1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế.

217 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 217
Dung lượng 31,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế.Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế.Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế.Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế.Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế.Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế.Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế.

Trang 1

HÀ NỘI - 2021

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ HỒNG PHƯƠNG

CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN

HỘI NHẬP QUỐC TẾ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ HỒNG PHƯƠNG

CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN

HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Ngành : Quản lý kinh

tế

Mã số : 9340410

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 TS Tô Thị Ánh Dương

2 TS Phạm Thanh Bình

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.

Tác giả luận án

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 8

1.1 Tổng quan nghiên cứu về cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái 8

1.1.1 Nghiên cứu về cơ chế tỷ giá hối đoái 8

1.1.2 Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái và lý thuyết ―Bộ ba bất khả thi‖ 10

1.1.3 Nghiên cứu về cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái tại Việt Nam 14

1.1.4 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái với lạm phát, với cán cân thương mại và vay nợ nước ngoài của Việt Nam 15

1.2 Khoảng trống trong các nghiên cứu 19

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ 20

2.1 Cơ sở lý luận về tỷ giá hối đoái 20

2.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái 20

2.1.2 Phân loại tỷ giá hối đoái 21

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái 23

2.1.4 Ảnh hưởng của biến động tỷ giá hối đoái đến nền kinh tế 25

2.2 Cơ sở lý luận về cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái 29

2.2.1 Cơ chế tỷ giá hối đoái 29

2.2.2 Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái 35

2.2.3 Vai trò của cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái trong điều hành chính sách tiền tệ 41

2.3 Cơ điều hành tỷ giá hối đoái trong điều kiện hội nhập quốc tế 45

2.3.1 Hội nhập quốc tế 45

2.3.2 Ảnh hưởng của hội nhập quốc tế đến cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái 47

2.3.3 Lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái trong hội nhập quốc tế - Lý thuyết ―Bộ ba bất khả thi‖ 49

2.4 C ơ chế điều hành tỷ giá hối đoái của một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 54

2.4.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 55

2.4.2 Kinh nghiệm của Thái Lan 62

Trang 5

2.4.3 Kinh nghiệm của Singapore 63

2.4.4 Bài học kinh nghiệm từ cơ chế điều hành tỷ giá của các nước 65

Tiểu kết Chương 2 68

Chương 3: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ 69

3.1 Tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam và ngành ngân hàng 69

3.1.1 Tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam 69

3.1.2 Tiến trình hội nhập quốc tế của ngành ngân hàng Việt Nam 72

3.1.3 Các cam kết về hội nhập tài chính và mở cửa tài khoản vốn 77

3.2 K huôn khổ pháp lý về quản lý ngoại hối và cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái của Việt Nam 79

3.2.1 Vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc điều hành tỷ giá hối đoái và quản lý thị trường ngoại hối 79

3.2.2 Quy định về quản lý ngoại hối và giao dịch vãng lai 81

3.2.3 Quy định về giao dịch hối đoái và trạng thái ngoại tệ của tổ chức tín

dụng 83 3.2.4 Quy định về sử dụng ngoại tệ trong nước, quản lý thị trường vàng và chống đô la hóa 85

3.3 Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái của Việt Nam giai đoạn 2007-2020 86

3.3.1 Tổng quan cách thức điều hành tỷ giá hối đoái của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 86

3.3.2 Diễn biến kinh tế vĩ mô, tỷ giá và cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái của Việt Nam giai đoạn 2007- 2011 95

3.3.3 Diễn biến kinh tế vĩ mô, tỷ giá và cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái giai đoạn 2011 – 2016 99

3.3.4 Diễn biến kinh tế vĩ mô, tỷ giá và cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái mới giai đoạn 2016-2020 108

3.3.5 Việt Nam bị gắn mác là quốc gia thao túng tiền tệ và vấn đề đặt ra trong cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái 116

3.4 Đánh giá cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái của Việt Nam, 2007-2020 121

