cá và muối không chỉ được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam, mà hiện nay còn được ưa chuộng ở nhiều nước trên thế giới. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tổng giá trị ngành hàng nước mắm của Việt Nam hiện đạt khoảng 6.000 tỷ đồng/năm và tăng trưởng trong 10 năm qua đạt 13,15%/năm. Trong những năm trở lại đây, đã có một số doanh nghiệp lớn đầu tư cho sản xuất nước mắm. Đây là điều kiện thuận lợi để nâng cấp, hiện đại hóa ngành nghề sản xuất nước mắm ở Việt Nam với sự đa dạng về mẫu mã, chủng loại sản phẩm, phù hợp hơn với nhiều đối tượng người tiêu dùng, kích cầu tiêu dùng nước mắm. Thị trường nước mắm còn nhiều tiềm năng phát triển, không chỉ dừng lại ở thị trường nội địa mà còn cần đẩy mạnh sang thị trường thế giới, cho nên việc tìm hiểu về ngành nghề nước mắm ở thị trường Việt Nam là vô cùng cấp thiết hiện nay. 2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: Thị trường ngành nước mắm ở Việt Nam, tiềm năng phát triển và sự nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp nước mắm ở Việt Nam trong tương lai. 3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Không gian: Việt Nam. Thời gian: 2002 – 2020. 4. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Thứ nhất, phân tích khái niệm và hai thuộc tính của hàng hóa, tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, lượng giá trị & các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa. Thứ hai, nghiên cứu thực trạng thị trường nước mắm của Việt Nam hiện nay. Thứ ba, phân tích những ưu thế và hạn chế của ngành nước mắm ở Việt Nam. Thứ bốn, đưa ra các kiến nghị thúc đẩy sự phát triển ngành nước mắm ở Việt Nam. 5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như trừu tượng hóa khoa học, phân tích tổng hợp, thống kê mô tả, mô hình hóa, chuyên gia. 6. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 02 chương: - Chương 1: HÀNG HÓA. - Chương 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH NƯỚC MẮM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH
KHOA
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
HIỆNST
GHI CH Ú
Trang 2TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
Trang 3BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
Chương 1: HÀNG HOÁ 5
1.1 Khái niệm và hai thuộc tính của hàng hóa 5
1.1.1 Khái niệm hàng hoá 5
1.1.2 Hai thuộc tính của hàng hoá 5
1.2 Những ưu thế và hạn chế của sản xuất hàng hóa 6
1.2.1 Lao động cụ thể 8
1.2.2 Lao động trừu tượng 9
1.3 Lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa 9
1.3.1 Thước đo lượng giá trị của hàng hóa 9
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa 10
Chương 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH NƯỚC MẮM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 12
2.1 Lịch sử hình thành & phát triển của ngành sản xuất nước mắm ở Việt Nam 12
2.2 Thực trạng và nguyên nhân phát triển của ngành nước mắm ở Việt Nam 17
2.3 Điều kiện thuận lợi và khó khăn của ngành sản xuất nước mắm ở Việt Nam 19
2.3.1 Điều kiện thuận lợi 19
2.3.2 Các hạn chế 20
2.4 Các kiến nghị phát triển của ngành nước mắm ở Việt Nam 22
KẾT LUẬN 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam với chiều dài hơn hai ngàn cây số đường bờ biển và có nhiều sông ngòi
