• Địa chất môi trường là khoa học địa chất ứng dụng, một cách cụ thể, đó là việc sử dụng các thông tin địa chất để giúp con người giải quyết các xung đột trong sử dụng đất, để giảm th
Trang 1Địa chất môi trường Environmental Geology
Địa chất môi trường Environmental Geology
• Chương 1: Những nhận thức cơ bản
• Chương 2: Các vật liệu và quá trình
trái đất
• Chương 3: Đất và môi trường
• Chương 4: Các tai biến tự nhiên:
tổng quan
• Chương 5: Sông và lũ lụt
• Chương 6: Trượt đất và các hiện
tượng liên quan
Trang 2• Chương 7: Động đất và các hiện
tượng liên quan
• Chương 8: Hoạt động núi lửa
• Chương 9: Các tai biến bờ biển
• Chương 10: Nước: quá trình,
cung cấp, và sử dụng
• Chương 11: Ô nhiễm nước và xử
lý
• Chương 12: Các khía cạnh địa
chất của sức khỏe môi trường
Trang 4• Mọi thứ đều có sự bắt đầu và kết thúc
• Trái đất hình thành cách ngày nay khoảng
4.5 tỉ năm khi đám mây khí giữa các vì
sao hình thành các sao sơ khởi và các hệ thống hành tinh
• Sự sống trên Trái đất bắt đầu khoảng 3 tỉ
năm và từ đó vô số các sinh vật đa dạng
đã xuất hiện, phồn thịnh và biến mất, chỉ
để lại hóa thạch, đánh dấu vị trí của nó
trong lịch sử Trái đất
• Chỉ cách đây vài triệu năm, tổ tiên của
chúng ta ấn định một giai đoạn cho sự
thống trị hiện diện của loài người
Trang 5• Không nghi ngờ gì nữa, mặt trời rồi
Trang 6• Về phương diện địa chất có thể nói
rằng con người tồn tại trong thời gian rất ngắn ngủi
• Ví dụ, Khổng long cai trị đất liền hơn
100 triệu năm
• Chúng ta không biết sự chế ngự của
chúng ta sẽ dài bao lâu, nhưng những
hồ sơ hoá thạch đã thừa nhận rằng tất
cả các loài cuối cùng đều tuyệt chủng
Trang 7• Chúng ta có thể hy vọng rằng loài người
sẽ để lại điều gì đó hơn một số hóa thạch đánh dấu thời gian ngắn trong hồ sơ này khi Homo sapien thịnh vượng
• Với sự tiến hóa, hy vọng rằng loài người
sẽ nhận thức nhiều hơn về môi trường và tìm những cách để sống hài hòa với hành tinh chúng ta.
Trang 8• Địa chất môi trường là khoa học địa
chất ứng dụng, một cách cụ thể, đó
là việc sử dụng các thông tin địa
chất để giúp con người giải quyết
các xung đột trong sử dụng đất, để giảm thiểu sự suy thoái môi trường
và cực đại hóa các kết quả có lợi của việc sử dụng môi trường tự nhiên và
bị biến đổi
Trang 9• Ứng dụng địa chất cho các vấn đề này bao gồm các nghiên cứu sau:
1) Các tai biến tự nhiên (như lũ lụt, trượt
lở đất, động đất, hoạt động núi lửa) để
giảm thiểu sự tổn thất sinh mạng và tài
sản.
• 2) Cảnh quan để lựa chọn các vị trí, qui
hoạch sử dụng đất và phân tích tác động môi trường.
• 3) Các vật liệu Trái đất (như khoáng sản,
đá, đất) để xác định tiềm năng sử dụng
của chúng như các tài nguyên hoặc các vị trí đổ bỏ chất thải và các ảnh hưởng của chúng tới sức khỏe con người.
Trang 10• 4) Các quá trình thủy học của nước ngầm
và nước mặt để đánh giá các tài nguyên
nước và các vấn đề ô nhiễm nước.
• 5) Các quá trình địa chất (như lắng đọng
trầm tích trên đáy đại dương, sự hình
thành núi và di chuyển nước trên và dưới mặt đất) để đánh giá những thay đổi cục
bộ, khu vực và toàn cầu
• Xem xét độ rộng các ứng dụng này, có thể
xác định địa chất môi trường là một nhánh của khoa học Trái đất nghiên cứu toàn bộ phổ tương tác giữa loài người với môi
trường vật lý.
