Chính sách tiền tệ và chính sách tài chính của nhà nước chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng lạm phát và làm ảnh hưởng tới nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội.Cùng với sự p
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
-BÀI THẢO LUẬN NHẬP MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI: Phân tích tình hình lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2015-2019
Bộ môn: Nhập môn tài chính tiền tệ
Hà Nội – 2021
Trang 2MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU
Lạm phát là một vấn đề lớn trong nền kinh tế mà hầu hết các nước trên thế giới đều gặp phải Lạm phát là một trong số các chỉ tiêu để đánh giá trình độ phát triển kinh
tế của một quốc gia song lạm phát cũng chính là công cụ gây trở ngại cho công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước Chính sách tiền tệ và chính sách tài chính của nhà nước chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng lạm phát và làm ảnh hưởng tới nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội.Cùng với sự phát triển đa dạng và phong phú của nền kinh tế và nguyên nhân gây ra lạm phát ngày càng phức tạp.Trong sự nghiệp phát triển thị trường ở nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước ,việc nghiên cứu về lạm phát ,tìm hiểu nguyên nhân và các biện pháp chống lạm phát có vai trò to lớn góp phần phát triển đất nước
Nhóm 4 chúng em nguyên cứu đề tài “Phân tích tình hình lạm phát ở Việt
Nam giai đoạn 2015-2019” để chỉ rõ thực trạng lạm phát ở Việt Nam từ năm 2015
đến nay cả về lý thuyết và thực nghiệm Từ đó, có cơ sở để đưa ra những kiến nghị giải pháp trong công tác quản lý và kiềm chế lạm phát ,làm ổn định nền kinh tế vĩ mô
Trong quá trình làm bài thảo luận nhóm chúng em khó có thể tránh khỏi những thiếu sót và nhiều chỗ còn chưa chính xác ,kính mong cô xem xét và góp ý để bài thảo luận của nhóm em được hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn !
Trang 3B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT 1.1 Khái niệm và các mức độ lạm phát
1.1.1 Khái niệm
Lạm phát là hiện tượng phát hành tiền vào lưu thông vượt quá lượng tiền cần thiết trong lưu thông, khiến sức mua của đồng tiền giảm, không phù hợp với giá trị danh nghĩa mà nó đại diện
1.1.2 Các mức độ lạm phát
+ Lạm phát tự nhiên: 0 – dưới 10%
+ Lạm phát phi mã: 10% đến dưới 1000%
+ Siêu lạm phát: trên 1000%
Trên thực tế, các quốc gia chỉ kỳ vọng lạm phát chỉ xảy ra khoảng 5% trở xuống Tính ra thì quốc gia đó có 5% tăng trưởng thực sự
1.2 Nguyên nhân dẫn đến lạm phát
- Do chính sách của Nhà nước: chính phủ chỉ ra những quyết định thay đổi các chính sách thu chi NSNN, chính sách tiền tệ, … nhằm mục đích điền tiết vĩ mô theo hướng có lợi cho nền kinh tế, nhưng đôi khi do không lường trước được những biến động thực tế nên đã gây ra tình trạng lạm phát
- Do các chủ thể kinh doanh: trong thực tế, do quản lý điều hành kinh doanh yếu kém, các cơ sở kinh doanh có thể làm tăng giá cả các yếu tố đầu vào Khi giá
cả của các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất tăng lên, đặc biệt là giá các nguyên nhiên vật liệu cơ bản của nền sản xuất gia tăng sẽ độn giá thành sản phẩm và làm cho giá bán sản phẩm tăng lên Khi giá bán của các sản phẩm thiết yếu tăng lên sẽ gây hiệu ứng tăng giá dây chuyền trên diện rộng Lúc này nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát
- Do điều kiện tự nhiên: khi xảy ra những rủi ro như dịch bệnh, hạn hán, lũ lụt,
… trên diện rộng thường để lại hậu quả nghiêm trọng đối với nền KT-XH và
để khắc phục đòi hỏi nhà nước cần chi một lượng tiền không nhỏ vào lưu thông Bên cạnh đó tình trạng khan hiếm hàng hóa cục bộ và nhất thời cũng là một hiện tượng tất yếu của hậu thiên tai, dịch bệnh Lúc này nếu chính phủ không có những kế sách khắc phục những rủi ro này 1 cách phù hợp thì chính hiện tượng này đã đẩy khu vực đó và nền kinh tế rơi vào lạm phát Trong trường hợp này khi giá cả của hàng hóa tăng lên trên diện rộng sẽ có tác động ngược trở lại đối với giá cả các yếu tố đầu vào Quá trình này cứ tiếp diễn sẽ gây ra vòng xoáy lạm phát
- Ngoài những nguyên nhân trên lạm phát còn có thể xyar ra bởi một số nguyên nhân khác như: xảy ra chiến tranh, bất ổn chính trị, xảy ra khủng hoảng tài chính tiền tệ …
Trang 4- Thông thường một nền kinh tế xảy ra lạm phát không thể chỉ bắt nguồn bởi 1 hoặc 1 nhóm nguyên nhân mà sẽ là kết quả của tổng hợp tác động của nhiều nguyên nhân nêu trên
1.3 Ảnh hưởng của lạm phát đến nền kinh tế
1.3.1 Ảnh hưởng tích cực
Nếu lạm phát ở mức độ vừa phải thì nó sẽ có tác dụng kích thích nền KT-XH phát triển Thậm chí nhiều nước còn coi đây như là một chính sách của nhà nước để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Thông thường khi chính phủ tăng cung tiền tệ ở mức hợp
lý thì sẽ có tác dụng kích thích sản xuất trong nước phát triển, giảm tình trạng thất nghiệp… tuy nhiên khi đó giá cả có xu hướng tăng và giá trị của đồng nội tệ bị mất giá nhẹ so với đồng ngoại tệ Song điều này sẽ kích thích hoạt động xuất khẩu, hạn chế hoạt động nhập khẩu
1.3.2 Ảnh hưởng tiêu cực
Nếu lạm phát ở mức độ cao và quá cao thì lại có ảnh hưởng xấu đến các lĩnh vực của nền kinh tế, cụ thể:
- Đối với lĩnh vực sản xuất lạm phát làm cho giá cả vật tư, nguyên liệu hàng hóa tăng nhanh từ đó dẫn đến lợi nhuận ngày càng giảm sút, doanh thu của ngày hôm nay chưa chắc đã bù đắp được chi phí kinh doanh của ngày hôm sau, quy
mô sản xuất ngày càng bị thu hẹp, gia tăng tình trạng phát triển không đều, mất cân đối giữa các ngành sản xuất
- Đối với lĩnh vực lưu thông hàng hóa: lạm phát làm rối loạn quá trình lưu thông hàng hóa, kích thích tâm lý đầu cơ tích trữ hàng hóa, tạo nên nhu cầu giả tạo làm cho sự mất cân đối giữa cung và cầu ngày càng gia tăng
- Đối với lĩnh vực tiền tệ tín dụng: lạm phát làm phá vỡ các chức năng của tiền
tệ, làm cho sức mua của đồng tiền giảm sút 1 cách nhanh chóng, dân chúng mất lòng tin vào đồng tiền mất giá, không muốn nắm giữ đồng tiền đó nữa Chính vì thế việc dân chúng từ chối gửi nội tệ vào ngân hàng thương mại là tất yếu Khi xảy ra lạm phát cao, dân chúng có xu hướng rút tiền gửi tiết kiệm để chuyển sang những hàng hóa, tài sản an toàn giữ được giá trị như vàng, ngoại tệ… Điều này làm hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng rơi vào tình trạng khủng hoảng, làm ảnh hưởng lớn đến vai trò, điều hòa lưu thông tiền tệ của ngân hàng
