I.NGUYÊN NHÂN KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸTrước khi nghiên cứu nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính, chúng ta nên tìm hiểu sơ qua về diễn biến thị trường bất động sản và tài chính Mỹ t
Trang 1THẢO LUÂN TIỀN TỆ NGÂN HÀNG
Đề tài “ NGUYÊN NHÂN KHỦNG HOẢNG MỸ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG ĐẾN HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM”
Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 là một cuộc khủng hoảng
bao gồm sự đổ vỡ hàng loạt hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, tình trạng sụt giá chứng khoán và mất giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước trên thế giới, có nguồn gốc từ khủng hoảng tài chính ở Hoa Kỳ Bong bóng nhà ở cùng với giám sát tài chính thiếu hoàn thiện ở Hoa Kỳ
đã dẫn tới một cuộc khủng hoảng tài chính ở nước này từ năm 2007, bùng phát mạnh từ cuối năm 2008 Thông qua quan hệ tài chính nói riêng và kinh tế nói chung mật thiết của Hoa Kỳ với nhiều nước Cuộc khủng hoảng từ Hoa Kỳ đã lan rộng ra nhiều nước trên thế giới, dẫn tới những đổ vỡ tài chính, suy thóai kinh tế, suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước trên thế giới Vậy cuộc khủng hoảng lớn đầu tiên của thế kỷ 21 xất phát từ đâu? điều gì đáng để chúng ta tìm hiểu trong
qu á trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống tài chính Chính vì vậy chúng
em đã chọn đề tài này để đưa ra thảo luận
Tuy nhiên với vốn kiến thức còn hạn hẹp, chúng em chỉ xin đưa ra các hiểu của mình về cuộc khủng hoảng này
Trang 2I.NGUYÊN NHÂN KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ
Trước khi nghiên cứu nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính, chúng ta nên tìm hiểu sơ qua về diễn biến thị trường bất động sản và tài chính Mỹ từ năm
2002 để hiểu rõ hơn về cuộc khủng hoảng này.Đặc điểm của thị trường bất động sản Mỹ vào đầu thế kỷ 21 tiềm ẩn nhiều rủi ro
Ở Mỹ, gần như hầu hết người dân khi mua nhà là phải vay tiền ngân hàng và trả lại lãi lẫn vốn trong một thời gian dài sau đó Do đó, có một sự liên hệ rất chặt chẽ giữa tình hình lãi suất và tình trạng của thị trường bất động sản Khi lãi suất thấp và dễ vay mượn thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao; khi lãi suất cao thì thị trường giậm chân, người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá nhà xuống thấp Bắt đầu từ năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ, Cục
Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân hàng cũng hạ lãi suất cho vay tiền mua bất động sản (mặc dù những loại lãi suất cho vay tiền mua nhà do các ngân hàng thương mại ấn định bao giờ cũng cao hơn nhiều so với lãi suất cơ bản của Fed, nhưng mức độ cao hay thấp của chúng bao giờ cũng phụ thuộc vào lãi suất cơ bản) Vào giữa năm 2000 thì lãi suất cơ bản của Fed là trên 6% nhưng sau đó lãi suất này liên tục được cắt giảm, cho đến giữa năm 2003 thì chỉ còn 1%