Trang 11• Môi trường là tập hợp tổng thể các hoàn cảnh bao quanh một cá thể hoặc một
cộng đồng Nó bao gồm toàn bộ các điều kiện vật lý như không khí, nước, các khí
và các dạng địa hình ảnh hưởng đến sự
phát triển của một cá thể hoặc một cộng đồng Nó cũng bao gồm các điều kiện xã hội và văn hóa như đạo đức, kinh tế, thẩm
mỹ ảnh hưởng đến hành vi của cá thể
hoặc cộng đồng
• Bởi vậy, giới thiệu về địa chất môi trường phải xem xét không chỉ các quá trình Trái đất, các tài nguyên và cấu trúc trái đất
được các nhà khoa học trái đất mô tả mà còn cả xã hội và văn hóa ảnh hướng đến việc chúng ta nhận thức và phản ứng tới môi trường vật lý như thế nào.
Trang 12• What is Environmental geology?
“Environmental geology is the study of
the interaction between human activity and geological environment It embraces geoscientific advice in planning and
management of the geological
environment It also involves the
prediction and forecasting of hazards
and changes of the environment caused
by human encroachment on geological
processes.”
Committee of the International Union of Geological Science (IUGS)
Trang 131.2 Nhận thức môi trường và văn hóa
1.2 Nhận thức môi trường và văn hóa
• Nhận thức môi trường gồm toàn bộ lối
sống mà chúng ta truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
• Để khám phá căn nguyên của điều kiện
hiện tại, chúng ta phải nhìn về quá khứ
để xem những thể chế văn hoá và xã hội -chính trị, kinh tế, đạo đức, tôn giáo và thẩm mỹ-ảnh hưởng đến cách mà con
người nhận thức và phản hồi tới môi
trường vật lý như thế nào.
Trang 14• Để giải quyết các vấn đề môi trường như
dân số quá đông, đổ bỏ chất thải độc hại, nóng lên toàn cầu, và cạn kiệt tài nguyên chúng ta phải nhìn về tương lai
• Nếu thể chế xã hội góp phần vào các giải
pháp, những thay đổi cơ bản mà xã hội
hoạt động cả mức cá nhân và tổ chức sẽ
là cần thiết Độ lớn của điều chỉnh này có thể so sánh với độ lớn của cuộc Cách
mạng Công nghiệp đã làm thay đổi mối
quan hệ giữa con người và môi trường
bằng việc đem lại những nhu cầu liên tục gia tăng về tài nguyên và thải ra các khối lượng liên tục gia tăng chất thải độc hại vào môi trường.
Trang 15• Những quan tâm môi trường toàn cầu
hiện tại là các vấn đề chính trị hệ trọng,
đòi hỏi những cố gắng hợp tác từ cả các
nước công nghiệp và phát triển
• Ví dụ, chúng ta không thể mong đợi các
Quốc gia Nam Mỹ quản lý rừng mưa nhiệt đới tốt hơn nếu nước Mỹ và các nước công nghiệp khác áp đặt sức ép kinh tế nặng
nề tới các nước Nam Mỹ xuất khẩu khối
lượng lớn tài nguyên
Trang 16• Làm sao chúng ta có thể mong đợi các
nước nghèo, nước phát triển tôn trọng
môi trường khi các nước công nghiệp giầu
có không muốn làm điều này?
• Cũng rất may, sự quan tâm của mọi người
về môi trường đang gia tăng; nếu đúng
vậy chúng ta sẽ quan sát sự tiến triển
thực tế trong việc tìm kiếm các giải pháp chính trị cho các vấn đề môi trường.
Trang 171.3 Đạo đức môi trường 1.3 Đạo đức môi trường
• Năm 1963 Stewart Udal công bố The
Quiet Crisis, hầu hết mọi người không
nhận thấy rằng sự cạn kiệt tài nguyên và suy thoái môi trường đã là các vấn đề.
• Ngày nay chúng ta đã nhận thức sâu sắc
điều mà Udal gọi là “khủng hoảng sự tồn tại” Ý thức môi trường đang làm thay đổi các cách sống, thể chế và đạo đức chúng
ta
Trang 18• Tiếp cận đạo đức môi trường là sự phát
triển mới nhất trong lịch sử lâu dài của sự tiến hóa đạo đức loài người
• Đạo đức môi trường (gồm đạo đức sinh
thái và đất) bao gồm phạm vi tự do hoạt động của xã hội cũng như cá nhân đấu
tranh để tồn tại trong môi trường đầy sức
ép
• Đạo đức đất đai cho rằng chúng ta có
trách nhiệm không chỉ đối với xã hội và
các cá nhân khác mà còn đối với toàn thể môi trường, đó là quần hợp lớn hơn bao
gồm động vật, thực vật, đất, khí quyển
Trang 19• Theo đạo đức này, chúng ta là những
công dân và những người bảo vệ đất đai,
mà không là những người chiếm cứ nó
Sự thay đổi vai trò này đòi hỏi chúng ta
tôn trọng và yêu đất đai của chúng ta hơn
là cho phép nền kinh tế định đoạt mọi sử dụng đất.
