Cùng với quá trình hội nhập, tình hình kinh tế thế giới, diễn biến nhanh chóng của cách mạng công nghiệp 4.0, các làn sóng mới về công nghệ, tác động của các cuộc chiến tranh thương mại,
GIỚI THIỆU CHUNG
Bối cảnh kinh tế thế giới và đất nước
Bắt đầu với những tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, kinh tế thế giới trên đà hồi phục, những năm gần đây lại bắt đầu xu hướng tăng trưởng chậm lại và tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn Tình hình khu vực và thế giới diễn biến nhanh, phức tạp, xung đột xảy ra ở nhiều nơi, xuất hiện những nhân tố mới có tầm ảnh hưởng sâu, rộng, kéo theo hàng loạt động thái lớn về chính sách của các quốc gia, nền kinh tế lớn (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2019) Tính bất ổn của hệ thống thương mại toàn cầu gia tăng đáng kể bởi các vấn đề địa chính trị và căng thẳng thương mại giữa Mỹ-Trung, từ đó gây ảnh hưởng không nhỏ tới niềm tin kinh doanh, quyết định đầu tư và thương mại toàn cầu Biến động khó lường trên thị trường tài chính-tiền tệ quốc tế, giá dầu diễn biến phức tạp tác động đến tăng trưởng tín dụng, tâm lý và kỳ vọng thị trường (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2020) Đại dịch Covid-19 vào cuối năm 2019 với những diễn biến bất ngờ và tàn khốc đang thay đổi diện mạo kinh tế toàn cầu theo những cách thức chưa hề lường trước
Những biến động địa chính trị trên thế giới tác động đến Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Ngãi nói riêng Áp lực không nhỏ cho công tác điều hành trong nước đến từ biến động trong giá hàng hóa thế giới quy mô kinh tế nước ta nhỏ, độ mở cao, dư địa tài khóa, tiền tệ hạn hẹp, trong khi nhu cầu nguồn lực rất lớn, không chỉ cho đầu tư phát triển, mà còn đáp ứng yêu cầu bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh, (Bộ Kế hoạch và đầu tư, 2019)
Bối cảnh trong nước cho thấy nhiều tín hiệu tích cực, với nhiều tín hiệu lạc quan như:
- Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tăng 2,5 lần trong giai đoạn
- GDP cả nước năm 2018 ước tính tăng 7,08%, năm 2019 tăng 7.02%, hai năm liên tiếp tăng trưởng trên 7% kể từ năm 2011
- Tăng trưởng kinh tế dần chuyển dịch theo chiều sâu, tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng GDP năm 2019 đạt 46,11%, bình
2 quân giai đoạn 2016-2019 đạt 44,46%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 33,58% của giai đoạn 2011-2015 (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2020)
- Tỷ lệ lạm phát tiệm cận mức 4% trong nhiều năm vừa qua và được dự báo ổn định trong những năm tiếp theo 2020 – 2025 CPI bình quân năm 2019 tăng 2,97% so với bình quân năm 2018, mức tăng bình quân thấp nhất trong 3 năm qua
- Năng suất lao động nước ta thời gian qua có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm, là quốc gia có tốc độ tăng năng suất lao động cao trong khu vực ASEAN Tính theo giá so sánh, năng suất lao động cao năm 2018 tăng 5,93% so với năm 2017, bình quân giai đoạn 2016-2018 tăng 5,75%/năm, cao hơn mức tăng 4,35%/năm của giai đoạn 2011-2015 (Bộ Kế hoạch và đầu tư, 2019) Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2019 ước tính đạt 110,4 triệu đồng/lao động, tương đương 4.791 USD/lao động, tốc độ tăng năng suất đạt 6,2% cao nhất trong các năm 2016-2019 (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2020)
- Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thể hiện qua hệ số ICOR đang dần được cải thiện, từ mức 6,42 năm 2016 giảm xuống còn 6,11 năm 2017, 5,97 năm 2018 và và ước tính năm 2019 là 6,07, bình quân giai đoạn 2016-2019 hệ số ICOR ở mức 6,14, thấp hơn mức 6,25 của giai đoạn 2011-2015
- Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực theo xu hướng giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản; tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng và ngành dịch vụ
- Nguồn vốn FDI vẫn đổ vào Việt Nam dồi dào, trong năm 2019 Việt Nam đã thu hút 18 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài (WorldBank, 2019)
- Cơ cấu dân số Việt Nam đang có nhiều thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội, trong đó trên 70% dân số dưới 35 tuổi, tuổi thọ trung bình 76 và nhóm trung lưu chiếm 13%, dự báo tăng lên 26% vào năm 2026 (WorldBank, 2019)
Bối cảnh quốc tế đã và đang có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, ảnh hưởng trên nhiều khía cạnh đến Việt Nam nói chung và Quảng Ngãi nói riêng:
- Sự dịch chuyển sản xuất từ Trung Quốc sang các khu vực khác là cơ hội tốt để Việt Nam có những dự án chất lượng cao từ nước ngoài
- Sự phát triển và chuyển đổi công nghệ số làm thay đổi môi trường vĩ mô và vi mô, làm gia tăng khoảng cách phát triển của các quốc gia, giữa các doanh nghiệp Nền tảng công nghệ số phát triển mạnh mẽ làm thay đổi các hệ sinh thái, đặc biệt là hệ sinh thái khởi nghiệp
- Sự thay đổi chuỗi cung ứng toàn cầu nổi bật với xu hướng dịch chuyển sản xuất ra khỏi Trung Quốc (các quốc gia gần Trung Quốc) Trong khi khu vực châu Á vẫn là trọng tâm chiến lược của các quốc gia trên toàn thế giới, Việt Nam sẽ có cơ
3 hội nhận được các luồng dịch chuyển bao gồm các tài chính, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, du lịch
- Phương pháp quản trị đang thay đổi trên toàn cầu, nhất là sau ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 Ứng dụng công nghệ vào quản trị từ cấp độ quốc gia đến cấp độ doanh nghiệp sẽ làm biến đổi cách con người giao tiếp với nhau và giao tiếp với chính phủ
- Quá trình đô thị hóa tiếp tục gia tăng đồng thời với sự nổi lên của một tầng lớp trung lưu mới nổi làm thay đổi cơ cấu và phương thức sống mới
- Phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu là tiến trình liên tục trong nhiều thập kỷ
Phân tích trên cơ sở lý thuyết nguồn lực (Barney, 1991)với bối cảnh trong nước và xu hướng của thế giới, một số cơ hội tỉnh Quảng Ngãi có thể cân nhắc để lựa chọn chiến lược trong 5 năm từ 2020 đến 2025 và tầm nhìn 2030:
- Tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu bằng cách đón đầu các cơ sở sản xuất dịch chuyển ra khỏi Trung Quốc, đồng thời cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, cơ hội lựa chọn dòng vốn đầu tư có hàm lượng công nghệ cao sẽ tăng lên Sự phát triển các khu công nghiệp quy mô lớn là hiện hữu và khả thi
Giới thiệu về Quảng Ngãi
Vị trí và diện tích Tỉnh Quảng Ngãi thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ; có tọa độ địa lý 14o32’ - 15o25’ vĩ Bắc, 108o06’ - 109o04’ kinh Đông Phía Bắc giáp