3.4.1 Những thành công của cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái 121

3.4.2 Một số hạn chế trong cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái 125

Trang 6

3.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái.127

Tiểu kết Chương 3 130

Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ 132

4.1 Xu hướng hệ thống tài chính, tiền tệ thế giới và Việt Nam đến năm 2030 132

4.1.1 Xu hướng của hệ thống tài chính, tiền tệ thế giới đến năm 2030 132

4.1.2 Bối cảnh kinh tế và định hướng điều hành cơ chế tỷ giá hối đoái của

Việt Nam 135

4.2 M ục tiêu và các nguyên tắc lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái của Việt Nam 139

4.3 Giải pháp hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái đến năm 2025 và tầm nhìn 2030 141

4.3.1 Lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái phù hợp 141

4.3.2 Sử dụng và phối hợp hiệu quả các công cụ của chính sách tiền tệ trong điều hành tỷ giá hối đoái 143

4.3.3 Nhóm giải pháp nâng cao năng lực thực thi cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt 143

4.3.4 Nhóm giải pháp xác định và tính tỷ giá trung tâm 147

4.3.5 Hoàn thiện công tác quản lý ngoại hối ở Việt Nam 148

4.4 Kiến nghị chính sách 149

4.4.1 Đối với Chính phủ, các Bộ, ngành 149

4.4.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 152

Tiểu kết Chương 4 153

KẾT LUẬN 154

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 157

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 158

PHỤ LỤC 174

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

MAS Monetary Authority of Singapore Cơ quan Quản lý Tiền tệ - Ngânhàng Trung ương Singapore

Trang 8

Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

NER Norminal Bilateral Exchange rate Tỷ giá danh nghĩa song phươngNEER Norminal Effective Exchange rate Tỷ giá danh nghĩa hữu hiệu

OECD Organization for Economic Cooperation and Development Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinhtế

PBOC People’s Bank of China Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc- NHTW Trung Quốc

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 So sánh các cơ chế tỷ giá hối đoái 31

Bảng 2.2 Phân loại cơ chế tỷ giá hối đoái theo thực tế (De facto) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, 2013 – 2019 34

Bảng 2.3 Cơ cấu và tỷ trọng các đồng tiền trong rổ tiền tệ để tính tỷ giá đồng Nhân dân tệ (RMB) 60

Bảng 3.1 Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại của Việt Nam, 2007-2020 71

Bảng 3.2 Cơ chế tỷ giá hối đoái của Việt Nam, 1994-2020 87

Bảng 3.3 Tổng hợp các công cụ của chính sách tỷ giá ở Việt Nam, 2007-2020 90

Bảng 3.4 Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và tiền tệ của Việt Nam, 2007-2020 95

Bảng 3.5 Mức độ đô la hóa ở Việt Nam, 2007-2011 98

Bảng 3.6 Việt Nam: Đánh giá theo 3 tiêu chí về thao túng tiền tệ của Mỹ 117

Bảng 3.7: Dự trữ ngoại hối của Việt Nam so với một số nước Châu Á 120 Bảng 4.1 Một số chỉ số kinh tế vĩ mô và tài chính, tiền tệ của Việt Nam 2016-2023 137

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Tam giác ―Bộ ba bất khả thi‖ 11

Hình 2.1 Mô hình thị trường ngoại hối 23

Hình 2.2 Các cơ chế tỷ giá hối đoái cơ bản, 2015-2019 32

Hình 2.3 Tỷ trọng các loại cơ chế tỷ giá hối đoái, 2010-2019 35

Hình 2.4 Tỷ giá hối đoái hữu hiệu thực tế của RMB, 2000-2014 58

Hình 2.5 Tỷ giá USD/SGD, tỷ lệ lạm phát và cán cân vãng lai của Singapore, 1990-2000 64

Hình 3.1 Diễn biến tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do, 2009-2011 102

Hình 3.2 Diễn biến tỷ giá VND/USD, 2013 - 2015 103

Hình 3.3 Biến động lãi suất và tỷ giá hối đoái, 2008 -2013 105

Hình 3.4 Tỷ giá VND so với một số đồng tiền chủ chốt, 2013-2015 107

Hình 3.5 Tăng trưởng GDP của Việt Nam so với các nước ASEAN-4, 2010-2020 109 Hình 3.6 Diễn biến tỷ giá hối đoái VND/USD, 2015 – 2019 111