ao hồ, Đó là nguồn cung cấp cá và muối dồi dào, là nguyên nhân phát sinh nghề làmnước mắm của nhân dân ta từ xa xưa Nước mắm được gọi là "quốc hồn quốc túy", làmột loại gia vị và cũng là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Trong bữa ănhàng ngày của người dân Việt Nam thường không thiếu nước mắm Nước mắm hấpdẫn mọi người bởi hương vị đậm đà và giá trị dinh dưỡng cao Nước mắm được sảnxuất từ cá và muối không chỉ được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam, mà hiện nay cònđược ưa chuộng ở nhiều nước trên thế giới Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn, tổng giá trị ngành hàng nước mắm của Việt Nam hiện đạt khoảng 6.000 tỷ đồng/năm và tăng trưởng trong 10 năm qua đạt 13,15%/năm Trong những năm trở lại đây,
đã có một số doanh nghiệp lớn đầu tư cho sản xuất nước mắm Đây là điều kiện thuậnlợi để nâng cấp, hiện đại hóa ngành nghề sản xuất nước mắm ở Việt Nam với sự đadạng về mẫu mã, chủng loại sản phẩm, phù hợp hơn với nhiều đối tượng người tiêudùng, kích cầu tiêu dùng nước mắm Thị trường nước mắm còn nhiều tiềm năng pháttriển, không chỉ dừng lại ở thị trường nội địa mà còn cần đẩy mạnh sang thị trường thếgiới, cho nên việc tìm hiểu về ngành nghề nước mắm ở thị trường Việt Nam là vô cùngcấp thiết hiện nay
2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Thị trường ngành nước mắm ở Việt Nam, tiềm năng phát triển và sự nâng caonăng suất chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp nước mắm ở Việt Nam trongtương lai
3 PHẠM VI NGHIÊN
CỨU Không gian: Việt
Nam Thời gian: 2002 –
2020
4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 6Thứ nhất, phân tích khái niệm và hai thuộc tính của hàng hóa, tính hai mặt của
lao động sản xuất hàng hóa, lượng giá trị & các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trịhàng hóa
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng thị trường nước mắm của Việt Nam hiện nay Thứ ba, phân tích những ưu thế và hạn chế của ngành nước mắm ở Việt Nam Thứ bốn, đưa ra các kiến nghị thúc đẩy sự phát triển ngành nước mắm ở Việt Nam.
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như trừu tượng hóa khoa học, phântích tổng hợp, thống kê mô tả, mô hình hóa, chuyên gia
6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 02 chương:
- Chương 1: HÀNG HÓA
- Chương 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH NƯỚC MẮM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 7Chương 1: HÀNG HOÁ
1.1 Khái niệm và hai thuộc tính của hàng hóa
1.1.1 Khái niệm hàng hoá
Theo định nghĩa của C Mác, “Hàng hoá là sản phẩm của lao động, có thể thoả
mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.”1, nói cách khác, sảnphẩm của lao động là hàng hoá khi được đem ra trao đổi, buôn bán trên thị trườngnhằm thoả mãn một nhu cầu, mục đích nào đó của con người
Như vậy, chúng ta có thể thấy hàng hoá có 3 tính chất cơ bản: là sản phẩm củalao động; được đem ra trao đổi, mua bán và thoả mãn một nhu cầu nào đó của conngười Hàng hoá có thể tồn tại dưới dạng vật thể như một bó rau, bó củi, sắt thép, …hoặc dưới dạng phi vật thể như sức lao động của con người, quyền sở hữu trí tuệ, v.v
Ví dụ: Khi một cái kéo được đem bán trong cửa hàng thì cái bút là hàng hoá vì
nó là sản phẩm của sự lao động khi mà người công nhân phải rèn giũa từ thép rồi trảiqua nhiều công đoạn khác để tạo ra một chiếc kéo, nó được đem ra trao đổi, mua bán