Về phương diện sở hữu nhà cửa, chính sách chung của chính phủ lúc bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo và các nhóm dân da màu được vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà Việc này phần lớn được thực hiện thông qua hai công ty được bảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae và Freddie Mac Hai công ty này giúp đổ vốn vào thị trường bất động sản bằng cách mua lại các khoản cho vay của các ngân hàng thương mại, biến chúng thành các loại chứng từ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp (mortgage-backed securities - MBS), rồi bán lại cho các nhà đầu tư ở Phố Wall, đặc biệt là các ngân hàng đầu tư khổng lồ như Bear Stearns và Merrill Lynch
Thị trường bất động sản trở nên nhộp nhịp, có rất nhiều người thu nhập thấp hoặc không có tín dụng tốt nhưng vẫn đổ xô đi mua nhà Để có thể được vay, nhóm người này thường phải trả lãi suất cao hơn và thường được cho mượn dưới hình thức lãi suất điều chỉnh theo thời gian (ví dụ, nếu thỏa thuận là được vay với lãi suất 6% và điều chỉnh sau 3 năm thì đúng ba năm sau lãi suất mới sẽ được ấn định theo thời điểm đó) Tóm lại, nhóm người này thuộc vào thành phần được cho vay với loại lãi suất dưới chuẩn (subprime rate)
Bất kể khả năng trả được nợ của nhóm vay dưới chuẩn, khoản tiền cho vay dành cho nhóm này đã tăng vùn vụt Theo các ước tính thì nó tăng từ 160 tỉ USD ở năm 2001 lên 540 tỉ vào năm 2004 và trên 1.300 tỉ vào năm 2007 Vì dễ vay cho nên nhu cầu mua nhà lên rất cao, kéo theo việc lên giá bất động sản liên tục Giá nhà bình quân đã tăng đến 54% chỉ trong vòng bốn năm từ 2001 (năm bắt đầu
Trang 3cắt mạnh lãi suất) đến 2005 Việc này cũng dẫn đến vấn đề đầu cơ và ỷ lại là giá nhà sẽ tiếp tục lên Hệ quả là người ta sẵn sàng mua nhà với giá cao, bất kể giá trị thực và khả năng trả nợ sau này vì họ nghĩ nếu cần sẽ bán lại để trả nợ ngân hàng mà vẫn có lời Do đó, một bong bóng đã thành hình trong thị trường bất động sản Fannie Mae đã mạnh tay hơn trong việc mua lại các khoản cho vay đầy mạo hiểm do phải đối đầu với cạnh tranh nhiều hơn từ các công ty khác, chẳng hạn như Lehman Brothers Bên cạnh đó, nhu cầu mua lại MBS của các nhà đầu tư vẫn cao bởi vì cho tới trước năm 2006 thì thị trường bất động sản vẫn chưa có dấu hiệu nổ bong bóng Hơn nữa, họ cũng phần nào được trấn an khi vẫn có thể mua thong thả các hợp đồng bảo hiểm CDS từ các công ty bảo hiểm
và đầu tư khác Việc này dẫn đến các công ty bán bảo hiểm càng mạnh tay hơn trong việc bán CDS ra thị trường, bất chấp khả năng bảo đảm của mình
Sự suy sụp dây chuyền trên thị trường tài chính
Do lo lắng về diễn biến lạm phát, Cục Dự trữ liên bang (Fed) bắt đầu tăng dần lãi suất, dẫn đến việc thị trường bất động sản (BĐS) bắt đầu chững lại vào đầu năm 2006 Trong khi vào giữa năm 2003 lãi suất căn bản của Fed chỉ có 1% thì vào giữa năm 2006 nó đã tăng lên đến 5,25%, bắt buộc các ngân hàng thương mại phải đẩy lãi suất cho vay tiền mua nhà lên cao hơn nhiều nữa Tình hình lãi suất cao đã khiến cường độ vay để mua nhà giảm lại Giá nhà bắt đầu trượt dốc
vì cung vượt cầu Nhiều người mua nhà giá cao trước đây bắt đầu thấy giá thị trường của căn nhà đang sở hữu thấp hơn khoản nợ mà mình đang vay Bên cạnh đó, rất nhiều người trong nhóm vay tiền với lãi suất dưới chuẩn bắt đầu mất khả năng trả nợ khi lãi suất của họ bị điều chỉnh trở lại theo lãi suất mới hiện hành khá cao Họ muốn bán nhà để trả nợ cũng không được vì giá nhà thấp hơn khoản nợ do thị trường tụt dốc Hệ quả là họ đành bỏ nhà cho ngân hàng trưng thu lại
