MỤC LỤCNHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ TRIỂN KHAICÔNG NGHỆ CỦA VIỆN KHOA HỌC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNGSẢN TRONG GIAI ĐOẠN 2015-2020...5HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN CỰC KÍCH THÍCHDÒNG
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
VIỆN KHOA HỌC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN
TẬP SAN ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN
CHÀO MỪNG 55 NĂM KÝ NIỆM NGÀY THÀNH LẬP VIỆN
KHOA HỌC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN
(Đã hoàn chỉnh)
HÀ NỘI, 2020
Trang 2BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
VIỆN KHOA HỌC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN
TẬP SAN ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN CHÀO MỪNG 55 NĂM KÝ NIỆM NGÀY THÀNH LẬP VIỆN
KHOA HỌC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN
Ban biên tập: Trần Tân Văn, Trịnh Hải Sơn, Trịnh Xuân Hòa
Quách Đức Tín, Nguyễn Đại Trung
HÀ NỘI, 2020
Trang 3MỤC LỤC
NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ TRIỂN KHAICÔNG NGHỆ CỦA VIỆN KHOA HỌC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNGSẢN TRONG GIAI ĐOẠN 2015-2020 5HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN CỰC KÍCH THÍCHDÒNG XOAY CHIỀU TRONG ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ QUẶNGSULFUR ĐA KIM Ở VIỆT NAM 62ĐẶC ĐIỂM THÀNH PHẦN HÓA HỌC, KHOÁNG VẬT HỌC CỦA
ĐÁ HOA CHỨA ĐÁ QUÝ RUBY VÀ SPINEL KHU VỰC KHOANTHỐNG - AN PHÚ, HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI 92
MÔ HÌNH HÓA HỆ THỐNG TẠO QUẶNG Pb-Zn NGUỒN GỐCNHIỆT DỊCH TRẦM TÍCH DẢI QUẶNG BẢN LÌN - PHIA ĐĂM .108
MÔ HÌNH CÁC MỎ PORPHYR TRÊN THẾ GIỚI VÀ ĐÁNH GIÁKHẢ NĂNG, TRIỂN VỌNG MỎ PORPHYR 122KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CÁC ĐÁ APLIT GRANIT PHỨC HỆ YEYÊN VÀ PHỨC HỆ TÂN HƯƠNG LÀM NGUYÊN LIỆU SẢN XUẤTGÔM SỨ 143CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN ĐỊA CHẤT NỔI BẬT Ở KHU VỰC TAMGIANG -BẠCH MÃ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 159MỘT SỐ TIÊU CHÍ KHOANH VÙNG BẢO TỒN CÁC GIÁ TRỊ DISẢN ĐỊA CHẤT 184XÂY DỰNG CÁC BẢN ĐỒ PHÂN VÙNG NGUY CƠ TAI BIẾNTRƯỢT LỞ ĐẤT THEO CÁC KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬUPHỤC VỤ CHO CÔNG TÁC QUY HOẠCH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀPHÒNG CHỐNG THIÊN TAI KHU VỰC TỈNH LÀO CAI 199ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐO SÂU ĐIỆN 2D PHỤC VỤ ĐIỀUTRA ĐÁNH GIÁ TAI BIẾN TRƯỢT LỞ KHU VỰC XÃ HUỔI SÓ,HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN 243VAI TRÒ CỦA CHUYỂN ĐỘNG TÂN KIẾN TẠO THẲNG ĐỨNGTRONG VIỆC HIỆU CHỈNH DAO ĐỘNG MỰC NƯỚC BIỂN DÂNGTRONG HOLOCEN CHO CÁC KHU VỰC Ở ĐỒNG BẰNG SÔNGCỬU LONG 258
Trang 4ĐÁNH GIÁ BAN ĐẦU VỀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG BƠM ĐỊANHIỆT TẦNG NÔNG NGUỒN NƯỚC DƯỚI ĐẤT Ở ĐỒNG BẰNGNAM BỘ 267ĐỊA HÓA MÔI TRƯỜNG ĐẤT NGOẠI Ô THÀNH PHỐ HÀ NỘIGÓP PHẦN ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI 280ADDITIONAL INDEX CONODONT SPECIMENS FROM THELOWER TRIASSIC LANG SON AND BAC THUY FORMATIONS,LANG SON PROVINCE, NORTHEASTERN VIETNAM 289ĐỊNH HƯỚNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN LỰA CHỌN ĐỊA ĐIỂMCHÔN VÙI CHẤT THẢI PHÓNG XẠ 308
Trang 5NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ TRIỂN KHAI CÔNG NGHỆ CỦA VIỆN KHOA HỌC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG
SẢN TRONG GIAI ĐOẠN 2015-2020
PGS.TS Trần Tân Văn
Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản là đơn vị sự nghiệp khoahọc công lập trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, có chức năngnghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ về địa chất, khoáng sản, tàinguyên địa chất, tài nguyên nước dưới đất, di sản địa chất và công viênđịa chất, địa chất biển, địa chất môi trường, tai biến địa chất, địa chất đôthị, địa chất y học, địa chất công trình và địa kỹ thuật (sau đây gọichung là địa chất và khoáng sản); đào tạo trình độ tiến sĩ về địa chất vàkhoáng sản theo quy định của pháp luật
Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản là đơn vị dự toán cấp III,
có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; có trụ sở tại thànhphố Hà Nội; hoạt động theo cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học và côngnghệ công lập
a) Nhiệm vụ và quyền hạn
1 Xây dựng, trình Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chiếnlược phát triển Viện, kế hoạch nghiên cứu, triển khai khoa học và côngnghệ dài hạn, 5 năm, hàng năm về địa chất và khoáng sản; tổ chức thựchiện sau khi được phê duyệt
2 Nghiên cứu cơ bản về lịch sử phát triển vỏ Trái Đất, cấu trúc vàthành phần vật chất của các thành tạo địa chất; đánh giá tiềm năng tàinguyên địa chất và khoáng sản để xây dựng luận cứ khoa học phục vụđiều tra cơ bản trong lĩnh vực địa chất và khoáng sản
3 Nghiên cứu, xác lập cơ sở khoa học phục vụ xây dựng chínhsách, pháp luật về địa chất và khoáng sản; chiến lược, quy hoạch, kếhoạch về địa chất và khoáng sản và các chiến lược, quy hoạch, kế hoạchkhác có liên quan của Bộ; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mứckinh tế – kỹ thuật về địa chất và khoáng sản
4 Nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ
về địa chất và khoáng sản; thực hiện các chương trình, đề án, dự án,nhiệm vụ, đề tài nghiên cứu khoa học, triển khai công nghệ về địa chất
và khoảng sản theo quy định
Trang 65 Đào tạo trình độ tiến sĩ về địa chất và khoáng sản; tham gia đàotạo, bồi dưỡng công chức, viên chức về địa chất và khoáng sản theophân công của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.
6 Thẩm định các chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ, đề tàinghiên cứu khoa học và công nghệ về địa chất và khoáng sản theo phâncông của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
7 Tổ chức thực hiện các hoạt động thông tin khoa học, công nghệ
về địa chất và khoáng sản theo quy định của pháp luật
8 Cung cấp các dịch vụ khoa học, công nghệ về địa chất vàkhoáng sản; tư vấn, thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản theo quyđịnh của pháp luật
9 Đầu mối quốc gia hỗ trợ việc điều phối và thực hiện các hoạtđộng liên quan đến phát triển và quản lý Mạng lưới Công viên Địa chấtToàn cầu Việt Nam trong khuôn khổ các hoạt động của Mạng lưới Côngviên Địa chất Toàn cầu của UNESCO; xây dựng và hướng dẫn việc xâydựng các dự án về di sản địa chất, bảo tồn địa chất và công viên địa chấttheo phân công của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
10 Tổ chức thực hiện cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm,phòng, chống lãng phí và thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũngthuộc phạm vi quản lý của Viện theo chương trình, kế hoạch của Bộ vàphân công của Bộ trưởng
11 Quản lý tổ chức, bộ máy, vị trí việc làm, cơ cấu viên chứctheo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc của Viện theophân công của Bộ trưởng và theo quy định của pháp luật
12 Quản lý hành chính, tài sản; thực hiện trách nhiệm của đơn vị
dự toán cấp III đối với các đơn vị trực thuộc Viện theo quy định củapháp luật
13 Thống kê, báo cáo định kỳ và đột xuất tình hình thực hiệnnhiệm vụ được giao
14 Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng phân công
b) Cơ cấu tổ chức
Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ trên, Viện Khoa học Địa chất vàKhoáng sản hiện tại có 01 PGS, 19 tiến sĩ, 47 thạc sĩ và 112 kỹ sư, cử
Trang 7nhân Ban lãnh đạo Viện hiện có 01 Viện trưởng và 03 phó Viện trưởng.
Về tổ chức, Viện có 01 phân viện, 03 phòng quản lý, 08 phòng nghiêncứu, 04 trung tâm, 01 ban và 01 hội đồng
c) Hiện trạng trang thiết bị
Viện hiện có 05 cơ sở phân tích đứng hàng đầu của Việt Nam: Phântích khoáng thạch học; Phân tích cổ sinh; Phân tích và giám định đáquý; Phân tích mẫu bao thể; Phân tích thành phần vật chất trên thiết bịphân tích vi điện tử dò JXA 8900 và phân tích đồng vị trên máy khốiphổ kế Ar - 5400 Các cơ sở phân tích thí nghiệm của Viện bao gồm:
+ Phòng thí nghiệm phân tích khoáng thạch học: Được trang bị
các thiết bị kính hiển vi phân cực hiện đại (Axiolab, Axioskop 40, Stemi
Trang 82000), là đơn vị duy nhất ở Việt Nam có thiết bị đồng bộ và khả năngphân tích, phân tích kiểm tra các loại mẫu thạch học (lát mỏng), khoángtướng (mài láng) và trọng sa các loại Phòng có 2 tổ gia công mẫukhoáng thạch và trọng sa với đầy đủ các thiết bị, vật tư có thể đảm nhậngia công các loại mẫu lát mỏng, mài láng, vi cổ sinh, bao thể,microsonde, mẫu hoá, mẫu trọng sa nhân tạo và thiên nhiên
+ Phòng nghiên cứu cổ sinh và địa tầng: Là phòng phân tích mẫu
cổ sinh hoàn thiện nhất ở Việt Nam, được trang bị các thiết bị hiện đạivới đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ chuyên môn cao, gồm nhiều
TS, ThS và CN, có khả năng gia công và phân tích các mẫu hoá thạch(cổ sinh lớn, vi cổ sinh, bào tử phấn, thực vật) từ Tiền Cambri đến hiệnnay
+ Phòng nghiên cứu khoáng sản không kim loại:
- Phân tích độ hạt: Máy phân tích độ hạt Model: S3500 - Standard
do hãng Microtrac (Mỹ) sản xuất, phân tích độ hạt bằng tia laser cho độchính xác cao với mọi cấp cỡ hạt Có khả năng phân tích mẫu ướt hoặckhô, có thể sử dụng lại mẫu để thực hiện các phân tích khác Máy đượcnối trực tiếp với máy tính được cài đặt phần mềm chuyên dụng, kết quả(dạng số liệu và biểu đồ) bảo đảm tính khách quan và chính xác
- Thí nghiệm nung nở, nung chảy: Lò nung Model LHT 08/18 do
hãng Nabertherm (Đức) sản xuất, nhiệt độ nung tối đa 18000C, với bộđiều khiển điện tử C42, có thể xác định chính xác nhiệt độ nung và đặtchế độ nung nhanh chậm theo từng khoảng nhiệt độ ấn định, thích ứngđược với các quy trình nung phức tạp, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu thửnghiệm và xác định các quy trình kỹ thuật nung đối với các loại vật liệutheo yêu cầu của người sử dụng Có thể xác định được độ chịu lửa, nhiệt
độ chảy của các loại nguyên vật liệu sứ gốm, thuỷ tinh, xác định đặcđiểm phồng nở của vật liệu như vermiculit, mica
+ Phòng nghiên cứu Khoáng vật và Địa chất đồng vị:
- Phân tích hoá trên thiết bị vi phân tích điện tử dò JXA 8900 : Thiết
bị do hãng JEOL (Nhật) sản xuất, có thể xác định hàm lượng các nguyên
tố hoá học từ Bor (B5) đến Urani (U92) trên bề mặt mẫu với diện tích vài
m, độ nhạy phân tích của thiết bị là 0,01%-0,001% Có thể xác địnhhàm lượng các nguyên tố theo điểm, đường và có phòng gia công mẫuriêng để đáp ứng yêu cầu và chất lượng phân tích Đối tượng phân tích
Trang 9là các loại vật liệu rắn: Các khoáng chất thiên nhiên và nhân tạo, cácmẫu kim loại và hợp kim, các chất tổng hợp như vật liệu bán dẫn, siêudẫn, composite, gốm sứ Số liệu phân tích được xử lý bằng một hệthống phần mềm chuyên dụng và hiện tại có thể nhận phân tích tuổiđồng vị U-Th-Pb trên đơn khoáng vật.
