1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC: TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CỦA HÊ-GHEN VÀ SỰ KẾ THỪA CỦA TRIẾT HỌC MARX

25 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 464,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Giới thiệu đề tài Một trong những vấn đề then chốt đã được Mác và Ăng-ghen giải quyết sáng tạo thể hiện bằng thành tựu trong triết học Mác đó chính là sự kế thừa, tiếp thu có chọ

Trang 1

TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CỦA HÊ-GHEN VÀ SỰ KẾ THỪA CỦA TRIẾT HỌCMARX HỌ VÀ TÊN HỌC VIÊN: HOÀNG ĐÌNH THỊNH

Technical Report · January 2020

DOI: 10.13140/RG.2.2.24845.90086

CITATIONS

0

READS 3,727

All content following this page was uploaded by Thinh Hoang on 01 January 2020.

The user has requested enhancement of the downloaded file.

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH

KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG

TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC

TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CỦA HÊ-GHEN VÀ

SỰ KẾ THỪA CỦA TRIẾT HỌC MARX

HỌ VÀ TÊN HỌC VIÊN: HOÀNG ĐÌNH THỊNH

MSHV: 1970062 GVHD: TS AN THỊ NGỌC TRINH

TP Hồ Chí Minh, năm 2019

Trang 4

Bảng chữ viết tắt

• CNDV: chủ nghĩa duy vật

• CNDT: chủ nghĩa duy tâm

• PBC: phép biện chứng

Trang 5

Mục lục

Mở đầu 5

Chương 1 Bối cảnh hình thành và ra đời của chủ nghĩa biện chứng duy tâm Hê-ghen 8 1.1 Lược sử về Hê-ghen 8

1.2 Bối cảnh lịch sử nước Đức cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX 14

1.3 Ảnh hưởng đến quan điểm của Hê-ghen 14

1.4 Tư tưởng của Hê-ghen về nguồn gốc của thế giới 14

1.4.1 Giới thiệu 14

1.4.2 Tư tưởng biện chứng của Hê-ghen về nguồn gốc của thế giới 16

1.4.3 Quan điểm của Hê-ghen về Tôn giáo – Tinh thần Tuyệt đối 18

1.5 Tiểu kết 20

Chương 2 Sự kế thừa của chủ nghĩa Mác 21

2.1 Sự kế thừa của chủ nghĩa Mác 21

2.2 Tiểu kết 22

Chương 3 Kết luận 23

Trang 6

MỞ ĐẦU

Giới thiệu đề tài

Một trong những vấn đề then chốt đã được Mác và Ăng-ghen giải quyết sáng tạo thể hiện bằng thành tựu trong triết học Mác đó chính là sự kế thừa, tiếp thu có chọn lọc và giải quyết những hạn chế tồn tại trong triết học đương thời nhờ kết hợp

và phát triển tư tưởng của nhiều trường phải triết học khác nhau khiến triết học Mác

có vị thế được nâng cao Triết học Mác đã thống nhất hữu cơ chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng, mang đến học thuyết mang tính cách mạng, trở thành thế giới quan khoa học chủ chốt của giai cấp công nhân tiến bộ

Vấn đề kế thừa và phát triển là quy luật chung cho cả tự nhiên và xã hội, và điều đó càng được thể hiện sâu sắc hơn thông qua nghiên cứu về sự ra đời và phát triển của triết học Mác Một trong những triết gia lỗi lạc Đức có ảnh hưởng đến sự phát triển của triết học Mác là Hê-ghen đã trình bày quy luật này trong quan niệm của ông về vòng tròn lịch sử triết học [3] Theo Hê-ghen, mục đích của triết học là vạch

ra mối liên hệ bản chất, tồn tại giữa cái tưởng như đã lùi vào dĩ vãng và trình độ mà triết học hiện nay đạt được Nói cách khác, Hê-ghen nhận định rằng không phải bất