Việc ngày càng nhiều người không có khả năng trả nợ ngân hàng mỗi tháng dẫn đến việc trị giá của các MBS bị tụt dốc Như đã nói lúc đầu, có rất nhiều nhà đầu
tư ở Phố Wall đã mua MBS Do đó, khi MBS mất giá thì đồng nghĩa với việc tài sản của họ cũng bị mất theo, dẫn đến việc thiếu hụt vốn Bên cạnh đó, các công
ty bảo hiểm MBS, chẳng hạn như AIG, cũng lâm vào cảnh khốn đốn khi phải đứng ra bảo lãnh ngày càng nhiều các khoản vay xấu Ngoài ra, các ngân hàng thương mại hoặc các công ty cho vay thế chấp còn giữ lại phần lớn các khoản vay cho mình (thay vì bán lại cho Fannie Mae chẳng hạn) cũng nhìn dòng vốn
và tín dụng của mình bị cạn kiệt khi phải đương đầu với tỷ lệ mất khả năng trả
nợ ngày càng cao của người vay thuộc nhóm dưới chuẩn Vấn đề này càng trở nên nghiêm trọng hơn khi các nhà đầu tư bắt đầu bán tháo bán đổ các công cụ đầu tư mạo hiểm để tìm cách bảo tồn vốn Sự việc này dẫn đến niềm tin vào thị trường bị tụt dốc và "suy nghĩ và hành động bầy đàn" trở nên phổ biến, bắt buộc chính phủ phải xen vào thị trường một cách rộng lớn và táo bạo để khôi phục
Trang 4Tóm lại khủng hoảng tài chính toàn cầu mà bắt nguồn tại Mỹ xuất phát từ 3 nguyên nhân cơ bản sau
I.1/ Nguyên nhân thứ nhất:
Nguyên nhân đầu tiên quan trọng nhất là gia tăng nguồn vốn tài trợ để mua bán nhà ở thông qua kỹ thuật “chứng khoán hóa bất động sản thế chấp” trong khi hệ thống kiểm soát không theo kịp là nguyên nhân sâu xa của khủng hoảng Trước đây ở Mỹ, nguồn vốn cho vay mua bất động sản chủ yếu
do ngân hàng cung cấp, vì vậy lượng tiền cho vay có giới hạn tùy thuộc vào lượng tiền gửi của người dân và những hạn chế về tỷ lệ cho vay cũng như tỷ lệ
dự trữ bắt buộc của Chính phủ đối với ngân hàng Năm 1980 Chính phủ Mỹ ban hành Luật Giao dịch Thế chấp Tương đương (Alternative Mortgage Transaction Parity Act), nới rộng những quy tắc cho vay và khuyến khích những kênh tài trợ khác phi ngân hàng Đạo luật này đã góp phần cho ra đời của nhiều công ty cho vay thế chấp và không bị ràng buộc bởi các luật lệ của ngân hàng Ngay cả những ngân hàng cũng thành lập hoặc liên kết với các công ty cho vay thế chấp làm bùng nổ các kênh cung cấp vốn cho thị trường bất động sản
Đồng thời, để hỗ trợ cho vay tạo lập nhà ở, Chính phủ Mỹ còn cho lập Hiệp hội quốc gia tài trợ bất động sản (Federal National Mortgage Association – gọi tắt là Fannie Mae) và Tập đoàn cho vay thế chấp quốc gia (Federal Home Loan Mortgage Corporation - gọi tắt là Freddie Mac) Hoạt động chính của Fannie Mae và Freddie Mac là mua lại những món nợ vay thế chấp bằng bất động sản, đặc biệt là các khoản vay thế chấp "dưới chuẩn" (subprime mortgages) của các ngân hàng rồi dùng bất động sản thế chấp để phát hành “trái phiếu tái thế chấp” (Mortgage-backed Securities-MBS) bán cho các nhà đầu tư khác nhằm tăng tính thanh khoản cho ngân hàng Như vậy những món nợ nhà ở đã được “trái phiếu hóa” thành sản phẩm tài chính thông dụng có thể mua bán dễ dàng trên thị trường tiền tệ.Nói đơn giản hơn MBS là một loại chứng khoán phái sinh mà Fannie Mae, hoặc là một công ty tài chính khác như Lehman Brothers, bỏ tiền ra mua lại các khoản cho vay thế chấp từ các ngân hàng thương mại, tập trung chúng thành từng loại khác nhau, rồi phát hành MBS để bán lại cho các nhà đầu
tư
