1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Tiểu luận môn Kiểm toán căn bản “Sự hình thành và phát triển của Kiểm Toán” pdf

46 2,5K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự hình thành và phát triển của Kiểm Toán
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn Ths Nguyễn Thị Hồng Minh
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kiểm toán
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 326,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, chức năng, nhiệm vụ của KTNN là: - Thực hiện việc kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của các tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan nhà nước, các

Trang 1

LUẬN VĂN

Sự hình thành và phát triển của

Kiểm Toán

Trang 2

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán đã trở thành nhucầu tất yếu đối với hoạt động kinh doanh và nâng cao hiệu quả quản lý củacác Doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh và hội nhập.

Kiểm toán nói chung cũng như kiểm tra kế toán nói riêng đã đượcquan tâm ngay từ thời kì bắt đầu xây dựng đất nước Trong cơ chế kế hoạchhóa tập trung công tác kiểm tra và bộ máy kiểm tra cũng được tổ chức phùhợp với cơ chế này, kiểm tra của nhà nước chủ yếu thông qua xét duyệt hoànthành kế hoạch, xét duyệt quyết toán và thanh tra các vụ việc Khi chuyểnsang cơ chế thị trường, cơ chế duyệt quyết toán tỏ ra không phù hợp

Sự chuyển đổi này có rất nhiều vấn đề bức xúc cần phải giải quyết về mặt líluận và thực tiễn, từ quản lí vĩ mô đến quản lí vi mô của nền kinh tế Mộttrong những vấn đề cấp bách đó là: phải đảm bảo các thông tin kinh tế qualại trong các mối quan hệ kinh tế giữa các pháp nhân, thể nhân, trong hoạtđộng quản lí vĩ mô và vi mô của Nhà nước về các hoạt động kinh tế xã hộiphải đáng tin cậy, phải có sự đảm bảo về mặt pháp lí và kinh tế đối với độtin cậy các thông tin đó Đây chính là vấn đề then chốt nhất để hạn chế cácmặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường Để giải quyết vấn đề này, đồng thờivới việc chuyển đổi cơ chế quản lí của Nhà nước trong nền kinh tế thịtrường, hệ thống bộ máy tổ chức kiểm toán Việt Nam đã ra đời

Để làm rõ những vấn đề nêu ra ở trên ta đi tìm hiểu “Sự hình thành vàphát triển của Kiểm Toán”

Trang 3

Tổng Quát Về Kiểm Toán

I Bản chất, chức năng, ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán

1 Bản chất của kiểm toán

Kiểm toán có nguồn gốc từ La Tinh “Audire” nghĩa la “nghe” Hìnhthức ban đầu của kiểm toán cổ điển là việc thực hiện kiểm tra bằng cáchngười đọc báo cáo đọc to lên cho bên độc lập nghe và chấp nhận Thuậtngữ “Kiểm Toán” thực ra mới xuất hiện ở Việt Nam từ những năm đầucủa thập kỷ 90 Khái niệm Kiểm toán hiện nay vẫn chưa có sự thống nhấtgiữa các quốc gia, sau đây là một số khái niệm:

Ở Anh người ta khái niệm “Kiểm Toán là sự kiểm tra độc lập và là sựbày tỏ ý kiến về những Báo cáo tài chính của một xí ngiệp do các kiểmtoán viên bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất cứnghĩa vụ pháp lý nào có liên quan”

Ở Mỹ các chuyên gia Kiểm Toán khái niệm “Kiểm Toán là một quátrình mà qua đó một người độc lập có nghĩa vụ tập hợp và đánh giá vềthông tin có thể lượng hóa có lien quan đến một thực thể kinh tế riêngbiệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin

có thể lượng hóa với những tiêu chuẩn đã được thiết lập”

Tại Cộng Hòa Pháp người ta có khái niệm “ Kiểm Toán là việc nghiêncứu và kiểm tra tài khoản niên độ của một tổ chức do người độc lập, đủdanh nghĩa gọi là Kiểm Toán viên tiến hành để khẳng định những tàikhoản đó phản ánh đúng đắn về tình hình tài chính thực tế, không chegiấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức luật định”.Nói tóm lại bao hàn 5 yếu tố cơ bản sau:

1 Bản chất của Kiểm toán là việc xác minh và bày tỏ ý kiến Đây làyếu tố cơ bản chi phối cả quá trình Kiểm toán và bộ máy kiểm toán

Trang 4

2 Đối tượng trực tiếp của Báo cáo Kiểm toán là báo cáo tài chính củamột tổ chức hay thực thể kinh tế Thông thường Báo cáo tài chính là cácBCĐKT, BCKQKD và BCLCTT,….

3 Khách thể của Kiểm toán được xác đinh là các thực thể kinh tế haymột tổ chức

4 Người thực hiện Kiểm toán là những KTV Độc lập với khách thểKiểm Toán có nghiệp vụ chuyên môn và được cơ quan có thẩm quyềnchứng nhận

5 Cơ sở để thực hiện Kiểm Toán là những luật định, tiêu chuẩn haychuẩn mực chung

Tuy nhiên những quan điểm này chỉ mới nhìn nhận trên giác độ Kiểmtoán tài chính với đối tượng chủ yếu là các BCTC do KTV độc lập tiếnhành trên các cơ sở chuẩn mực chung

Một số quan điểm khác cho rằng: “ Kiểm toán đồng nghĩa với việckiểm tra kế toán, nó thực hiện chức năng rà soát thông tin và chứng từ kếtoán đến việc tổng hợp Cân đối kế toán Đây là quan điểm mang tính chấttruyền thống trong điều kiện kiểm tra chưa phát triển và trong cơ chế kếhoạch hóa tập trung Trong nền kinh tế thị trường, người quan tâm đếnthông tin kế toán không chỉ có nhà nước mà còn có các nhà đầu tư, nhàquản lý, khách hàng và người lao động Vì vậy công tác kiểm tra kế toáncần được thực hiện rộng rãi đa dạng, song lại phải khách quan và trungthực, đủ sức thuyết phục và tạo long tin cho người quan tâm Trong điềukiện đó việc tách chức năng kiểm toán ra hoạt động độc lập là một xuhướng tất yếu của lịch sử

Kiểm toán là quá trình xác minh và bày tỏ ý kiến và thực trạnghoạt động được kiểm toán bằng các phương pháp kỹ thuật của kiểm toán

Trang 5

chứng từ và ngoài chứng từ do các KTV có trình độ nghiệp vụ tươngxứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực.