và nó thoả mãn nhu cầu của con người đó là cắt giấy hoặc cắt một thứ gì đó
1.1.2 Hai thuộc tính của hàng hoá
Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, sản xuất hàng hóa có bản chất khác nhau,nhưng hàng hoá đều có hai thuộc tính đó là: giá trị sử dụng và giá trị
Giá trị sử dụng của hàng hoá là công dụng của hàng hoá đó, nói cách khác là khi
sử dụng hàng hoá đó sẽ thoả mãn được nhu cầu nào đó của con người, nhu cầu đó cóthể là nhu cầu vật chất hoặc nhu cầu tinh thần; có thể là nhu cầu cho sự tiêu dùng cánhân hoặc nhu cầu cho sản xuất Bất cứ hàng hoá nào cũng có một công dụng nhấtđịnh, công dụng ở đây thể hiện tính có ích của loại hàng hoá đó từ đó làm hàng hoá cógiá trị sử dụng Ví dụ, công dụng của bút là để viết, gạo là để ăn, v.v, vậy giá trị sửdụng của bút là để viết, của gạo là để ăn
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2019), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin (dành cho bậc đại học - không
chuyên lý luận chính trị), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Trang 8Giá trị sử dụng của hàng hoá được phát hiện dần trong quá trình phát triển của
nền sản xuất, khoa học, công nghệ, từ đó làm phong phú thêm giá trị sử dụng của hànghoá Chẳng hạn, các loại quả họ cam quýt, ngày xưa chỉ được sử dụng để ăn, hoặc lấynước, nhưng nhờ sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, cam quýt còn được sử dụng lấytinh dầu để sử dụng vào các mục đích khác nhau Giá tri ̣sử dung của hàng hóa là giátri ̣sử dung
xã hộ i vì giá tri ̣sử dung của hàng hóa khô ng phải là giá tri ̣sử dung cho ngườ i sản xuấttrưc tiếp mà là cho ngườ i khác, cho xã hộ i, thô ng qua trao đổi, mua bán Điều đó đòi hỏingườ i sản xuất hàng hóa phải luô n luô n quan tâ m đến nhu cầu của xã hộ i, làm cho sảnphẩm của mình đáp ứ ng đươc nhu cầu của xã hộ i
Giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh
trong hàng hoá Không phải bất cứ vật nào được sản xuất ra đều là sản phẩm của hànghoá, chỉ khi vật đó được đem đi trao đổi, mua bán thì mới được gọi là hàng hoá, khi đóthì vật đó có thêm giá trị trao đổi, hay còn gọi là giá trị của hàng hoá Thuộc tính giá trịbiểu hiện rõ nhất thông qua sự trao đổi hàng hoá, khi ta trao đổi giữa hai loại hàng hoá
mà chúng có giá trị sử dụng khác nhau, thì cơ sở để xác định tỷ lệ trao đổi đó là giá trịcủa hàng hoá Giữa hai loại hàng hoá thì chúng có một đặc điểm chung đều là sảnphẩm của lao động, dựa vào lượng hao phí cần thiết để tạo ra sản phẩm sẽ xác địnhđược giá trị của hàng hoá từ đó có thể xác định được tỷ lệ trao đổi hợp lý
Hàng hoá là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị Hai thuộctính trên đều do cùng một lao động sản xuất ra hàng hóa Hai thuộc tính của hàng hóa
là sự thống nhất của các mặt đối lập Sự đối lập và mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng vàgiá trị thể hiện ở chỗ: người làm ra hàng hóa đem bán chỉ quan tâm đến giá trị hànghóa do mình làm ra, nếu họ có chú ý đến giá trị sử dụng cũng chính là để có được giátrị Ngược lại, người mua hàng hóa lại chỉ chú ý đến giá trị sử dụng của hàng hóa,nhưng muốn tiêu dùng giá trị sử dụng đó người mua phải trả giá trị của nó cho ngườibán Nghĩa là quá trình thực hiện giá trị tách rời quá trình thực hiện giá trị sử dụng: giátrị được thực hiện trước, sau đó giá trị sử dụng mới được thực hiện