Ví dụ, Fannie Mae mua 1.000 khoản vay thế chấp với các đặc điểm giống nhau với gốc là 200.000 USD cho mỗi khoản vay Khi tập trung lại thì tổng trị giá các khoản vay này sẽ là 200.000.000 USD Fannie Mae có thể biến khoản này thành 100.000 MBS, trị giá 2.000 USD một phần và bán lại cho các nhà đầu tư Nếu nhà đầu tư A mua 10 MBS thì sẽ trả 20.000 USD
Trang 5Sau khi mua các MBS thì các nhà đầu tư sẽ nhận lại khoản tiền vừa lãi vừa gốc được chuyển đến hằng tháng từ các người vay tiền (thông qua một công ty dịch
vụ trung gian) trong một khoản thời gian nhất định nào đó
Và cũng vì có sự khác nhau về rủi ro của các loại MBS cho nên các công ty bảo hiểm và thẩm định rủi ro, chẳng hạn như AIG, cũng nhảy vào để bán bảo hiểm cho các nhà đầu tư MBS Các bảo hiểm này được gọi là credit default swap (CDS), với mục đích bảo đảm cho các nhà đầu tư MBS là trong trường hợp những người vay tiền mua nhà không trả được nợ và làm cho MBS mất giá thì
sẽ được bồi thường Trong thời kỳ hoàng kim, việc kinh doanh bảo hiểm CDS
đã đem lại cho AIG nhiều món lợi khổng lồ Tuy nhiên, chúng trở thành rắc rối chính của người khổng lồ này khi thị trường bất động sản đi xuống và rủi ro tín dụng vùn vụt tăng cao
Thụ phạm là ai? Một trong những thủ phạm đó chính là cựu tổng thống Mỹ
Bill Clinton.Người mà trước khi mãn nhiệm vào năm 1999, đã chính thức khai
tử cho đạo luật GLASS STEARGALL ra đời năm 1933 vào thời của tổng thống Franklin Rosevelt, đạo luật này phân biệt khắt khe giữa hoạt động ngân hàng thương mại và hoạt động ngân hàng đầu tư Ngân hàng thương mại chỉ được hoạt động trong lĩnh vực cho vay những hoạt động kinh doanh truyền thống, ít rủi ro nhất và có đầy đủ chế chấp cụ thể một cách tương xứng Ngân hàng thương mại trả lãi suất ký gửi là X% thì cho vay lại chỉ ở mức X + 2 (hoặc 3%)
mà thôi để đảm bảo tính an toàn và giữ vững niềm tin của người dân đã gửi tiền tiết kiệm
Hoạt động của ngân hàng đầu tư là những hoạt động kinh doanh với độ rủi ro cao nên các nhà đầu tư vào các loại quỹ hoặc ngân hàng đầu tư phải được biết như vậy và chấp nhận rủi ro Sự tách biệt giữa hoạt động ngân hàng thương mại
và ngân hàng đầu tư là để làm rạch ròi mức độ rủi ro, tránh sự mập mờ dễ gây ra
sự ngộ nhận cho người dân khi gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng
I.2/Nguyên nhân thứ hai là việc cho vay mua nhà ở dễ dãi “dưới chuẩn” nhưng thiếu cơ chế kiểm soát
Thông thường muốn vay ngân hàng để mua nhà trả góp ở Mỹ, người vay phải đảm bảo “chuẩn” gồm 3 điều kiện cơ bản là: có tiền đặt cọc ít nhất bằng 10% số tiền mua nhà; chứng minh có thu nhập ổn định sao cho số tiền trả góp hàng tháng không quá 28% thu nhập và có điểm tín nhiệm vay trả sòng phẳng Mặt khác, ngân hàng cũng chỉ được phép cho vay tùy thuộc vào lượng tiền gửi của người dân và những hạn chế về tỷ lệ cho vay cũng như tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Chính phủ đối với ngân hàng
Tuy nhiên, để hỗ trợ các gia đình có thu nhập thấp và thu nhập khiêm tốn (low- and monderate - income) có điều kiện sở hữu nhà ở, Chính phủ Mỹ có chương
Trang 6trình “cho vay dưới chuẩn” Các ngân hàng thương mại khi cho đối tượng này vay thì được hai tổ chức Fannie Mae và Freddie Mac mua lại các khoản vay này Khi thị trường bất động sản suy thoái, những người thu nhập thấp và thu nhập khiêm tốn không có điều kiện để trả nợ