2 Chức năng của kiểm toán:

Từ bản chất của kiểm toán có thể thấy kiểm toán có chức năng cơ bản là xácminh và bày tỏ ý kiến

2.1 Chức năng xác minh:

Chức năng xác minh nhằm khẳng định mức độ trung thực của tài liệu,tính pháp lí của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các báo cáo tàichính Xác minh là chức năng cơ bản nhất gắn liền với sự ra đời, tồn tại vàphát triển của hoạt động kiểm toán Bản thân chức năng này không ngừngphát triển và được thể hiện khác nhau tuỳ đối tượng cụ thể của kiểm toán.Đối với kiểm toán báo cáo tài chính, việc xác minh được thực hiện theo 2mặt:

- Tính trung thực của các con số

- Tính hợp thức của các biểu mẫu phản ánh tình hình tài chính

Đối với các thông tin đã được lượng hoá: Thông thường, việc xác minh đượcthực hiện trước hết qua hệ thống kiểm soát nội bộ Kết quả cuối cùng khi đãxác minh được điều chỉnh trực tiếp để có hệ thống thông tin tin cậy và lậpcác bảng khai tài chính Theo đó, kiểm toán trước hết là xác minh thông tin Đối với các nghiệp vụ (hoạt động), chức năng xác minh của kiểm toán có thểđược thực hiện bởi hệ thống ngoại kiểm hay nội kiểm Sản phẩm của hoạtđộng xác minh này thường là những biên bản Ở lĩnh vực này, kiểm toánhướng vào việc thực hiện chức năng thứ hai là bày tỏ ý kiến

2.2 Chức năng bày tỏ ý kiến

Bày tỏ ý kiến là đưa ra ý kiến nhận xét của kiểm toán viên về tínhtrung thực, mức độ hợp lí của các thông tin tài chính kế toán Chức năng bày

Trang 6

tỏ ý kiến có thể được hiểu rộng với ý nghĩa cả kết luận về chất lượng thôngtin và cả pháp lí, tư vấn qua xác minh:

- Tư vấn cho quản lí nhà nước trong việc phát hiện sự bất cập của chế

độ tài chính kế toán, qua đó kiến nghị với các cơ quan quản lí nhànước xem xét, nghiên cứu, hoàn thiện cho phù hợp

- Tư vấn cho việc quản lí của các đơn vị được kiểm toán Thông quaviệc chỉ ra những sai sót, yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ,công tác quản lí tài chính, kiểm toán viên gợi mở, đề xuất các biệnpháp khắc phục hoàn thiện đối với đơn vị Trong nhiều trường hợp,thông qua kiểm toán, các tổ chức đơn vị doanh nghiệp đã kịp thờichấn chỉnh hệ thống kiểm soát nội bộ, chế độ quản lí tài chính ở đơn

vị mình Qua đó khai thác có hiệu quả hơn năng lực tài chính pháttriển đơn vị

3.Ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán trong quản lí:

Kiểm toán không phải là hoạt động “tự thân” và “vị thân” Kiểm toánsinh ra từ yêu cầu của quản lí và phục vụ cho yêu cầu của quản lí Từ đó cóthể thấy rõ ý nghĩa, tác dụng của kiểm toán trên nhiều mặt:

Thứ nhất, kiểm toán tạo niềm tin cho “những người quan tâm” Trong

cơ chế thị trường, có nhiều người quan tâm tới tình hình tài chính và sự phảnánh của nó trong tài liệu kế toán, bao gồm:

- Các cơ quan nhà nước

Trang 7

Có thể nói việc tạo ra niểm tin cho những người quan tâm là yếu tố quyếtđịnh sự ra đời và phát triển của kiểm toán với tư cách là một hoạt động độclập

Thứ hai, kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếphoạt động tài chính kế toán nói riêng và hoạt động của đơn vị kiểm toán nóichung Mọi hoạt động, đặc biệt là hoạt động tài chính, đều bao gồm nhữngmối quan hệ đa dạng, luôn biến đổi và được cấu thành bởi hàng loạt nghiệp

vụ cụ thể Tính phức tạp của hoạt động này càng tăng lên bởi quan hệ chặtchẽ giữa các quan hệ tài chính với lợi ích con người Trong khi đó, thông tin

kế toán là sự phản ánh của hoạt động tài chính Ngoài việc chứa đựng nhữngphức tạp của các quan hệ tài chính, thông tin kế toán còn là sản phẩm củaquá trình xử lí thông tin bằng phương pháp kĩ thuật rất đặc thù Do đó, nhucầu hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếp trong quản lí tài chính càng cóđòi hỏi thường xuyên và ở mức độ cao hơn

Thứ ba, kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lí Kiểmtoán không chỉ xác minh rõ độ tin cậy của thông tin mà còn tư vấn về quản

lí Vai trò tư vấn này được thấy rõ trong kiểm toán hiệu năng và hiệu quảquản lí

II Phân loại kiểm toán theo hệ thống bộ máy tổ chức

1 Kiểm toán nhà nước ( KTNN )

KTNN là hệ thống bộ máy chuyên môn của nhà nước thực hiện các chứcnăng kiểm toán tài sản công Theo đó, chức năng, nhiệm vụ của KTNN là:

- Thực hiện việc kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của các tài liệu,

số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan nhà nước, các đơn vị sựnghiệp, các đơn vị kinh tế nhà nước và các đoàn thể, các tổ chức xã hội có

sử dụng kinh phí do ngân sách cấp

Trang 8

- Tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm toán đã được thủ tướngchính phủ phê duyệt và những nhiệm vụ kiểm toán đột xuất do thủ tướngchính phủ giao, báo cáo kết quả kiểm toán cho thủ tướng chính phủ, quốchội và uỷ ban thường vụ quốc hội, cho các cơ quan nhà nước khác theo quyđịnh của chính phủ

