xây dựng CSDL Metadata
- Xây dựng CSDL trường trọng lực trên khu vực thử nghiệm (hai mảnhbản đồ tỷ lệ 1:250.000)
- Xây dựng quy trình công nghệ xây dựng CSDL trọng lực biển
- Nghiên cứu xây dựng giải pháp quản lý dữ liệu
- Xây dựng quy trình cập nhật và khai thác CSDL trọng lực
Do có Quyết định số 2680 /QĐ-BTNMT ngày 27 tháng 11 năm 2020 của
Bộ TN&MT về việc ngừng thi công đề tài nên các chuyên đề từ 3.4 ÷ 3.6 và 4.1
÷ 4.6 không được thực hiện.
Trang 33CHƯƠNG II PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU II.1 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu và cách tiếp cận
1 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài là nghiên cứu các phương pháp xử lýtổng hợp tài liệu trọng lực vệ tinh và trọng lực biển đo trực tiếp để xây dựngCSDL trọng lực toàn vùng biển Việt Nam nên đối tượng và phạm vi nghiên cứucủa đề tài là toàn bộ tài liệu trọng lực, gồm cả vệ tinh và bay biển- tầu biển, hiện
có trên vùng Biển Đông và lân cận
2 Cách tiếp cận
Cách tiếp cận hệ thống: Để đạt được các mục tiêu đã đặt ra, Đề tài tiến
hành thực hiện các nội dung nghiên cứu một cách có hệ thống theo một trình tựhợp lý trên cơ sở áp dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp Các nội dungnhiệm vụ được tiến hành theo trình tự từ công tác nghiên cứu cơ bản; nghiêncứu cơ sở; thu thập tài liệu nghiên cứu mô hình trên thế giới; phân tích, đánh giá
và đối sánh với điều kiện Việt Nam để lựa chọn mô hình phù hợp; xây dựng quytrình xử lý, tổng hợp và áp dụng thử nghiệm quy trình cho một vùng cụ thể
Cách tiếp cận kế thừa: Các phương pháp đo và lập bản đồ trọng lực đã và
đang được phát triển phổ biến ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới Do vậy,một số phương pháp, mô hình và quy trình đã được nghiên cứu chi tiết, và ápdụng thành công cho một số khu vực Do vậy, để tiết kiệm chi phí, rút ngắn thờigian nghiên cứu mà vẫn đảm bảo hoàn thành đầy đủ các nội dung nhiệm vụ đãđặt ra, tập thể tác giả chủ trương học hỏi, thu thập các kiến thức và kinh nghiệm
từ các nhà khoa học trong nước và quốc tế, kế thừa các kết quả của các côngtrình nghiên cứu liên quan đã thực hiện trước đây, áp dụng các phương pháp, môhình, quy trình đã được công bố quốc tế, điều chỉnh bổ sung để áp dụng cho phùhợp với khu vực nghiên cứu thử nghiệm và cho các khu vực nghiên cứu ở ViệtNam
Cách tiếp cận hệ thống và cách tiếp cận kế thừa chủ yếu thực hiện thôngqua các công tác thu thập các tài liệu của các Đề tài, của các công trình nghiêncứu đã triển khai, các bài báo, sách và tạp chí quốc tế, các hội nghị, hội thảo
Trang 34khoa học và thông qua các trao đổi hợp tác với các nhà khoa học, các tổ chứckhoa học trong nước và trên thế giới.