cứ cái gì cũ, cho dù không phù hợp với tình hình hiện nay, cũng phải bị vất đi, phủ định sạch trơn để thay thế bằng cái mới Cái cũ ra đời, trong bối cảnh lịch sử của nó, phản ánh nó cũng là một phần của nhận thức của nhân loại đương thời, và nhận thức thì có điểm đúng và điểm sai Khi hiểu biết của con người tăng lên, khả năng nhận thức được mở rộng thì việc tìm kiếm trong cái cũ những cái bất hợp lý và cố gắng thống nhất nó với cái hiểu biết hiện tại là hệ quả tất yếu của quy luật phủ định, từ đó dẫn đến sự phát triển của triết học hiện tại lên tầm cao mới Do đó, khi phát triển khái niệm lịch sử triết học của mình Hê-ghen nhận thấy những quan niệm lạc hậu cần phải được phê phán và sửa chữa để bổ sung vào nhận thức chung của trí tuệ con người Hơn nữa, Hê-ghen còn cho rằng triết học hiện đại là kết quả của những nguyên lý có

từ trước đó, do đó lịch sự không tồn tại những thứ tuyệt đối, hoàn mỹ mà là một quá trình lật đổ, thay thế và phủ định Nó là một quyển nhật ký lịch sử ghi lại hành trình của các triết gia trên con đường đi tìm chân lý Do đó, lịch sử triết học là quá trình giải quyết liên tục, nhất quán những nhiệm vụ nhất định ở một trình độ nào đó và là quá trình chuyển sang những nhiệm vụ mới chứ không phải là phương pháp thử và

Trang 7

sai, không phải là sự phân loại các cách giải quyết khác nhau Trong khuôn khổ ý niệm tuyệt đối, Hê-ghen còn cho rằng, chính sự vận động và phát triển giải quyết các vấn đề tồn tại từ lịch sử mới là cái chân lý, rằng cái chân lý không nằm trong một câu trả lời, một tác phẩm hay một tác giả, mà là sự vận động theo không gian và thời gian

Vì vậy, Hê-ghen so sánh lịch sử triết học giống như một vòng tròn – vòng tròn này bao gồm ở chung quanh nó một số lớn những vòng tròn khác giống như một đường xoáy trôn ốc Như vậy, Hê-ghen và sau đó là Lênin là những người đầu tiên nhận thấy việc kế thừa và phát triển là quy luật khách quan trong lịch sử triết học Việc nghiên cứu quy luật đã có ý nghĩa hết sức to lớn đối với việc đánh giá những đóng góp của mỗi nhà triết học vào kho tàng lý luận của nhân loại, tạo điều kiện cho việc đóng góp

và bổ sung giải quyết những hạn chế còn tồn đọng từ trong lịch sử

Kế thừa và phát triển là hai khái niệm bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau Kế thừa là sự bảo tồn những đặc điểm, đặc tính của một sự vật và hiện tượng có khi phát triển ra sự vật và hiện tượng mới Còn phát triển không chỉ là sư bảo tồn mà còn là sự mỏ rộng,

bổ sung hoặc sự hoàn thiện và nâng cao về chất những đặc điểm, đặc tính vốn có trong sự vật và hiện tượng Như vậy, để phát triển được bao giờ cũng cần có sự kế thừa, tức là bảo tồn, giữ lại những đặc điểm, đặc tính của đối tượng để trên cơ sở đó

mở rộng, nâng cao trình độ, còn phát triển chính là sự kế thừa tốt nhất, tích cực nhất [4]

Trên tinh thần “vạch ra mối liên hệ bản chất, tồn tại giữa cái tưởng như đã lùi vào dĩ vãng và trình độ mà triết học hiện nay đạt được”, ta nghiên cứu lại phép biện chứng duy tâm của Hê-ghen để chiêm nghiệm, làm rõ và hiểu sâu sắc hơn quan điểm của Hê-ghen về phép biện chứng, cũng như mối liên hệ của nó đến sự ra đời và hình thành triết học Mác