Trang 20• Nhận thức môi trường đang gia tăng
nhanh chóng và chúng ta hiểu các vấn đề môi trường hơn bao giờ hết ở qui mô địa phương, vùng, và toàn cầu
• Điều này làm cho phạm vi đạo đức môi
trường thành chủ đề quan tâm nổi bật
Các chủ đề quan trọng trong lĩnh vực này bao gồm các lý do đạo đức cho việc ra
quyết định, sự mâu thuẫn chủng tộc về
môi trường (E racism) và công lý xã hội, giá trị cảnh quan, quyền của các vật vô tri
vô giác, và bổn phận của chúng ta đối với các thế hệ tương lai
Trang 21• Nếu sự phản hồi các vấn đề môi trường
của chúng ta được dựa vào cả kiến thức khoa học và các nhận thức mới về mối
quan hệ họ hàng với Trái đất, chúng ta có thể phát triển các chính sách có những
hiệu quả lợi ích sâu sắc cho chính chúng
ta và phần còn lại của thế giới tự nhiên.
Trang 221.4 Khủng hoảng môi trường
1.4 Khủng hoảng môi trường
• Những nhu cầu đã được tạo ra trong việc
giảm thiểu tài nguyên do dân số gia tăng, cùng với lượng thải của con người liên tục gia tăng, đã tạo ra khủng hoảng môi
trường
• Cuộc khủng hoảng là kết quả của dân số
quá mức, đô thị hóa, và công nghiệp hóa, kết hợp với sự quan tâm đạo đức rất ít về đất đai và những thể chế không thích hợp
để đối phó với sức ép môi trường.
Trang 23• Ngày nay cuộc tấn công vào tài nguyên
tiếp tục ở qui mô toàn cầu:
• 1) Hoang mạc hóa và xói mòn đất đi kèm,
ô nhiễm nước và không khí xuất hiện trên nhiều lục địa.
• 2) Khai thác tài nguyên như kim loại,
than, dầu mỏ ở bất kỳ nơi nào mà chúng xuất hiện gây ra các vấn đề môi trường
khác nhau.
• 3) Sự khai thác nước ngầm và nước mặt
đưa đến sự mất mát và phá hủy nhiều
môi trường ở qui mô toàn cầu.
Trang 24• Chúng ta học được nhiều từ khủng hoảng
môi trường Chúng ta biết nhiều mối quan
hệ của suy thoái môi trường tới việc sử
dụng tài nguyên,
• Nhiều kế hoạch có tính đổi mới đã và đang
được phát triển tốt để giảm bớt hoặc loại
bỏ các vấn đề môi trường; và chúng ta
đang tạo ra các tiến trình thực sự, nhất là trong các nước phát triển, trong việc giảm nhiều vấn đề môi trường như ô nhiễm
nước, và quản lý chất thải độc hại.
Trang 25• Vì sự suy thoái môi trường vượt qua cả hệ
thống chính trị và tín ngưỡng tôn giáo,
chúng ta phải nhìn xa hơn cho các nguyên nhân chính của điều kiện hiện tại
• Những giải thích thỏa đáng hơn cho là các
vấn đề môi trường là kết quả tự nhiên của phát minh nhân loại và rằng chúng bắt
đầu khi lần đầu tiên loài người sử dụng
các công cụ để cải thiện sự sống của họ
• Mỗi sự đổi mới đã mở rộng vị trí thích hợp
của Homo sapient trong một thế giới khắt khe và đảm bảo rằng mọi người theo sau
có thời gian dễ dàng hơn
Trang 26• Kiểu phát triển xã hội đã xuất hiện trong
đó sự đổi mới đã dẫn đến dân số lớn hơn, tạo ra các nhu cầu lớn hơn về tài nguyên
và cũng đòi hỏi thêm sự đổi mới
• Đường xoắn ốc này tiếp tục tới hiện tại,
khi đó có các dấu hiệu rằng chúng ta
đang trong tiến trình va chạm với môi
trường của chúng ta.