Cách tiếp cận chuyên gia: Công tác xử lý, tổng hợp các tài liệu trọng lực
vệ tinh và trọng lực đo trực tiếp; nghiên cứu áp dụng các mô hình trọng trườngthế giới đang có; nghiên cứu áp dụng các phương pháp nội suy và nội suy trọnglực; xây dựng cơ sở dữ liệu trọng lực biển trên cơ sở kết hợp các mô hình trọnglực vệ tinh hiện có với cơ sở tài liệu đo trực tiếp ở Việt nam; việc xây dựng quytrình tính toán và áp dụng quy trình vào thực tiễn phụ thuộc rất nhiều vào kinhnghiệm và hiểu biết của người nghiên cứu cũng như của người sử dụng các môhình và công nghệ Do đó, các tác giả của đề tài đã phối hợp chặt chẽ với cácchuyên gia chuyên ngành để áp dụng hiệu quả các kiến thức và kinh nghiệmchuyên môn, làm tăng độ chính xác các kết quả phân tích, xử lý, giải đoán cáctài liệu trọng lực vệ tinh và trọng lực đo trực tiếp, hiệu chỉnh các phương pháp,quy trình tính toán, nâng cao chất lượng sản phẩm
II.2 Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sử dụng
Đề tài đã áp dụng một loạt phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu:
Nhằm đánh giá các dữ liệu trọng lực vệ tinh và các dữ liệu trọng lực đotrực tiếp hiện có Nghiên cứu các phương pháp đo trọng lực vệ tinh; đánh giácác nguồn sai số đo trọng lực vệ tinh; nghiên cứu các phương pháp xây dựng môhình trọng trường Trái đất, các loại mô hình trọng trường hiện có Sử dụngphương pháp tính toán thông kê để đánh giá độ chính xác của trọng trường tráiđất trên biển
- Phương pháp mô hình toán học: Sử dụng các phương pháp nội suy hàmxấp xỉ tối ưu là các phương pháp Collocasia và Kraing Trên cơ sở các số liệutrọng lực đo trực tiếp và các dữ liệu trọng lực vệ tinh xây dựng các hàm hiệpphương sai (hàm phương sai) thực nghiệm thích hợp cho từng khu vực từ đó xácđịnh hàm nội suy trọng lực tối ưu cho từng vùng
- Sử dụng kỹ thuật lập bản đồ số, kỹ thuật xây dựng CSDL bản đồ và ứngdụng công nghệ GIS để xây dựng CSDL trọng lực
Trang 35II.3 Tính mới, tính độc đáo và sáng tạo của nghiên cứu
- Lần đầu tiên đã nghiên cứu và đưa vào áp dụng trong thực tiễn công tácđịa vật lý ở Việt Nam các phương pháp nội suy và mô hình nội suy Kriging trên
cơ sở sử dụng hàm hiệp phương sai lý thuyết và mô hình phương sai thựcnghiệm nhằm nội suy giá trị trọng lực tại những khu vực không có tài liệu đotrọng lực trực tiếp, theo tài liệu vệ tinh trích xuất từ các mô hình trọng trườngTrái đất phù hợp và tài liệu đo trực tiếp ở các vùng lân cận
- Vùng biển rộng lớn Việt Nam có diện tích hơn 1 triệu ki lô mét vuôngvới cấu trúc địa chất phức tạp và nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giáđang rất cần được nghiên cứu, đánh giá Trong việc nghiên cứu đó, tài liệu trọnglưc biển đóng vai trò hết sức quan trọng, nhưng do thời tiết phức tạp và nhiềuvấn đề còn tranh chấp trên biển Đông nên nhiều khu vực chưa thể bay đo trọnglực được Do vậy, việc nghiên cứu áp dụng các phương pháp xử lý thống kênhằm kết hợp tài liệu trọng lực vệ tinh có trên toàn vùng biển với tài liệu đo trựctiếp có rải rác trên nhiều diện tích để nội suy trọng lực cho những vùng trống làmột giải pháp sáng tạo nhằm tạo ra cơ sở dữ liệu trọng lực biển có độ chính xácđáp ứng yêu cầu công tác nghiên cứu địa chất hiện nay