4 tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp tỉnh Bình Định, phía Tây Bắc giáp với các tỉnh Quảng Nam và Kon Tum, phía Tây Nam giáp với tỉnh Gia Lai và phía đông giáp biển Đông có đường bờ biển dài 130km với 3 cửa biển chính là Sa Cần, Sa Kỳ, cửa Đại, Mỹ Á và Sa Huỳnh
Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên là 5131.5 km2, bao gồm 14 huyện và thành phố:
- Khu vực đồng bằng: Thành phố Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn, huyện Sơn Tịnh, huyện Tư Nghĩa, huyện Nghĩa Hành, huyện Mộ Đức và huyện Đức Phổ
- Khu vực miền núi: huyện Trà Bồng, huyện Tây Trà, huyện Sơn Hà, huyện Sơn Tây, huyện Minh Long và huyện Ba Tơ
- Khu vực hải đảo: huyện Lý Sơn Địa hình Địa hình tỉnh Quảng Ngãi được chia thành 4 vùng rõ rệt Vùng rừng núi với diện tích rừng núi chiếm đến ⅔ tổng diện tích tỉnh và các dãy núi có hình vòng cung, kéo dài từ Tây sang Đông và đan xen với đồng bằng Vùng trung du Quảng Ngãi có địa hình nhấp nhô với hướng nghiêng chung là hướng tây-đông Diện phân bố chủ yếu ở rìa phía tây, tây bắc, tây nam các huyện đồng bằng Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức và Đức Phổ Vùng đồng bằng Quảng Ngãi nhỏ hẹp với 4 hệ thống sông chính là sông Trà Bồng, sông Trà Khúc, sông Vệ và sông Trà Câu, diện tích đồng bằng khoảng 150.678ha chiếm gần 25% tổng diện tích của tỉnh, thu hẹp dần về phía nam Vùng bãi cát ven biển có diện tích hẹp khoảng 2.500 ha đóng vai trò là đai phòng hộ ngăn cát bay, xâm lấn và bảo vệ vùng đất phía trong Vùng trọng điểm phát triển kinh tế của tỉnh là vùng đồng bằng với sự quy tụ của nhiều khu công nghiệp, khu kinh tế, các địa điểm du lịch và cũng chính là nơi tập trung đông dân cư nhất của tỉnh, khoảng hơn 75% Vùng rừng núi đời sống còn khó khăn, là nơi chủ yếu tập trung các dân tộc ít người
Lịch sử văn hóa Quảng Ngãi đã từng sáp nhập với Bình Định thành tỉnh
Nghĩa Bình vào năm 1975 Năm 1989, tỉnh Quảng Ngãi được tái lập trên cơ sở tách tỉnh Nghĩa Bình thành 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định như cũ Khi tách ra, tỉnh Quảng Ngãi có 11 đơn vị hành chính gồm thị xã Quảng Ngãi và 10 huyện: Ba Tơ, Bình Sơn, Đức Phổ, Minh Long, Mộ Đức, Nghĩa Hành, Sơn Hà, Sơn Tịnh, Trà Bồng, Tư Nghĩa Năm 1993, huyện đảo Lý Sơn được thành lập Năm 1994, tiếp tục thành lập huyện Sơn Tây trên cơ sở tách ra từ huyện Sơn Hà Ngày 1 tháng 12 năm
2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 145/2003/NĐ-CP về việc thành lập huyện Tây Trà trên cơ sở tách ra từ huyện Trà Bồng
Quảng Ngãi là cái nôi của nền văn hóa Sa Huỳnh Kế tiếp văn hóa Sa Huỳnh là văn hóa Chămpa, để lại ngày nay nhiều công trình có ý nghĩa như thành Châu Sa, tháp Chánh Lộ Sau nền văn hóa Chămpa, văn hóa Việt hình thành và trở thành nền
5 văn hóa chính của dân tộc cho đến ngày hôm nay, tiếp tục phát triển từ thế kỷ XV trở về sau Trong sự giao thoa, chuyển tiếp với văn hóa Chămpa, sự giao lưu văn hóa với các dân tộc anh em bản địa miền núi là các dân tộc Hrê, Cor, Ca Dong, pha trộn với một số dân tộc khác, đã tạo nên một Quảng Ngãi mang những bản sắc văn hóa đặc trưng