- Thông qua việc kiểm toán, thực hiện công tác tư vấn, góp ý kiến với cácđơn vị được kiểm toán sửa chữa, khắc phục sai sót, vi phạm, chấn chỉnhcông tác kế toán của đơn vị để đảm bảo chỉ tiêu tiết kiệm và hiệu quả nhất.Đồng thời đề xuất với thủ tướng chính phủ việc sửa đổi, cải tiến cơ chế quản

lí tài chính kế toán cần thiết

2 Kiểm toán độc lập ( KTĐL )

KTĐL là quá trình kiểm tra các số liệu, tài liệu của các doanh nghiệp(DN) do các kiểm toán viên độc lập thực hiện để xác nhận tính trung thực,hợp lí của các báo cáo tài chính và cung cấp kết quả kiểm toán cho nhữngngười trả phí kiểm toán

Các số liệu, tài liệu kế toán và báo cáo quyết toán của đơn vị đã đượckiểm tra, xác nhận của KTĐL là căn cứ tin cậy đáp ứng yêu cầu của đơn vị,của các cơ quan quản lí nhà nước và của tất cả các tổ chức, cá nhân có quan

hệ và quan tâm tới hoạt động của đơn vị Ngoài chức năng chính là kiểm traxác nhận tính trung thực, hợp lí của các thông tin trong BCTC, các tổ chứcKTĐL còn được thực hiện các chức năng như:

- Giám định tài chính kế toán

- Thực hiện các dịch vụ tư vấn về quản lí tài chính kế toán, thuế

- Xác định giá trị vốn của DN trong các trường hợp góp vốn liên doanh, cổphần hoá, phá sản

Trang 9

3 Kiểm toán nội bộ (KTNB)

KTNB là một tổ chức kiểm toán do các đơn vị tổ chức (Bộ, ngành,đơn vị, tổ chức, DN ) tự lập ra trong bộ máy quản lí của mình nhằm mụcđích phục vụ cho các yêu cầu quản lí, điều hành của các nhà quản lí của đơn

vị

Nhiệm vụ của KTNB:

- Quản lí và bảo vệ tài sản của đơn vị

- Rà soát lại hệ thống kế toán và các quy chế kiểm soát nội bộ có liên quan

và hoàn thiện hệ thống này

- Kiểm tra, thẩm định tính xác thực của các thông tin tài chính mà các bộphận hữu quan đã cung cấp cho các nhà quản lí

- Tuỳ theo yêu cầu của người lãnh đạo, KTNB sẽ thực hiện việc kiểm toántuân thủ, kiểm toán hoạt động hay kiểm toán tài chính

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KIỂM

TOÁN TRÊN THẾ GIỚI

Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, kiểm toán ra đời vàođầu thế kỷ thứ III TCN, gắn liền với nền văn minh của Ai Cập và La Mã cổđại

Ở thời kỳ đầu kiểm toán chỉ hình thành ở mức độ sơ khai với tên gọi

là kiểm toán cổ điển Biểu hiện của kiểm toán cổ điển là những người làmcông việc ghi chép kế toán đọc to lên những số liệu, tài liệu kế toán cho mộtbên độc lập nghe và sau đó chứng thực

Cùng với sự phát triển của xã hội và sự phát triển của kế toán là sựphát triển không ngừng của công cụ kiểm soát về kế toán Ở đâu có hoạt

Trang 10

động của con người ở đó có hoạt động kiểm tra, kiểm soát, ở đâu có kế toánthì ở đó có kiểm tra kiểm toán.

Kiểm tra kế toán phát triển từ thấp lên cao, khi xã hội phát triển xuấthiện của cải dư thừa, hoạt động kế toán ngày càng được mở rộng và ngàymột phức tạp thì kiểm tra, kiểm soát về kế toán và tài chính ngày càng đượcquan tâm với mức độ cao

Từ thời kỳ cổ đại, kế toán được thực hiện chủ yếu bằng những dấuhiệu riêng trên các sợi dây, than cây, lá cây Hình thức này phù hợp với giaiđoạn đầu của thời kỳ cổ đại do xã hội còn chưa có của cải dư thừa, nhu cầukiểm tra của quản lý còn ít và ở mức độ đơn giản

Đến cuối thời kỳ cổ đại, sản xuất đã phát triển, của cải dư thừa ngàycàng nhiều, người sở hữu và người quản lý tài sản tách rời nhau Nhu cầukiểm tra tài sản và các khoản thu, chi ngày càng phức tạp, hình thức kế toánđơn giản không đáp ứng được nhu cầu quản lý Vì vậy kiểm tr addoocj lập

đã phát sinh trước hết ở La Mã, pháp và Anh

Ở La Mã, vào thế kỷ III TCN, các nhà cầm quyền đã tuyể dụng cácquan chức có chuyên môn và độc lập để kiểm tra các báo cáo của ngời quản

lý về tình hình tài sản của họ và đưa ra ý kiến chấp nhận hoặc yêu cầu sửađổi các báo cáo này Hình thức kiểm tra được thực hiện bằng cách ngườiquản lý đọc to các báo cáo cho người kiểm tra dộc lập nghe rồi chấp nhận

Ở Pháp, vua Charlemagne cũng theo tiền lệ của La Mã đã tuyển dụngcác quan chức cao cấp phụ trách giám sát công việc quản lý, đặc biệt là cácnghiệp vụ tài chính của các quan chức địa phương và trình bày lại kết quảvới Hoàng đế hoặc các vị cận thần

Ở Anh, theo văn kiện của Nghị viện, vua Edouard đệ nhất cho cácNam tước quyền tuyển dụng kiểm toán viên, bản thân vua cũng cho đốichiếu lại các tài khoản thuộc di chúc của cố Hoàng hậu Elonor của Ngài