- Đối với lĩnh vực tài chính Nhà nước: lạm phát làm cho nguồn thu NSNN ngày càng bị thu hẹp, giảm sút cả về số lượng lẫn giá trị thực tế trong khi chỉ tiêu chính phủ ngày càng gia tăng về mặt giá trị thực tế, điều này dẫn đến tình trạng bội chi ngân sách ngày càng tăng
- Đối với tiêu dùng và đời sống của người lao động: lạm phát làm cho tiêu dùng thực tế giảm, đời sống dân cư trở nên khó khăn do tiền lương danh nghĩa không
đủ bù đắp cho nhu cầu tiêu dùng cần thiết, đồng thời tình trạng thất nghiệp ngày càng gia tăng
Trang 51.4 Các biện pháp kiểm soát lạm phát ở Việt Nam
1.4.1 Các giải pháp tình thế
Biện pháp về tiền tệ tín dụng: mục đích của biện pháp này là giảm bớt lượng tiền mặt
trong lưu thông và kiểm soát được quá trình lưu thông tiền tệ Vì thế, NHTW và các ngân hàng thương mại cần thực hiện các biện pháp cụ thể sau:
- Thắt chặt cung ứng tiền, thực hiện chính sách đóng băng tiền tệ Trong thời kỳ lạm phát cao xảy ra, NTHW không được phép phát hành thêm tiền vào lưu thông dưới bất kỳ hình thức nào, thậm chí ngay cả đối với những khoản tiền nhằm thực hiện các chương trình chính sách chưa thực sự cấp thiết của chính phủ cũng có thể bị hoãn lại nhằm hạn chế tối đa hiện tượng tăng tiền trong lưu thông
- Quản lý và hạn chế tối đa khả năng “tạo tiền” của NHTM bằng cách tăng tỷ lệ
dự trữ bắt buộc, siết chặt tín dụng, xây dựng hạn mức tín dụng tối đa đối với các NHTM… nhằm hạn chế việc các NHTM cho các cá nhân và tổ chức vay vốn không cần thiết
- Nâng cao lãi suất tín dụng: NHTW có thể sử dụng lãi suất cơ bản hoặc khung lãi suất để can thiệp vào biểu lãi suất huy động và cho vay của các NHTM Theo đó mức lãi suất tín dụng chung trên thị trường được điều tiết tăng lên, một mặt để hạn chế các chủ thể vay vốn từ các tổ chức tín dụng một cách không cần thiết, mặt khác để thu hút dân chúng gửi tiền tiết kiệm hưởng lãi cao nhằm hút bớt lượng tiền có xu hướng nhàn rỗi, dư thừa trong lưu thông Để biện pháp này thực sự có hiệu quả thì mức lãi suất phải đủ hấp dẫn và biến động theo tỷ lệ lạm phát, đảm bảo lãi suất thực phải >0
- Các NHTM phải đa dạng hóa các hình thức huy động vốn nhàn rỗi trong công chúng: bên cạnh các hình thức nhận tiền gửi thông thường cần phát triển các hình thức hấp dẫn như gửi tiền có thưởng, gửi tiền nhận lãi trước, tiền gửi lãi suất bậc thang… hay phát hành các loại trái phiếu, tín phiếu ngân hàng có lãi suất cao… nhằm thu hút dân chúng gửi tiền hoặc mua trái phiếu…
Biện pháp về điều hành ngân sách: mục đích là làm giảm tình trạng mất cân đối trong
thu chi NS, tiến tới cân bằng ngân sách
- Tiết kiệm chi NS bằng cách cắt giảm các khoản chi không tác động một cách trực tiếp đến sự phát triển có hiệu quả của nền kinh tế chi cho bộ máy quản lý hành chính, chi phúc lợi xã hội…
- Tăng cường và nâng cao hiệu quả thu của NSNN bằng cách cải cách chính sách thuế theo hướng mở rộng và nuôi dưỡng nguồn thu
- Thực hiện chính sách thu bù đắp thiếu hụt ngân sách: vay trong và ngoài nước, kêu gọi viện trợ…
Các biện pháp khác:
Trang 6- Kiểm soát giá cả và có điều tiết giá cả thị trường đối với một số mặt hàng thiết yếu của sản xuất và đời sống như: trợ giá quy định mức giá trần điều tiết thông qua quỹ dự trữ quốc gia…
- Khuyến khích tự do mậu dịch, nới lỏng thuế quan nhằm mục đích tăng quỹ hàng hóa tiêu dùng, giảm bớt sự bất cân đối giữa tiền và hàng trong lưu thông