Dân cƣ Có 17 dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, trong đó 4 dân tộc chiếm tỷ lệ cao nhất là dân tộc Kinh (khoảng hơn 88%), dân tộc Hre (khoảng 8%), dân tộc Cor (khoảng 1,8%) và dân tộc Ca Dong (khoảng 0,7%) 13 dân tộc ít người khác chiếm khoảng hơn 0,1% dân số tỉnh Dân số tập trung chủ yếu tại vùng đồng bằng
Khí hậu Quảng Ngãi nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên có hai mùa gió chính (gió mùa mùa Đông và gió mùa mùa Hè) Nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc Bán Cầu, Quảng Ngãi có nền nhiệt độ cao và ít biến động trong năm Mùa lạnh các tháng có nhiệt độ trung bình ổn định dưới 20 độ C, mùa nóng có nhiệt độ trung bình ổn định trên 25 độ C
Cơ sở hạ tầng giao thông Đường bộ Địa bàn tỉnh Quảng Ngãi có Quốc lộ 1A chạy ngang qua với chiều dài 100km Quốc lộ 24A: Nối liền Quốc lộ 1A với KonTum dài 70km và Quốc lộ 24B dài 20km Tỉnh lộ gồm 18 tuyến với tổng chiều dài hơn 500 km Tuyến đường ven biển Dung Quất- Sa Huỳnh đi qua các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa,
Mộ Đức, Đức Phổ và thành phố Quảng Ngãi, với chiều dài hơn 120 km là tuyến đường có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế Đường sắt Tuyến đường sắt Bắc - Nam: chạy suốt chiều dài tỉnh Đường hàng không Sân bay Chu Lai (tỉnh Quảng Nam) cách Thành phố
Quảng Ngãi chỉ 35km, cách Khu kinh tế Dung Quất 5km về hướng bắc
Cảng biển nước sâu Dung Quất Với lợi thế của Dung Quất 1 là cảng biển nước sâu, kết nối với các tuyến đường dẫn ra Quốc lộ 1, cộng với đó là phục vụ việc trung chuyển hàng hóa của một trong 5 KKT trọng điểm của cả nước giai đoạn 2013 – 2020 Phía bắc kết nối với cảng hàng không Chu Lai (tỉnh Quảng Nam) đã tạo ra lợi thế lớn cho cảng Dung Quất
Tài nguyên Quảng Ngãi đa dạng về tài nguyên Tài nguyên rừng phong phú
Tài nguyên khoáng sản chủ yếu là khoáng sản phục vụ cho công nghiệp vật liệu xây dựng và nước khoáng Tài nguyên biển với vùng lãnh hải rộng lớn 11.000 km², có 6 cửa biển, nguồn lực hải sản dồi dào Tài nguyên du lịch với đảo Lý Sơn, quang cảnh từ 144 km bờ biển và một số địa điểm nổi tiếng ở vùng rừng núi
Di sản văn hóa Quảng Ngãi có di chỉ văn hóa Sa Huỳnh, chùa Thiên Ấn, thành cổ Châu Sa là những di tích lịch sử - văn hóa còn lưu lại cách nay hàng ngàn năm
Quảng Ngãi cũng là nơi lưu dấu nhiều sự kiện và chứng tích quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng thời hiện đại như: Chứng tích Sơn Mỹ, địa đạo Ðàm Toái xã Bình Châu, Ba Tơ quật khởi, mộ nhà chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng Bên cạnh hai danh thắng nổi tiếng là "núi Ấn, sông Trà", có hệ thống Trường Lũy được xây dựng từ thế kỷ XVI, trải dọc vùng trung du phía tây của tỉnh, kéo dài đến tỉnh Bình Định, là hệ thống thành lũy dài nhất Việt Nam, được công nhận là di tích lịch sử-văn hóa cấp quốc gia Quảng Ngãi còn có những lễ hội văn hóa đặc sắc diễn ra quanh năm như: lễ hội nghinh Ông, lễ khao lề thế lính Hoàng Sa (Lý Sơn), lễ hội ăn trâu, lễ hội cầu ngư, lễ hội đua thuyền,…
Cơ sở để xây dựng kế hoạch
3.1 Các mô hình tăng trưởng kinh tế-xã hội
3.1.1 Một số lý thuyết/mô hình về phát triển kinh tế vùng