Trang 36CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU III.1 Nghiên cứu, đánh giá các mô hình trọng trường Trái đất và lựa chọn
mô hình phù hợp nhất với vùng biển Việt Nam
III.1.1 Tổng quan về trọng lực vệ tinh
III.1.1.1 Nguyên lý đo trọng lực vệ tinh
trường trái đất, do vậy nếu xác định chính xác quỹ đạo vệ tinh có thể tính đượcthế trọng trường trái đất (thế nhiễu) Theo C.Forste, Rolf Komg utd, sự phụthuộc đó có thể viết dưới dạng biểu thức tổng quát sau:
(1)Trong đó:
- Lực trọng trường bao gồm thế trọng trường với các hệ số của hàmđiều hoà cầu
- Các hiệu ứng phi trọng trường trái đất
- Các số dư trọng lực không xác định
Từ đó, dựa vào cơ sở của “Lý thuyết nhiễu” (e.g Kaula 1966) và “Lýthuyết cân bằng năng lượng” (e.g Reigber 1969), … ta có thể xác định được thếtrọng trường và giá trị trọng lực Trái đất
Như vậy, đo trọng lực vệ tinh phụ thuộc vào việc xác định chính xác vị trí
và vận tốc của vệ tinh Hiện nay, việc xác định vị trí, khoảng cách và vận tốc vệtinh được hỗ trợ bởi công nghệ lazer (satellite lazer ranging-SLR), với thiết bịđịnh vị và xác định quỹ đạo vệ tinh bằng sóng radio theo nguyên lý Dopplertích hợp trên vệ tinh (Doppler Orbitography and Radiopositioning Intergrated bySatellite) và thiết bị PRARE (Precise Range and Range-Rate Equipment) Hiệnnay đã có những bước tiến rất quan trọng trong việc xác đinh quỹ đạo chính xáccủa vệ tinh theo thời gian Với việc phát triển của các hệ thống định vị vệ tinhtoàn cầu GNSS như hệ thống GPS (Mỹ), hệ thống GLONAS (Nga), hệ thốngGALILEO (EU)… trong đó hạt nhân là hệ thống theo dõi vệ tinh tới vệ tinh
Trang 37tiếp trên các vệ tinh và vì vậy, vị trí của quỹ đạo chuyển động vệ tinh được xácđịnh chính xác liên tục theo thời gian Nghĩa là các số liệu trọng lực Trái đấtcũng được cập nhật liên tục theo thời gian.
III.1.1.2 Một số vệ tinh trọng lực trên thế giới
III.1.1.2.1 Vệ tinh CHAMP
Vệ tinh trọng lực thuộc dự án CHAMP (Challenging MilisatellitePayload) được phóng lên qũy đạo ở độ cao 350 ÷ km, đây là dự án trọng lựcđầu tiên của Đức sử dụng máy định vị vệ tinh GPS đặt trên vệ tinh
Hình 2: Sơ đồ bay của vệ tinh CHAMP
Mục đích là xác định chính xác quỹ đạo nhiễu của vệ tinh bằng hệ thống
đo “High-low-Satellite-to Satellite Tracking –HLSST” Trên vệ tinh được lắpgia tốc kế “Accerometer” còn nhằm xác định các hiệu ứng phi trọng trường, do
đó tách biệt được lực tác động lên bề mặt vệ tinh từ trường trọng lực trái đất.Nhiệm vụ chính của vệ tinh CHAMP là xác định trường trọng lực trái đất vàthành phần thay đổi trọng trường theo thời gian Trước vệ tinh CHAMP việcquan trắc vệ tinh để xây dựng mô hình trọng trường trái đất phải mất nhiều năm
Từ khi có vệ tinh CHAMP và đặc biệt là GRACE, việc này chỉ mất vài tuần Sựthay đổi của trường trọng lực toàn cầu được ghi liên tục theo thời gian, do vậyviệc mô hình hoá trường trọng lực toàn cầu cũng được xác định liên tục theothời gian