Mục tiêu nghiên cứu

Tiểu luận tìm hiểu về phép biện chứng duy tâm của Hê-ghen và mối liên quan hữu cơ, lịch sử đến sự ra đời của chủ nghĩa Mác

Mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Lịch sử ra đời, nội dung khái quát của phép biện chứng và sự hình thành của phép biện chứng duy tâm Hê-ghen, tư tưởng biện chứng của Hê-ghen trong học thuyết tồn tại, hiện tượng học tinh thần và nguồn gốc của thế giới, sự kế thừa phép biện

Trang 8

chứng này trong chủ nghĩa Mác cũng như sự phê phán về tư tưởng Hê-ghen nói chung

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lựa chọn là phương pháp nghiên cứu thư viện, tổng hợp tài liệu và tiến hành phân tích, dựa trên cơ sở về phép biện chứng của chủ nghĩa Mác để nêu bật tính kế thừa và phát triển của phép biện chứng duy tâm Hê-ghen thông qua phân tích về lịch sử ra đời của các phép biện chứng trước đó Nghiên cứu tìm cách lý giải rằng tư duy của Hê-ghen về sự tồn tại, về ý thức tuyệt đối không tĩnh tại

mà luôn trong quá trình vận động, phát triển xuất hiện một cách tự nhiên, thiết yếu trong bối cảnh triết học cổ điển Đức Mối tương quan với triết học Mác sẽ được chỉ

ra cụ thể

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Nghiên cứu giúp làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác, làm rõ quan hệ với các trường phái triết học và minh chứng cho tính đúng đắn của tính kế thừa và phát triển Nghiên cứu là thực chứng cho quan điểm của Hê-ghen về công việc của triết học, qua đó tạo tiền đề để hình thành nên các lý luận khác để giải quyết sáng tạo những vấn đề, tình hình thực tiễn trong cuộc sống

Kết cấu của đề tài

Tiểu luận được chia làm 2 chương chính:

- Chương 1 giới thiệu về tiểu sử của ghen, bối cảnh ra đời của triết học ghen và khái quát một số nội dung chính về tư tưởng nguồn gốc thế giới, ý niệm tuyệt đối

Hê Chương 2 giới thiệu về phép biện chứng của HêHê ghen, sự kế thừa và hạt nhân hợp lý làm tiền đề cho sự tiếp thu của chủ nghĩa Mác Sự kết thừa của chủ nghĩa Mác sẽ được làm rõ ở cuối chương này

Trang 9

Chương 1 Bối cảnh hình thành và ra đời của chủ nghĩa biện chứng duy tâm Hê-ghen

Hình 1: Georg Wilhelm Friedrich Hê-ghen (1770 - 1831)

Hê-ghen là con trai của một viên chức nhà nước tại Stuttgart thuộc lãnh địa Wurttemberg, miền tây nam nước Đức Ông đã được học tiếng Latin từ mẹ mình khi ông theo học trường phép ở Stuttgart cho đến năm 18 tuổi Khi còn là học sinh, ông

ấy đã tạo ra một bộ sưu tập các trích đoạn, sắp xếp theo thứ tự abc, bao gồm các chú thích về các tác giả cổ điển, đoạn văn từ báo chí, và chuyên luận về đạo đức và toán học từ các tác phẩm tiêu biểu của thời kỳ

Năm 1788, Hê-ghen đi học ở Tübingen với mục đích vận chuyển đơn đặt hàng cho gia đình Tại đây, ông học triết học và văn học cổ điển trong hai năm và tốt nghiệp vào năm 1790 Mặc dù sau đó ông tham gia khóa học về thần học, ông thiếu kiên nhẫn với quan điểm chính thống của các giáo viên của mình; ông được trao bằng tốt nghiệp sau khi rời đi vào năm 1793, trên đó ghi rõ tuy ông đã cống hiến hết mình cho triết học, song về thần học thì ông không có nhiều hứng thú Những người bạn thân của ông trong thời kỳ đó là nhà thơ theo thuyết phiếm thần, J.C.F Hölderlin, nhà triết học đương đại và thiên nhiên Schelling, hơn ông 5 tuổi Họ cùng nhau đọc các bi kịch