Hình 3.7 Tỷ giá hối đoái VND so với một số đồng tiền chủ chốt, 2016-2019 .115 Hình 3.8 Tỷ giá VND/USD, REER, NEER, 2007-2020 119

Hình 3.9 Can thiệp trên thị trường ngoại hối của Việt Nam, 2016-2020 119

Hình 3.10 Dự trữ ngoại hối của Việt Nam, 2010-2020 122

Trang 11

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Khung phân tích của luận án 173

Phụ lục 2: Các công cụ giao dịch trên thị trường ngoại hối 174

Phụ lục 3: Tóm tắt các lần điều chỉnh biên độ và tỷ giá, 2007-2020 180

Phụ lục 4: Thống kê các FTA tính đến tháng 12/2020 181

Phụ lục 5: Chính sách quản lý thị trường vàng, 2000-2020 182

Phụ lục 6: Chính sách quản lý thị trường vàng từ sau Nghị định 24/NĐ-CP 184

Phụ lục 7: Các chủ thể tham gia thị trường ngoại hối 185

Phụ lục 8: Các nhóm giải pháp để hạn chế và giảm tình trạng đô la hóa 187

Phụ lục 9: Đo lường ―Bộ ba bất khả thi‖ 190

Phụ lục 10: Các cấp độ hội nhập quốc tế 192

Phụ lục 11: Phân loại cơ chế tỷ giá hối đoái và khuôn khổ chính sách tiền tệ của các nước .195

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mở cửa và hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu của mọi quốc gia, trong đó cóViệt Nam Một trong những chính sách kinh tế vĩ mô luôn được các quốc gia quan tâmđến trong quá trình hội nhập quốc tế là cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái (chính sách tỷgiá hối đoái) Chính sách tỷ giá hối đoái là việc Ngân hàng Trung ương sử dụng hệthống các công cụ, các biện pháp trong một thời kỳ nhất định để tác động đến cung cầutrên thị trường ngoại hối nhằm điều chỉnh tỷ giá hối đoái Vì vậy, mỗi quốc gia sẽ xâydựng và điều hành một chính sách tỷ giá hối đoái phù hợp với khuôn khổ chính sáchtiền tệ đã lựa chọn trong từng thời kỳ Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), nếu lựa chọnkhuôn khổ chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu thì phần lớn các quốc gia lựa chọnchính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt (gần 40 quốc gia) Thực tiễn cho thấy, đa số cácnước thực hiện chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu đã thành công trong việc kiểmsoát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô

Năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mạiThế giới (WTO), đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình hội nhập quốc tếcủa Việt Nam Từ đó đến nay, Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tếthế giới, đặc biệt là, Việt Nam đã ký Hiệp định đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyênThái Bình Dương (CPTPP) vào năm 2018, Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam vàLiên minh Châu Âu (EVFTA) năm 2020 và nhiều hiệp định thương mại song phương

và đa phương đã và đang tiến hành ký kết

Tuy nhiên, hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập tài chính nói riêng vừa là cơ hộinhưng cũng là thách thức đối với Việt Nam trong công tác điều hành chính sách tiền

tệ, chính sách tỷ giá và quản lý thị trường ngoại hối Cụ thể:

Trong năm 2007-2008, nền kinh tế Việt Nam đã đón nhận một lượng lớn vốn đầu

tư trực tiếp, tạo đà cho tăng trưởng kinh tế (tăng trưởng GDP năm 2007: 8,5%, năm2008: 6,2%) Tuy nhiên, dòng vốn này đã làm thay đổi quan hệ cung cầu trên thịtrường ngoại hối, để đối phó với tình hình dư cung ngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước ViệtNam đã tiến hành mua ngoại tệ Hệ quả của việc mua ngoại tệ là lạm phát tăng, đỉnhđiểm là năm 2008 tỷ lệ lạm phát lên tới 19,9%, và năm 2011 tỷ lệ lạm phát là 18,13%.Giai đoạn 2011-2015, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thành công

