Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là những phương thức dự phòng, do các bên chủ thể thỏa thuận lựa chọn hoặc phát sinh dựa trên cơ sở do pháp luật quy định để bảo đảm lợi í
Trang 1MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 2
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
I Khái quát chung về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và biện pháp cầm giữa tài sản trong BLDS 2015 2
II Các quy định định trong BLDS 2015 về biện pháp cầm giữ tài sản 3
2.1 Khái niệm cầm giữ tài sản 3
2.2 Đối tượng của biện pháp cầm giữ 4
2.3 Phạm vi áp dụng của cầm giữ tài sản 5
2.4 Căn cứ xác lập của biện pháp cầm giữ tài sản 6
2.4.1 Thời điểm phát sinh cầm giữ tài sản: 6
2.4.2 Thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba: 6
2.5 Quyền và nghĩa vụ của bên cầm giữ 7
2.5.1 Quyền của bên cầm giữ 7
2.5.2 Nghĩa vụ của bên cần giữ 8
2.5.3 Chấm dứt cầm giữ 8
III.Kiến nghị hoàn thiện quy định về cầm giữ tài sản 9
3.1Về đối tượng và phạm vi áp dụng của cầm giữ tài sản 9
3.2 Về thời hạn cầm giữ tài sản 10
3.3 Về cơ chế xử lý tài sản cầm giữ 10
LỜI KẾT 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Pháp luật về giao dịch bảo đảm có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra một hành lang pháp lý an toàn cho hoạt động tín dụng nói chung và sự phát triển của nền kinh tế nói riêng; góp phần không nhỏ vào sự ổn định của các quan hệ dân
sự, kinh tế, hạn chế các tranh chấp phát sinh từ việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ Ở Việt Nam trong những năm qua, pháp luật về giao dịch bảo đảm đã từng bước được hoàn thiện, đáp ứng tốt yêu cầu thực tiễn của đời sống kinh tế - xã hội So với BLDS 2005 thì BLDS
2015 đã có khá nhiều thay đổi trong quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Tuy nhiên, nhìn tổng thể thì sự thay đổi rõ ràng nhất là sự bổ sung một trong hai biện pháp bảo đảm mới, đó là cầm giữ tài sản Bởi vậy em xin
chọn đề tài: “Bình luận và nêu kiến nghị hoàn thiện quy định về cầm giữ tài sản
trong Bộ luật Dân sự năm 2015.”
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Khái quát chung về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và biện pháp cầm giữa tài sản trong BLDS 2015.
Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là sự thỏa thuận của các bên trong việc lựa chọn và áp dụng một hoặc một số biện pháp nhất định nhằm bảo đảm quan
hệ nghĩa vụ mà họ đang tham gia Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là những phương thức dự phòng, do các bên chủ thể thỏa thuận lựa chọn hoặc phát sinh dựa trên cơ sở do pháp luật quy định để bảo đảm lợi ích của bên
có quyền bằng cách cho phép bên có quyền được xử lý những tài sản thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ để khấu trừ giá trị nghĩa vụ trong trường hợp nghĩa vụ
đó bị vi phạm1
1 Võ Thanh Hiền (2017), Cầm giữ tài sản theo quy định của Bộ Luật Dân sự Việt Nam năm 2015, Luận văn Thạc
sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội tr 11.