Hy Lạp và ăn mừng chiến thắng của Cách mạng Pháp

Trang 10

Khi rời trường đại học, Hê-ghen không vào nhà nước mà thay vào đó vì muốn dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu triết học và văn học Hy Lạp, ông đã trở thành một gia sư riêng Trong ba năm tiếp theo, ông sống ở Berne, với thời gian rảnh rỗi, ông đọc về Edward Gibbon về sự sụp đổ của Đế chế La Mã và De l'esprit des loix (1750; The Spirit of Laws), bởi Charles Louis, nam tước de Montesquieu, cũng như các tác phẩm kinh điển của Hy Lạp và La Mã Ông cũng nghiên cứu nhà triết học phê bình Immanuel Kant và có hứng thú với những thảo luận về tôn giáo để viết một số bài báo nổi tiếng hơn một thế kỷ sau trong tuyển tập Hê-ghens theologische Jugendschriften (1907)

Hê-ghen ở một mình tại Berne cho đến cuối năm 1796, đến Frankfurt am Main, nơi Hölderlin đã tìm cho ông một công việc gia sư Tuy nhiên, hi vọng của Hê-ghens được bầu bạn trở lại với Holderlin đã không thành hiện thực: Hölderlin bị cuốn vào một cuộc tình bất chính và không bao lâu đã mất lý trí Hê-ghen bắt đầu bị trầm cảm

và để tự chữa bệnh của mình, ông chọn cách làm việc chăm chỉ hơn bao giờ hết, đặc biệt là nghiên cứu về triết học Hy Lạp và lịch sử và chính trị hiện đại Ông đọc và sưu tầm các mẩu tin từ các tờ báo tiếng Anh, viết về các vấn đề nội bộ của Wurtprice bản địa của mình và nghiên cứu kinh tế Giờ đây, Hê-ghen đã có thể tự giải thoát mình khỏi sự thống trị của tư tưởng Kant, và có một trực quan mới về vấn đề nguồn gốc Kitô giáo

Cha Hê-ghen mất vào năm 1799 đã để lại cho Hê-ghen một gia tài tuy không nhiều nhưng đủ để Hê-ghen có thể làm giảng viên không lương và theo đuổi con đường học thuật Vào tháng 1 năm 1801, ông đến Jena, nơi Schelling là giáo sư từ năm 1798 Jena là nơi đã nuôi dưỡng chủ nghĩa huyền bí của anh em Schlegel (Friedrich và August) và các đồng nghiệp của họ, cũng như chứng kiến thời hoàng kim của chủ nghĩa duy tâm đạo đức Kichian và Fichte Có ý kiến cho rằng, Hê-ghen

đã được mời đến để hỗ trợ Schelling “chống lại” những giáo sư khác theo trường phái của Kant Điều này được xác nhận thông qua luận án của Hê-ghen cho vị trí giảng viên đại học, phản bác quan điểm triết học tự nhiên của Schelling, cũng như trong ấn phẩm đầu tiên của Hê-ghen, một bài tiểu luận có tựa đề là Dif differenz des Fichte'schen und Schelling'schen Systems Philosophie Cảnh (1801; Hồi Sự khác biệt giữa các hệ thống triết học của Fichtean và Schellingian), trong đó ông ưu tiên cho cái sau Tuy nhiên, ngay cả trong bài tiểu luận này và cũng như những bài về sau, sự

Trang 11

khác biệt của Hê-ghen và Schelling rất rõ ràng Mặc dù họ có mối quan tâm chung đến người Hy Lạp; cả hai đều mong muốn tiếp tục công việc Kant, và cả hai đều theo trường phái duy tâm Tuy nhiên, Schelling có quá nhiều niềm đam mê lãng mạn đối với sở thích của Hê-ghen, và tất cả những gì Hê-ghen lấy từ Schelling chỉ là một thuật ngữ