- Phân tích giám định đá quý: Đạt tiêu chuẩn quốc tế (VILAS
005), với các thiết bị hiện đại bao gồm: Kính hiển vi chuyên dụngGemolit Ultima B, kính hiển vi soi nổi SV8 OPTN và MPC-10, kínhhiển vi phân cực SHOPTON, phổ kế Prism 1000, khúc xạ kế hiện sốJemeter Digital 90/N, khúc xạ kế Duplex II, phân cực kế PL Dove Gem,cân tỷ trọng Mettler Toledo, cân điện tử Gemscale 50, thiết bị xác địnhkim cương Presidium N 1126, thước đo điện tử Presidium N 8540, bộsách màu N.346000 và bộ mẫu chuẩn Phân tích giám định được chấtlượng tất cả các loại khoáng vật tự nhiên có phẩm chất ngọc như: kimcương, ruby, saphyr, emerald…
- Phân tích bao thể: Thiết bị phân tích bao thể của hãng Linkam
(Anh) bao gồm lò nung TH-600 và TH-1500, hệ thống điều khiển nhiệt
độ TMS - 90, kính hiển vi và thiết bị chụp ảnh Phân tích bao thể để xácđịnh nhiệt độ thành tạo của các khoáng vật, quặng bằng phương phápđồng hoá (homogenization)
- Phân tích tuổi đồng vị trên máy khối phổ kế Ar-5400 (thiết bịđang được lắp đặt và vận hành)
* Các thiết bị địa vật lý hiện đại phục vụ công tác nghiên cứu và thăm dò khoáng sản:
- Máy đo từ trường toàn phần: ENVIMAG
- Máy đo từ trường toàn phần, gradient từ và điện từ tần số thấp(VLF): ENVIGRAD/VLF của hãng SCINTREX Canada
- Máy đo tham số từ cảm - từ dư Mag-01H của hãngBARINGTON Anh
- Máy đo phổ gamma đa kênh GS-512 của hãng GEOFYZIKATiệp Khắc
- Trạm phân cực một chiều, đầu thu IPR12, đầu phát TSQ3 của
hãng SCINTREX Canada cùng với phần mềm xử lý số liệu RESIX IP2DI v4 của hãng INTERPEX Mỹ
- Trạm phân cực xoay chiều, đầu thu V5, đầu phát T3 của hãng
Trang 10PHOENIX GEOPHYICS Canada.
- Trạm địa chấn 48 kênh Stravisor NZ48 của hãng GEOMETRICS
Mỹ kèm theo máy có đầm rung và bộ vi xử lý chống nhiễu khi đo trongthành phố hoặc dọc đường quốc lộ và các phần mềm xử lý tài liệu khúc
xạ và phản xạ
- Máy đo khí phóng xạ radon dùng đo trong không khí, trong đất
và trong nước: model AB-5R do hãng Pylon Electronic Canada sản xuất
- Máy cộng hưởng từ tìm kiếm trực tiếp nước ngầm NUMIS củaPháp cùng với phần mềm xử lý tài liệu
- Máy trường chuyển TEM-FAST 48HPC của Hà Lan cùng với
phần mềm TEM-RES-WIN xử lý tài liệu 2D và 3D.
Bên cạnh các phần mềm đã được nhập ngoại kèm theo máy,phòng cũng đã xây dựng được rất nhiều phần mềm để phân tích địnhtính và định lượng các tài liệu địa vật lý
* Về phần mềm sử dụng trong tính toán trữ lượng khoáng sản:
Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản được Bộ tài nguyên vàMôi trường cho phép mua có bản quyền và sử dụng phần mềmDatamine trong tính toán trữ lượng các mỏ khoáng sản Đây là phầnmềm tiên tiến và được sử dụng nhiều trên thế giới Viện đã triển khai áp
dụng tính toán cho nhiều loại hình mỏ tại Việt Nam (than Quảng Ninh, bauxit Tân Rai - Bảo Lộc, sắt, vàng, urani ) và được Hội đồng thẩm
định trữ lượng quốc gia thông qua
Viện có một thư viện khoa học hiện đại với hàng vạn đầu sách, ấnphẩm khoa học bằng nhiều thứ tiếng (Anh, Pháp, Nga ), một bảo tàngđịa chất với nhiều mẫu đá và khoáng vật, hoá thạch và quặng phục vụcho nghiên cứu khoa học và học tập
Từ năm 2015 đến nay, Viện đã cử và phối hợp với các cơ sở đàotạo trong và ngoài nước đào tạo thành công 30 thạc sỹ (02 ở nướcngoài), 05 người hoàn thành chương trình đào tạo tiến sỹ ngành địa chất(02 tiến sỹ được đào tạo tại cơ sở đào tạo sau đại học của Viện, 02 ởNga và Nhật Bản và 01 tại Đại học Mỏ - Địa chất)
Hiện tại, Viện đang có 18 người tham gia làm nghiên cứu sinh(NCS), trong đó có 04 NCS đang đào tạo tại Viện; số NCS tại các đạihọc trong nước có 5 người và 8 người đang làm NCS tại các nước TrungQuốc, Hàn Quốc, Đức, Bỉ bằng nguồn kinh phí tài trợ; dự kiến 01 người
Trang 11sẽ hoàn thành trong năm 2020 Hiện số CBVC đang đào tạo sau đại họcbậc thạc sỹ có 07 người (02 ở nước ngoài).
Từ năm 2015 đến nay, Viện đã công bố hàng chục bài báo trongcác Tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước, xuất bản hàng chục sáchchuyên khảo về các lĩnh vực: địa chất và khoáng sản, địa chất thủy văn,địa chất công trình, địa chất môi trường, biến đổi khí hậu và tai biến địachất, di sản địa chất và công viên địa chất v.v
Công nghệ thông tin của Viện ngày càng được củng cố trên nềntảng hệ thống AD (Active directory) phục vụ công tác quản lý tập trungcác tài nguyên mạng cũng như đáp ứng được các yêu cầu về an toànthông tin mạng
Từ 2015 đến nay, Viện đã lưu trữ toàn bộ sản phẩm của 72NVTXTCN, 02 dự án SNKT, 05 nhiệm vụ KHCN cấp Bộ, 11 nhiệm vụKHCN cấp cơ sở, 14 đề án vốn SNKT, 01 dự án vốn SNMT, 01 đề tàiKHCN cấp Nhà nước, 01 đề tài quỹ Nafosted 253 tài liệu liên quan đếncác đề tài, đề án đã công bố trong và ngoài Viện được lưu trữ dưới dạnggiấy và đang từng bước tin học hóa
583 tài liệu tham khảo liên quan đến các lĩnh vực địa chất vàkhoáng sản, địa chất thủy văn, địa chất công trình, địa chất môi trường,biến đổi khí hậu và tai biến địa chất, di sản địa chất và công viên địachất được bảo quản và lưu trữ tại Viện dưới dạng bản giấy Toàn bộ Tạpchí Địa chất từ năm 1961 đến 2016 (bản giấy) và toàn bộ tạp chí Cáckhoa học Trái đất từ năm 1979 đến 2019 (bản giấy) được lưu trữ tạiViện Ngoài ra Viện đã đăng ký tài khoản vào tham khảo cơ sở dữ liệucủa Bộ Khoa học và Công nghệ từ năm 2015 đến nay và đã lưu giữ hàngnghìn tài liệu của các Tạp chí chuyên ngành trên Thế giới ở dạng số(pdf)
d) Các công trình nghiên cứu, điều tra
Trải qua 55 năm thành lập Viện, Viện đã chủ trì và tham gianghiên cứu 8 chương trình trọng điểm, với hơn 100 đề tài cấp Ngành vàcấp Nhà nước, góp phần tìm hiểu một cách có hệ thống cấu trúc và lịch
sử phát triển địa chất lãnh thổ, điều kiện thành tạo và phân bố cáckhoáng sản, làm cơ sở cho đánh giá tiềm năng khoáng sản của đất nước,hoạch định phương hướng điều tra địa chất của ngành Đồng thời cungcấp những căn cứ khoa học về địa chất môi trường, tai biến địa chất cho
Trang 12việc quy hoạch phát triển bền vững kinh tế xã hội.
Trong những năm qua, ngành địa chất Việt Nam nói chung, ViệnKhoa học Địa chất và Khoáng sản nói riêng đã đẩy mạnh việc ứng dụngcác tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong lĩnh vực nghiên cứu, điều tra địachất khoáng sản; theo đó đã đạt được nhiều thành quả quan trọng, manglại lợi ích thiết thực cho xã hội, góp phần phục vụ công tác quản lý nhànước của Bộ Tài nguyên và Môi trường; đồng thời cũng phát triển thêmnhiều hướng nghiên cứu mới để gia tăng giá trị tài nguyên địa chất, gópphần phát triển bền vững kinh tế - xã hội
Từ năm 2015 đến nay, Viện chỉ đạo thực hiện 89 nhiệm vụ thườngxuyên theo chức năng (NVTXTCN), 02 Đề án Chính phủ, 05 nhiệm vụchuyên môn vốn sự nghiệp kinh tế, 09 nhiệm vụ khoa học công nghệcấp Bộ, 12 nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp cơ sở, 04 nhiệm vụ hợptác quốc tế (dự án HTQT), 04 đề tài quỹ Nafosted, 02 đề tài KHCN cấpNhà nước, 02 đề tài Nghị định thư, 186 hợp đồng dịch vụ khoa học công
nghệ; trong đó Đề án “Đánh giá tiềm năng Urani Việt Nam” đã hoàn
thành báo cáo kết thúc đến năm 2019; đã hoàn thành 72 NVTXTCN, 02
dự án SNKT, 05 nhiệm vụ KHCN cấp Bộ, 11 nhiệm vụ KHCN cấp cơ
sở, 14 đề án vốn SNKT, 01 dự án vốn SNMT, 01 đề tài KHCN cấp Nhànước, 01 đề tài quỹ Nafosted ISO 9000-2009 của Viện đã được công bốnăm 2016 để đưa vào quản lý Viện và đang được cập nhật thành ISO9000-2015
Song song với công tác nghiên cứu khoa học, Viện còn tham gia xây dựng các đề án, đề tài cấp Bộ, cấp Nhà nước góp phần dự báo, phòng tránh và giảm nhẹ hậu quả các tai biến địa chất liên quan Đặc biệt đã triển khai nghiên cứu và điều tra di sản địa chất phục vụ phát triển mạng lưới công viên địa chất ở Việt Nam, mở ra một hướng đi mới cho ngành địa chất nước nhà.