Trang 11

Từ thời Trung đại trở đi, đã có sự hoàn thiện và phát triển dần của kếtoán, chẳng hạn với các khoản giao dịch đã buộc hai bên cùng ghi sổ, do đóphát sinh quan hệ đối chiếu như một hình thức kiểm tra kế toán

Đặc biệt từ thế kỷ XVI trở đi, sự xuất hiện của kế toán kép do một nhàtoán học người Ý là Luca Paciola, đã khiến cho phương pháp tự kiểm tra của

kế toán hoàn thiện hơn, đã đáp ứng đủ nhu cầu quản lý và an toàn tài sản lúcbấy giờ Tiếp đó, từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX, các phương pháp kế toán và

kỹ thuật thông tin phát triển đến mức tinh xảo đã đáp ứng ngày càng tốt hơnyêu cầu của quản lý

Đến năm 30 của thế kỷ XX sự phá sản của các tổ chức tài chính vàkhủng hoảng kinh tế, suy thoái về tài chính chức năng kiểm tra kế toán mớibộc lộ những nhược điểm, đòi hỏi phải có sự kiểm tra ngoài kế toán và kiểmtoán được phát triển trở lại

Năm 1934, Ủy ban giao dịch chứng khoán đã được thành lập và quychế về kiểm toán viên bên ngoài đã bắt đầu có hiệu lực Đồng thời, trườngđào tạo kiểm toán viên công chứng đã in ra mẫu chuẩn đầu tiên về báo cáokiểm toán tài khoản của các công ty

Năm 1941 trường đào tạo kiểm toán viên nội bộ được thành lập cũngcông bố việc xác định chính thức về chức năng của kiểm toán nội bộ.Từ năm

1950 nghiệp vụ ngoại kiểm được bổ sung liên tục về cấu trúc, phương pháp

Trang 12

các lĩnh vực kiểm soát, đánh giá cả hệ thống quản lý của DN, không chỉ giớihạn ở các DN mà được mở rộng đến cả các đơn vị sự nghiệp công cộng vớivấn đề đánh giá hiệu năng quản lý của các đơn vị này.

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC BỘ MÁY TỔ CHỨC KIỂM TOÁN VIỆT NAM

1 Sự cần thiết phải hình thành bộ máy kiểm toán ở Việt Nam

Đi vào công cuộc đổi mới, Đảng ta đã khẳng định kinh tế thị trườngkhông phải riêng có của CNTB, mà là sản phẩm, là thành tựu chung của xãhội loài người Hiện nay chúng ta đang xây dựng một nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhànước theo định hướng XHCN Điều khác cơ bản so với nền kinh tế thịtrường nói chung ở chỗ, nền kinh tế nước ta do nhà nước XHCN quản lí vàhướng đi lên CNXH

Vai trò quản lí của nhà nước là giữ đúng định hướng phát triển của nềnkinh tế theo mục tiêu, quan điểm và đường lối của Đảng, phát huy nhữngmặt tích cực, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cựcvốn có của nền kinh tế thị trường Hơn 10 năm qua đã chứng tỏ đường lốiđổi mới đúng đắn của Đảng ta Nền kinh tế nước ta đã ra khỏi khủng hoảng

và đạt được những thành tựu đáng kể, nhân dân phấn khởi, thế giới đánh giácao và khích lệ Tuy nhiên, những mặt trái của cơ chế thị trường cũng ngàycàng bộc lộ rõ nét và gây ảnh hưởng không nhỏ, thậm chí có một số biểuhiện đáng lo ngại về kinh tế xã hội Mặc dù chúng ta có nhiều cố gắng ngănchặn và xử lí, song tình trạng buôn lậu, tham nhũng, hoạt động kinh doanhtrái pháp luật, trốn thuế, gây thất thoát ngân sách, tài sản nhà nước ngày

Trang 13

càng lớn và khá phổ biến ở nhiều nơi Ví dụ : Vụ Tamexco thất thoát khoảng

400 tỉ đồng, vụ Tân Trường Sanh khoảng vài nghìn tỉ đồng, vụ Epco-MinhPhụng tới nhiều nghìn tỉ đồng

Một nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên, đó là: Khi đi vào kinh tế thịtrường chúng ta đã quá chậm và chưa tập trung đúng mức cần thiết cho việchình thành và tăng năng lực hệ thống kiểm toán bao gồm: KTNN, KTĐL vàKTNB các đơn vị kinh tế cơ sở, trước hết là doanh nghiệp nhà nước Kinhnghiệm thế giới cho thấy là ở mọi nước kinh tế thị trường phát triển đều cầnphải có hệ thống kiểm toán mạnh Có thể nói đây là một công cụ đắc lựckhông thể thiếu để quản lí kinh tế của mỗi quốc gia

Bên cạnh đó, chặng đường gần hai mươi năm chuyển từ nền kinh tế hoạtđộng theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hoạt độngtheo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước, tuy ngắn ngủi nhưng đãtạo ra sức sống cho nền kinh tế, mở ra những cơ hội mới, những thách thứcmới cho các nhà doanh nghiệp Việt Nam Các DN phải hoạt động theonhững quy luật của nền kinh tế thị trường để có thể tồn tại và phát triển.Trong quá trình hoạt động, các DN cần phải có trách nhiệm trong việc tổchức và huy động vốn sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng cácnguyên tắc tài chính tín dụng và chấp hành luật pháp Việc thường xuyêntiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho các DN, các cơ quan cấptrên, cơ quan chủ quản, những nhà đầu tư, những nhà liên doanh liên kết,thấy rõ thực trạng hoạt động tài chính, xác định đầy đủ và đúng đắn nguyênnhân mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính của đơn vị

Mà đứng ở những góc độ khác nhau, mỗi cơ quan đơn vị tìm hiểu về khíacạnh tài chính khác nhau nhằm có những quyết định đúng đắn và thiết thựccho đơn vị, cơ quan của mình