Các bài giảng của Hê-ghen vào mùa đông năm 1801-1802 về logic và siêu hình, đã có khoảng 11 sinh viên tham dự Sau đó, vào năm 1804, với một lớp học khoảng 30, ông đã giảng toàn bộ hệ thống triết học của mình, vừa giảng vừa nghiên cứu thêm Sau khi Schelling rời Jena (1803), Hê-ghen ở lại và thực hiện, bên cạnh các nghiên cứu triết học và chính trị, các trích đoạn từ sách, tham dự các bài giảng về sinh lý học và học hỏi các ngành khoa học khác Với những công trình có ảnh hưởng tại Weimar, vào tháng 2 năm 1805, ông được bổ nhiệm làm giáo sư phi thường tại Jena; và vào tháng 7 năm 1806, với sự can thiệp của Goethe, ông ấy đã kiếm được đồng lương đầu tiên của mình Mặc dù có một số học giả theo trường phái gắn bó với ông, Hê-ghen vẫn chưa phải là một giảng viên nổi tiếng

Hê-ghen, giống như Goethe, không quan tâm khi Napoleon giành chiến thắng tại Jena (1806): ở Phổ, ông chỉ thấy một bộ máy quan liêu tham nhũng và tự phụ Viết thư cho một người bạn vào ngày trước trận chiến, anh ta nói với sự ngưỡng mộ của linh hồn thế giới Hồi giáo và hoàng đế và hứng thú với khả năng lật đổ nhà nước Phổ

Tại thời điểm này, Hê-ghen đã xuất bản tác phẩm vĩ đại đầu tiên của mình, Phänomenologie des Geistes (1807 - Hiện tượng học của Tâm trí) Đây có lẽ là quyển sách tuyệt và khó nhất trong các cuốn sách của Hê-ghen, mô tả cách thức tâm trí con người được phát triển từ ý thức đơn thuần, thông qua ý thức tự giác, lý trí, tinh thần

và tôn giáo, đến ý thức tuyệt đối Mặc dù con người, thái độ bản địa của người đối với sự tồn tại phụ thuộc vào các giác quan, sự tư duy là đủ để cho thấy rằng thực tế được gán cho thế giới bên ngoài là do nhiều nhận thức cũng như các giác quan nắm bắt đồng thời Nếu ý thức không thể phát hiện ra một vật thể bên ngoài nó, thì tự nhận thức không thể là một chủ thể Thông qua sự xa cách, hoài nghi hoặc không hoàn hảo,

sự tự nhận thức đã tự cô lập khỏi thế giới; nó đã đóng cổng chống lại những gì diễn

ra bên ngoài

Tâm trí cho thấy ý thức không còn bị cô lập, tự tại và mâu thuẫn mà trở thành một tinh thần “chung” của cộng đồng Đây là giai đoạn thấp nhất của ý thức cụ thể,

Trang 12

thời đại của nhận thức vô thức (unconcious morality) Nhưng, thông qua sự vận động phát triển xã hội, tâm trí dần dần giải phóng bản thân khỏi những quy ước, chuẩn bị con đường cho sự cai trị của lương tâm Từ đó, tôn giáo phát triển tiến dần đến sự

“nhận thức tuyệt đối”

Năm 1807, Heigel đến Bamberg và làm biên tập Năm 1808, Heigel được chọn làm hiệu trưởng một trường dòng ở Nuremberg đến năm 1816, nơi ông đã đưa tác phẩm Hiện tượng học của Tâm Trí vào giảng dạy Cũng trong thời gian này, ông xuất bản tác phẩm chính yếu thứ hai về khoa học logic gồm 3 tập vào các năm 1812, 1813

và 1816 Ông đến đại học Heidelberg vào năm 1816 Để sử dụng trong các bài giảng của mình ở đó, ông đã xuất bản quyển Encyklopädie der philosophischen Wissenschaften im Grundrisse (1817; Encyclopaedia of the Philosophical Science in Basic Outline) bao gồm toàn bộ hệ thống triết lý của ông Triết lý Hê-ghen là một nỗ lực để hiểu toàn bộ vũ trụ như một tổng thể có hệ thống Hệ thống này được đặt nền tảng trong đức tin Trong tôn giáo Kitô giáo, Thiên Chúa đã được tiết lộ là sự thật và

là tinh thần Là linh hồn, con người có thể nhận được sự mặc khải này Trong tôn giáo sự thật được che đậy trong hình ảnh; nhưng trong triết học, bức màn bị xé toạc,