1.2 Những ưu thế và hạn chế của sản xuất hàng hóa.
Ưu thế:
Trang 9Sản xuất hàng hóa và phân công lao động là sự tác động qua lại Sự phát triển sảnxuất hàng hóa làm cho phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, chuyên môn hóasản xuất, hợp tác hóa ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng
mở rộng và chặt chẽ Qua đó làm năng suất lao động tăng nhanh chóng, đáp ứng đầy
đủ nhu cầu xã hội
Tính tách biệt về kinh tế, cạnh tranh, lợi nhuận đòi hỏi người sản xuất hàng hóaphải ra sức cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, cảitiến quy trình, mẫu mã hàng hóa, tổ chức tốt quá trình tiêu thụ, giảm chi phí sản xuất
Từ đó làm tăng năng suất lao động xã hội, nâng cao giá trị của sản phẩm qua đó thúcđẩy lực lượng sản xuất phát triển
Sản xuất hàng hóa không còn bị giới hạn bởi nguồn lực và nhu cầu của mỗi cánhân, gia đình, hay một cơ sở, một vùng nào đó mà được mở rộng ra quy mô xã hộidựa vào nguồn lực và nhu cầu xã hội Thúc đầy việc ứng dụng khoa hoc – kĩ thuật tiêntiến vào sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển theo hướng hiện đại hóa mở rộng quy
mô sản xuất từ nhỏ sang lớn
Sản xuất hàng hóa là mô hình kinh tế mở, thúc đẩy giao lưu kinh tế, giao lưu vănhóa giữa các cá nhân, các vùng, đặc biệt là với nước ngoài làm cho hàng hóa trở nênphong phú đa dạng tạo điều kiện nâng cao, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của
xã hội
Hạn chế:
Kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra khủng hoảng kinh tế thừa hoặcthiếu, sản xuất hàng hóa vượt quá mức nhu cầu tiêu thụ của người tiêu dùng sẽ dẫn đến
dư thừa hàng hóa hoặc sản xuất không đủ phục vụ nhu cầu của người tiêu thụ Theo đó
là tình trạng lãng phí tài nguyên của xã hội, là tình trạng thất nghiệp, lãng phí nguồnlao động thường xuyên xảy ra
Kinh tế thị trường dẫn đến sự phân hoá xã hội như phân hóa giàu-nghèo, địa vị
xã hội Ngoài ra còn dẫn đến sự phá hoại môi trường để lấy tài nguyên thiên nhiênphục vụ cho sản xuất sau đó lại thải các chất độc hại, rác thải công nghiệp, sinh hoạt ramôi trường gây ô nhiễm trầm trọng…
Trang 10Ví dụ như lao động của người thợ cơ khí chế tạo xe máy thì tạo ra các linh kiệntrong xe bằng cách cắt, đúc, gia công lên kim loại, người thợ gốm sứ tạo ra các bát,bình sứ bằng cách tạo mẫu, nung đất,
Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa Như thợ cơ khí làm ra cáclinh kiện trong xe máy tạo ra xe máy để di chuyển, thợ gốm sư làm ra bát để ăn Giá trị
sử dụng là phạm trù vĩnh viễn, vì vậy lao động cụ thể cũng là phạm trù vĩnh viễn tồntại gắn liền với vật phẩm, nó là một điều kiện không thể thiếu trong bất kỳ hình tháikinh tế - xã hội nào
Các hình thức phong phú và đa dạng của lao động cụ thể phụ thuộc vào trình độphát triển và sự áp dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất, đồng thời cũng là tấm gươngphản chiếu trình độ phát triển kinh tế và khoa học - công nghệ ở mỗi thời đại
2 Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2019), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin (dành cho bậc đại học - không
chuyên lý luận chính trị), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Trang 11Lao động cụ thể là biểu hiện của lao động tư nhân vì mỗi người sản xuất hànghóa sản xuất cái gì, sản xuất ra sao là việc của họ.
1.2.2 Lao động trừu tượng.
a Khái niệm.
Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa, nếu đó là sự haophí trí óc, sức mạnh cơ bắp, sức thần kinh mà không kể đến hình thức cụ thể của nó lànhư thế nào
Ví dụ như thợ mộc và thợ cơ khí đều sử dụng trí óc, sức mạnh cơ bắp, sức thầnkinh để làm một sản phẩm bằng gỗ và bằng sắt thép
b Đặc trưng.
Lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa tạo ra giá trị hàng hóa Giá trịcủa hàng hóa được kết tinh bởi các yếu tố như thời gian làm ra sản phẩm, quy trình sảnxuất, tay nghề của người sản xuất hàng hóa
Lao động trừu tượng là cơ sở so sánh, trao đổi các giá trị sử dụng khác nhau.Người sản xuất hàng hóa làm việc với nhau thông qua việc trao đổi hàng hóa
1.3 Lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa 1.3.1 Thước đo lượng giá trị của hàng hóa
“Lượng giá trị của hàng hóa là một khái niệm trong kinh tế chính trị Marx-Leninchỉ về một đại lượng được đo bằng lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hóa đó,lượng lao động tiêu hao đó được tính bằng thời gian lao động, cụ thể là thời gian laođộng xã hội cần thiết Lượng lao động xã hội cần thiết, hay thời gian lao động xã hộicần thiết để sản xuất ra một hàng hóa, mới quyết định đại lượng giá trị của hàng hóa.”3
“C.Mác viết: “Chỉ có lượng lao động xã hội cần thiết, hay thời gian lao động xãhội cần thiết để sản xuất ra một giá trị sử dụng, mới quyết định đại lượng giá trị củagiá trị sử dụng ấy”.”4
3 Wikipedia, Lượng giá trị của hàng hóa, Truy cập từ https://vi.wikipedia.org.
4 Nguyễn Thị Huyền, (05/08/2021), Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa, Truy cập
từ https://luathoangphi.vn/cac-nhan-to-anh-huong-den-luong-gia-tri-hang-hoa.
Trang 12Vì vậy, thước đo giá trị của hàng hoá tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết.
“Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian đòi hỏi để sản xuất ra một giá trị
sử dụng nào đó trong những điều kiện bình thường của xã hội với trình độ thành thạotrung bình, cường độ cao trung bình.”5
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa:
Sự thay đổi lượng giá trị hàng hoá phụ thuộc vào các nhân tố sau:
-Thứ nhất là năng suất lao động:
“Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động, được tính bằng sốlượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hay số lượng thời gian hao phí
để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
Vì vậy, trong thực hành sản xuất, kinh doanh cần chú ý, để có thể giảm hao phílao động cá biệt, cần phải thực hiện các biện pháp để góp phần tăng năng suất laođộng
Năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
+ Trình độ khéo léo trung bình của người lao động
+ Mức độ phát triển của khoa học và trình độ áp dụng khoa học vào quy trìnhcông nghệ
+ Sự kết hợp xã hội vào quá trình sản xuất
+ Quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất
+ Các điều kiện tự nhiên.”6
-Thứ hai là cường độ lao động:
“Cường độ lao động là mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt động lao độngtrong sản xuất
Trong điều kiện trình độ sản xuất còn thấp, việc tăng cường độ lao động cũng có
ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo ra số lượng các giá trị sử dụng nhiều hơn, gópphần thoả mãn lòng tốt hơn nhu cầu của xã hội Cường độ lao động chịu ảnh hưởngcủa các
Trang 13Bộ Giáo dục & Đào tạo, (2019), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
6 Bộ Giáo dục & Đào tạo, (2019), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Trang 14yếu tố sức khoẻ, thể chất, tâm lý, trình độ tay nghề thành thạo của người lao động,công tác tổ chức, kỹ thuật lao động,… Nếu giải quyết tốt những vấn đề này thì ngườilao động sẽ thao tác nhanh hơn, thuần thục hơn, tập trung hơn, do đó tạo ra nhiều hànghoá hơn”7
-Thứ ba là tính chất phức tạp của lao động
Tính chất phức tạp của lao động cũng góp phần ảnh hưởng đến lượng giá trị củahàng hóa Ta có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp.+ “Lao động giản đơn là lao động không đòi hỏi có quá trình đào tạo một cách hệthống, chuyên sâu về chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ cũng có thể thao tác được.+ Lao động phức tạp là những hoạt động lao động yêu cầu phải trải qua một quátình đào tạo về kỹ năng, nghiệp vụ theo yêu cầu của những nghề nghiệp chuyên mônnhất định
Trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau, lao động phức tạp tạo ranhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn Lao động phức tạp là lao động giản đơnđược nhân bội lên Đây là cơ sở lý luận quan trọng để các nhà quản trị và người laođộng xác định mức thù lao phù hợp với tính chất của hoạt động lao động trong quátrình tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội.”8
8 Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2019), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin (dành cho bậc đại học - không
chuyên lý luận chính trị), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
Trang 15Chương 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH NƯỚC MẮM Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY.