Trang 14

Nhưng đứng trước thực trạng của nền kinh tế Việt Nam, liệu nhữngcon số trong báo cáo tài chính có đủ để làm yên lòng những cơ quan chủquản và những nhà đầu tư không? Như vậy thì việc phân tích các BCTC cócần thiết nữa hay không? Nhiều vấn đề liên quan được đặt ra quanh vấn đềBCTC có trung thực đúng như hoạt động của đơn vị trong một thời kì hoạtđộng nhất định không? Quả thật, chúng ta biết rằng các BCTC hàng năm docác DN lập ra là đối tượng quan tâm của rất nhiều người: chủ DN, các cổđông, các hội viên hội đồng quản trị, chủ đầu tu, ngân hàng Ngoài ra, cácBCTC cũng rất cần thiết cho các cơ quan thuế, cơ quan chủ quản của đơnvị Tuy mỗi đối tượng quan tâm đến BCTC của DN ở mỗi góc độ khácnhau nhưng nhìn chung đều có cùng mong muốn, nguyện vọng là được sửdụng những thông tin đó có độ tin cậy cao, chính xác và trung thực Chínhnguyên nhân sâu xa này, mới nảy sinh ra nhu cầu là cần có một bên thứ ba,độc lập và khách quan có kĩ năng nghiệp vụ, địa vị và trách nhiệm pháp líkiểm tra và đưa ra lời kết luận là BCTC của DN lập ra có phản ánh đúngthực trạng tài chính của DN không Và từ đây hoạt động kiểm toán độc lậpthật sự là cần thiết cho các doanh nghiệp trong các hoạt động kinh doanhtrên thương trường vốn có nhiều rủi ro

Từ những điều phân tích trên, ta thấy, việc hình thành và phát triển hệthống bộ máy tổ chức kiểm toán Việt Nam trong điều kiện hiện nay là hếtsức cần thiết Do đó, để nền kinh tế thị trường hoạt động hiệu quả hơn ngày13/5/1991 Bộ tài chính đã kí hai quyết định thành lập hai công ty kiểm toánđầu tiên là Công ty kiểm toán Việt Nam với tên giao dịch là VACO và Công

ty dịch vụ kế toán Việt Nam với tên giao dịch la ASC sau này đổi tên làcông ty dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán, kiểm toán – AASC (Quyết định

639 – TC/QĐ/TCCB ngày 14/9/1993) Số lượng công ty kiểm toán đã tănglên đáng kể theo sự phát triển của thị trường

Trang 15

2 Quá trình hình thành và phát triển các hệ thống bộ máy tổ chức kiểm toán Việt Nam

2.1 Kiểm toán độc lập(KTĐL).

Có thể nói rằng, sự mong muốn có các BCTC trung thực đã tồn tạingay từ khi các cá nhân có quan hệ hợp đồng với người khác Cũng như cácloại kiểm toán khác, KTĐL ra đời xuất phát từ nhu cầu khách quan kiểm tra

và xác nhận độ tin cậy của BCTC theo các chuẩn mực và nguyên tắc đãđược xây dựng KTĐL ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của nềnkinh tế thị trường ở nước ta, hoạt động KTĐL đã hình thành và phát triển từtrước ngày giải phóng miền Nam: Các văn phòng hoạt động độc lập với các

kế toán viên công chứng hoặc các giám định viên kế toán và cả văn phòngkiểm soát quốc tế như SGV, Arthur Andersen, Price Waterhouse Sauthống nhất đất nước, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, KTĐL không tồntại Vì vậy, có thể nói KTĐL mới thực sự xuất hiện từ sau khi chuyển đổi cơchế kinh tế Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lí của nhànước, nhu cầu kiểm toán các đơn vị có vốn đầu tư đầu tư nước ngoài theoluật đầu tư nước ngoài, các chương trình tín dụng, phát triển, viện trợ quốc

tế là khách quan và ngày càng tăng Sự phát triển nhanh chóng của cácdoanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, ngânhàng tư nhân, sự xuất hiện thị trường chứng khoán và xu hướng cổ phầnhoá một số DNNN cũng đòi hỏi phải có dịch vụ KTĐL

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế, ngày 13/5/1991,theo giấy phép số 957/PPLT của thủ tướng chính phủ, Bộ Tài chính đã kíquyết định thành lập 2 công ty: Công ty kiểm toán Việt Nam với tên giaodịch là VACO ( quyết định 165-TC/QĐ/TCCB ) và công ty dịch vụ kế toánViệt Nam với tên giao dịch là ASC ( quyết định 164-TC/QĐ/TCCB ), saunày đổi tên là công ty dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán, kiểm toán - AASC

Trang 16

( quyết định 639-TC/QĐ/TCCB ngày 14/9/1993 ) Sự ra đời và hoạt động cóhiệu quả của VACO và AASC đánh dấu sự mở đầu tốt đẹp của dịch vụKTĐL ở Việt Nam Với cương vị là các công ty đầu ngành, VACO vàAASC đã có nhiều đóng góp không chỉ trong việc phát triển công ty, mởrộng địa bàn kiểm toán mà cả trong việc cộng tác với các công ty và tổ chứcnước ngoài phát triển sự nghiệp kiểm toán Việt Nam Cũng trong năm 1991,công ty Ernst and Young là công ty kiểm toán nước ngoài đầu tiên được nhànước Việt Nam cho chấp nhận lập văn phòng hoạt động tại Việt Nam Từnăm 1993, trước đòi hỏi của thị trường và dịch vụ tài chính, kế toán và kiểmtoán, nhà nước đã khuyến khích phát triển đa dạng các thành phần kinh tế vàhợp tác với nước ngoài Vì thế, nhiều công ty kiểm toán thuộc các thànhphần kinh tế, dưới nhiều hình thức pháp lí khác nhau đã lần lượt ra đời Chođến nay, chúng ta đã có 34 công ty thuộc mọi thành phần kinh tế, một sựphát triển nhanh chóng mà theo đánh giá của nhiều nghiên cứu tài chính thìbằng 30 năm phát triển KTĐL ở một số nước.