- Ổn định giá vàng và ngoại tệ nhằm tạo tâm lý ổn định giá cả các mặt hàng khác trong thị trường như: tăng quỹ dự trữ ngoại hối ra để điều tiết thị trường, kiểm soát chặt chẽ ngoại hối…
1.4.2 Các giải pháp ổn định tiền tệ chiến lược
a Giải pháp ổn định tiền tệ chiến lược
- Xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa của nền kinh tế quốc dân Xuất phát từ nguyên lý “lưu thông hàng hóa là tiền đề của lưu thông tiền tệ” nên nếu quỹ hàng hóa được tạo ra với số lượng lớn, phong phú về chủng loại, giá cả ổn định sẽ là tiền đề vững chắc để ổn định lưu thông tiền tệ
- Điều chỉnh cơ cấu kinh tế phát triển ngành hàng hóa “mũi nhọn” cho xuất khẩu Mục đích của giải pháp này là vừa đáp ứng các nhu cầu cơ bản của đời sống và việc làm của nhân dân lao động, vừa tạo nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia, vừa tác động đến các hoạt động của ngành kinh tế khác Do đó đây là cơ sở quan trọng để ổn định lưu thông tiền tệ trong nước
- Nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lý nhà nước: vai trò của nhà nước đối với quản lý kinh tế vĩ mô là rất to lớn Nhà nước là chủ thể duy nhất đảm bảo tính công bằng và ổn định trong kinh tế Để đảm bảo thực hiện vai trò này cần phải tinh giảm biên chế, kiện toàn bộ máy hành chính… từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản chi phí NSNN, ổn định ngân sách vững chắc và ổn định tiền tệ
và góp phần ổn định lạm phát
b Cách đo lường lạm phát
- Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi giá cả của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế, thông thường dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, các liên đoàn lao động và các tạp chí kinh doanh…
- Chỉ số giá tiêu dùng hay chỉ số giá cả CPI: được tính theo bình quân gia quyền của một nhóm các hàng hóa thiết yếu Giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một chỉ số giá cả đo mức giá cả trung bình, là mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ phần trăm mức tăng của chỉ số này
- Trong mỗi giai đoạn có thể có giá mặt hàng này tăng, mặt hàng kia giảm, nhưng nếu mức giá chung tăng, ta có lạm phát Nếu mức giá chung giảm, ta có giảm phát Nếu chỉ có một vài mặt hàng chẳng hạn như giá đường, hay giá gạo tăng một cách đơn lẻ thì không có nghĩa là lạm phát, mà đơn giản chỉ là một sự mất
Trang 7cân đối tạm thời giữa cung và cầu trong ngắn hạn Khi lạm phát xảy ra, giá trị của đồng tiền bị sụt giảm
Ví dụ: Năm 2018 chỉ số CPI của Mỹ là 300,000 USD Sang năm 2019, chỉ số CPI của
Mỹ là 310,000 USD Vậy tỷ lệ phần trăm lạm phát hằng năm trong suốt 2018 là: ((310,000 - 300,000)/300,000) x 100% = 3,33%
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG
GIAI ĐOẠN 2015-2019
Thời kỳ 2015-2019, nhờ áp dụng đồng bộ các chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, cùng với việc đẩy mạnh phát triển sản xuất, gia tăng hàng xuất khẩu, lạm phát được duy trì ổn định ở mức một con số và có xu hướng giảm
Tuy nhiên, qua đồ thị trên ta thấy trong từng giai đoạn tình hình lạm phát của Việt Nam có sự biến động khác nhau:
Từ tháng 1/2015 đến tháng 7/2015: lạm phát ổn định và có xu hướng tăng nhẹ
Từ tháng 7/2015 đến tháng 10/2016: lạm phát có xu hướng tăng