Trang 13

trong việc duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, nhưng thị trường tài chính toàn cầu biếnđộng mạnh vào năm 2015, như việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) điều chỉnh tănglãi suất làm cho đồng USD liên tục lên giá; Trung Quốc bất ngờ điều chỉnh mạnh vàthay đổi cơ chế điều hành tỷ giá đồng Nhân dân tệ; Đồng tiền của các đối tác thươngmại chính của Việt Nam đồng loạt giảm giá mạnh Trước tình hình đó, ngay sau khiNgân hàng Nhân dân Trung Quốc phá giá đồng Nhân dân tệ (RMB) vào ngày 11 và12/08/2015, NHNN đã điều chỉnh biên độ tỷ giá giữa VND và USD tăng từ +1% lên+2% Tiếp đó, đón đầu các tác động bất lợi của khả năng Fed tăng lãi suất và biến độngcủa thị trường tài chính thế giới, ngày 19/08/2015, NHNN đã điều chỉnh tỷ giá bình quânliên ngân hàng giữa VND và USD thêm 1%, đồng thời mở rộng biên độ tỷ giá từ +2%lên +3%.

Như vậy, trong năm 2015, NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ giá 3% và điều chỉnhbiên độ thêm 2% (từ mức +1% lên +3%) Năm 2015 cũng là năm kết thúc một thờigian dài NHNN điều hành tỷ giá neo cố định vào đồng USD

Từ ngày 04/01/2016, NHNN bắt đầu điều hành tỷ giá theo tỷ giá trung tâm Cơchế điều hành tỷ giá mới có những ưu điểm sau: Tỷ giá hối đoái niêm yết và giao dịchhàng ngày của các ngân hàng biến động nhanh và sát cung cầu thị trường hơn, do đó

sẽ hạn chế đầu cơ ngoại tệ; Đảm bảo vai trò quản lý của NHNN theo định hướng mụctiêu điều hành chính sách tiền tệ; Giảm bớt tính ―tổn thương‖ cho nền kinh tế trướcnhững biến động tiền tệ trên thị trường thế giới; Hỗ trợ thị trường phái sinh ngoại tệphát triển, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa rủi ro tỷ giá của các tổ chức tín dụng và doanhnghiệp trong các giao dịch mua bán của mình, tăng tính thanh khoản và phát triển thịtrường tài chính; và tăng dự trữ ngoại hối Mặc dù, có những ưu điểm như vậy nhưng

cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái này cũng có những hạn chế (cơ chế điều hành tỷ giáhối đoái cần linh hoạt hơn nữa trong bối cảnh tự do hóa các luồng vốn), hơn nữa, sau 5năm thực hiện cơ chế điều hành tỷ giá mới, cũng cần có những đánh giá toàn diện đểđiều chỉnh và hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái cho phù hợp với những thayđổi của thị trường Do vậy, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế tỷ giá hối đoáitrong bối cảnh thế giới đầy biến động Bên cạnh đó, trong báo cáo tháng 12/2020 của

Bộ Tài chính Mỹ về ―Các chính sách kinh tế vĩ mô và chính sách tỷ giá của các nướcđối tác thương mại chủ yếu của Mỹ‖, Việt Nam đã bị gắn mác là quốc gia thao túngtiền tệ, do vậy, cần có những nghiên cứu, phân tích, chỉ rõ nguyên nhân tại sao Việt

Trang 14

Nam

Trang 15

lại bị Mỹ phán quyết như vậy, cũng như làm rõ các vấn đề đặt ra trong cơ chế điềuhành tỷ giá hối đoái của Việt Nam.