Các kết quả nghiên cứu trong năm năm qua là nguồn dữ liệu mới
về địa chất Việt Nam, là cơ sở dữ liệu quan trọng, góp phần làm sáng tỏlịch sử phát sinh, phát triển, cấu trúc địa chất lãnh thổ và lãnh hải ViệtNam; là luận cứ khoa học và thực tiễn đáng tin cậy định hướng cho côngtác nghiên cứu điều tra địa chất, khoáng sản, địa chất môi trường, taibiến địa chất, di sản địa chất, địa nhiệt, tài nguyên nước, v.v góp phầnphát triển bền vững kinh tế-xã hội đất nước Dưới đây, là những thànhquả nghiên cứu khoa học chủ yếu của Viện Khoa học Địa chất và
Trang 13Khoáng sản trong giai đoạn 2015-2020:
a) Những kết quả tiêu biểu trong nghiên cứu địa chất - khoáng sản
Công tác nghiên cứu cổ sinh, địa tầng theo phương pháp địa tầngphân tập đã làm rõ trầm tích Cambri trung - Ordovic hạ vùng Đồng Văn;đưa ra một khung địa tầng tiếp diễn ứng với các chu kỳ dao động mựcnước biển Đánh giá độ trưởng thành nhiệt của các trầm tích chứaConodonta, tạo tiền đề cho công tác điều tra, tìm kiếm các khoáng sảnliên quan trong khoảng địa tầng từ Paleozoi đến Mesozoi Xây dựngđược quy trình gia công và phân tích mẫu tảo vôi phục vụ cho nghiên
cứu địa chất biển Hoàn thiện “Atlas hóa thạch thực vật Việt Nam” để
hướng tới xuất bản phục vụ nghiên cứu địa chất và đào tạo các cán bộkhoa học tại các trường và các Viện có liên quan
Nghiên cứu sự tiến hóa magma - kiến tạo đới cấu trúc Fansipanvới mục tiêu xây dựng lại lịch sử kiến tạo vùng nghiên cứu, đồng thờităng hiệu quả của công tác tìm kiếm khoáng sản nội sinh Làm sáng tỏđặc điểm thành phần vật chất và vị trí địa chất của các thành tạogranitoid khối Bù Dình và mối liên quan với khoáng sản Bước đầu làmsáng tỏ đặc điểm địa chất - cấu trúc (quy luật phân bố) các thành tạobiến chất trao đổi nhiệt dịch khu vực Đăk Tô - Sa Thầy; xác lập cáckiểu, đới biến chất trao đổi và mối liên quan với quặng hóa Từng bướclàm sáng tỏ nguồn gốc, điều kiện hình thành và mối liên quan của hoạtđộng magma của khoáng hóa vàng nhiệt dịch đới Hoành Sơn
Về kiến tạo và địa mạo, địa chất karst: bước đầu làm rõ đặc điểm
địa chất, địa mạo, tân kiến tạo, thạch học - cấu trúc của 11 đới đứt gãy ởmiền Bắc Việt Nam; phối hợp xây dựng hệ thống mốc trong mạng lướitrắc địa địa động lực trên 11 đứt gãy ở miền Bắc Việt Nam Làm rõ giátrị khoa học, kinh tế của tài nguyên đá carbonat các vùng đá vôi ở Việt
Nam và giải pháp phát triển bền vững; Xuất bản chuyên khảo “ Tài nguyên các vùng đá vôi và phát triển bền vững ở Việt Nam”.
Các đề tài nghiên cứu cơ bản về khoáng sản và sinh khoáng do Việnthực hiện đã hệ thống hóa việc đánh giá tiềm năng khoáng sản của đất nước,đóng vai trò quan trọng trong đánh giá định lượng khoáng sản, sử dụng tàinguyên hợp lý, định hướng triển khai công tác tìm kiếm, thăm dò cho ngànhđịa chất Các đề tài nghiên cứu các mô hình sinh khoáng về cơ bản đã xáclập được các tiêu chí cần thiết trong xây dựng mô hình, các chỉ tiêu để đánh
Trang 14giá, xác nhận sự tồn tại kiểu mỏ Qua đó làm rõ bối cảnh địa chất kiến tạo,đặc điểm thạch học - địa hóa đá vây quanh, nguồn gốc kim loại và nguồnnhiệt, nguồn dung dịch, cơ chế lắng đọng quặng và thể hiện được các đặcđiểm chính của mô hình thành tạo quặng, dự báo được triển vọng quặng theocác mô hình được xác lập.
Đã tập trung nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và giá trị kinh tế cáckhoáng sản, đồng thời cũng định hướng các tổ hợp phương pháp, quytrình công nghệ nghiên cứu khoáng sản ẩn sâu như chì-kẽm, sa khoángthềm lục địa, than đồng bằng sông Hồng
Viện đã nghiên cứu, xác lập các chỉ tiêu phân đới cho quặng hóachì - kẽm - barit có nguồn gốc nhiệt dịch - trầm tích để xác định nhữngđặc điểm bóc mòn và dự báo triển vọng quặng ẩn sâu trong cấu trúcKhâu Lộc - Đông Bắc - Việt Nam Nêu rõ cơ sở khoa học phục vụ việctìm kiếm đánh giá và dự báo về tài nguyên khoáng sản volfram trongcác khu vực Thiện Kế, Núi Pháo, Mé Pu, Đồi Cờ cũng như trên cả nước;định hướng nghiên cứu ở các vùng có điều kiện địa chất tương tự Đãlàm rõ tính chuyên hóa địa hóa Mo của các thành tạo granitoid kiểu Bà
Nà ở Việt Nam và tiềm năng khoáng sản liên quan đến chúng Việnđang nghiên cứu, xác lập cơ sở khoa học để đánh giá triển vọng ruby,saphir trong các thành tạo đá hoa pegmatit khu vực bờ trái Sông Chảy.Làm rõ thêm đặc điểm cấu trúc địa chất, đặc điểm quặng hóa, đá biếnđổi, xác lập các kiểu phân đới và tính phân đới quặng hóa vàng - thạchanh - sulfua tại điểm quặng vàng Vai Đào, xã Cao Răm, huyện LươngSơn, tỉnh Hòa Bình và khu mỏ vàng Khau Âu, xã Thần Sa, huyện VõNhai, tỉnh Thái Nguyên
Viện đã cố gắng mở ra một hướng đi mới, nhằm tìm kiếm các nguồnnăng lượng phi truyền thống (khí đá phiến), phục vụ nhu cầu năng lượngngày càng tăng trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
Về kinh tế địa chất và địa tin học: đã lựa chọn được phương pháp
đánh giá kinh tế tài nguyên, giá trị kinh tế mỏ khoáng sản đa kim cho 5tỉnh vùng Đông Bắc theo quan điểm phát triển bền vững Đã kiến nghịđiều chỉnh phương pháp tính mức thu tiền cấp quyền khai thác khoángsản đa kim Pb-Zn, Sn-W trên cơ sở so sánh kết quả đánh giá giá trị kinh
tế mỏ với mức thu hiện tại Xây dựng được bộ công cụ mã nguồn mở đểthao tác và quản lý Bản đồ địa chất khoáng sản trong môi trườngWEBGIS
Trang 15Đề án Chính phủ “Đánh giá tiềm năng urani Việt Nam” đã xác lập
được 12 kiểu mỏ và kiểu khoáng hoá urani trên lãnh thổ Việt Nam theophân loại của IAEA, xác định được 03 kiểu mỏ có triển vọng Phân chialãnh thổ Việt Nam thành 03 miền sinh khoáng urani, với 01 vùng quặngurani, 04 vùng quặng urani tiềm năng, 02 nút quặng urani tiềm năng;khoanh định 13 diện tích theo 02 mức A, B
b) Những kết quả tiêu biểu trong nghiên cứu địa chất thủy văn - địa chất công trình, địa chất môi trường, biến đổi khí hậu và tai biến địa chất
Viện đã nghiên cứu, làm rõ đặc điểm, quy luật phân bố tiềm năngđịa nhiệt tầng nông áp dụng phục vụ công nghệ bơm nhiệt đất vùng núiTây Bắc Việt Nam
Về biến đổi khí hậu: đã xây dựng hệ phương pháp nghiên cứu
phù hợp trong nghiên cứu trầm tích hang động ở miền Bắc Việt Namphục vụ luận giải cổ khí hậu ở giai đoạn Pleistocen muộn - Holocen(khoảng 30.000 năm trở lại đây) Từ 400 năm trở lại đây khí hậu ViệtNam đến hiện tại có xu hướng hướng nóng lên
Từ năm 2012 đến năm 2019, Viện đã triển khai và thành lập bản
đồ hiện trạng trượt lở đất đá tỷ lệ 1:50.000 trên 22 tỉnh miền núi phíaBắc: Thanh Hóa, Nghệ An, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu, ĐiệnBiên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Giang, QuảngNinh, Hòa Bình, Lạng Sơn, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, ThừaThiên Huế, Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng và Quảng Ngãi Đề áncũng đã hoàn thành công tác lập bản đồ phân vùng cảnh báo nguy cơtrượt lở đất đá tỷ lệ 1:50.000 cho 15 tỉnh: Nghệ An, Thanh Hóa, LàoCai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hà Giang, Cao Bằng, BắcKạn, Tuyên Quang, Bắc Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh và Hòa Bình.Sản phẩm hoàn thành là các bản đồ kèm theo báo cáo thuyết minh; đượcthành lập theo địa bàn huyện, thị xã của từng tỉnh Trên cơ sở phối hợpvới Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng chống Thiên tai và Ban Chỉ huyPhòng chống Thiên tai - Tìm kiếm cứu nạn của các tỉnh địa phương,Viện đã xác định được hơn 200 xã trọng điểm cần tiến hành công tácđiều tra bổ sung, chuyển giao và hướng dẫn sử dụng cho địa phương cácloại bản đồ cảnh báo nhằm giảm thiểu thiệt hại do trượt lở đất đá trongmùa mưa bão; phục vụ kịp thời công tác di dân tái định cư, quy hoạchphát triển kinh tế xã hội bền vững của địa phương Trong năm 2017 -
Trang 162019, Đề án đã triển khai công tác điều tra chi tiết cho 50 xã thuộc 5tỉnh Điện Biên, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình và Thanh Hóa.