Việc cho vay dưới chuẩn là không xét khả năng chi trả và điểm tín dụng theo quy định, nhưng đổi lại người vay phải trả lãi suất cao hơn từ 1 đến 2% Ngoài
ra việc cho vay dưới chuẩn còn thể hiện ở mức cho vay cao tới 85% giá trị bất động sản thế chấp, người mua chỉ cần đóng góp 15% Nghĩa là người dân chỉ cần có 150.000 USD là có thể được vay 850.000 USD để mua căn nhà 1 triệu USD Nhiều công ty cho vay thế chấp hoặc ngân hàng còn cạnh tranh thu hút khách hàng bằng các gói tín dụng hấp dẫn khác Đây là cơ hội cho các nhà đầu
cơ bất động sản vì khi thị trường bất động sản đang lên, chỉ cần có một ít tiền là
có thể đặt cọc mua nhà, vài tháng sau giá nhà lên bán lấy lãi
Ngoài ra, việc cho vay dễ dãi “dưới chuẩn” còn do tiền cho vay được thu về thông qua “chứng khoán hóa”, thông qua phát hành “trái phiếu tái thế chấp” bất động sản thế chấp Dưới hình thức này người cho vay và người vay không biết nhau, ngân hàng chỉ còn là đơn vị trung gian cho vay sau đó chuyển nhượng khoản vay cho công ty cho vay thế chấp để công ty phát hành “trái phiếu tái thế chấp” chuyển nhượng trên thị trường là xong Ví dụ Ngân hàng Northen Rock
có cơ cấu vốn 25% vốn từ khoản gửi tiết kiệm, 25% từ thị trường tiền tệ liên ngân hàng, 50% từ việc chứng khoán hóa Đây là khuyết tật nghiêm trọng của việc chứng khoán hóa bất động sản thế chấp nhưng thiếu kiểm soát
Thủ phạm là ai?
Lại là Bill Clinton với một chính sách sai lầm nữa Năm 1995, Clinton nới lỏng
quy định về nhà đất bằng cách sửa lại Luật Tái đầu tư Công cộng Điều luật gia tăng sức ép lên các ngân hàng, buộc họ phải tạo điều kiện cho những người có thu nhập thấp vay tiền mua nhà
Và kẻ có ảnh hưởng nhất trong cuộc khủng hoảng này theo tạp chí Time của Mỹ bình chọn Agelo Mozilo đồng sáng lập ra Countrywide – nhà cho vay thế chấp lớn nhất nước Mỹ đã hưởng ứng nhiệt tình phong trào “cho vay thế chấp”.Trong phong trào này, Countrywide đã giúp bất cứ người Mỹ nào cũng có thể vay tiền
dù người đó chưa chắc có khả năng trả nợ, từ giám đốc 1 công ty cho tới một cậu sinh viên Hardvard ngay cả nhưng người sống ở những khu phố ổ chuột
I.3/Nguyên nhân thứ ba là giá bất động sản tại Mỹ tăng liên tục đã lôi kéo các nhà đầu tư và cả người dân đổ xô vào kinh doanh bất động sản làm cung vượt quá cầu
Việc cho vay dễ dãi tạo điều kiện cho đông đảo các nhà đầu tư tham gia đầu cơ bất động sản, tạo cầu ảo đẩy “bong bóng” bất động sản lên cao Thị trường bất
Trang 7động sản Mỹ tăng liên tục trong vòng nhiều năm qua Theo thống kê của Cơ quan Tài chính nhà ở Liên bang (OFHEO) thì nếu Chỉ số giá nhà ở (HPI) trung bình của toàn Liên bang năm 1980 là 100 điểm, thì tới năm 1998 Chỉ số giá nhà
ở là 206 điểm và tới Quí 4/2007 là 387 điểm, cá biệt có những Bang như New England là 613 điểm Cũng theo thống kê của cơ quan này thì giá nhà ở Quí I/2005 tăng 12,5% so với Quí I/2004, trong khi đó giá các loại hàng hóa và dịch
vụ khác chỉ tăng 3,1% cùng thời kỳ
Chính giá nhà ở tăng liên tục đã thúc đẩy người dân đổ xô vào mua bán bất động sản, làm cho cung cầu mất cân đối, cung vượt xa cầu Theo thống kê của Cơ quan Thống kê Hoa kỳ thì từ năm 1997đến năm 2007, bình quân mỗi năm ở Mỹ xây dựng thêm 1.233.000 ngôi nhà ở Nếu bình quân mỗi ngôi nhà có diện tích khoảng 150 m2 sàn thì hàng năm nước Mỹ xây dựng được gần 200 triệu m2 nhà