Sự trưởng thành của KTĐL, trước hết là ở đội ngũ kiểm toán viên(KTV) chuyên nghiệp Ngay từ khi thành lập, các công ty kiểm toán đã rấtchú trọng đến việc tuyển chọn KTV và nâng cao chất lượng đội ngũ nhânviên Tháng 10/1994, lần đầu tiên Bộ Tài chính tổ chức thi tuyển và cấpchứng chỉ đặc cách cho 49 người đủ điều kiện , tiêu chuẩn KTV chuyênnghiệp Đến 30/11/2001, Bộ Tài chính đã tổ chức 8 kì thi tuyển KTV chongười Việt Nam, 3 kì thi sát hạch cho người nước ngoài và đã cấp 531chứng chỉ KTV cho những người đạt tiêu chuẩn Cũng đến 30/11/2001, cảnước có 2127 nhân viên làm việc trong 34 công ty kế toán, kiểm toán, trong

đó có: 1395 nhân viên chuyên nghiệp, có 487 KTV gồm: 396 KTV ngườiViệt Nam và 38 KTV người nước ngoài Trong các KTV người Việt Nam,

đã có 16 người đạt trình độ và được cấp chứng chỉ KTV quốc tế Nhìn chung

Trang 17

đội ngũ KTV người Việt Nam đã tăng lên đáng kể Trình độ chuyên môn vàkinh nghiệm nghề nghiệp đã thành thục hơn nhiều Đặc biệt, để đáp ứng yêucầu thực tế phát sinh, tổ chức quốc tế là Viện kế toán viên công chứng Anhquốc (ACCA) đã thực hiện chương trình đào tạo cơ bản theo tiêu chuẩnquốc tế cho KTV ở Việt Nam Tháng 5/2001, ACCA đã cấp chứng chỉ CPAcủa Anh cho 9 người Việt Nam đầu tiên đã tốt nghiệp Chương trình này sẽđược tiếp tục với sự hợp tác của Bộ Tài chính Việt Nam.

Chính sự phát triển đông đảo của đội ngũ KTV đã mở rộng và làmphong phú thêm các loại hình dịch vụ kiểm toán và kế toán Cùng với sựphát triển về số lượng công ty và quy mô từng công ty, các dịch vụ do cáccông ty kiểm toán cung cấp đã không ngừng đa dạng hoá theo hướng mởrộng từng loại dịch vụ chi tiết trong dịch vụ kiểm toán (như kiểm toánBCTC, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán soát xét, kiểmtoán báo cáo quyết toán vốn đầu tư XDCB), mở rộng dịch vụ tư vấn (như tưvấn kế toán, tài chính, tư vấn quản lí, thuế, tư vấn đầu tư, luật; tư vấn sápnhập, giải thể DN ), dịch vụ tin học, dịch vụ thẩm định, định giá tài sản,dịch vụ tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, cung cấp thông tin Trong hơn 10 năm qua, ngành kiểm toán tuy còn rất non trẻ song đã cónhững tiến bộ đáng kể Hoạt động kiểm toán đã phát triển nhanh về số lượng

và quy mô từng công ty kiểm toán cũng như nâng cao năng lực chuyên môn,chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng Hầu hết các dịch vụ cung cấpcho khách hàng ngày càng được tín nhiệm, được xã hội thừa nhận Thôngqua các hoạt động dịch vụ kiểm toán và tư vấn tài chính, kế toán, các công tykiểm toán đã góp phần phổ cập cơ chế chính sách kinh tế tài chính, ngănngừa lãng phí, tham nhũng, góp phần thực hiện công khai minh bạch BCTC,phục vụ đắc lực cho công tác quản lí, điều hành kinh tế tài chính của nhànước và hoạt động kinh doanh của các DN

Trang 18

Thông qua dịch vụ kiểm toán và kế toán, đặc biệt là kiểm toán BCTC,các công ty đã góp phần giúp các DN, các dự án quốc tế, các đơn vị hànhchính sự nghiệp nắm bắt được kịp thời, đầy đủ và tuân thủ đường lối , chínhsách kinh tế tài chính, loại bỏ được chi phí bất hợp lí, tạo lập được nhữngthông tin tin cậy, từng bước đưa công tác quản lí tài chính, kế toán trong cácdoanh nghiệp vào nề nếp , hoạt động KTĐL đã xác định được vị trí trongnền kinh tế thị trường và góp phần quan trọng trong việc làm lành mạnh hoámôi trường đầu tư và nền tài chính quốc gia.

Thực trạng hoạt động và phát triển của một số công ty KTĐL tiêu biểu ở Việt Nam:

a Công ty kiểm toán Việt Nam VACO:

VACO là công ty kiểm toán đầu tiên của Việt Nam được thành lập.Qua 6 năm hoạt động, phát triển và hợp tác, đến tháng 10/1997, VACO đãtrở thành thành viên của hãng Deloitte Touche Tohmatsu quốc tế (DTT) -một trong 5 hãng kiểm toán hàng đầu thế giới VACO hiện tại là công tykiểm toán duy nhất tại Việt Nam đạt trình độ quốc tế, là đại diện của DTTtại Việt Nam Thông qua hình thức hợp tác tối ưu với DTT, đồng thời biếtkhai thác tốt lợi thế của mình (tập thể đội ngũ KTV tinh nhuệ đạt trình độquốc tế được đào tạo có hệ thống trong và ngoài nước; bộ máy quản lí là bangiám đốc của VACO am hiểu sâu sắc về tập quán kinh doanh, luật pháp ViệtNam) VACO đã đạt được những thành tựu đáng kể trong 9 năm kể từ ngàythành lập, góp phần vào sự thành công của ngành kiểm toán còn non trẻ tạiViệt Nam

Trong 9 năm qua, VACO đã kí kết và thực hiện hợp đồng cho hơn

3000 khách hàng trong và ngoài nước Riêng năm 1999, VACO đã kí hơn

450 hợp đồng cung cấp dịch vụ kiểm toán và tư vấn cho nhiều loại hìnhkhách hàng, tăng 134% so với năm 1998 và tăng gấp nhiều lần so với những