Viện đã tổ chức chuyển giao, triển khai các đợt tập huấn, quản lý,
sử dụng bộ sản phẩm của Đề án Trượt lở cho các địa phương, phục vụkịp thời công tác phòng chống thiên tai, giảm thiểu thiệt hại về người vàcủa trong mùa mưa bão
Chỉ ra bốn nhóm yếu tố liên quan đến sụt lún đất khu vực BằngLũng, Chợ Đồn, Bắc Cạn: cấu trúc địa chất, hệ thống karst ngầm, đặcđiểm của tầng đất phủ và hạ thấp mực nước ngầm
Đã thiết kế và xây dựng thành công các đường ống áp lực theo cácđiều kiện về địa chất, địa mạo v.v theo công nghệ PAT ở khu vực ĐồngVăn để cung cấp nước cho Thị trấn Đồng Văn
Bên cạnh đó, Viện đã cử nhiều đoàn cán bộ tới nghiên cứu, khảosát các hiện tượng tai biến địa chất, giúp đỡ các địa phương khắc phụchậu quả thiên tai, ổn định cuộc sống của nhân dân địa phương
c) Những kết quả tiêu biểu trong nghiên cứu di sản địa chất, công viên địa chất
Đã xây dựng thành công hồ sơ trình UNESCO công nhận Côngviên Địa chất Toàn cầu UNESCO Non Nước Cao Bằng ở tỉnh CaoBằng Đã xây dựng thành công hồ sơ trình UNESCO công nhận Côngviên Địa chất Toàn cầu UNESCO Đăk Nông ở tỉnh Đăk Nông Hỗ trợtỉnh Quảng Ngãi xây dựng hồ sơ trình UNESCO công nhận Công viênđịa chất Lý Sơn - Sa Huỳnh là Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO
Bước đầu tổng hợp các kiến thức bản địa về di sản địa chất, gópphần năng cao nhận thức cộng đồng, thúc đẩy du lịch ở công viên địachất Lý Sơn-Sa Huỳnh, Đắc Nông, Cao nguyên đá Đồng Văn, NonNước Cao Bằng
Các kết quả nghiên cứu nêu trên là cơ sở khoa học định hướngnghiên cứu, điều tra, quy hoạch phát triển mạng lưới di sản địa chất ởViệt Nam
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu Viện về các lĩnh vực nêu trên,Viện đã có hàng chục bài báo xuất bản tại các Tạp chí chuyên ngànhtrong và ngoài nước; hàng chục sách chuyên khảo về các lĩnh vực: karst
và di sản địa chất, cổ sinh và địa tầng, tai biến địa chất v.v
Trang 17Các hoạt động phát triển nguồn lực và hợp tác quốc tế đã phát huy trong việc nâng cao năng lực và trình độ của các viên chức của Viện
Từ năm 2015 đến nay, được sự đồng ý của Bộ TN&MT, Viện đã
cử hơn 100 đoàn ra đi tham dự hội thảo, các khoá đào tạo ngắn hạn, dàihạn và trao đổi hợp tác nghiên cứu tại nước ngoài và hàng chục đoànvào thực hiện hợp tác trong các đề tài, đề án, dự án và các đoàn đến thựchiện các chương trình hợp tác, mở rộng, tìm kiếm cơ hội hợp tác vớiViện thuộc các nước: Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, ĐàiLoan, Hàn Quốc, Ba Lan, Mỹ, Nhật, Bỉ, Canada v.v Trong đó đa phầncác đoàn ra đều do đối tác nước ngoài tài trợ và một phần được tài trợ từcác đề án, dự án, đề tài vốn SNKT, vốn KHCN v.v
Viện đã ký thỏa thuận ghi nhớ MOU với hàng chục cơ sở nghiêncứu và đào tạo thuộc các trường Đại học, cơ quan quản lý nhà nước,Viện nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu và một số Hiệp hội và Tổ chứcphi chính phủ thuộc các nước như: Nhật Bản, Ý, Mỹ, Bỉ, Đài Loan,Anh, Ba Lan, Na Uy, Hàn Quốc, Trung Quốc v.v Các MOU là cơ sở để
ký các thỏa thuận tài trợ về trang thiết bị, trao đổi khoa học, đào tạo chocác nhân viên của Viện
Bên cạnh đó, 06 dự án hợp tác nghiên cứu quốc tế đã được sựđồng ý của Bộ TN&MT, Bộ KH&CN đã và triển khai tại Viện như:
- Công nghệ khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên nước ở cácvùng núi đá vôi Việt Nam, áp dụng thử nghiệm ở một số khu vực thuộcCông viên Địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Hà Giang
- Xây dựng hệ thống đường ống áp lực cho Modul cấp nướckhông dùng điện theo công nghệ mới (PAT) tại huyện Đồng Văn, tỉnh
- Thiết lập trạm quan trắc đa thiên tai và tăng cường khả năngchống chịu cho Hà Nội
- Xây dựng năng lực quản lý thiên tai cho khu vực miền núi huyện
Trang 18Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, Việt Nam.
Những định hướng hoạt động và giải pháp thực hiện nhằm phá triển Viện
Nhằm tạo động lực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển của Việntrong những năm tới, Viện cần tiếp tục giữ được sự đoàn kết nhất trí caocủa đội ngũ cán bộ, đảng viên có năng lực khoa học và quản lý, có tráchnhiệm và quyết tâm cao trong xây dựng Viện khoa học đầu ngành, cótính năng động và sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ được giao nhằmtạo ra sản phẩm có chất lượng cao
a) Phương hướng, mục tiêu
- Phát huy sức mạnh đoàn kết, nâng cao năng lực lãnh đạo, sứcchiến đấu và vai trò hạt nhân chính trị của các tổ chức đảng, vai trò tiềnphong gương mẫu của đội ngũ đảng viên trong toàn Đảng bộ, tiếp tụcđổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của các cấp ủy, xây dựngĐảng bộ trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạođức
- Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, tăng cường năng lực nghiêncứu nhằm tạo đà cho sự phát triển của Viện khoa học đầu ngành địachất, khoáng sản phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
b) Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu
- Bám sát các văn bản pháp quy, các chủ trương định hướng lớncủa Nhà nước và Bộ Tài nguyên và Môi trường về lĩnh vực khoa học vàcông nghệ, địa chất và khoáng sản, đồng thời thực hiện nghiêm túc chỉđạo của Ban cán sự Đảng, Đảng ủy Bộ và Lãnh đạo Bộ, Đảng ủy Việnquyết tâm phấn đấu hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chuyên môn đề ratrong kế hoạch 2020-2025
- Tiếp tục chỉ đạo triển khai thực hiện Quyết Định số
1388/QĐ-TTg ngày 13/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ về “Quy hoạch Điều tra
cơ bản địa chất về khoáng sản đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”; trong đó tập trung đề xuất, triển khai thực hiện các đề tài, dự án
nghiên cứu dự báo và điều tra đánh giá khoáng sản trọng điểm đến độsâu 1000m và lớn hơn; trước mắt cần hoàn thành quy trình nghiên cứu
và xây dựng được hệ phương pháp nghiên cứu dự báo và điều tra đánhgiá khoáng sản ẩn sâu phù hợp với điều kiện kinh tế - kỹ thuật của nướcta
Trang 19- Tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học
và công nghệ phục vụ công tác quản lý của Bộ Tài nguyên và Môitrường
- Đẩy mạnh việc ứng dụng các thành quả nghiên cứu của Việnphục vụ lợi ích cộng đồng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội củađất nước
- Tăng cường hợp tác nghiên cứu song phương và đa phương vớicác tổ chức quốc tế nhằm thúc đẩy phát triển các hướng nghiên cứu mớinhư khoáng sản ẩn sâu, khoáng sản mới, phi truyền thống, địa chấtkarst, tai biến địa chất, công viên địa chất, địa chất y học, biến đổi khíhậu… cũng như đào tạo đội ngũ nghiên cứu khoa học
-Tăng cường và thực hiện tốt hơn nữa công tác kế hoạch,tài chính;đầu tư phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị nghiên cứu, phân tích thínghiệm theo hướng hiện đại, tiên tiến, nhằm phục vụ tốt công tác nghiêncứu khoa học, chuyển giao công nghệ của Viện
- Tiếp tục phát huy mọi khả năng về nguồn lực của từng đơn vị,
cá nhân trong việc tìm kiếm đối tác, tạo việc làm, mở rộng và đa dạngcác sản phẩm chuyển giao công nghệ và dịch vụ địa chất, khoáng sảnnhằm nâng cao thu nhập cho người lao động
- Chỉ đạo kiện toàn tổ chức bộ máy theo Đề án kiện toàn cơ cấu tổchức của Viện; đẩy nhanh tiến độ chuyển đổi phương thức hoạt độngcủa các trung tâm theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
- Tăng cường công tác đào tạo, đào tạo lại và phát triển nguồnnhân lực khoa học thông qua thực hiện đề tài, dự án, việc thực hiện cácnhiệm vụ nghiên cứu thường xuyên Chú trọng bồi dưỡng, phát triểnnhững nhân tố có phẩm chất, đạo đức, có năng lực nghiên cứu trở thànhnhững chuyên gia giỏi, chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực địa chất,khoáng sản của Việt Nam
- Tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt mọi chế độ chính sách của nhànước; từng bước nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của CBVC vàngười lao động trong toàn Viện; tích cực đóng góp vào các quỹ bảo trợ
xã hội; giáo dục và có biện pháp phòng ngừa các tệ nạn xã hội, kiênquyết đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, tham ô, lãng phí
- Thi đua hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ đề ra trong kế hoạch2020-2025 của Viện nhằm phát triển Viện bền vững, phục vụ nền kinh
Trang 20tế quốc dân thông qua tổ chức triển khai phong trào thi đua nâng caochất lượng, hiệu quả công tác; phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, ápdụng công nghệ mới trong công tác, nghiên cứu khoa học.
- Đảng uỷ chỉ đạo Ban Lãnh đạo, BCH Công đoàn thành lập mớiBan chỉ đạo “Quy chế dân chủ” theo hướng mở rộng và nâng cao nănglực hoạt động, phát huy quyền làm chủ của CBVC Thực hiện tốt việccông khai tài chính Nâng cao vai trò phản biện và giám sát của các tổchức đoàn thể quần chúng, góp phần xây dựng cơ quan trong sạch, vữngmạnh
- Tiếp tục lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân, giữvững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong đơn vị Đoàn kếtnội bộ, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đấu tranh chống âm mưu
“diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; giữ gìn bí mật quốc gia,bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ tài sản của Nhà nước và cơ quan
c) Những giải pháp chủ yếu
- Tập trung chỉ đạo xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện các
đề tài, dự án, ưu tiên các dự án Chính phủ, các đề tài, dự án kết thúctrong năm
- Chỉ đạo phối hợp chặt chẽ với các vụ chức năng của Bộ để tổ
chức thực hiện và quản lý Dự án “Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật
và năng lực trang thiết bị Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản”
- Tăng cường và khuyến khích các nhà khoa học áp dụng cácphương pháp, giải pháp công nghệ tiên tiến, hiện đại nhằm nâng caohiệu quả, chất lượng khoa học của các đề tài, dự án, nhiệm vụ chuyênmôn
- Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội đồng nghiệm thu Tăngcường công tác kiểm tra, đôn đốc, thẩm định các tài liệu, đặc biệt làkhâu kiểm tra ngoài thực địa để chỉ đạo, định hướng cho việc nghiêncứu tiếp theo Thực hiện nghiêm túc công tác hậu kiểm trước thanhtoán
- Phát huy và mở rộng vai trò, trách nhiệm của Hội đồng khoa họcViện trong việc đề xuất, tuyển chọn, xây dựng và thực hiện các chươngtrình nghiên cứu, các đề tài, dự án chuyên môn, các hoạt động khoa họccông nghệ và đào tạo của Viện
- Duy trì và tăng cường sự phối hợp hiệu quả giữa tổ chức Công
Trang 21đoàn, Đoàn Thanh niên cộng sản HCM với chính quyền dưới sự lãnhđạo của Đảng uỷ, nhằm phát huy tối đa nguồn lực của Viện để hoànthành tốt các mục tiêu nhiệm vụ được giao Áp dụng các biện phápkhuyến khích vật chất đối với các tập thể, cá nhân hoàn thành tốt nhiệm
vụ, đồng thời có những hình thức khiển trách, kỷ luật thích hợp đối vớinhững người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật lao động
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu chuyển giao công nghệ Mở rộngquan hệ hợp tác với các trường đại học, các tổ chức, các địa phương,tiến tới ký kết hợp đồng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ,
tư vấn địa chất - khoáng sản, nâng cao thu nhập chính đáng cho CBVC
- Tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế với các tổ chức nước ngoàithông qua các chương trình, dự án, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoahọc, đào tạo nâng cao trình độ, tiếp thu công nghệ mới, hội nhập với sựphát triển của khu vực và thế giới
Trang 22ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG CÁC TRẦM TÍCH PALEOZOI
Ở ĐỚI TÂY VIỆT BẮC
Nguyễn Đức Phong, Nguyễn Thị Hồng Nhung, Nguyễn Thị Thủy, Đinh Công Tiến, Nguyễn Hữu Mạnh, Lê Văn Hà, Nguyễn Đức Thái
Tóm tắt: Đá trầm tích Paleozoi phân bố rộng rãi ở đới Tây Việt Bắc.
Dựa vào đặc điểm thạch học và diện phân bố chúng chia thành 15 hệ tầng, bao gồm: Thác Bà (NP tb), An Phú (NP- 1 ap) Hà Giang ( 2 hg), Chang Pung ( 2 - 3 cp), Lutxia (O 1 lx), Phú Ngữ (S 1 -S 2 pn), Si Ka (D 1 sk), Bắc Bun (D 1 bb), Mia Lé (D 1 ml), Nà Quản (D 1 -D 2 nq), Si Phai (D 1 -D 2
sp), Tốc Tát (D 3 fr-C 1 ? tt), Khao Lộc (D 1 -D 2 kl), Bắc Sơn (C-P 3 bs), Đồng Đăng (P 3 đđ) Việc đánh giá tổng quan về tính hiệu lực của các phân vị địa tầng sẽ góp phần cập nhật thông tin về địa tầng Paleozoi ở đới Tây Việt Bắc Điều này cũng sẽ cung cấp thông tin có giá trị về đối sánh địa tầng của đới Tây Việt Bắc và các vùng lân cận.