Mặc dù, đã có một số công trình nghiên cứu về cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ởViệt Nam (xem phần tổng quan), nhưng cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái trong mỗithời kỳ đều có những yêu cầu riêng cho phù hợp với những biến động của thị trường.Đặc biệt, trong thời kỳ Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giớithì việc điều hành cơ chế tỷ giá hối đoái lại càng phải linh hoạt hơn Bởi vậy, nghiên

cứu sinh lựa chọn chủ đề nghiên cứu: "Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế” làm đề tài Luận án tiến sĩ kinh tế của mình nhằm

đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Namtrong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu của luận án

Luận án nghiên cứu cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái của Việt Nam nhằm đề xuấtcác giải pháp và đưa ra các kiến nghị chính sách nhằm góp phần hoàn thiện cơ chếđiều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tỷ giá hối đoái và cơ chế điều hành tỷ giá hốiđoái và mối quan hệ giữa chính sách tỷ giá hối đoái với chính sách tiền tệ

 Nghiên cứu thực trạng cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái thông qua phân tích diễnbiến kinh tế vĩ mô, tỷ giá hối đoái và thị trường ngoại hối ở Việt Nam qua các thời kỳ

 Đánh giá những thành công, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân những hạn chế của

cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2020, trong đó đặcbiệt chú trọng vào giai đoạn Việt Nam thực hiện cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái mới -

cơ chế điều hành theo tỷ giá trung tâm

 Đề xuất giải pháp và kiến nghị chính sách hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ giáhối đoái ở Việt Nam theo hướng linh hoạt hơn trong điều kiện hội nhập quốc tế

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án là cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái (chính sách

tỷ giá hối đoái) của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế

Trang 16

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu về nội dung:

Trong luận án này khái niệm cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái được đồng nhất vớikhái niệm chính sách tỷ giá hối đoái Chính sách tỷ giá hối đoái có 2 nội dung chủ yếu

là lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái và cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái, luận án sẽ tậptrung nghiên cứu về cơ chế điều hành chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam

Tỷ giá hối đoái vừa là công cụ vừa là mục tiêu của chính sách tiền tệ, luận án sẽtập trung nghiên cứu TGHĐ với vai trò là công cụ của chính sách tiền tệ

Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện chức năng quản lý nhànước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối Ngân hàng Nhà nước là cơ quanxác định và quyết định cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái Bởi vậy, Luận án tập trungnghiên cứu vai trò của NHNN trong quản lý tỷ giá hối đoái và thị trường ngoại hối.Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng cơ chế điều hành TGHĐ của Việt Namtrong giai đoạn 2007-2020 (năm 2007 là năm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mạiThế giới, và cũng là năm xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu) nhằm đề xuất các giảipháp góp phần hoàn thiện cơ chế điều hành TGHĐ trong bối cảnh Việt Nam ngàycàng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới

Phạm vi nghiên cứu về không gian: Luận án nghiên cứu cơ chế điều hành

TGHĐ ở Việt Nam và một số quốc gia (Trung Quốc, Thái Lan, Singapore)

Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu cơ chế

TGHĐ của Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2020 và đề xuất giải pháphoàn thiện cơ chế điều hành TGHĐ đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030

Câu hỏi nghiên cứu

1/ Bản chất của cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái (chính sách tỷ giá hối đoái)trong điều kiện hội nhập quốc tế là gì?

2/ Thực trạng cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam như thế nào (thànhcông, hạn chế, nguyên nhân và các vấn đề đặt ra) trong giai đoạn 2007-2020?

3/ Cần đưa ra những giải pháp và khuyến nghị chính sách nào để hoàn thiện cơchế điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam để góp phần ổn định kinh tế vĩ mô trong bốicảnh hội nhập quốc tế sâu rộng?