Từ tháng 10/2016 đến tháng 6/2017: lạm phát có xu hướng giảm
Từ tháng 6/2017 đến tháng 6/2018: lạm phát không ổn định
Trang 8 Từ tháng 6/2018 đến tháng 7/2019: lạm phát có xu hướng hạ nhiệt
Từ tháng 7/2019 đến tháng 12/2019: lạm phát có xu hướng tăng nhẹ, tăng cao nhất ở 2 tháng cuối năm
2.1 Từ tháng 1/2015 đến tháng 7/2015: lạm phát ổn định và có xu hướng tăng nhẹ
a Bối cảnh kinh tế-xã hội
− Năm 2015 là năm cuối thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm
2011-2015 trong bối cảnh thị trường toàn cầu bất ổn Kinh tế thế giới chưa lấy lại được
đà tăng trưởng, phục hồi chậm (từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008)
− Trong nước, kinh tế có tín hiệu khả quan, sản xuất có nhiều cải thiện, tăng trưởng
có xu hướng tích cực Tính đến T6, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước tăng 6,28% so với cùng kỳ 2014 (nông lâm nghiệp tăng 2,36%, công nghiệp
9,09%,dịch vụ tăng 5,9%) Giá dầu giảm là yếu tố hỗ trợ mạnh mẽ cho các doanh nghiệp và kích thích tiêu dùng (tiêu dùng tăng 8,7% so với cùng kỳ năm 2014)
− Tuy nhiên, nền kinh tế đối mặt với không ít khó khăn: do tình hình cung cầu thị trường thế giới biến động phức tạp gây áp lực cạnh tranh cho xuất khẩu; tiêu thụ mặt hàng nông sản còn bất cập ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống nhân dân
b Tình hình lạm phát
Bảng chỉ số CPI của Việt Nam giai đoạn từ tháng 1/2015 đến tháng 7/2016
(đơn vị: %)
th12-14 th1-15 th2-15 th3-15 th4-15 th5-15 th6-15 th7-15 Chỉ số
CPI 99,76 99,8 99,95 100,15 100,14 100,16 100,35 100,13
Nguồn: Tổng cục thống kê.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7 tăng 0,13% so với tháng trước, là mức tăng thấp nhất trong 3 năm qua (năm 2014 tăng 0,23% và năm 2013 tăng 0,27%) So với tháng 12 năm trước, CPI tăng 0,68% và bình quân 7 tháng đầu năm 2015 tăng 0,86%
so với cùng kỳ năm → Lạm phát 7 tháng đầu năm 2015 có mức tăng thấp
− Trong nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, giá của 9/11 nhóm mặt hàng tăng giá, chủ yếu là may mặc tăng 0,25%, nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,22%, đồ uống, văn hóa và giải trí Nhóm giao thông, tuy có một lần điều chỉnh giảm giá xăng dầu (ngày 4/7) nhưng bình quân chung vẫn tăng 0,11% do bình quân từ 16/6 -15/7, giá xăng dầu tăng
− Thời tiết nắng nóng, nhu cầu dùng điện tăng làm chỉ số giá điện tăng 1,32%, nước sinh hoạt tăng 0,22.%, dịch vụ ăn uống, giải khát, giao thông công cộng tăng theo
Trang 9− Giá xăng dầu giảm kéo theo những sản phẩm của dầu (chất dẻo, nhựa đường,…) giảm; giá lương thực, đường, đậu nành,… cũng giảm.→ giá hàng hóa qua kênh xuất nhập khẩu giảm và giá nhập khẩu các nguyên liệu đầu vào cũng giảm
c Các giải pháp nhà nước áp dụng
Những giải giáp tức thời:
− Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, tổ chức các triển khai thực hiện công tác quản lý bình ổn giá tại một số địa phương Bộ Tài chính và Công Thương đã phối hợp chặt chẽ trong việc điều hành giá xăng dầu
− Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều hành linh hoạt tỷ giá, tỷ giá giao dịch của các tổ chức tín dụng luôn thấp hơn so với mức trần cho phép của NHNN
Những giải pháp chiến lược
Giải pháp về chính sách tiền tệ