Từ khoá: Địa tầng, Paleozoi, Tây Việt Bắc
Trên cơ sở tổng hợp và phân tích các tài liệu hiện có, bài báo trìnhbày những đánh giá tính hiệu lực của các phân vị trên theo Quy phạmđịa tầng Việt Nam (1994) ở đới Tây Việt Bắc
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT VÙNG NGHIÊN CỨU
Đới Tây Việt Bắc nằm giữa hai đới đứt gãy Sông Chảy và SôngĐáy, gồm cả đới Sông Lô và phần bắc đới Sông Hiến theo phân chia củaDovjikov và nnk (1965) và thuộc địa khu liên hợp Việt - Trung (Trị,2009) Đới Tây Việt
Trang 23Bắc có thể chia thành hai phụ đới: phụ đới Sông Lô ở phía tây, chủ yếu
là trầm tích Neoproterozoi thượng - Ordovic hạ; và phụ đới Sông Gâm ởphía đông, gồm các trầm tích Cambri - Ordovic hạ, Devon - Permi vớihoạt động magma nhiều thế hệ đa dạng hơn (Trần Văn Trị, 2009)
Hình 1 Sơ đồ địa chất khu vực nghiên cứu (đới Tây Việt Bắc)
(Theo Trần Văn Trị và nnk 2009)
Trang 24PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp thạch địa tầng
Mục đích của phương pháp thạch địa tầng nhằm để phân chia cácthành tạo trầm tích thành các phân vị địa tầng trên toàn bộ khu vựcnghiên cứu, gồm các phức hệ, loạt, hệ tầng, trong đó hệ tầng là phân vịđịa tầng cơ bản
Các phân vị thạch địa tầng phân chia được dựa vào đặc điểmthạch học, chúng thể hiện ở thành phần, kiến trúc, cấu tạo của đá, kiểuxen kẽ của các lớp đá khác nhau, màu sắc, tính phân lớp, cũng như một
số biến đổi khác của đá Phân loại thạch địa tầng trước hết dựa trên cơ
sở tính đồng nhất của các lớp đá hoặc sự ưu trội của một loại đá nào đótrong mặt cắt mà có thể nhận biết được ở ngoài trời và thể hiện đượctrên các bản đồ địa chất
Các phân vị thạch địa tầng đã được tiến hành xem xét và nghiêncứu trong suốt khoảng địa tầng Paleozoi ở đới Tây Việt Bắc nhằm phânchia các thành tạo trầm tích thành các hệ tầng (phân vị địa tầng cơ bản)
Đánh giá các phân vị địa tầng Paleozoi đã được xác lập ở đới TâyViệt Bắc một cách đầy đủ và kỹ lưỡng về “tiêu chuẩn thạch địa tầng”nhằm xác định tính hiệu lực của các phân vị theo Quy phạm địa tầngViệt Nam (1994)
Một phân vị địa tầng có hiệu lực phải đảm bảo đó là một thể địachất, có mặt cắt chuẩn hay phụ chuẩn, có ranh giới rõ ràng hay tươngđối rõ ràng với các thể địa chất giáp kề và có thể phân biệt được về mặtthạch học với các thể địa chất đó
Phương pháp sinh địa tầng
Mục đích của phương pháp sinh địa tầng nhằm để phân chia cácmặt cắt trong phạm vi nghiên cứu thành phần các phân vị sinh địa tầng(các đới hoá thạch) Trên cơ sở các đới hoá thạch được xác lập, một mặtnhằm xác định tuổi các phân vị địa tầng, mặt khác dùng để đối sánh địatầng của khu vực nghiên cứu với các lãnh thổ lân cận và xa hơn nữa
KẾT QUẢ
Thông qua các tài liệu đã được tổng hợp trên đây, chúng tôi nhậnthấy có 17 phân vị địa tầng được dùng để mô tả cho các trầm tích
Trang 25Paleozoi ở đới Tây Việt Bắc mà cho đến nay vẫn đang được sử dụng,
bao gồm: Thác Bà (NP tb), An Phú (NP- 1 ap) Hà Giang (2 hg), Chang
Pung (2-3 cp), Lutxia (O1 lx), Phú Ngữ (S1-S2 pn), Si Ka (D1 sk), BắcBun (D1 bb), Mia Lé (D1 ml), Tòng Bá (D1 tb), Pia Phương (D1 pp), NàQuản (D1-D2 nq), Si Phai (D1-D2 sp), Tốc Tát (D3fr-C1? tt), Khao Lộc
(D1-D2 kl), Bắc Sơn (C-P3 bs), Đồng Đăng (P3 đđ) Chúng tôi xin đượcđánh giá tính hiệu lực của các phân vị trên theo Quy phạm địa tầng ViệtNam (1994)
LOẠT SÔNG CHẢY
Loạt Sông Chảy bao gồm hai hệ tầng Thác Bà và An Phú trướcđây được mô tả chung trong hệ tầng Sông Chảy (Trần Văn Trị 1977)hoặc hệ tầng Chiêm Hoá (Dovjikov A.E và nnk 1965) bao gồm các tập
đá phiến hai mica, đá phiến muscovit, đá hoa, đá hoa tremolit phân bốxung quanh khối granit Sông Chảy, các vùng Chiêm Hoá, Lục Yên kéodài qua Thác Bà dến Vĩnh Phúc
Hai hệ tầng Thác Bà và An Phú có quan hệ chỉnh hợp với nhau,
có thành phần thạch học định theo đường phương có nguồn gốc ban đầu
từ trầm tích lục nguyên và đá vôi sạch cùng bồn trầm tích chung Thànhphần thạch học và mức độ biến chất cùa các trầm tích loạt Sông Chảycao hơn hẳn so với các trầm tích có hoá thạch tuổi Cambri ờ Đông Bắc
Bộ như đá cùa hệ tầng Hà Giang, Thần Sa Thành phần đá và đặc điểmbiến chất của hai hệ tầng Thác Bà và An Phú có nhiều nét tương đồngvới các hệ tầng thuộc loạt Sa Pa ờ Tây Bắc Bộ Điểm khác biệt là ởthành phần carbonat, phía Tây Bắc Bộ là đá hoa dolomit, phía Đông Bắc
Bộ là đá hoa calcit
Hiện nay chưa phát hiện được hoá thạch định tuổi, chưa mô tảđược quan hệ trực tiếp với các tầng đá cổ hơn và với hệ tầng Hà Giangchứa hoá thạch Cambri Dựa theo đặc điểm phân bố, theo thành phầnthạch học và mức độ biến chất, có thể coi đá của loạt Sông Chảy cổ hơn
hệ tầng Hà Giang tuổi Cambri Do vậy, các đá của loạt được xếp vàotuổi Neoprotcrozoi, tuy vậy cần tiếp tục đầu tư nghiên cứu để xác địnhchính xác tuổi của chúng
Trang 26Hệ tầng Thác Bà (NP tb)
Thông qua các tài liệu đã tổng hợp, chúng tôi nhận thấy hệ tầngThác Bà đã được nhiều nhà địa chất chấp nhận và sử dụng khá rộng rãivới nội dung và khối lượng như khi được xác lập
Theo điều 6.13 - Quy phạm địa tầng Việt Nam (1994), ta có thểxem xét tính hiệu lực của hệ tầng Thác Bà (NP tb) như sau:
Tên của phân vị: Hệ tầng Thác Bà
Tác giả của phân vị: Hoàng Thái Sơn, 1999
Thành phần và khối lượng: Thành phần ban đầu cùa hệ tầng chủ
yếu là các trầm tích lục nguyên - cát kết hạt thô, sét kết phân lớp thô,xen kẽ ít lớp mỏng đá sét vôi Các đá bị biến chất không đồng đều trongphạm vi tướng đá phiến lục và phần thấp tướng amphibolit epidot, tạonên các tập đá phiến muscovit, hai mica xen quartzit, đá phiến thạch anhfelspat - mica và đá phiến thạch anh - calcit - epidot
Ranh giới của phân vị: Hệ tầng chỉnh hợp với hệ tầng An Phú
nằm trên và có quan hệ kiến tạo với các hệ tầng khác, bị khối granitSông Chảy tuổi trước Devon xuyên cắt
Tuổi của phân vị: Tuổi của hệ tầng Thác Bà được giả định là
Neoproteooi dựa trên quan hệ địa tầng Chưa phát hiện hóa thạch vàchưa có tuổi đồng vị tin cậy
Mặt cắt chuẩn: Vùng đập Thác Bà, tỉnh Yên Bái (x = 21°45', y =
105°02) Các mặt cắt tương tự lộ trên đường từ Tân Quang đi Hoàng SuPhì, Tây Bắc Lục Yên
Sự biến đổi: Các đá của hệ tầng phân bố trong phức nếp lồi Lô
Gâm tại rìa ngoài khối granit Sông Chảy như Thanh Thủy, Tân Ọuang(Hà Giang), nếp lồi Lục Yên (Yên Bái) trong dải kẹp giữa đứt gãy SôngChảy và đứt gãy Sông Lô kéo dài về phía Đông Nam đến Hà Nội nhưng
bị các trầm tích Đệ tứ của bồn trũng Sông Hồng phủ trên
Các đá bị biến chất khu vực trong phạm vi tướng đá phiến lục,phần thấp tướng epidot - amphibolit Tại các diện tích phát triển cáckhối magma, bị biến chất phân đới với phần nhân đạt tướng amphibolitepidot như rìa đông nam khối granit Sông Chảy, tây bắc Lục Yên,Chiêm Hoá v.v đặc trưng bằng các tổ hợp khoáng vật: 1) Thạch anh +
Trang 27biotit + muscovit - granat +silimanit; 2) Thạch anh + biotit + mutscovit+ granat + staurolit.
Đối sánh: Các trầm tích thuộc hệ tầng ít được đầu tư nghiên cứu.
Như vậy, xét theo Quy phạm địa tầng Việt Nam (1994) thì hệ tầngThác Bà là một phân vị địa tầng có hiệu lực Tuy nhiên, trong đá của hệtầng Thác Bà chưa phát hiện được hoá thạch và chưa có tuổi đồng vị tincậy nên cần phải được tiếp tục nghiên cứu
Hệ tầng An Phú (NP-ε 1 ap)
Thông qua các tài liệu đã tổng hợp, chúng tôi nhận thấy hệ tầng
An Phú đã được nhiều nhà địa chất chấp nhận và sử dụng khá rộng rãivới nội dung và khối lượng như khi được xác lập
Theo điều 6.13 - Quy phạm địa tầng Việt Nam (1994), ta có thểxem xét tính hiệu lực của hệ tầng An Phú (NP-ε1 ap) như sau:
Tên của phân vị: Hệ tầng An Phú
Tác giả của phân vị: Hoàng Thái Sơn, 1999
Thành phần và khối lượng: thành phần ban đầu chủ yếu là đá vôi
phân lớp thô, xen kẽ ít lớp mỏng sét kết Đá bị biến chất đồng đều trongphạm vi tướng đá phiến lục và phần thấp tướng epidot - amphibolit, tạonên đá hoa sạch, đá hoa chứa phlogopit, đá phiến muscovit - clorit và đáphiến tremolit - epidot
Ranh giới của phân vị: Hệ tầng có quan hệ chỉnh hợp với trầm
tích lục nguyên bị biến chất cùa hệ tầng Thác Bà và có quan hệ kiến tạovới các hệ tầng tuổi Paleozoi, bị xâm nhập Sông Chảy có tuổi trướcDevon xuyên cắt Quan hệ giữa hệ tầng An Phú và hệ tầng Hà Giangtuổi Cambri giữa nằm trên nó được coi là giả chỉnh hợp
Tuổi của phân vị: Tuổi của hệ tầng An Phú được giả định là
Neoproteooi - Cambri sớm dựa trên quan hệ địa tầng Chưa phát hiệnhóa thạch và chưa có tuổi đồng vị tin cậy
Mặt cắt chuẩn: Gần làng An Phú, huyện Lục Yên, tinh Yên Bái (x
= 21°47, y = 105°00)
Sự biến đổi: Các đá cùa hệ tầng An Phú phân bố trong phức nếp
lồi Lô Gâm tại rìa ngoài khối granit Sông Chảy như Thanh Thủy, BắcỌuang (Hà Giang), nếp lồi Lục Yên (Yên Bái) trong dải kẹp giữa đứt
Trang 28gãy Sông Chảy và đứt gãy Sông Lô kéo dài về phía Đông Nam đến HàNội và bị chìm dưới trầm tích Đệ tứ của bồn trũng Sông Hồng.