III.1.1.2.2 Vệ tinh GRACE
Vệ tinh trọng lực của dự án GRACE (Gravity Recovery and ClimateExperiment ) được phóng lên quỹ đạo ở độ cao khoảng chừng 450 km
Trang 38Hình 3: Sơ đồ bay của vệ tinh GRACE
Ngoài GRACE còn có hai vệ tinh CHAMP được trang bị máy thu GNSS
và gia tốc kế để kiểm tra quỹ đạo và đo các hiệu ứng phi trọng lực Hai vệ tinhnày bay cách nhau khoảng 220 km, và được hệ thống đo khoảng cách giao thoasóng ngắn đo liên tục khoảng cách giữa chúng và tốc độ thay đổi khoảng cáchvới độ chính xác cao, điều này cung cấp thông tin bổ sung xác định trường trọnglực của trái đất (đạo hàm bậc nhất của thế trọng trường trái đất) Các dữ liệu thuđược từ hai vệ tinh cho thấy sự khác nhau về gia tốc giữa chúng, hiệu gia tốc củahai máy gia tốc kế trên hai vệ tinh là cơ sở để xác định gradient trọng lực giữahai vị trí của vệ tinh trên quỹ đạo Kỹ thuật này được gọi là kỹ thuật theo dõi vệtinh tới vệ tinh theo phương thức thấp – thấp (Satellite-to-satellite Tracking inthe Low-Low mode-SST-LL) Các mô hình trọng trường trái đất được xây dựngdựa trên các dữ liệu của vệ tinh CHAMP hoặc vệ tinh GRACE đều có dải bướcsóng trung và bước sóng dài (Các mô hình có bậc và hạng thấp thường nhỏ hơn200)
III.1.1.2.3 Vệ tinh GOCE
Vệ tinh GOCE được trang bị hệ thống đo gradient trọng lực vệ tinh Mộttrong những nhiệm vụ quan trọng của trọng lực vệ tinh là nghiên cứu xác địnhchính xác giá trị trọng lực thay đổi theo độ cao Do vậy vệ tinh trọng lực ngoàiviệc được trang bị các thiết bị định vị vệ tinh GNSS như các hệ thống vệ tinhCHAMP hoặc GRACE nhằm xác định chính xác quỹ đạo chuyển động bằng kỹthuật “High-Low Satellite-to-Satellite tracking” mà còn được trang bị hệ thốngmáy trọng lực vệ tinh hiện đại (Gradiometer) để đo trọng lực từ vệ tinh, vệ tinh
Trang 39gradient trọng lực vệ tinh được đo cho từng cặp máy trên 3 trục vuông góc vớinhau đồng nghĩa với việc xác định hiệu gia tốc 3 chiều trên khoảng cách ngắn(50cm).Việc kết hợp kỹ thuật xác định trường trọng lực trái đất với các sóng dàibằng kỹ thuật “Satellite-to Satellite tracking” và kỹ thuật đo trọng lực trực tiếp
từ vệ tinh để xác định trường trọng lực trái đất với các bước sóng ngắn đã chophép nghiên cứu xác định khá chính xác trường trọng lực toàn cầu và sự thayđổi của trường trọng lực trái đất theo thời gian Đây là những kết quả quan trọngphục vụ cho các nghiên cứu về trái đất về sự biến đổi của vật chất và sự chuyểnđộng của các dòng chảy trên các đại dương của trái đất
III.1.2 Tổng quan về các mô hình trọng trường Trái đất
III.1.2.1 Khái niệm về mô hình trọng trường toàn cầu
Mô hình trọng trường toàn cầu là hàm toán học mô tả trọng lực của tráiđất trong không gian 3 chiều, nghiên cứu xác định trường trọng lực toàn cầu làmột trong những nhiệm vụ chủ yếu của trắc địa và địa vật lý, nó phục vụ nhưmột dữ liệu tham chiếu của trắc địa để xác định mô hình Geoid-bề mặt thamchiếu độ cao và cung cấp các thông tin quan trọng về cấu trúc và chuyển dịchcủa vỏ trái đất Như đã biết thế trọng trường ngoài trái đất thoả mãn hàmLaplace và có thể triển khai dưới dạng hàm điều hoà cầu Như vậy thế trọngtrường trái đất W (thế nhiễu T), dị thường trọng lực Δg, độ cao geoid N… đều