− Phối hợp đồng bộ các giải pháp và các công cụ chính sách tiền tệ nhằm hỗ trợ ổn định tỷ giá, cân nhắc thận trọng việc bán can thiệp thị trường ngoại tệ trong trường hợp cung cầu ngoại tệ mất cân đối để đảm bảo tỷ giá không biến động quá mức
− Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiếp tục triển khai chính sách nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp, người dân tiếp cận nguồn vốn tín dụng để phát triển sản xuất kinh doanh
Cân bằng cung cầu trong nền kinh tế
− Ổn định giá cả thị trường: kêu gọi các doanh nghiệp có trách nhiệm với đất nước không chuộc lợi và tăng giá các mặt hàng Chính phủ đã xác định nguyên tắc này
để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo được an sinh xã hội, nhất là các loại mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, xi măng, phân bón
2.2 Từ tháng 7/2015 đến tháng 10/2016: lạm phát có xu hướng tăng
a Bối cảnh kinh tế-xã hội
− Kinh tế thế giới phục hồi chậm, tăng trưởng thương mại toàn cầu giảm, giá cả hàng hóa ở mức thấp ảnh hưởng đến kinh tế nước ta, nhất là hoạt động xuất nhập khẩu và thu ngân sách Nhà nước
− Trong nước, có chuyển biến tích cực, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt khá Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn đối mặt với nhiều khó khăn: Tốc độ tăng trưởng có dấu hiệu chững lại, lạm phát được kiểm soát nhưng tiềm ẩn nguy cơ tăng cao Thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn,…ảnh hưởng đến nền kinh tế
b Tình hình lạm phát
Trang 10Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2016 tăng 0,83% so với tháng trước, tăng 4,09% so với cùng kỳ năm trước; tăng 4% so với T12 năm trước; CPI bình quân 10 tháng đầu so với cùng kỳ năm trước tăng 2,27%; bình quân mỗi tháng tăng 0,4% Lạm phát vào khoảng 1-2% và là mức tương đối thấp được duy trì khá ổn định từ giữa năm, lạm phát cơ bản dao động xoay quanh mức 0,1%/tháng
- Giá các mặt hàng y tế, học phí tăng; mức lương tối thiểu vùng cho người lao động ở DN tăng nên giá một số dịch vụ: sửa chữa, điện, nước;… tăng từ 1-2,5%
so với năm trước Các dịp ngày lễ nghỉ dài nên nhu cầu mua sắm, vui chơi giải trí tăng cao, giá mặt hàng lương thực, thực phẩm đều tăng Ngoài ra, giá xăng dầu tăng
- Thời tiết khắc nghiệt, rét hại, rét đậm vào T2 ở miền Bắc, lũ lụt tại miền Trung vào T10 ảnh hưởng đến giá rau tăng từ 15-50% Trong T4 và 5, khô hạn ở miền Trung, Tây Nguyên ; xâm nhập mặn ở các tỉnh Đb.sông Cửu Long đã đẩy giá lúa gạo tăng
c Các giải pháp nhà nước áp dụng
Giải pháp về chính sách tiền tệ:
- Ngân hàng Nhà nước kiểm soát tổng phương tiện thanh toán và tín dụng ở mức hợp lý, duy trì lạm phát ổn định Trong đó, lãi suất được điều hành phù hợp tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng duy trì ổn định mặt bằng lãi suất
- NHNN điều hành tỷ giá theo cơ chế tỷ giá trung tâm Cơ chế tỷ giá trung tâm
và các công cụ điều tiết thị trường ngoại hối đã phát huy được hiệu quả hạn chế hành vi đầu cơ, găm giữ ngoại tệ Tỷ giá ổn định có tác động tích cực đến nợ nước ngoài của quốc gia, giúp NSNN tránh áp lực trả nợ, do đồng nội tệ mất giá Bên cạnh đó, mặt bằng lãi suất có xu hướng giảm, giữ ổn định ở mức thấp tạo thuận lợi cho việc phát hành TPCP với chi phí vay thấp