Trang 271.6 Các khái niệm cơ bản của khoa học MT
1.6 Các khái niệm cơ bản của khoa học MT
• Khái niệm 1: Gia tăng dân số
• Vấn đề môi trường số 1 là sự gia tăng dân số.
• Nhà sinh thái học nhân văn nổi tiếng
Garrett Hardin phát biểu rằng tác động
môi trường tổng thể của dân số bằng tích mỗi người tác động nhân với dân số
• Bởi vậy khi dân số gia tăng thì tác động
tổng thể cũng phải gia tăng
• Khi dân số gia tăng cần nhiều tài nguyên
hơn và, căn cứ vào các công nghệ hiện có của chúng ta, kết quả phá hủy môi trường lớn hơn
Trang 28• Vì sự dân số thế giới gia tăng theo luật số
mũ nên nhiều nhà khoa học nhận định
rằng sẽ không có khả năng cung cấp tài nguyên và môi trường chất lượng cao cho nhiều tỷ người vào thế kỷ 21
• Dân số gia tăng ở qui mô địa phương, khu
vực và toàn cầu làm hầu hết các vấn đề
môi trường địa chất tồi tệ thêm, bao gồm
ô nhiễm nước ngầm và nước mặt, sản
xuất và quản lý chất thải độc hại; đặt con người và các cấu trúc nhân sinh vào các quá trình tự nhiên (tai biến) như lũ lụt,
trượt đất, phún xuất núi lửa, và động đất
Trang 29• Một số nghiên cứu cho rằng dân số hiện
tại cũng đã quá sức mang dễ chịu cho
hành tinh này (số người cực đại mà Trái
đất có thể giữ mà không gây suy thoái
môi trường)
• Vai trò của giáo dục là tối cao trong vấn
đề dân số Khi mọi người (nhất là phụ nữ) được giáo dục nhiều hơn, tốc độ tăng dân
số có xu hướng giảm Khi tỷ lệ biết chữ
gia tăng, sự gia tăng dân số được giảm
xuống
• Dựa vào sự khác nhau của các nền văn
hóa, các giá trị, và các qui tắc trong thế
giới ngày nay, hy vọng lớn nhất của chúng
ta để kiểm soát dân số là thực tế thông
qua giáo dục
Trang 30Khái niệm 2: Tính bền vững
Khái niệm 2: Tính bền vững
• Tính bền vững là mục tiêu của môi
trường.
• Không nghi ngờ gì nữa rằng chúng ta
đang dùng tài nguyên môi trường sống
như rừng, cá, và sự sống hoang dã nhanh hơn tài nguyên được bổ sung một cách tự nhiên Chúng ta khai thác khoáng sản,
dầu mỏ và nước ngầm mà không quan
tâm đầy đủ về những giới hạn của chúng hoặc về khả năng phục hồi của chúng Kết quả là có những thiếu hụt một số tài
nguyên
Trang 31• Chúng ta phải học cách duy trì tài nguyên
môi trường của chúng ta đế chúng tiếp
tục cung cấp các lợi ích cho mọi người và những cơ thể sống khác trên hành tinh
này.
• Tính bền vững là gì ? Một số người định
nghĩa đó là sự đảm bảo cho các thế hệ
tương lai có cơ hội công bằng đối với các tài nguyên mà hành tinh chúng ta cung
cấp Những người khác cho rằng tính bền vững ám chỉ các kiểu phát triển có thể
thực hiện về mặt kinh tế và xã hội mà
không làm tổn hại môi trường
Trang 32• Tính bền vững gắn liền với kinh tế toàn
cầu bền vững với các thuộc tính sau:
• 1) Con người và các cơ thể sống khác hài
hòa với các hệ thống trợ giúp tự nhiên
như không khí, nước và đất (bao gồm các
hệ sinh thái).
• 2) Chính sách năng lượng không làm ô
nhiễm khí quyển, gây ra những trạng thái
lo lắng về khí hậu như nóng lên toàn cầu hoặc những rủi ro không thể chấp nhận
được hiện nay (các quyết định chính trị
hoặc xã hội)
Trang 33• 3) Kế hoạch sử dụng các tài nguyên có
thể phục hồi như nước, rừng, đồng cỏ, đất nông nghiệp và ngư trường không làm
cạn kiệt các tài nguyên hoặc phá hủy các
hệ sinh thái.
• 4) Kế hoặch sử dụng các tài nguyên
không thể phục hồi không gây tổn hại môi trường toàn cầu và cung cấp đầy đủ cho
một phần tài nguyên không tái tạo của
chúng ta sẵn có cho các thế hệ tương lai.