Mặt cắt của hệ tầng tương đối đồng nhất gồm đá hoa sạch màutrắng đôi nơi loang lổ, dạng khối, phân lớp thô Tại phần dưới cùa mặtcắt có xen ít thấu kính đá phiến thạch anh - biotit Trong đá hoa đôi nơi
có graphit và phlogopit
Đối sánh: Các trầm tích thuộc hệ tầng ít được đầu tư nghiên cứu.
Như vậy, xét theo Quy phạm địa tầng Việt Nam (1994) thì hệ tầng
An Phú là một phân vị địa tầng có hiệu lực Tuy nhiên, trong đá của hệtầng An Phú cũng chưa phát hiện được hoá thạch và chưa có tuổi đồng
vị tin cậy nên cần phải được tiếp tục nghiên cứu
Hệ tầng Hà Giang (ε 2 hg)
Theo các tài liệu đã tổng hợp ta nhận thấy hệ tầng Hà Giang được
sử dụng khá rộng rãi với nội dung và khối lượng không thống nhất Vậytính hiệu lực của hệ tầng Hà Giang cần được xem xét một cách kỹlưỡng
Theo điều 6.13 - Quy phạm địa tầng Việt Nam (1994), ta có thểxem xét tính hiệu lực của hệ tầng Hà Giang (ε2 hg)) như sau:
Tên của phân vị: Hệ tầng Hà Giang - nhiều tác giả sử dụng tên
phân vị theo mô tả của Trần Văn Trị và nnk., (1977) nhưng Trần HữuDần (in Đặng Trần Huyên và nnk., 2007) lại cho rằng tên phân vị vẫnđược mô tả là "hệ tầng Hà Giang" vì tên này đã đi vào văn liệu quenthuộc còn nội dung phân vị tương ứng với khối lượng "Loạt Cốc Pài" (ε)của Deprat J (1915) hay "hệ tầng Ngòi Phượng" (ε1 np) của Trần Xuyên
và nnk (1998)
Tác giả của phân vị: Trần Văn Trị, 1977.
Thành phần và khối lượng: Thành phần chủ yếu gồm đá phiến
thạch anh - sericit, thạch anh mica, đá phiến silic chứa vật chất hữu cơ
và ít đá quarzit Mặc dù vậy các tác giả mô tả khối lượng của hệ tầngthay đổi với tổng bề dày thay đổi rất nhiều ở các mặt cắt khác nhau (từkhoảng 700m đến 2100m)
Như đã trình bày trên, vấn đề đá phiến lục trong hệ tầng Hà Giang
có những dẫn liệu thực tế khác nhau Trần Văn Trị (1977), Nguyễn Đình
Trang 29Cần (1994), Hoàng Thái Sơn (1998), Nguyễn Văn Thế (1999) đã mô tảcác đá phiến amphibol, đá phiến actinolit - clorit - sericit - epidot -felspat trong thành phần của hệ tầng Hà Giang.
Trong khi đó các tài liệu thực tế của Lương Hồng Hược (1994),Hoàng Quang Chỉ (2000), Phạm Kim Ngân (2003), Vương Mạnh Sơn(2003) không mô tả các đá phiến lục trong hệ tầng Hà Giang VươngMạnh Sơn coi chúng là các đai mạch diaba bị lục hóa Chỉ có điều thừanhận là phần dưới hệ tầng Hà Giang gặp đá phiến silic chứa mangan, đáphiến silic chứa vật chất than (Vương Mạnh Sơn, 2003)
Ranh giới của phân vị: Một số tác giả cho rằng hệ tầng Hà Giang
nằm chỉnh hợp giả trên hệ tầng Sông Chảy (Vũ Khúc, Bùi Phú Mỹ1989; Lương Hồng Hược và nnk 1996 ) Trần Hữu Dần (in Đặng Trần
Huyên và nnk., 2007) cho rằng nó nằm không chỉnh hợp góc trên các
các hệ tầng khác nhau có tuổi cổ hơn: hệ tầng Sông Chảy (NP3 sc), hệtầng An Phú (NP3- ε1 ap) Còn quan hệ trên của hệ tầng Hà Giang làchuyển tiếp liên tục lên các đá carbonat của hệ tầng Chang Pung (ε2-ε3
cp).
Tuổi của phân vị: Tuổi của hệ tầng Hà Giang phần lớn được các
tác giả xếp vào tuổi Cambri giữa trên cơ sở các dạng Bọ ba thuỳ
Ptychoparia sp., Solenoparia sp., Annamitia aff spinifera Mans., Paracoosia mansuyi Kob Đặc biệt với sự có mặt của hai đới Trilobita Cambri giữa: Damesops-Damesella và Paracoosia-Annamitia (Phạm
Kim Ngân 2003) Thuộc phần thấp của hệ tầng Hà Giang có Acritarchatuổi Cambrri sớm - phức hệ Protosphaeridium -
Archaeohystrichosphaeridium - tìm được trong mặt cắt Bắc Hà và mặt
cắt
Mặt cắt chuẩn: Hầu hết các mô tả đều thống nhất mặt cắt Vị Xuyên
- Hà Giang (x= 22049', y = 104057') được Trần Văn Trị và nnk (1977)
mô tả đầu tiên cho "Hệ tầng Hà Giang" là mặt cắt chuẩn(Holostratotyp)
Trần Hữu Dần (in Đặng Trần Huyên và nnk., 2007) lại mô tả mặt cắt
chuẩn là mặt cắt Cốc Pài (Mường Khương, Lào Cai)
Phạm Kim Ngân và nnk (2003) cho rằng mặt cắt chuẩn của hệ tầng
Hà Giang ở Vị Xuyên chỉ chủ yếu gặp phần cao của hệ tầng Hà Giang
Trang 30Vì vậy, tác giả đề nghị lập mặt cắt phụ trợ cho hệ tầng Hà Giang là mặtcắt Thanh Thủy - Pha Hán.
Sự biến đổi: Hệ tầng Hà Giang phân bố ở các vùng Đồng Văn,
Mèo Vạc, Lũng Cú, Vị Xuyên, Bắc Quang (Hà Giang), Lục Yên, BảoYên (Yên Bái), Bắc Hà, Mường Khương (Lào Cai)
Đối sánh: Các trầm tích thuộc hệ tầng đã được mô tả và đối sánh
giữa các mặt cắt hệ tầng với nhau và với hệ tầng Long Hà ở Đông NamVân Nam Trung Quốc
Như vậy, xét theo Quy phạm địa tầng Việt Nam (1994) thì hệ tầng
Hà Giang là một phân vị địa tầng còn rất nhiều vấn đề tồn tại cần đượctiếp tục nghiên cứu làm rõ:
- Nội dung và khối lượng của hệ tầng Hà Giang vẫn chưa có sự
mô tả thống nhất
- Có hay không các đá phiến lục trong thành phần của hệ tầng
- Quan hệ dưới của hệ tầng với các thành tạo cổ hơn
- Vấn đề mặt cắt chuẩn và mặt cắt phụ chuẩn
Hệ tầng Chang Pung (ε 2 -ε 3 cp).
Theo các tài liệu đã tổng hợp ta nhận thấy từ khi xác lập tới nay,phân vị này được sử dụng rộng rãi với nội dung và khối lượng tương tựnhư tác giả phân vị đã xác lập Các nghiên cứu về sau đã bổ sung vàchính xác hóa về tuổi và quan hệ trên, dưới của hệ tầng
Để xem xét tính hiệu lực của hệ tầng Chang Pung sau đây chúngtôi dựa trên quan điểm tổng hợp và thống nhất của tất cả các nghiên cứu
bổ sung sau này
Theo điều 6.13 - Quy phạm địa tầng Việt Nam (1994), ta có thể
xem xét tính hiệu lực của hệ tầng Chang Pung (ε2-ε3 cp) như sau:
Tên của phân vị: Hệ tầng Chang Pung
Tác giả của phân vị: Deprat J., 1915.
Thành phần và khối lượng: Hệ tầng Chang Pung có thành phần chủ
yếu là carbonat (đá vôi vi hạt, đá vôi có dolomit, đá vôi sét, đá vôitrứng cá) xen lục nguyên (đá phiến sét, cát bột kết), chứa phong phú hệ
Trang 31động vật Trilobita và Brachiopoda biển nông được gọi là hệ động vậtChang Pung.
Ranh giới của phân vị: Tất cả các mô tả đều thống nhất hệ tầng
Chang Pung có quan hệ dưới là chuyển tiếp với hệ tầng Hà Giang (ε2
hg), quan hệ trên của nó chuyển tiếp lên hệ tầng Lutxia (O1 lx).
Tuổi của phân vị: Phần lớn tác giả cho rằng tuổi Cambri muộn của
hệ tầng Chang Pung được xác lập chính xác nhờ sự phát hiện các ditích Trilobita và Brachiopoda từ dưới lên: Tập hợp hoá thạch
Drepanura- Blackwelderia được coi là đới thấp nhất và tập hợp Calvinella - Eoorthis là đới cao nhất của Cambri thượng ở Việt Nam và
nam Trung Quốc
Trần Hữu Dần (in Đặng Trần Huyên và nnk., 2007) đưa ra tuổi của
hệ tầng Chang Pung từ Cambri giữa phần cao đến cuối Cambri muộntrên cơ sở các nhóm hóa thạch Trilobita, Brachiopoda, Oncolithina,
Acritarcha, tuổi Cambri giữa thuộc 5 đới: Tonkinella flabelliformis, Annamitia spinifera, Lingulella - Obolus, Osagia và đới Baltisphaeridium.
Mặt cắt chuẩn: Holostratotyp - Mặt cắt Chang Pung: theo đường
mòn từ đồn biên phòng Chang Pung (Sam Pun) xuống bản Seo Thèn Pả(X = 23017', Y = 105025') thuộc xã Thượng Phùng, huyện Đồng Văn,tỉnh Hà Giang
Trần Hữu Dần (in Đặng Trần Huyên và nnk., 2007) đã đề nghị một
mặt cắt phụ chuẩn là mặt cắt Làng Lúp - Hà Giang (Núi Cấm, thị xã HàGiang)
Sự biến đổi: Hệ tầng Chang Pung có diện phân bố chủ yếu quanh
phức vòm Sông Chảy (Mường Khương - Bắc Hà - Bắc Quang - VịXuyên - Thanh Thủy), và các dải hẹp Lũng Cú - Chang Pung (Đồng Văn
- Mèo Vạc), Tả Tống - Bản Lòa (Bắc Kạn)
Trầm tích khá ổn định, các lớp đá thường có thế nằm đơnnghiêng Ở các vùng Vị Xuyên, Thanh Thủy hệ tầng Chang Pung cóthành phần carbonat tăng và kém đa dạng, có bề dày giảm, nghèo di tích
cổ sinh
Trang 32Đối sánh: Các trầm tích thuộc hệ tầng đã được mô tả và đối sánh
giữa các mặt cắt hệ tầng với nhau và với các hệ tầng khác có cùng tuổitrong khu vực
Như vậy, xét theo Quy phạm địa tầng Việt Nam (1994) thì hệ tầngChang Pung là một phân vị địa tầng có hiệu lực Tuy nhiên, quan hệ trêncủa hệ tầng với hệ tầng Lutxia cần tiếp tục được nghiên cứu
Hệ tầng Lutxia (O 1 lx)
Theo các tài liệu trích dẫn ở phần trên ta nhận thấy từ khi xác lập tớinay, phân vị này được sử dụng với nội dung và khối lượng tương tựnhư tác giả phân vị đã xác lập
Theo điều 6.13 - Quy phạm địa tầng Việt Nam (1994), ta có thể
xem xét tính hiệu lực của hệ tầng Lutxia (O1 lx) như sau:
Tên của phân vị: Hệ tầng Lutxia - là đầu tiên và duy nhất được
dùng cho đến nay
Tác giả của phân vị: Deprat J., 1915.