Trang 3Biện pháp cầm giữ tài sản là một trong hai biện pháp mới được bổ sung trong BLDS 2015, cùng với biện pháp bảo lưu quyền sở hữu Trước đó, biện pháp cầm giữa tài sản xuất hiện tại phần thực hiện hợp đồng dân sự tại Điều 416 BLDS
2005, chứ không được quy định ở Điều 318 về các biện pháp bảo đảm Bởi vậy,
có thể nói BLDS 2015 sau khi sửa đổi, bổ sung đã quy định một cách cụ thể và
rõ ràng đối với biện pháp bảo đảm này
II Các quy định định trong BLDS 2015 về biện pháp cầm giữ tài sản
Cầm giữ tài sản được quy định trong BLDS 2015 từ Điều 346 đến Điều 350
II.1Khái niệm cầm giữ tài sản:
Theo quy định tại Điều 346 BLDS 2015 “Cầm giữ tài sản là việc bên có
quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ” So với BLDS 2005 thì
BLDS 2015 đã có sự thay đổi về cách dùng từ khi quy định về khái niệm cầm
giữa tài sản Điều 346 đã dùng các từ “nắm giữ” và “chiếm giữ” thay cho
“chiếm hữu”, “cầm giữ” như trong BLDS 2005 “Chiếm giữ” và “nắm giữ” là
hai khái niệm mới được đề cập trong BLDS 2015 “Nắm giữ tài sản” là việc trực tiếp giữ và kiểm soát tài sản của người khác theo thỏa thuận, còn “chiếm giữ tài
sản” là việc trực tiếp giữ và kiểm soát tài sản của người khác không phụ thuộc
vào ý chí của chủ sở hữu tài sản nhưng pháp luật cho phép.2
Việc sử dụng cụm từ “không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ” thế cho “không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận”
đã mở rộng phạm vi áp dụng cho cả trường hợp “không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ do pháp luật quy định
2 Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự 2015, NXB Hồng Đức, Hà Nội tr.362
Trang 4II.2Đối tượng của biện pháp cầm giữ:
Với định nghĩa được quy định tại Điều 346 BLDS 2015, ta có thể thấy đối tượng áp dụng của biện pháp cầm giữ này khá rộng, gồm mọi loại tài sản (đối tượng được cầm giữ) như trong quy định Điều 105 BLDS 2015.3 Các loại tài sản được liệt kê trong Điều đó đều có thể trở thành tài sảm bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ Tài sản cầm giữ phải thỏa mãn các điều kiện được quy định tại Điều 295 BLDS về tài sản bảo đảm:
- Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu
- Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được
- Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai
- Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa
vụ được bảo đảm
Như vậy, tài sản cầm giữ theo quy định của BLDS 2015 là động sản hiện có,
có giá trị lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩ vụ được bảo đảm, thuộc sở hữu của bên vi phạm nghĩa vụ hoặc của chủ thể khác và là đối tượng của hợp đồng song vụ
II.3Phạm vi áp dụng của cầm giữ tài sản:
Định nghĩa tại Điều 346 BLDS 2015 cho chúng ta thấy một giới hạn gần như khá rộng cho việc áp dụng biện pháp cầm giữ tài sản, đó là áp dụng kèm với tất
3 Điều 105 Tài sản
1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.
Trang 5cả các hợp đồng song vụ, như là hợp đồng mua bán, trao đổi tài sản, gửi giữ tài
sản, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng dịch vụ…
Nhưng liệu rằng tất cả các hợp đồng song vụ nêu trên đều có thể áp dụng biện pháp cầm giữ không? Xét về mặt pháp lý theo quy định trong Điều 346, điều đó là đúng Vậy trong trường hợp đối tượng hợp đồng song vụ không phải tài sản mà là công việc phải thực hiện thì thế nào? Ví dụ, đối hợp đồng dịch vụ
“Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ” 4 Trong hợp đồng song vụ này, ta có thể thấy bên có quyền không có gì để cầm giữ