Các mô hình tăng trưởng kinh tế-xã hội của địa phương dựa trên nền tảng của các lý thuyết về phân bổ nguồn lực theo không gian Nguồn lực và các hoạt động kinh tế phân bố không đều theo lãnh thổ tạo ra sự chênh lệch khác nhau giữa các vùng miền Kinh tế học về vùng (regional economics) đưa yếu tố không gian lãnh thổ như một nhân tố sản xuất trong các mô hình tăng trưởng địa phương Đây là nhân tố được tạo ra từ các lợi thế động và tĩnh của các doanh nghiệp trong vùng, quyết định lợi thế cạnh tranh của hệ thống sản xuất địa phương (Capello, 2009)
Yếu tố vùng hay địa phương bắt đầu được nhận diện trong các mô hình tăng trưởng kinh tế Nhóm lý thuyết khác xoay quanh tính đa dạng của yếu tố không gian hay lãnh thổ, theo đó các hoạt động kinh tế, các nhân tố sản xuất, nhu cầu và cấu trúc các ngành không đồng nhất trong vùng, gọi là mô hình ràng buộc đa dạng (diversified relational) Các hoạt động, nguồn lực, các mối quan hệ kinh tế và thị trường định hình cấu trúc quanh các cực phát triển, tạo ra quy trình tích tụ và chu kỳ phát triển (Capello, 2009) Sự tích tụ là một trong những yếu tố của phát triển vùng
Phát triển kinh tế vùng/địa phương vừa được xem như một sản phẩm, vừa được xem như một quy trình (Stimson, Stough, & Roberts, 2006) Là sản phẩm, phát triển kinh tế vùng/địa phương được đo lường qua việc làm, thu nhập, đầu tư, mức sống…
Là quy trình, phát triển kinh tế vùng gắn với hỗ trợ các ngành công nghiệp, phát triển hạ tầng và lực lượng lao động Trên thực tế, mức độ phù hợp và tương thích giữa sản phẩm và quy trình bị chi phối bởi nhiều yếu tố như bối cảnh chung của nền kinh tế, công nghệ, thể chế…
Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế trên mô hình Solow truyền thống đồng nhất các nhân tố sản xuất, cơ chế giá và quá trình tích tụ tư bản Sự khác biệt vùng miền, do đó, không có ý nghía tác động trong tăng trưởng Đối trọng lại là lý thuyết về cực tăng trưởng, hình thành từ nhiều nghiên cứu khác của Perroux (1950), Myrdal
(1957), Hirschman (1958) và các nghiên cứu về cụm công nghiệp/cụm kinh doanh Theo lý thuyết về cực tăng trưởng, các nhân tố sản xuất không đồng nhất, thị trường không hoàn hảo, cơ chế giá chịu ảnh hưởng bởi các ngoại tác và tính kinh tế theo quy mô Các tương tác trong bối cảnh đó tạo ra sự chênh lệch giữa các vùng miền, cộng thêm ảnh hưởng của các yếu tố về xã hội, văn hóa và thể chế Các mô hình tăng trưởng mới đưa vào hiệu ứng tích tụ (agglomeration effects)
Một số lý thuyết/mô hình về phát triển kinh tế vùng:
Theo Alexander (1954), Tiebout (1962), kinh tế vùng gồm các nội dung phục vụ cho nhu cầu của cư dân địa phương và các nội dung sản xuất hàng hóa, dịch vụ cho tiêu thụ ngoài vùng Tỉ lệ giữa nhu cầu nội vùng và ngoại vùng được tính toán trong các nghiên cứu làm nổi lên mối quan hệ giữa quy mô và cấu trúc các ngành công nghiệp Luồng chi tiêu cho các nhu cầu này tạo hiệu ứng số nhân về việc làm, thu nhập, giá trị gia tăng, từ đó tạo ra sự phát triển Theo mô hình về cơ sở kinh tế, phát triển kinh tế địa phương phải hướng tới đáp ứng các nhu cầu bên ngoài, cung cấp các hàng hóa và dịch vụ cho cả nước hoặc quốc tế
Lý thuyết cực tăng trưởng bắt đầu từ Perroux (1950), theo đó chiến lược tăng trưởng kinh tế cần tập trung đầu tư vào một ngành, lĩnh vực cốt lõi, từ đó mở rộng, kết nối, lan tỏa sang các lĩnh vực khác Các trung tâm đô thị thường đóng vai trò là các cực tăng trưởng trong vùng Mô hình cực tăng trưởng thường bị phản bác về sự mất cân đối khi tất cả lợi ích hay nguồn lực tập trung về ngành/lĩnh vực/khu vực nhất định, đánh đổi bằng chi phí ở hoặc không tạo được các hiệu ứng tích cực tại các nơi khác Từ đây lại phát triển thành các mô hình phát triển đa cực