Trang 19

năm đầu phát triển Các dịch vụ kiểm toán của công ty chủ yếu tập trung vàocác dự án do ngân hàng và các tổ chức quốc tế tài trợ (ngân hàng thế giới,ngân hàng phát triển châu á); các tổng công ty lớn đầu ngành ở Việt Namnhư: Tổng công ty Điện lực Việt Nam, tổng công ty Hàng không Việt Nam,tổng công ty Dầu khí, tổng công ty Than, tổng công ty Ximăng, tổng công tyThuốc lá, tổng công ty Cao su, tổng công ty Bưu chính viễn thông, tổngcông ty Xăng dầu, tổng công ty Dệt may Việt Nam

Nhằm đa dạng hóa khách hàng và dịch vụ, VACO đã mở rộng dịch vụkiểm toán cho các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, các công tycho thuê tài chính, các công ty bảo hiểm và mở rộng dịch vụ tư vấn thuế,quản lí, kế toán, tư vấn đầu tư, đặt văn phòng đại diện, chi nhánh công tynước ngoài, trợ giúp cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước hoạt động cóhiệu quả Với phương châm cung cấp dịch vụ có chất lượng tốt nhất chokhách hàng, tranh thủ sự giúp đỡ về kĩ thuật của các chuyên gia nước ngoài,cán bộ, KTV của VACO đã cố gắng, nỗ lực không ngừng Dịch vụ của công

ty đã được khách hàng đánh giá là ngang tầm với chất lượng dịch vụ của cáccông ty danh tiếng quốc tế

Trong quá trình hoạt động của mình, VACO luôn luôn theo sát cácchủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như các chỉtiêu định hướng và sự chỉ đạo trực tiếp của bộ Tài chính Cùng với sự hợptác chặt chẽ với công ty DTT, công ty đã phát huy nội lực của mình đểkhông ngừng phát triển trở thành công ty mạnh nhất trong tổng số các công

ty kiểm toán ở Việt Nam Năm 1999, doanh thu công ty tăng 122% so vớidoanh thu năm 1998, nộp ngân sách nhà nước 135% so với năm 1998 Cóthể nói năm 1999, VACO đã gặt hái được những thành công rất đáng khích

lệ Công ty đã góp phần tuyên truyền, hướng dẫn và đưa hai luật thuế mới là

Trang 20

thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập DN (TNDN) vào hoạt độngkinh doanh của các DN, bằng phương thức:

- Tổ chức nhiều cuộc hội thảo đào tạo và hướng dẫn về thuế cho các DN cóvốn đầu tư nước ngoài và DNNN

- Phát hành các bản tin hàng tháng bằng tiếng Anh, tiếng Việt về văn bảnpháp luật và thuế nhằm thường xuyên cập nhật và cung cấp thông tin chocác DN

Trong quá trình hệ thống hoá, xây dựng và ban hành các chuẩn mực

kế toán và kiểm toán Việt Nam, VACO đã đóng góp tích cực vào việc soạnthảo và ban hành các chuẩn mực này VACO đã cung cấp cho vụ chế độ kếtoán những tài liệu, sách mới cập nhật về thực hành chuẩn mực kế toán vàkiểm toán quốc tế do liên đoàn kế toán quốc tế và tổ chức IAFC ban hành

9 năm qua là những năm VACO hoạt động trong điều kiện kinh tế khókhăn và nhiều biến động do bị ảnh hưởng ít nhiều của khủng hoảng tài chínhtrong khu vực, là những năm đầu mở cửa nền kinh tế, những năm đầu thựchiện luật thuế GTGT và thuế TNDN, công ty cũng phải cạnh tranh gay gắtvới các công ty kiểm toán có hạng trên thế giới của các hãng kiểm toán thếgiới tại Việt Nam như công ty Price Water House Coopers; công ty KPMG;công ty E+Y; công ty A+A nhưng VACO vẫn được đánh giá là con chimđầu đàn của ngành kiểm toán Việt Nam

b Công ty dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán, kiểm toán AASC

Ra đời cùng với VACO năm 1991, lúc mới thành lập, AASC gặp rấtnhiều khó khăn Toàn công ty chỉ có 5 cán bộ nhân viên và vốn liếng kinhdoanh chưa đầy 200 triệu đồng, trong khi đó thị trường dịch vụ kế toán,kiểm toán tuy mới hình thành nhưng đã tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp Cáccông ty kiểm toán nước ngoài với kinh nghiệm hoạt động hàng trăm năm đã

mở văn phòng đại diện quảng bá uy tín thương hiệu, còn các công ty kiểm

Trang 21

toán trong nước thì nhanh chóng chiếm thị phần, AASC phải chịu một sức

ép cạnh tranh rất lớn Trước những khó khăn đó, bằng nhiều biện pháp tháo

gỡ và được sự giúp đỡ công tâm của lãnh đạo bộ Tài chính, AASC đã từngbước ổn định và phát triển đi lên Nếu doanh thu của công ty năm 1992 là

840 triệu thì năm 1995 là 4 tỉ 378 triệu và năm 2000 tăng lên 17,5 tỉ Số lợinhuận tương ứng là: 245 triệu năm 1992, 924 triệu năm 1995 và 4,5 tỉ năm

2000 Có được những kết quả như vậy là nhờ AASC đã biết chú trọng đếnviệc mở rộng khách hàng Đến nay, AASC đã trở thành đối tác của các tổngcông ty 91 như: tổng công ty Bưu chính viễn thông, tổng công ty Hàngkhông Việt Nam, tổng công ty Than Việt Nam, tổng công ty Dệt may ViệtNam, tổng công ty Điện lực Việt Nam, tổng công ty Thép Việt Nam, tổngcông ty Ximăng ; các tổng công ty 90 như: tổng công ty Công trình giaothông I, tổng công ty Xăng dầu, tổng công ty Xây dựng Hà Nội Ngoài racòn hàng loạt DN liên doanh, các ngân hàng thương mại và các dự án đầu tưphát triển như: Dự án cải tạo quốc lộ 1 (WB 1 và WB 2); dự án quốc lộ 5, dự