So sánh với BLDS Pháp, các điều 1612, 1653, 1749, 1948, 2280 đã quy định
cụ thể những loại hợp đồng song vụ có thể áp dụng biện pháp cầm giữ, bao gồm hợp đồng gửi giữ tài sản, mua bán tài sản, cho thuê tài sản và cả trường hợp giữa hai bên không tồn tại hợp đồng.5 Cầm giữ tài sản có bản chất là biện pháp bảo đảm hình thành từ việc nắm giữ để gây sức ép đối với bên có nghĩa vụ, đây là biện pháp bảo đảm khá hữu hiệu vì nó không những có giá trị đối với bên có nghĩa vụ mà còn phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ 3 (theo quy định tại khoản 2 Điều 347 BLDs 2015).6 Biện pháp bảo đảm này xác lập không cần sự thoả thuận của các bên mà chỉ đơn giản bằng việc nắm giữ tài sản, thậm chí nó được xác lập bất chấp thoả thuận của các bên về việc phải thực hiện nghĩa vụ
4 Điều 513 BLDS 2015
5 Trong luật Pháp, việc cầm giữ phát sinh khi giữa các bên không tồn tại hợp đồng với nhau trong trường hợp xảy
ra tình huống sau: A mua xe của B (B đã ăn trộm từ C) A là người ngay tình (bonne foi) do đã mua xe từ hội chợ chẳng hạn Khi C phát hiện và yêu cầu trả lại xe, A có quyền cầm giữ xe để yêu cầu thanh toán tiền mua xe (với
tư cách là người chiếm hữu ngay tình)( Marie-Noelle JOBARDBACHELLIER, Manuellla BOURASSIN, Vincent BREMOND, Droit des suretés, Sirey, 2007, trang 356) (được trích dẫn bởi Đoàn Thị Phương Diệp,
Hoàng Thị Ngữ, “Các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ mới được ghi nhận trong bộ Luật dân sự năm 2015”)
6 Đoàn Thị Phương Diệp, Hoàng Thị Ngữ, “Các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ mới được ghi nhận trong bộ Luật
dân sự năm 2015”, Tạp Chí Phát Triển Khoa học và Công nghệ, Tập 20, Số Q1 – 2017.
Trang 6Do đó, cần thiết phải giới hạn những loại hợp đồng song vụ phổ biến (như mua bán, trao đổi tài sản, ) để áp dụng biện pháp cầm giữ để tránh tình trạng mất kiểm soát và ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể khác
II.4Căn cứ xác lập của biện pháp cầm giữ tài sản:
II.4.1 Thời điểm phát sinh cầm giữ tài sản:
“Cầm giữ tài sản phát sinh từ thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên
có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.” (Khoản 1 Điều 347 BLDS 2015)
Cầm giữ tài sản về bản chất là một biện pháp gây sức ép với mục đích tự bảo
vệ Tính chất bảo đảm của biện pháp này nằm ở việc nắm giữ tài sản (là nắm giữ tài sản chứ không phải là nắm giữ quyền sở hữu tài sản) Do đó, việc xác lập biện pháp cầm giữ được tiến hành một cách hết sức đơn giản chỉ bằng việc nắm giữ tài sản (không giao tài sản cho bên có nghĩa vụ) Đây là trường hợp duy nhất theo quy định của luật Việt Nam hiện hành mà biện pháp bảo đảm không được xác lập trên cơ sở thoả thuận của các bên (hay hợp đồng) mà được xác lập bằng các quy định của pháp luật
II.4.2 Thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba:
Khi so sánh đối chiếu với nội dung các quy định của BLDS 2005, mặc dù hiệu lực đối kháng với người thứ ba là một khái niệm mới được quy định tại BLDS 2015 nhưng về nộ dung, bản chất thì vấn đề này đã được quy định tại
khoản 3 Điều 323 BLDS 2005: “Trường hợp giao dịch bảo đảm được đăng ký
theo quy định của pháp luật thì giao dịch bảo đảm đó có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký.” Như vậy, hiệu lực đối kháng với người
thứ ba được hiểu đồng nghĩa với “giá trị pháp giá trị pháp lý đối với người thứ
ba”.