ở Riêng năm 2007 có tới 17.958.000 ngôi nhà bỏ không, trong đó có đến
13.276.000 ngôi nhà bỏ không suốt năm.Nếu xếp số ngôi nhà bỏ hoang này vòng quanh trái đất thì 3 vòng mới hết
Thủ phạm l ai? à
Thủ phạm đâu tiên cũng chính là thủ phạm lớn nhất trong vụ sụp đổ thi trường nhà đất Mỹ Ian McCarthy Là CEO của Công ty Bất động sản Beazer Homes, ông đã cho xây quá nhiều nhà, vượt ngoài khả năng tiêu hóa của người Mỹ Để tiêu thụ hết số nhà đó, Ian McCarthy đã dùng đến vài mánh khóe Một trong số
đó là chiêu dối trá về khả năng trả nợ của khách hàng, khiến nhà băng sẵn sàng cho họ vay tiền mua bất động sản
Những ngày đen tối
Với hàng loạt các nguyên nhân đã nêu hệ quả tất yếu là sự sụp đổ dây truyền của các ngân hàng, các công ty,tập đoàn bảo hiểm, các quĩ đầu tư,các định chế tài chính hàng đầu nước Mỹ cũng như trên thế giới
Mở đầu là sự sụp đổ của nhà cho vay thế chấp số 1 nước Mỹ -Countrywidecông
ty tài chính từng nắm giữ 20% thị trường cho vay bất động sản Mỹ, chỉ trong vài tháng đã bị đẩy đến sát bờ vực phá sản và buộc phải bán lại cho Bank of
America vào tháng 1 năm 2008
Hai tháng sau đó, sự sụt giá không kiểm soát nổi của các khoản đầu tư tài chính – bất động sản đã gần như khiến Bear Stearns, một trong năm ngân hàng đầu tư lớn nhất của Mỹ, tê liệt và buộc phải chấm dứt hoạt động sau 85 năm tổn tại.Và xin lưu ý rằng Trong suốt 85 năm tồn tại, Bear Stearns chỉ bị lỗ duy nhất vào quý 4 năm 2007 Dưới sự bảo lãnh của chính phủ Mỹ, ngân hàng JPMorgan Chase mua lại Bear Stearns với giá $2 một cổ phiếu, thấp hơn 10 lần giá cổ phiếu giao dịch trên thị trường trước thời điểm mua Giá này sau được điều chỉnh thành $10 một cổ phiếu
Trang 8Tiếp theo là 2 định chế tài chính – 2 ông lớn Fannie Mae và Freddie Mac Ngày
7 tháng 9, chỉ vài ngày trước khi Lehman Brothers phá sản, chính phủ Mỹ cũng
bị buộc phải tiếp quản Fannie Mae và Freddie Mac, hai công ty sở hữu và bảo lãnh trên 5000 tỉ đô la bất động sản, tương đương gần 50% giá trị thị trường bất động sản Mỹ và gấp gấn 100 lần GDP của Việt Nam năm 2007, sau những báo động về tình trạng cạn kiệt vốn của hai công ty này
Sự sụt giá trên thị trường bất động sản và các khoản đầu tư tài chính – bất động sản nhanh chóng làm hao hụt nguồn vốn và hạ thấp chỉ số tín dụng của các tập đoàn tài chính ngân hàng Trong đó ngân hàng đầu tư Lehman Brothers mất hàng chục tỉ đô la giá trị cổ phiếu chỉ trong vài ngày không chỉ chấn động và làm đảo lộn thị trường tài chính Wall Street, mà nhanh chóng tạo nên cơn địa chấn toàn cầu, đẩy cuộc khủng hoảng lên tới đỉnh điểm mới Nhiều công ty lớn, vốn từng là đối tác hoặc nhà đầu tư của Lehman Brothers, là những đối tượng đầu tiên chịu ảnh hưởng trực tiếp Khả năng phá sản dây chuyền khiến các nhà đầu tư bán tháo cổ phiếu của American International Group (AIG), tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới, vì lo ngại AIG sẽ không cáng đáng nổi trách nhiệm của những khoản bảo hiểm phá sản Chỉ trong vòng vài ngày cổ phiếu AIG đã mất tới 90% giá trị