(3) Mô hình nhân quả tích lũy
Mô hình nhân quả tích lũy nhấn mạnh về tập trung thị trường và cách mà các khu vực hay địa phương thu hút vốn, kỹ năng, chuyên gia, từ đó tích lũy lợi thế cạnh tranh Bắt đầu từ Myrdral (1957) thể hiện sự tích lũy các yếu tố và các mối kết nối chủ yếu về vốn và lao động, các mô hình nhân quả tích lũy đi vào nhận diện các yếu tố tác động đến tiến trình phát triển như năng lực thể chế, giáo dục, ứng dụng công nghệ… Các mô hình trên đều hướng đến hàm ý chính sách về thu hút đầu tư, cải thiện cơ sở hạ tầng, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao
Lý thuyết vị trí (location theory) nhấn mạnh các lựa chọn về địa điểm của các doanh nghiệp để tối thiếu hóa chi phí, tối đa hóa các cơ hội tiếp cận thị trường và lợi nhuận Các nội dung của lý thuyết vị trí xoay quanh chi phí vận chuyển, chi phí lao động, các chi phí sản xuất, sự tích tụ kinh tế, quy mô hoạt động Cùng với sự phát
8 triển của công nghệ, yếu tố khoảng cách đã giảm dần sự quan trọng, thay vào đó là các mạng lưới, môi trường đầu tư, các hợp tác chiến lược Lý thuyết vị trí cung cấp các cơ sở cho sự tập trung hoặc phân tán của các ngành công nghiệp, hiệu quả về quy mô, tác động của các công nghệ mới và các ngoại tác
Lý thuyết vị trí trung tâm (central place theory) nhấn mạnh các chức năng của khu vực trung tâm phản ánh các hoạt động kinh tế phục vụ cho các cư dân trong vùng, từ đó cung cấp khung phân tích về tiềm năng và giới hạn trong bố trí không gian khi xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển
(5) Hiệu ứng tích tụ (agglomeration effects)
Sự tập trung về dân cư và doanh nghiệp tạo những lợi ích trong phát triển Tính kinh tế theo quy mô khiến một số doanh nghiệp hay một số địa phương cung ứng hàng hóa và dịch vụ hiệu quả hơn Sự tich tụ tăng cường các mối kết nối, từ đó tạo ra các ngoại tác tích cực
Công nghệ được Ree (1979) cho là động cơ chính trong phát triển kinh tế vùng Nhiều nghiên cứu khác chỉ ra công nghệ trực tiếp liên quan đến sự tích tụ, kiến thức, lãnh đạo và sự cạnh tranh giữa các vùng Norton and Rees (1979), Erickson và Leinbach (1979) cho rằng khi chu kỳ sản xuất tích hợp với phân bổ không gian sẽ có tác động khác nhau lên các vùng, hình thành các giai đoạn: sáng tạo, tăng trưởng và chuẩn hóa Sản xuất sẽ dịch chuyển từ nơi cho chi phí sản xuất cao sang nơi có chi phí thấp hơn Các vùng sẽ đóng vai trò sáng tạo, hoặc tiếp nhận sự sáng tạo
Trên thế giới, nhiều vùng đã thành công trong việc tạo ra các không gian phát triển công nghiệp mới Fukuyama (1995) đưa vào các yếu tố về văn hóa và vốn xã hội đóng vai trò thúc đẩy sự tích tụ về công nghệ như trong hiện tượng của thung lũng Silicon, nơi sự hợp tác của các doanh nghiệp vừa và nhỏ qua các mạng lưới kết nối với các trường đại học đã xác lập nền tảng R&D mạnh mẽ Ree (2001) chỉ ra rằng, phát triển vùng dựa trên công nghệ cần phải kết hợp với vai trò của "tinh thần doanh nghiệp" (entrepreneurship) và lãnh đạo (leadership)
(7) Lợi thế cạnh tranh vùng