Trang 7Còn tại khoản 2 Điều 347 BLDS 2015 nêu rõ: “Cầm giữ tài sản phát sinh
hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên cầm giữ chiếm giữ tài sản” Như vậy, ta hiểu cầm giữ tài sản làm phát sinh hiệu lực đối kháng với bên
thứ ba không phải bằng việc đăng ký giao dịch bảo đảm mà bằng việc nắm giữ tài sản Điều này có nghĩa là bằng các quy định của BLDS 2015, nhà làm luật đã trao cho bên có quyền một quyền quan trọng là nắm giữ tài sản để yêu cầu được thực hiện quyền của mình
2.5 Quyền và nghĩa vụ của bên cầm giữ:
2.5.1 Quyền của bên cầm giữ:
Các quyền của bên cầm giữ được quy định tại điều Điều 348 BLDS 2015
- Yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ
- Yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thanh toán chi phí cần thiết cho việc bảo quản, giữ gìn tài sản cầm giữ
- Được khai thác tài sản cầm giữ để thu hoa lợi, lợi tức nếu được bên có nghĩa vụ đồng ý
Tuy nhiên, bên cầm giữ không có quyền yêu cầu xử lý tài sản cầm giữ để thực hiện quyền của mình Đây chính là điểm làm nên sự khác biệt của cầm giữ
so với các biện pháp bảo đảm khác Bên cầm giữ chỉ có quyền nắm giữ về mặt vật chất đối với tài sản (không giao tài sản) Điều này cũng có nghĩa rằng tính chất bảo đảm còn tồn tại chừng nào tài sản còn nằm trong tay của bên cầm giữ Nếu so sánh với các biện pháp bảo đảm khác như cầm cố, thế chấp thì cầm giữ tài sản tạo ra cho bên cầm giữ một loại “vật quyền hạn chế”, vật quyền hạn chế
Trang 8này chỉ cho phép bên cầm giữ có quyền nắm giữ nhưng không có quyền truy đòi hay đeo đuổi đối với tài sản.7
Điều này dẫn đến hệ quả là nếu tài sản cầm giữ vì lí do nào đó “thoát khỏi” tay của bên cầm giữ và bị các chủ nợ khác mang ra bán, thì bên cầm giữ không thể có quyền ưu tiên trước các chủ nợ khác
2.5.2 Nghĩa vụ của bên cần giữ:
Mặt khác, việc cầm giữ cũng tạo ra khá nhiều các nghĩa vụ đối với bên cầm giữ Các nghĩa vụ đó được quy định tại điều Điều 349 BLDS 2015:
- Giữ gìn, bảo quản tài sản cầm giữ
- Không được thay đổi tình trạng của tài sản cầm giữ
- Không được chuyển giao, sử dụng tài sản cầm giữ nếu không có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ
- Giao lại tài sản cầm giữ khi nghĩa vụ đã được thực hiện
- Bồi thường thiệt hại nếu làm mất hoặc hư hỏng tài sản cầm giữ
Đối với những nghĩa vụ này, bên có quyền rõ ràng sẽ phải thận trọng trong việc quyết định cầm giữ tài sản, đặc biệt là đối với những tài sản dễ hư hỏng, biến chất (như hàng đông lạnh, nông sản…)
2.5.3 Chấm dứt cầm giữ:
Việc cầm giữ tài sản chấm dứt trong những trường hợp được liệt kê tại Điều
350 BLDS 2015 Theo đó, cầm giữ tài sản chấm dứt trong trường hợp sau đây:
- Bên cầm giữ không còn chiếm giữ tài sản trên thực tế
- Các bên thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm khác để thay thế cho cầm giữ
- Nghĩa vụ đã được thực hiện xong
7 Xem chú thích 6
Trang 9- Tài sản cầm giữ không còn.
- Theo thỏa thuận của các bên
Đối chiếu với BLDS 2005 chỉ quy định 3 trường hợp chấm dứt cầm giữ là:
Theo thỏa thuận các bên; Bên cầm giữ vi phạm nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn tài sản cầm giữ; Bên có tài sản bị cầm giữ hoàn thành nghĩa vụ Nhưng trong thực
tiễn lại khác , các trường hợp trên chưa bao quát hết toàn bộ sự việc thực tế Bởi vậy mà BLDS 2015 đã bổ sung thêm 03 trường hợp mới như trong Điều 350 nêu
trên đồng thời loại bỏ trường hợp: “Bên cầm giữ vi phạm nghĩa vụ bảo quản, giữ
gìn tài sản cầm giữ” Từ đây, ta có thể hình dung được qua các phân tích về bản
chất của việc cầm giữ, nếu tài sản không còn trong tay bên cầm giữ thì biện pháp cầm giữ chấm dứt
III Kiến nghị hoàn thiện quy định về cầm giữ tài sản.