Trang 17

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của Luận án

4.1 Phương pháp luận

Luận án nghiên cứu cơ chế điều hành TGHĐ trên cơ sở lý thuyết về tiền tệ, ngânhàng và thị trường tài chính, đặc biệt là lý thuyết về ―Bộ ba bất khả thi‖ - cơ sở quantrọng để lựa chọn một cơ chế TGHĐ phù hợp cho mỗi quốc gia trong điều kiện hộinhập quốc tế

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Cách tiếp cận của luận án: Luận án sử dụng cách tiếp cận mang tính hệ thống,

toàn diện, liên ngành và lịch sử (việc phân tích cơ chế điều hành TGHĐ gắn liền vớidiễn biến kinh tế vĩ mô, diễn biến TGHĐ và thị trường ngoại hối trong từng giai đoạn)

và gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết (các lý thuyết về tiền tệ, ngân hàng, đặc biệt là lýthuyết ―Bộ ba bất khả thi‖và thực tiễn

Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp định tính để nghiên cứu,

cụ thể: luận án sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp và so sánh

+ Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp được sử dụng nhiều khi phân tíchdiễn biến các mốc hội nhập kinh tế; diễn biến và các vấn đề của nền kinh tế vĩ mô; biếnđộng kinh tế thế giới; diễn biến của thị trường ngoại hối; biến động của TGHĐ…

+ Phương pháp so sánh được sử dụng khi so sánh cơ chế điều hành tỷ giá hốiđoái của Việt Nam qua các thời kỳ khác nhau hay so sánh cơ chế điều hành tỷ giá hốiđoái của Việt Nam với các nước trên thế giới (như Trung Quốc, Thái Lan, Singapore)nhằm làm rõ các ưu, nhược điểm trong cơ chế điều hành TGHĐ của Việt Nam

Luận án được trình bày logic và có sự liên hệ chặt chẽ giữa các chương (xem

Phụ lục 1: Khung phân tích của luận án).

Nguồn số liệu: Luận án sử dụng các số liệu được tổng hợp từ nhiều nguồn tin cậy

của Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Công thương, Bộ Tàichính, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới và kế thừa có chọn lọc kết quả củacác công trình nghiên cứu khoa học đã công bố và các sản phẩm nghiên cứu khác cóliên quan đến đề tài luận án và coi đó là những dữ liệu cần thiết cho những phân tích,đánh giá tiếp theo trong luận án

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

(1) Luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về tỷ giá hối đoái và cơ chế điều hành tỷgiá hối đoái trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng

Trang 18

(2) Luận án đi sâu phân tích, nghiên cứu một cách toàn diện về cơ chế điều hành

tỷ giá hối đoái (chính sách tỷ giá hối đoái) của Việt Nam trong cả một giai đoạn dài (từ

2007 đến 2020) trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

(3) Luận án là một trong những nghiên cứu đầu tiên, nghiên cứu và đưa ra nhữngđánh giá ban đầu (những thành công, hạn chế và nguyên nhân các hạn chế) về cơ chếđiều hành tỷ giá hối đoái mới - cơ chế điều hành tỷ giá theo tỷ giá trung tâm của ViệtNam trong giai đoạn 2016-2020

(4) Một trong những điểm mới nổi bật của Luận án là nghiên cứu, phân tích vấn

đề thao túng tiền tệ gắn với thực tiễn của Việt Nam (trong báo cáo tháng 12/2020 của

Bộ Tài chính Mỹ về ―Các chính sách kinh tế vĩ mô và chính sách tỷ giá của các nướcđối tác thương mại chủ yếu của Mỹ‖, Việt Nam đã bị gắn mác là quốc gia thao túngtiền tệ) Luận án đi sâu phân tích và chỉ rõ nguyên nhân tại sao Việt Nam lại bị Mỹ gắnmác là quốc gia thao túng tiền tệ, cũng như làm rõ các vấn đề đặt ra trong cơ chế điềuhành tỷ giá hối đoái của Việt Nam, đồng thời đưa ra các gợi ý chính sách (dưới góc độđiều hành chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá) để Việt Nam không bị gắn mác làquốc gia thao túng tiền tệ

(5) Luận án đề xuất các giải pháp và đưa ra các kiến nghị chính sách nhằm tiếptục hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái theo hướng linh hoạt hơn để góp phần

ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Về mặt lý luận

Luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về TGHĐ và cơ chế điều hành TGHĐ trongđiều kiện hội nhập quốc tế Đây sẽ là tài liệu tham khảo tốt cho các nhà nghiên cứuchính sách, các nhà quản lý, giảng viên và sinh viên