Nghiêm trọng hơn, nỗi lo sợ về khả năng vỡ nợ hàng loạt đã khiến các ngân hàng và công ty tài chính xiết chặt hầu bao, đẩy lãi suất ngân hàng và lãi suất liên ngân hàng tăng vọt từng giờ Các nguồn cung về tài chính bỗng trở nên cạn kiệt, dẫn đến nguy cơ sụp đổ hoàn toàn của hệ thống tài chính và một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn diện
II./Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008
đến thị trường tài chính Việt Nam
II.1/Nhìn lại năm 2008
Năm 2008, thị trường tài chính Việt Nam chịu ảnh hưởng tác động của khủng hoảng tài chính thế giới nói chung và của Mỹ nói riêng Lạm phát và lãi suất tăng cao đã làm cho khả năng thanh khoản của thị trường giảm sút, từ đó đã ảnh hưởng đến việc huy động nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển
Các đặc điểm chính của thị trường tài chính năm 2008 là:
Thứ nhất, thị trường trái phiếu có nhiều biến động Nửa đầu năm 2008, hoạt
động huy động vốn trên thị trường trái phiếu có biểu hiện đình trệ do lãi suất tăng cao, một số cân đối vĩ mô có xu hướng xấu
Tuy nhiên, trong những tháng cuối năm, thị trường trái phiếu đã phục hồi trở lại,
Trang 9tạo thuận lợi hơn cho công tác huy động vốn cho đầu tư phát triển.
Lãi suất trái phiếu Chính phủ cũng được điều hành linh hoạt, theo sát diễn biến thực tế của thị trường, đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường vốn, từng bước phối hợp nhịp nhàng với điều hành chính sách tiền tệ và làm cơ sở cho các hoạt động huy động vốn trong giai đoạn hiện nay
Thứ hai, thị trường chứng khoán liên tục suy giảm từ đầu năm Chỉ số
VN-Index đã giảm gần 70% so với đầu năm 2008 Chỉ số HASTC-VN-Index có thời điểm giảm xuống dưới mức 100 điểm do tác động của tình hình trong nước và đặc biệt là ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu nổ ra từ quý 3/2008, khiến cho dòng vốn nước ngoài giảm mạnh, sức cầu trên thị trường yếu đi
Mặc dù vậy, trong năm 2008 vẫn có gần 90 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, nâng tổng số lên trên 340 cổ phiếu, chứng chỉ quỹ niêm yết Giá trị vốn hoá thị trường cổ phiếu đạt khoảng 18,5% GDP
Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của thị trường chứng khoán tiếp tục được hoàn thiện, công tác quản lý giám sát thị trường được tăng cường nhằm tạo niềm tin cho các đối tượng tham gia trên thị trường
Thứ ba: thị trường bảo hiểm năm 2008 tiếp tục duy trì mức tăng trưởng ổn
định, tăng 8,22% so với năm 2007
Tổng doanh thu toàn thị trường dự kiến đạt 26.082 tỷ đồng, trong đó doanh thu phí bảo hiểm chiếm 78,1% tỷ đồng và doanh thu hoạt động đầu tư chiếm 21,9% Đến cuối năm 2008, ngành bảo hiểm đã huy động đầu tư trở lại nền kinh tế khoảng 57.000 tỷ đồng, tăng hơn 10 nghìn tỷ so với năm 2007
Cũng trong năm 2008, các doanh nghiệp bảo hiểm đã giải quyết bồi thường và trả tiền bảo hiểm hơn 6.400 tỷ đồng đảm bảo sự phát triển ổn định của các tổ chức, cá nhân không may gặp rủi ro, qua đó góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế xã hội
Tuy nhiên theo nhận định chung của các chuyên gia thì thị trường tài chính Việt Nam, về cơ bản, không chịu tác động mạnh từ khủng hoảng tài chính Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng về mặt tiền tệ đối với Việt Nam có lẽ không đáng
kể Những loại chứng khoán mà hiện nay đang có vấn đề của những công ty chứng khoán và bảo hiểm của Mỹ chưa bán ở Việt Nam Hệ thống tiền tệ và thị trường vốn, thị trường chứng khoán ở Việt Nam chưa lành mạnh, dễ tổn thương,