án cấp thoát nước thành phố Hồ Chí Minh

Chỉ tính riêng năm 2000, toàn công ty ước tính thực hiện trên 850 hợpđồng dịch vụ, trong đó có những hợp đồng có giá trị lớn như: Hợp đồngkiểm toán các dự án do ngân hàng thế giới, ngân hàng phát triển châu á, các

tổ chức tín dụng quốc tế tài trợ; hợp đồng kiểm toán BCTC của ngân hàngthương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam, hợp đồng kiểm toán báo cáoquyết toán công trình XDCB hoàn thành của ngành Bưu chính viễn thông,nhà máy thuỷ điện Trị An, công ty cổ phần mía đường Lam Sơn, công tyximăng Nghi Sơn, đường dây tải điện 500KV Bắc Nam Cụ thể, các loạidịch vụ đã thực hiện dịch vụ kiểm toán BCTC cho các DN như: công ty liêndoanh đèn hình Orion-Hanel, công ty thép VPS-Posco, công ty ximăng Nghi

Trang 22

Sơn, công ty liên doanh Mặt trời sông Hồng, công ty liên doanh Vinadesung,công ty liên doanh Vietsovpetro.

Riêng đối với dịch vụ kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư cáccông trình XDCB hoàn thành được coi là thế mạnh hàng đầu của AASC Nhằm đáp ứng yêu cầu, chủ trương của Đảng và Nhà nước về thực hành tiếtkiệm trong lĩnh vực XDCB, bộ phận chuyên trách kiểm toán báo cáo quyếttoán vốn đầu tư công trình XDCB đã hoàn thành, kể cả các công trình lớn,phức tạp Năm 2000, công ty đã thực hiện kiểm toán hơn 400 hợp đồng, với

đủ mọi ngành khác nhau, kể cả các công trình có quy mô lớn

Đối với dịch vụ tư vấn tài chính kế toán: Đây là loại hình dịch vụ đòihỏi cán bộ, KTV phải tinh thông nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, phải đầu

tư thời gian nghiên cứu để đưa ra được những ý kiến tư vấn có chất lượngcao và đáp ứng được yêu cầu của khách hàng Năm 2000, công ty đã thựchiện được các hợp đồng tư vấn về xây dựng mô hình kế toán, tư vấn lập báocáo quyết toán vốn đầu tư, tư vấn lập BCTC, tư vấn về lập hồ sơ mới thầu,

tư vấn về thuế cho nhiều công ty và ban quản lí dự án Đặc biệt, thông quacông tác kiểm toán , công ty đã tư vấn cho nhiều DN khắc phục những saisót trong công tác quản lí kinh tế tài chính, từng bước hoàn thiện hệ thốngkiểm soát nội bộ và hệ thống kế toán Cùng với việc thực hiện nhiệm vụchính trị mà Nhà nước và bộ Tài chính giao cho, bằng vốn tích luỹ của mình,AASC đã xây dựng và mua sắm trụ sở làm việc mới và mở thêm nhiều chinhánh, văn phòng đại diện tại nhiều tỉnh trong nước Qua hơn 10 năm hoạtđộng, sự trưởng thành của công ty đã được ghi dấu Hiện nay, AASC đã cóhơn 200 cán bộ, nhân viên, trong đó có 60 người đã được cấp chứng chỉCPA Việt Nam Cán bộ nhân viên của công ty là những chuyên gia có trình

độ đại học và trên đại học đã qua đào tạo thực tế, có khả năng đáp ứng tốtcác yêu cầu của công việc Ngoài số cán bộ trên, công ty còn có một đội ngũ

Trang 23

các công tác viên là các giáo sư, tiến sĩ, các giảng viên giàu kinh nghiệmtrong nhiều lĩnh vực.

2.2 Kiểm toán nhà nước(KTNN)

Trong bất cứ một chế độ xã hội nào, ngân sách nhà nước (NSNN) baogiờ cũng là nguồn lực quan trọng nhất bảo đảm tài chính cho mọi lĩnh vựchoạt động của bộ máy Nhà nước Để tăng cường sự kiểm soát của nhà nướctrong việc sử dụng NSNN và công quỹ quốc gia, bảo đảm tính trung thực,chính xác, hợp pháp và hợp lệ của việc sử dụng nguồn lực tài chính công,ngăn ngừa sự xâm hại đối với tài sản nhà nước, xây dựng nhà nước phápquyền có hiệu lực và hiệu quả trong việc quản lí kinh tế xã hội, đòi hỏi phảithành lập một cơ quan độc lập với cơ quan trực tiếp quản lí ngân sách và tàisản nhà nước để kiểm tra tính tuân thủ của việc sử dụng tiền của nhân dântheo những quy định của pháp luật hiện hành, bảo đảm sự minh bạch về tàichính và hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính này Vì vậy, ngày 11/7/1994,KTNN chính thức được thành lập trên cơ sở nghị định 70/CP của chính phủ.Theo đó, KTNN là cơ quan thuộc chính phủ và là cơ quan kiểm tra tài chínhcông của nước CHXHCN Việt Nam, thực hiện việc kiểm toán đối với các cơquan nhà nước các cấp, các đơn vị có nhiệm vụ thu chi NSNN và các tổchức đơn vị có quản lí, sử dụng công quỹ và tài sản nhà nước

Mới ra đời được hơn 5 năm, với chức năng kiểm tra, đánh giá và xácnhận tính đúng đắn, trung thực của số liệu kế toán, báo cáo quyết toán củacác cơ quan nhà nước, đơn vị kinh tế, đơn vị sự nghiệp, các đoàn thể quầnchúng và các tổ chức xã hội có thu nộp NSNN và sử dụng nguồn kinh phí doNSNN cấp, KTNN đã bước đầu khẳng định được vai trò không thể thiếuđược của mình trong hệ thống kiểm tra, kiểm soát của nhà nước ta Nhữngkết quả kiểm toán trung thực, chính xác, khách quan của cơ quan KTNNkhông chỉ giúp chính phủ, quốc hội đánh giá đúng tình hình trực trạng tài

Ngày đăng: 20/01/2014, 05:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w