• 5) Hệ thống xã hội, luật pháp và chính trị
dành cho kinh tế toàn cầu bền vững về
mặt xã hội để tạo ra nền kinh tế như thế.
Trang 34• Để đạt được nền kinh tế toàn cầu bền
vững cần thiết:
• 1) Phát triển chiến lược kiểm soát dân số
hiệu quả Điều này đòi hỏi giáo dục đáng
kể con người trong các nước phát triển, vì biết chữ và gia tăng dân số có quan hệ
nghịch.
• 2) Tái cấu trúc đầy đủ các chương trình
năng lượng Có ý kiến cho rằng nền kinh
tế toàn cầu bền vững là không thể nếu nó dựa trên việc sử dụng năng lượng hóa
thạch Kế hoạch năng lượng mới phải cân nhắc khái niệm chính sách năng lượng
dựa nhiều hơn vào nguồn năng lượng tái tạo (mặt trời, gió)
Trang 35• 3) xây dựng kế hoặch kinh tế, bao gồm phát triển cấu trúc thuế khuyến khích
kiểm soát dân số và sử dụng thông minh tài nguyên Trợ giúp tài chính cho các
nước phát triển cũng cần thiết.
• Xây dựng những thay đổi xã hội, luật
pháp, chính trị, và giáo dục với mục đích duy trì môi trường địa phương, vùng và toàn cầu chất lượng Đây là lời cam kết nghiêm túc mà mọi người trên thế giới hợp tác để đạt được.
Trang 36Khái niệm 3: Các hệ thống
Khái niệm 3: Các hệ thống
• Hiểu các hệ thống của TĐ và những thay đổi của chúng là then chốt để giải quyết các vấn đề MT Trái đất là một hệ thống
mở về năng lượng, nhưng về cơ bản là
một hệ thống đóng về vật liệu.
• Hệ thống là mọi phần xác định của vũ trụ
mà chúng ta lựa chọn để nghiên cứu Các
ví dụ về hệ thống là hành tinh, núi lửa,
bồn đại dương, hoặc sông suối Hầu hết các hệ thống chứa những bộ phận cấu
thành điều chỉnh lẫn nhau, cho nên
những thay đổi trong một bộ phận sẽ gây
ra những thay đổi trong bộ phận khác.
Trang 37• Trái đất là một hệ thống Trái đất có thể
được xem là một hệ thống gồm 4 bộ
phận: khí quyển (không khí); thủy quyển (nước); sinh quyển (sự sống) và thạch
quyển (đá, đất) Sự tương tác lẫn nhau
của các bộ phận này là nguyên nhân gây
ra những nét đặc trưng bề mặt của Trái đất ngày nay Mọi sự thay đổi về cường
độ hoặc tần số của các quá trình trong
mỗi bộ phận sẽ gây ra những thay đổi
trong các bộ phận khác.
Trang 38• Trái đất không phải là hệ thống tĩnh; nó là
hệ thống động lực, tiến hóa trong đó vật liệu và năng lượng thay đổi liên tục Động lực như thế thừa nhận rằng Trái đất là hệ thống mở, đó là một hệ thống trao đổi
năng lượng với môi trường xung quanh
Điều này thực sự đúng đối với năng
lượng, vì Trái đất nhận năng lượng từ mặt trời và bức xạ năng lượng trở lại không
gian.
Trang 39• Cũng có những thay đổi vật chất chút ít
giữa Trái đất và môi trường xung quanh Các thiên thạch rơi xuống trái đất và một lượng nhỏ vật liệu mặt đất thoát vào
không gian dưới dạng khí Tuy vậy, hầu
hết vật liệu Trái đất tái sinh liên tục trong
hệ thống này
• Khi chúng ta xem xét các chu kỳ tự nhiên
như chu kỳ nước và đá chúng ta có thể
hiểu sâu hơn Trái đất như là hệ thống
đóng hoặc, chính xác hơn, một sự liên kết của nhiều hệ thống đóng Trận mưa hôm nay cuối cùng cũng trở lại khí quyển, và trầm tích lắng đọng ngày hôn qua sẽ biến thành đá cứng.
Trang 40• Feedback: là sự phản ứng hệ thống nơi
mà nguồn ra (một điều gì đó xảy ra) của
hệ thống là nguồn vào (quay trở lại hệ thống) gây ra sự biến đổi Có hai kiểu
phản hồi trong hệ thống, gọi là âm và
dương