2.1 Lịch sử hình thành & phát triển của ngành sản xuất nước mắm ở Việt Nam.
Có lẽ Việt Nam được biết nơi có ẩm thực phong phú, đa dạng nhất trên thế giới.Các món ăn Việt Nam được chế biến vô cùng đơn giản nhưng sức hút của nó thì không
hề đơn giản chút nào Một trong những thứ làm nên thương hiệu và không thể thiếutrong bữa cơm Việt Nam là nước mắm nó như đã ăn sâu vào truyền thống văn hóa củabữa cơm Việt Nam Nước mắm tạo nên một hương vị đặc biệt cho món ăn ví dụ nhưtrong cơm tấm Sài Gòn, bánh xèo rất rất ngon hay dân giã từ thôn quê là những mónluộc chấm với nước mắm không thể tách rời, nói đến thôi là đã phải suýt xoa rồi Vớinhu cầu sử dụng cao thì việc sản xuất nước mắm là một vấn đề cực quan trọng Vậy
nước mắm có từ khi nào mà lại quan trọng với con người Việt Nam đến vậy.
Nước mắm xuất hiện trong sử sách Việt Nam Cuốn Việt sử đầu tiên có đề cậpđến nước mắm, có lẽ là cuốn Đại Việt sử ký toàn thư, khắc in vào năm Chính Hòa thứ
18 (1697) Trong Kỷ nhà Lê, phần viết về Đại Hành hoàng đế, sách này có ghi lại sựkiện: "Đinh Dậu, Ứng Thiên năm thứ 4 (997)… Mùa hạ, tháng 4, nhà Tống phong vualàm Nam Bình Vương Vua sai sứ sang nước Tống đáp lễ Vua Tống ban chiếu thưkhen ngợi Trước kia, sứ Tống sang thường mượn cớ đòi cống nước mắm, nhân thế bắtđóng góp Đến đây, Tống Chân Tông nghe biết chuyện ấy, chỉ sai quan giữ biên giớigọi đến nhận mệnh, không sai sứ sang nữa" Đoạn sử liệu này cho thấy muộn nhất làvào trước năm 997, người Việt đã biết làm và dùng nước mắm và nước mắm đã đượclưu vào sử sách Bấy giờ, nước mắm do người Việt làm ra hẳn phải là một loại đặc sản
có tiếng, khiến vua chúa Trung Hoa tuy ở xa vạn dặm, cũng "ngửi thấy" mùi thơm củanước mắm, nên mới đòi triều đình Đại Việt phải triều cống nước mắm cho họ Nhưngkhi đọc đến đoạn ghi chép này trong Đại Việt sử ký toàn thư, nhà nghiên cứu PhạmHoàng Quân đã nêu một câu hỏi rất thú vị: "Người Trung Hoa không có truyền thống
ăn nước mắm, mà họ ăn nước tương, sao lại đòi cống nước mắm? Hay là thời Tiền Lê,nước mắm Việt hiếm hoi trân quý đến mức người ta phải lấy nó để bắt chẹt nhau?".Quả đúng như vậy, vì người Tàu ăn xì dầu, coi món nước chấm làm từ đậu nành này làthứ gia vị căn cốt của họ, khiến cho món ăn Tàu, nhìn bên ngoài có vẻ giống với món
ăn Việt, kỳ thực, lại