Thành phần và khối lượng: hệ tầng có bề dày 400m, gồm 12 "tập"
là một hệ xen kẽ luân phiên giữa đá carbonat và đá lục nguyêncarbonat
Ranh giới của phân vị: Hệ tầng Lutxia nằm chuyển tiếp trên hệ
tầng Chang Pung với ranh giới được vạch giữa hai đới - Calvinella walcotti và Hysterolenus (theoTrilobita) hoặc giữa hai hệ lớp - Eoothis doris và Oligorthis (theo Brachiopoda) Ở hầu hết các vùng phân bố
đều thấy hệ tầng Lutxia bị phủ (không chỉnh hợp) bởi các trầm tíchDevon sớm
Tuổi của phân vị: Tuổi Ordovic sớm của hệ tầng Lutxia được xác
định chắc chắn nhờ các hóa thạch Hysterolenus sp., Bienvillia sp., Leiobienvillia sp., Oligorthis sp
Mặt cắt chuẩn: Holostratotyp - Mặt cắt Chang Pung, đoạn từ bản
Seo Thèn Pả đến gần bản Bắc Bun (X = 23016', Y = 105024') xãThượng Phùng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang)
Sự biến đổi: Hệ tầng Lutxia phân bố ở các vùng Mường Khương
Bắc Hà (Lào Cai), Lũng Cú, Chang Pung, Vị Xuyên, Thanh Thủy (HàGiang) Mặt cắt hệ tầng luôn gắn liền với mặt cắt hệ tầng Chang Pung
Trang 33Đối sánh: Các trầm tích thuộc hệ tầng đã được mô tả và đối sánh
giữa các mặtcắt hệ tầng với nhau và với các hệ tầng khác có cùng tuổitrong khu vực
Như vậy, xét theo Quy phạm địa tầng Việt Nam (1994) thì hệ tầngLutxia (O1 lx) là một phân vị địa tầng có hiệu lực Tuy nhiên, khốilượng cũng như diện phân bố của hệ tầng khá khiêm tốn Mặt khác,thành phần trầm tích của hệ tầng rất giống với hệ tầng Chang Pungnằm dưới Hơn nữa, ranh giới của 2 hệ tầng này lại rất khó xác địnhđược bằng đặc điểm thạch học mắt thường mà phải dựa vào đặc điểm
cổ sinh là chính Vậy theo tiêu chuẩn thạch địa tầng thì cần phải xemxét lại sự tồn tại của hệ tầng này
Hệ tầng Phú Ngữ (S 1 -S 2 pn)
Theo các tài liệu trích dẫn ở phần trên ta nhận thấy từ khi xác lập tớinay, phân vị này được sử dụng với nội dung và khối lượng tương tựnhư tác giả phân vị đã xác lập
Theo điều 6.13 - Quy phạm địa tầng Việt Nam (1994), ta có thể
xem xét tính hiệu lực của hệ tầng Phú Ngữ (S1-S2 pn) như sau:
Tên của phân vị: Hệ tầng Phú Ngữ - là đầu tiên và duy nhất được
dùng cho đến nay
Tác giả của phân vị: Phạm Đình Long, 1968.
Thành phần và khối lượng: Đặc trưng thạch học của hệ tầng Phú
Ngữ là các trầm tích lục nguyên, lục nguyên - silic chủ yếu hạt mịn,phân lớp mỏng, phân dải thanh, sẫm màu, chứa Graptolithina, tướngbiển xa bờ Dày khoảng 650m
Ranh giới của phân vị: Hệ tầng Phú Ngữ là cổ nhất trong vùng
phân bố vì vậy quan hệ dưới là không được biết Quan hệ trên của nóđến nay vẫn còn những ý kiến khác nhau mặc dù ngay trên nó thực
chất chỉ còn "Đá vôi Chợ Chu" Phạm Đình Long và nnk.(1968) xác lập
"Điệp Phú Ngữ" bao gồm cả "Đá vôi Chợ Chu" Lê Văn Giang và nnk.
(2000) đã tách đá vôi Chợ Chu" thành hệ tầng Chợ Chu tuổi (?) Silur Devon và mô tả quan hệ dưới là giả định chuyển tiếp từ hệ tầng PhúNgữ
Trang 34-Trần Hữu Dần (trong Đặng -Trần Huyên và nnk., 2007) giả định là
quan hệ kiến tạo, đồng thời giả định "Đá vôi Chợ Chu" có tuổi Carbon
- Permi
Tuổi của phân vị: Tuổi Silur sớm của hệ tầng Phú Ngữ dựa vào
Graptolithina (Climacograptus sp., Diplograptus sp., Monoclimacis
sp., Glyptograptus sp.,v.v ,), Trilobita (Agnostusperrugatus, Remopleuridessalteri).
Mặt cắt chuẩn:Holostratotyp - Mặt cắt Phố Ngữ - Gia Tòng (X =
21053', Y = 105046') xã Yên Đổ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Sự biến đổi: Những mô tả về thành phần thạch học của hệ tầng Phú
Ngữ theo Phạm Đình Long và nnk (1968); Nguyễn Kinh Quốc và nnk.
(1974), đến nay chưa được xác nhận đặc biệt về sự có mặt của đá phuntrào và đá carbonat Hệ tầng Phú Ngữ phân bố trong một cấu trúc táchbiệt, có diện lộ thành dải từ Đại Từ (Thái Nguyên) tới Chợ Rã (BắcKạn)
Những mô tả trước đây đã xếp vào hệ tầng Phú Ngữ cả các trầm tích
ở dải Núi Luông - Hương Sơn (Hà Giang) và dải Tòng Bá - Bắc Mê
(Hà Giang) Theo Trần Hữu Dần (trong Đặng Trần Huyên và nnk.,
2007) ở hai dải vừa nêu không có kiểu mặt cắt của hệ tầng Phú Ngữ
Những mô tả các mặt cắt chi tiết của Phạm Đình Long và nnk (1968), Nguyễn Kinh Quốc và nnk.(1974) đã có nhầm lẫn không chỉ về thành
phần thạch học mà cả trật tự địa tầng
Đối sánh: Hệ tầng Phú Ngữ phân bố trong một cấu trúc tách biệt đã
được liên hệ đối sánh địa tầng với các hệ tầng cùng tuổi ở khu vựckhác
Như vậy, xét theo Quy phạm địa tầng Việt Nam (1994) thì hệ tầngPhú Ngữ (S1-S2 pn) là một phân vị địa tầng có hiệu lực Tuy nhiên, khối
lượng cũng như diện phân bố của hệ tầng khá khiêm tốn và quan hệtrên của hệ tầng cần được nghiên cứu tiếp theo
Hiện trong khu vực nghiên cứu không có mặt các trầm tích của hệtầng này
LOẠT SÔNG CẦU
Hai hệ tầng Si Ka và Bắc Bun chỉnh hợp với nhau và trong nhiều mặtcắt thành phần trầm tích của phần dưới hệ tầng Bắc Bun cũng còn rất
Trang 35gần gũi với thành phần phần trên của hệ tầng Si Ka như ở vùng Hạ Lang(Cao Bằng) và thung lũng Sông Cầu (Thái Nguyên) Các tổ hợp hóathạch cũng phản ánh tính chất vừa nêu, nếu trong hệ tầng Si Ka không
có hóa thạch động vật biển như Tay cuộn, San hô, còn hóa thạch Cáchiếm vai trò chủ đạo thì trong phần thấp của hệ tầng Bắc Bun thànhphần hóa thạch ở một số mặt cắt cũng tương tự
Theo kết quả nghiên cứu chi tiết mặt cắt chuẩn của Tạ Hòa Phương,ngay trong đá phiến sét vôi màu xám ở dưới cùng của hệ tầng Bắc Bun
đã gặp nhiều di tích hóa thạch Thực vật, một số mảnh Crustacea
(Phyllocarida) và Cá cổ (Yunnanolepis sp.), tiếp lên trên là bột kết chứa Tongdzuylepis vietnamensis và Howittia wangi Thành phần đá và hóa
thạch của những lớp này thể hiện sự xen kẽ của tướng kiểu tam giácchâu và biển ven bờ Tình trạng tương tự cũng gặp ở mặt cắt Tràng Xá
và nhất là ở thung lũng Sông Cầu
Sự xen kẽ những trầm tích tướng biển và tướng tam giác chấu, biểnven bờ ở nhiều mặt cắt của hệ tầng Bắc Bun nhiều khi gây khó khăn choviệc vạch định ranh giới giữa hai hệ tầng Si Ka và Bắc Bun Đặc biệt ởnhững mặt cắt mà bề dày của hai hệ tầng này không lớn như ở mặt cắt
Hạ Lang thì lại càng khó vạch định ranh giới Có thể nhận định có cơ sởrằng hai hệ tầng Si Ka và Bắc Bun được hình thành trong những môitrường chuyển tiếp dần từ lục địa sang môi trường tam giác châu - biểnven bờ rồi biển thềm lục địa Trên cơ cở đó một cách hợp lý và phù hợpvới Quy phạm địa tầng Việt Nam, hai hệ tầng này được hợp thành 1 loạtgọi là Loạt Sông Cầu
Hệ tầng Si Ka (D 1 sk)
Theo các tài liệu trích dẫn ở phần trên ta nhận thấy từ khi xác lập tớinay, phân vị này được sử dụng với nội dung và khối lượng tương tựnhư tác giả phân vị đã xác lập
Theo điều 6.13 - Quy phạm địa tầng Việt Nam (1994), ta có thể
xem xét tính hiệu lực của hệ tầng Si Ka (D1 sk) như sau:
Tên của phân vị: Hệ tầng Si Ka - là đầu tiên và duy nhất được dùng
cho đến nay
Tác giả của phân vị: Deprat J., 1915.
Trang 36Thành phần và khối lượng: Đá phiến sét vôi màu sặc sỡ xen đá vôi,
đá sét, cát kết chứa Cá: Asterolepis, Homosteus; Thực vật:Bytrotrephis Bề dày >300m
Ranh giới của phân vị: Ranh giới dưới của hệ tầng Si Ka là khá rõ
ràng ở hầu hết các mặt cắt, phủ không chỉnh hợp góc trên các trầm tíchPaleozoi hạ và ranh giới trên được xem như chuyển tiếp liên tục lên hệtầng Bắc Bun (D1 bb).
Tuổi của phân vị: Tuổi của hệ tầng Si Ka được xác nhận trên cơ sở
các phức hệ hoá thạch Thực vật thuỷ sinh và các phức hệ Cá cổ, đượcxác định trong khoảng Lochkov với 3 phức hệ sinh vật đặc trưng sau:
Phức hệ Thực vật thuỷ sinh Phylophytites, phức hệ Ostracoda Beyrichia, phức hệ Cá cổ Yunnanolepis.