hệ số của hàm điều hoà cầu có hạng n và bậc m Theo lý thuyết các hệ số điềuhoà cầu có hạng và bậc càng cao thì độ chính xác của mô hình trọng trườngđược thành lập cũng cao hơn và gần với hình dạng của trái đất thực hơn Trongthực tế các mô hình trọng lực toàn cầu được xây dựng dựa trên hai dạng dữ liệu.Một loại mô hình được xây dựng chỉ dựa vào dữ liệu vệ tinh như các mô hìnhCHAMP, GRACE và GOCE và loại mô hình được xây dựng dựa trên việc kếthợp giữa các dữ liệu mặt đất và các dữ liệu vệ tinh Trên cơ sở đó người ta đãxây dựng được nhiều mô hình trọng trường trái đất, trong đó các mô hình kếthợp điển hình là: Mô hình Osu-91 có n = m = 180 (1991), mô hình EGM-96 có
n = m = 360 (1996), mô hình EGM2008 có n = 2159 và m = 2159 (2008) và gầnđây có các mô hình trọng trường kết hợp có độ phân giải rất cao như các môhình EIGEN-6C4 (2014) với n = m = 2059, mô hình GECO (2015) với n = m =
Trang 402190 và mô hình SGG-UGM-1 (2018) có n = m = 2159 Các mô hình xây dựngchỉ từ dữ liệu vệ tinh có độ phân giải thấp hơn chỉ tới bậc tối đa 300 là các môhình GOCE hoặc mô hình kết hợp giữa dữ liệu vệ tinh CHAMP, GRACE vàGOCE, v.v Các mô hình trọng trường có số hạng và bậc của hệ số hàm điềuhoà cầu cao có độ chính xác tốt hơn đáng kể theo kết quả đánh giá các mô hìnhtrọng trường ở biển Việt Nam của Nguyễn Văn Sáng (2016) với độ chính xác
III.1.2.2 Một số mô hình trọng trường Trái đất
1 Các loại mô hình trọng trường toàn cầu
Mô hình trọng trường trái đất được chia thành hai loại:
- Mô hình trọng trường trái đất được lập chỉ từ dữ liệu vệ tinh
- Mô hình trọng trường trái đất được xác định bằng việc kết hợp dữ liệu
vệ tinh và dữ liệu đo trực tiếp
Các mô hình được lập chỉ từ dữ liệu vệ tinh có độ phân giải thấp chỉkhoảng 100km hoặc lớn hơn do sóng ngắn của trường trọng lực sẽ suy giảm khikhoảng cách vệ tinh càng xa trái đất đạt (R/r)n→min và do quỹ đạo bay của vệtinh không thể nhỏ hơn (250-280km) Còn mô hình trọng lực toàn cầu được xâydựng từ các dữ liệu đo mặt đất và dữ liệu đo cao vệ tinh cho phép xây dựng môhình có độ phân giải cao hơn, gần với hình dạng thực của Trái đất và không bịảnh hưởng sai số do mô hình biển
Các mô hình được xây dựng chỉ từ dữ liệu vệ tinh có độ phân giải thấp(khoảng từ 80 ÷ 100 km) và có bậc và hạng lớn nhất chỉ trong khoảng 100 ÷ 300
là các mô hình vệ tinh CHAMP, GRACE, GOCE và một số mô hình khác
Các mô hình kết hợp có độ phân giải cao (khoảng 8 ÷10km) như các môhình EGM2008 có bậc và hạng 2159, mô hình EIGEN-6C4 có bậc và hạng
2190, v.v Dưới đây giới thiệu một số mô hình kết hợp có độ phân giải cao
2 Một số mô hình trọng trường Trái đất có bậc và độ phân giải cao
Tổ chức International Centre for Global Earth Models (ICGEM), là tổ