dễ lâm vào bất ổn chủ yếu là do các yếu tố trong nội bộ Việt Nam như thiếu tính công khai, thiếu minh bạch, dân chúng khó tiếp cận, tồn tại giao dịch nội gián , chứ không liên quan nhiều đến cuộc khủng hoảng ở Mỹ
Đầu tư trực tiếp (FDI) ở Việt Nam có lẽ cũng không bị ảnh hưởng nhiều từ cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Mỹ Các nhà đầu tư chính ở Việt Nam là Nhật, Hàn Quốc,
Trang 10Đài Loan Ngay cả những công ty chế tạo của Mỹ nếu có kế hoạch đầu tư vào Việt Nam cũng sẽ không vì cuộc khủng hoảng này mà đình hoãn kế hoạch đó Kinh nghiệm của thập niên 1990 cho thấy kinh tế Nhật suy thoái hầu như không ảnh hưởng gì đến FDI của họ ở Trung Quốc và Việt Nam Kinh nghiệm của Intel tại Việt Nam cũng cho thấy công ty này chậm triển khai kế hoạch đầu tư ở nước ta chủ yếu vì không bảo đảm được nguồn nhân lực có trình độ cao cần thiết Thành ra, để tiếp tục tiếp nhận FDI từ Nhật, Mỹ và nhiều nước khác, Việt Nam cần hoàn thiện các điều kiện về nguồn nhân lực, cơ sở hậu cần, xây dựng công nghiệp phụ trợ
II.2/Bài học cho VIỆT NAM
Việt Nam cũng cần rút ra các bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ Nếu
để hệ thống tiền tệ phát triển tự phát với sự xuất hiện các công cụ tài chính càng tinh vi, phức tạp thì càng khó quản lý Thị trường chứng khoán phải được phát triển từng bước và phải có đủ cơ chế công khai thông tin và việc thực thi các luật lệ phải có tính minh bạch Phát triển thị trường tài chính một cách vội vàng
sẽ dễ phát sinh khủng hoảng Đối với Việt Nam hiện nay, mục tiêu tối thượng của hệ thống tiền tệ là phải làm sao góp phần tăng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu sản xuất và xuất khẩu, huy động vốn trong dân và giúp những doanh nghiệp tiếp cận với vốn Thêm vào đó, hệ thống tiền tệ phải hoàn toàn nằm trong khả năng quản lý, giám sát của Nhà nước Để được như vậy, phải ưu tiên củng cố hệ thống ngân hàng, làm cho ngân hàng trở thành nơi tin cậy và gần gũi với dân chúng là những người gửi tiết kiệm, là những nhà đầu tư Phải tạo cơ chế để các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được với vốn thì mới có thể xúc tiến đầu tư phát triển, tạo công ăn việc làm, góp phần tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế.( Theo đ ánh gi á c ủa gi áo s ư Tr ần V ăn Th ọ- Giáo sư Kinh tế, Đại học Waseda, Tokyo (Nhật Bản), hiện đang nghiên cứu ở Đại học Harvard, Cambridge.)
a Dự báo tình hình kinh tế thế giới trong năm 2009 vẫn diễn biến phức tạp, cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ và suy thoái kinh tế thế giới ngày càng lan rộng và ảnh hưởng mạnh đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia.
Do hệ thống tài chính của Việt Nam dường như chưa hội nhập chung với hệ thống tài chính toàn cầu,chúng ta chỉ mới mở cửa tài khoản vốn vào mà hầu như chưa mở cửa dòng ra,do vậy lượng tiền Việt Nam đầu tư ra bên ngoài không nhiều và dòng vốn gián tiếp đổ vào Việt Nam chưa nhiều nên hệ thống tài chính của Việt Nam sẽ không chịu nhiều tác động từ cuộc khủng hoảng này so với các nước có mức độ hội nhập tài chính sâu rộng
Sụt giảm đầu tư do dự giảm sút của dòng vốn từ bên ngoài chảy vào Nhìn vào
số liệu quá khứ sẽ thấy dòng vốn từ bên ngoài gồm:vốn đầu tưu trực tiếp,vốn