-Mặt cắt chuẩn:Holostratotyp - -Mặt cắt Lũng Cú - Ma Lé (xã Ma
Lé, huyện Đồng Văn, Hà Giang)
Sự biến đổi: Hệ tầng Si Ka phân bố khá rộng rãi ở Đông Bắc Bộ Đối sánh: Các trầm tích thuộc hệ tầng đã được mô tả và đối sánh
giữa các mặt cắt hệ tầng với nhau và với các hệ tầng khác có cùng tuổitrong khu vực
Như vậy, xét theo Quy phạm địa tầng Việt Nam (1994) thì hệ tầng Si
Ka (D1 sk) là một phân vị địa tầng có hiệu lực Tuy nhiên, trên thực tế
việc vạch ranh giới giữa hệ tầng Si Ka và hệ tầng Bắc Bun dựa trên đặcđiểm thành phần thạch học ở một số mặt cắt là một việc không đơn giảnnên người ta thường mô tả hai hệ tầng này cùng trong phân vị gọi làLoạt Sông Cầu
Hiện trong khu vực nghiên cứu thì diện phân bố của chúng khákhiêm tốn, mới chỉ xác nhận sự có mặt của các trầm tích này ở vùngĐồng Văn (Hà Giang) và vùng Bản Lầu (Mường Khương, Lào Cai)
Hệ tầng Bắc Bun (D 1 bb)
Theo các tài liệu trích dẫn ở phần trên ta nhận thấy từ khi xác lập tớinay, phân vị này được sử dụng với nội dung và khối lượng tương tựnhư tác giả phân vị đã xác lập
Theo điều 6.13 - Quy phạm địa tầng Việt Nam (1994), ta có thể
xem xét tính hiệu lực của hệ tầng Bắc Bun (D1 bb) như sau:
Trang 37Tên của phân vị: Hệ tầng Bắc Bun - là đầu tiên và duy nhất được
dùng cho đến nay
Tác giả của phân vị: Deprat J., 1915.
Thành phần và khối lượng: gồm đá phiến sét và cát kết, đá phiến
vôi Dày khoảng 300m
Ranh giới của phân vị: Hệ tầng Bắc Bun nằm chuyển tiếp liên tục
trên hệ tầng Si Ka, lấy sự xuất hiện đầu tiên của lớp chứa Tay cuộn
Howittia nakaolingensis làm ranh giới dưới cho hệ tầng Ranh giới trên
là chuyển tiếp lên hệ tầng Mia Lé được tính bằng sự xuất hiện đầu tiên
của Tay cuộn Euryspirifer tonkinensis, nghĩa là dưới lớp chứa Tay cuộn E tonkinensis được coi thuộc hệ tầng Bắc Bun
Tuổi của phân vị: Hệ tầng Bắc Bun được coi có tuổi Praga sớm.
Phức hệ cổ sinh đặc trưng của hệ tầng gồm: Tay cuộn: Howittia nakaolingensis, Hai mảnh vỏ: Sanguinolites nagaolingensis, Goniopora spatulata, Cá cổ: Tongdzuylepis vietnamensis
Mặt cắt chuẩn:Holostratotyp - Mặt cắt Bắc Bun, toạ độ X =
từ Lũng Cú về phía bắc Đồng Văn, bờ trái song Nho Quế
Ở khu vực Lô - Gâm, các trầm tích thuộc hệ tầng Bắc Bun được ghinhận ở vùng bản Lầu, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai; gồm chủ
yếu bột kết màu tím gụ, màu vàng nâu chứa Tay cuộn Howittia sp Bề
dày 120-150m Hệ tầng nằm chuyển tiếp trên hệ tầng Si Ka và dưới hệ
tầng Mia Lé (Theo Nguyễn Hữu Hùng (trong Đặng Trần Huyên và nnk.
2007))
Đối sánh: Các trầm tích thuộc hệ tầng đã được mô tả và đối sánh
giữa các mặt cắt hệ tầng với nhau và với các hệ tầng khác có cùng tuổitrong khu vực
Như vậy, xét theo Quy phạm địa tầng Việt Nam (1994) thì hệ tầngBắc Bun (D1 bb) là một phân vị địa tầng có hiệu lực Tuy nhiên cũng
Trang 38như trên đã nói, việc vạch ranh giới giữa hệ tầng Bắc Bun và hệ tầng Si
Ka nằm dưới dựa trên đặc điểm thành phần thạch học ở một số mặt cắt
là một việc không đơn giản nên người ta thường mô tả hai hệ tầng nàycùng trong phân vị gọi là Loạt Sông Cầu
Cũng như hệ tầng Si Ka, diện phân bố của hệ tầng Bắc Bun ở khuvực nghiên cứu khá khiêm tốn và thường đồng hành với các trầm tíchcủa hệ tầng Si Ka
Hệ tầng Mia Lé (D 1 ml)
Theo các tài liệu trích dẫn ở phần trên ta nhận thấy từ khi xác lập tớinay, phân vị này được sử dụng với nội dung và khối lượng tương tựnhư tác giả phân vị đã xác lập
Theo điều 6.13 - Quy phạm địa tầng Việt Nam (1994), ta có thể
xem xét tính hiệu lực của hệ tầng Mia Lé (D1 ml) như sau:
Tên của phân vị: Hệ tầng Mia Lé - là đầu tiên và duy nhất được
dùng cho đến nay
Tác giả của phân vị: Deprat J., 1915.
Thành phần và khối lượng: Gồm chủ yếu đá phiến sét, đá vôi sét
xen đá phiến sét và ít thấu kính vôi, lớp đá vôi ở phần cao Dày >600m
Ranh giới của phân vị: Hệ tầng Mia Lé nằm chuyển tiếp trên hệ
tầng bắc Bun với ranh giới cổ sinh là sự xuất hiện đầu tiên của hóa
thạch Tay cuộn Euryspirifer tonkinensis và chuyển tiếp liên tục lên các
đá vôi của hệ tầng Nà Quản (hay hệ tầng Si Phai)
Tuổi của phân vị: Tuổi của hệ tầng Mia Lé là Praga muộn - Emsi
sớm được xác định trên cơ sở đối sánh địa tầng với các khu vực lân cận
và các phức hệ hóa thạch đặc trưng: Tay cuộn: Euryspirifer tonkinensis – Dicoelostrophia annamitica; San hô vách đáy: Parastriatopora - Squameofavosites; San hô 4 tia: Calceola sandalina; Trilobita: Proetus indochinensis- Gravicalymene maloungkaensis
Trang 39Mặt cắt chuẩn: Holostratotyp - Mặt cắt Lũng Cú - Ma Lé, đoạn từ
km8 đến đồn Biên Phòng Lũng Cú, vùng Đồng Văn, Hà Giang (X =
23019’15”; Y = 105017’26”)
Sự biến đổi: Hệ tầng Mia Lé phân bố rộng rãi ở Đông Bắc Bộ, trong
các đá của hệ tầng còn được ghi nhận các phức hệ hóa thạch phong phúbậc nhất ở khu vực
Trong đới Tây Việt Bắc, các trầm tích thuộc hệ tầng Mia Lé phân bố
ở khu vực Đồng Văn (Hà Giang) và vùng Bản Lầu (Mường Khương,Lào Cai) Các trầm tích này ở khu vực Lô - Gâm đã được Phạm ĐìnhLong (1968) xếp vào điệp Khe Lau (), Phạm Đình Long (1979) xếp vàođiệp Đại Thị (D1 đt) và mô tả tầng đá phiến chứa Tay cuộn
Euryspirifer tonkinensis nằm trên tầng đá phiến sét - silic Tuy nhiên, các nghiên cứu về sau của Hoàng Quang Chỉ và nnk (2000) và Đặng
Trần Huyên và nnk., (2007) cho rằng có sự nhầm lẫn về trật tự địa tầng
ở đây, các trầm tích chứa Tay cuộn Euryspirifer tonkinensis nằm chuyển tiếp trên bột kết chứa Tay cuộn Howittia của hệ tầng Bắc Bun
và chỉnh hợp dưới đá vôi của hệ tầng Nà Quản Tống Duy Thanh và nnk., (2001, 2005), Đặng Trần Huyên và nnk (2007) cùng nhất trí quan
điểm xếp hai hệ tầng trên là đồng nghĩa với hệ tầng Mia Lé
Đối sánh: Các trầm tích thuộc hệ tầng đã được mô tả và đối sánh
giữa các mặt cắt hệ tầng với nhau và với các hệ tầng khác có cùng tuổitrong khu vực
Như vậy, xét theo Quy phạm địa tầng Việt Nam (1994) thì hệ tầngMia Lé (D1 ml) là một phân vị địa tầng có hiệu lực Tuy nhiên, ranh giới
của hệ tầng này với hệ tầng Bắc Bun nằm dưới lại rất khó xác định đượcbằng đặc điểm thạch học mắt thường mà phải dựa vào đặc điểm cổ sinh
là chính Vậy theo tiêu chuẩn thạch địa tầng thì cần phải xem xét việc cónên xếp chung vào loạt Sông Cầu cùng với hai hệ tầng Si Ka và BắcBun hay không
Hệ tầng Tòng Bá (D 1 tb)
Các trầm tích ở dải Tòng Bá - Bắc Mê là một thể địa chất rất phứctạp, các đá thuộc các phân vị địa tầng này vốn đã nghèo hoá thạch lại bịbiến chất, biến vị, xáo trộn mạnh dẫn đến có nhiều khó khăn và nhầmlẫn trong nghiên cứu địa chất vùng Tòng Bá - Bắc Mê
Trang 40Trước khi được mô tả dưới tên “Loạt Tòng Bá”, các trầm tích này đã
được Deprat J (1915) xếp vào Ordovic - Silur, còn các đá magma được
mô tả là đá xâm nhập bị milonit hoá Bourret R (1922) xếp phần nhiềucác đá trầm tích ở vùng này vào Devon Riêng đá phiến sét đen ở Bắc
Mê được xếp vào Trias, các đá vôi ở Bản Vàn, Lạc Nông được xếp vào
Carbon - Permi Dovjikov A.E và nnk (1965) đã xếp các đá lục
nguyên biến chất vào Proterozoi (tầng Nà Hang), các đá vôi ở BảnMịch - Pắc Xum được xếp vào Cambri muộn và các đá vôi nằm tráikhớp trên nữa là thuộc Devon
Theo điều 6.13 - Quy phạm địa tầng Việt Nam (1994), ta có thể
xem xét tính hiệu lực của hệ tầng Tòng Bá (D1 tb) như sau:
Tên của phân vị: Hệ tầng Tòng Bá
Tác giả của phân vị: Tạ Hoàng Tinh 1971.
Thành phần và khối lượng: Loạt Tòng Bá (D1-2 tb) do Tạ Hoàng
Tinh và nnk (1971) xác lập ở vùng Tòng Bá - Bắc Mê (Hà Giang), bao
gồm các phân vị: Tầng Bắc Mê, điệp Mường Chà, điệp Bản Vàn vàđiệp Cao Vinh chúng nằm trong một phức nếp lõm, có thành phần đábao gồm: Phần dưới (tầng Bắc Mê) là các đá lục nguyên biến chất, cònphần trên (ba điệp còn lại) là một hệ xen kẽ luân phiên giữa đácarbonat và đá lục nguyên carbonat Ngoài ra còn có các đá "phun tràoaxit - kiềm, nguồn gốc trầm tích núi lửa có chứa sắt" cũng được coi làthành phần mặt cắt loạt Tòng Bá
Hoàng Xuân Tình và nnk (1976) mô tả các trầm tích vừa nêu trên dưới tên là hệ tầng Tùng Bá (O-S? tb) và chia chúng thành 5 phụ hệ
tầng Phụ hệ tầng 1 và 2 ứng với tầng Bắc Mê, phụ hệ tầng 3 ứng vớiđiệp Mường Chà, phụ hệ tầng 4 ứng với điệp Bản Vàn, phụ hệ tầng 5
ứng với điệp Cao Vinh của Tạ Hoàng Tinh và nnk (1971) Trong thành
phần của hệ tầng cũng được mô tả cả các đá magma
Trần Văn Trị và nnk (1977) đã xếp các trầm tích ở dải Tòng Bá
-Bắc Mê vào Devon
Vũ Khúc, Bùi Phú Mỹ và nnk (1989) mô tả các trầm tích thuộc dải
Tòng Bá - Bắc Mê vào hệ tầng Pia Phương (S2-D1 pp), có quan hệkhông rõ ràng với hệ tầng Phú Ngữ (O-S pn) và các trầm tích Devon