để con người có thể biết được vô hạn và nhìn thấy tất cả mọi thứ trong Thiên Chúa

Do đó, hệ thống Hê-ghen là một tu viện tâm linh nhưng là một tu viện trong đó sự khác biệt là điều cần thiết Chỉ thông qua một kinh nghiệm về sự khác biệt, bản sắc của ý nghĩ và đối tượng của suy nghĩ mới có thể đạt được một bản sắc trong đó tư duy đạt được sự thông minh xuyên suốt là mục tiêu của nó Do đó, sự thật chỉ được biết đến khi được trải nghiệm và sự thật đã chiến thắng Tinh thần, bao gồm cả Tinh thần vô hạn, tự biết mình là tinh thần chỉ thông qua mâu thuẫn với tự nhiên Hệ thống của Hê-ghen rất độc đáo khi có một chủ đề duy nhất: điều làm cho vũ trụ trở nên dễ hiểu là coi đó là quá trình tuần hoàn vĩnh cửu, theo đó Tinh thần tuyệt tự nhận thức bản thân là tinh thần qua 3 cách: (1) thông qua suy nghĩ – tư duy, (2) thông qua tự nhiên, và (3) thông qua những linh hồn hữu hạn và sự thể hiện bản thân trong lịch sử

và sự tự khám phá trong nghệ thuật, trong tôn giáo và trong triết học, với tư cách là một với tinh thần tuyệt đối

Bản tóm tắt của hệ thống Hê-ghen, bộ bách khoa toàn thư về khoa học triết học, gồm ba phần: Logic, Tự nhiên và Tâm trí Phương pháp giải trình của Hê-ghen

là biện chứng

Ngày đăng: 19/11/2021, 13:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Phạm Văn Đức (2006), “Vấn đề kế thừa và phát triển trong lịch sử triết học”, Tạp chí Triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề kế thừa và phát triển trong lịch sử triết học”
Tác giả: Phạm Văn Đức
Năm: 2006
[2] Nguyễn Thị Hồng Vân (2006), “Những điều kiện lịch sử của sự ra đời triết học Mác”, Bài giảng chủ nghĩa Mác-Lê-nin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều kiện lịch sử của sự ra đời triết học Mác”
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Vân
Năm: 2006
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), “Giáo trình Triết học (dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học)”. NXB Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học (dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2006
[4] Nguyễn Chí Hiếu (2006). “Về khái niệm tinh thần tuyệt đối trong triết học Hê- ghen”. Tạp chí Triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khái niệm tinh thần tuyệt đối trong triết học Hê-ghen”
Tác giả: Nguyễn Chí Hiếu
Năm: 2006
[5] Nguyễn Trọng Chuẩn, Đỗ Minh Hợp (1999). “Vấn đề tư duy trong triết học Hêghen”. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tư duy trong triết học Hêghen
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Đỗ Minh Hợp
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
[6] G.W.F. Hêghen (1996). “Những bài giảng về lịch sử triết học”, T.III. NXB Giuakăm, Frankfurt A.M Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về lịch sử triết học
Tác giả: G.W.F. Hêghen
Nhà XB: NXB Giuakăm
Năm: 1996
[7] Kiều Anh Vũ (2006). “Tư tưởng biện chứng của Hê-ghen và sự kế thừa của triết học Marx”. Chungta.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng biện chứng của Hê-ghen và sự kế thừa của triết học Marx”
Tác giả: Kiều Anh Vũ
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w