III.1 Về đối tượng và phạm vi áp dụng của cầm giữ tài sản:
Quy định pháp luật hiện hành chỉ quy định cầm giữ áp dụng đối với tài sản Còn đối với những hợp đồng song vụ có đối tượng là công việc phải thực hiện
mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì không đặt ra việc cầm giữ tài sản.8 Quy định này đã hạn chế quyền của bên bị
vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ có đối tượng là công việc
Quy định của luật hiện hành thì cầm giữ tài sản áp dụng với đối tượng là tài sản và tài sản này là đối tượng của hợp đồng song vụ Bởi đối tượng của hợp đồng như dịch vụ vận chuyển, gia công hay sửa chữa là công việc chứ không phải tài sản Tài sản trong các hợp đồng này là đối tượng của nghĩa vụ Do đó, luật cần sửa đổi thành “tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ” thành “tài sản
là đối tượng của nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ” Bởi về lý thuyết thì đối
8 Xem chú thích 1
Trang 10tượng của nghĩa vụ và đối tượng của hợp đồng là hai khái niệm độc lập Hai khái niệm này có thể trùng nhau như trong hợp đồng thuê, cho mượn tài sản nhưng đối với các hợp đồng dịch vụ thì đối tượng của nghĩa vụ và đối tượng của hợp đồng là khác nhau9
3.2 Về thời hạn cầm giữ tài sản:
Việc không quy định thời hạn cầm giữ tài sản gây bất lợi cho bên cầm giữ Việc quy định thời hạn cầm giữ giúp bảo đảm tốt hơn lợi ích hợp pháp của bên cầm giữ đồng thời tăng cường trách nhiệm của bên có nghĩa vụ Khi có 1 thời hạn cầm giữ tài sản, trong thời hạn này bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ Nếu hết thời hạn mà bên có nghĩa vụ tiếp tục vi phạm nghĩa vụ thì bên cầm giữ tài sản được tác động vào tài sản cầm giữ để bảo vệ quyền lợi của mình Khi có quy định như vậy, bên có nghĩa vụ không thể không thực hiện nghĩa vụ trong thời gian dài vì khi quá hạn cầm giữ, bên cầm giữ sẽ có biện pháp tác động vào tài sản
3.3 Về cơ chế xử lý tài sản cầm giữ: 10
Trên thực tế, giá trị tài sản cầm giữ không phải lúc nào cũng lớn hơn giá trị nghĩa vụ phải thực hiện mà giá trị của tài sản cũng có thể bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ bảo đảm Việc không quy định về xử lý tài sản cầm giữ là một thiếu sót lớn của BLDS 2015, làm mất đi ý nghĩa của cầm giữ tài sản với vai trò một biện pháp bảo đảm Khi không được xử lý tài sản bảo đảm, bên có quyền chỉ có thể khai thác tài sản để bù trừ nghĩa vụ nếu được bên có nghĩa vụ đồng ý Khi bên có nghĩa vụ không đồng ý thì bên cầm giữ không thể bảo đảm được quyền
và lợi ích hợp pháp của mình Do vậy, BLDS 2015 hoặc các văn bản dưới luật
9 Vũ Thị Hồng Yến (2015), “Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự trong Dự thảo Bộ Luật dân sự
(sửa đổi)”, Nhà nước và pháp luật, (7), tr.21-26.
10 Hoàng Đình Dũng, “Cầm giữ tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015”, đăng ngày 13/04/2020, Tạp chí
điện tử Luật sự Việt Nam, , < https://lsvn.vn/cam-giu-tai-san-theo-quy-dinh-cua-bo-luat-dan-su-2015.html >