6.2 Về mặt thực tiễn

 Luận án phân tích, tổng hợp diễn biến thị trường ngoại hối và chính sách tỷ giáhối đoái trong giai đoạn 2007-2020 của Việt Nam, chỉ rõ thực trạng và vấn đề đặt ratrong cơ chế điều hành TGHĐ của Việt Nam, đồng thời, đưa ra các giải pháp và kiếnnghị chính sách tiếp tục hoàn thiện cơ chế điều hành TGHĐ theo hướng linh hoạt hơntrong bối cảnh hội nhập sâu rộng Đây là cơ sở giúp các nhà nghiên cứu và các nhàquản lý có thể so sánh cách thức điều hành tỷ giá theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng

Trang 19

với cách điều hành tỷ giá theo tỷ giá trung tâm (áp dụng từ tháng 1/2016) Từ phép sosánh này, các nhà điều hành chính sách sẽ thấy rõ hơn những vấn đề đặt ra trong cơchế điều hành TGHĐ, từ đó đưa ra những quyết sách hữu hiệu hơn trong điều hànhTGHĐ ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế.

 Một trong những nội dung mới trong Luận án là việc Việt Nam đã bị Mỹ gắnmác là quốc gia thao túng tiền tệ vào tháng 12/2020 Luận án phân tích, chỉ rõ nguyênnhân tại sao Việt Nam lại bị Mỹ phán quyết như vậy, đồng thời, Luận án đưa ra các gợi

ý chính sách (dưới góc độ điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá) để ViệtNam không bị gắn mác là quốc gia thao túng tiền tệ Những gợi ý chính sách này có ýnghĩa thực tiễn cao đối với các nhà quản lý tiền tệ, các nhà lập chính sách và các nhànghiên cứu

7 Kết cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận ánbao gồm 4 chương sau đây:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về cơ chế điều hành tỷ giá hối đoáiChương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm về cơ chế điều hành tỷ giá hối đoáitrong điều kiện hội nhập quốc tế

Chương 3: Thực trạng cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam trong điềukiện hội nhập quốc tế

Chương 4: Giải pháp hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Namtrong điều kiện hội nhập quốc tế

Trang 20

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TỶ GIÁ

HỐI ĐOÁI VÀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

1.1 Tổng quan nghiên cứu về cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái

1.1.1 Nghiên cứu về cơ chế tỷ giá hối đoái

1.1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước về cơ chế tỷ giá hối đoái

Cơ chế tỷ giá hối đoái được hiểu là khuôn khổ chung để điều chỉnh và quản lý tỷgiá hối đoái Thông qua cơ chế TGHĐ có thể thấy được cách thức chung điều hành tỷgiá hối đoái của Ngân hàng Trung ương

Việc lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái phù hợp cho mỗi thời kỳ là rất cần thiết Có

hai quan điểm khác nhau về lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái: Thứ nhất cho rằng, lựa

chọn cơ chế tỷ giá hối đoái (TGHĐ) và kết quả hoạt động của nền kinh tế không cómối liên hệ chặt chẽ với nhau Đó là các nghiên cứu của Flood và Rose (1995) vàGosh et al (1997), kết luận của họ cho thấy việc lựa chọn cơ chế tỷ giá ảnh hưởng

tương đối nhỏ đến hoạt động của nền kinh tế [142], [146] Thứ hai cho rằng, lựa chọn

cơ chế TGHĐ thực sự là vấn đề đối với hoạt động kinh tế [163] Nghiên cứu mối liên

hệ giữa TGHĐ và phát triển kinh tế của các nước trong giai đoạn hậu Bretton Woods,

sử dụng cách phân loại theo thực tế (de facto) dựa trên những thay đổi thực tế của cácbiến số kinh tế vĩ mô, nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng, đối với các quốc gia đangphát triển, tỷ giá hối đoái kém linh hoạt hơn đi đôi với phát triển thấp hơn Đối với các

quốc gia công nghiệp hóa, tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển.

Ilker và Maria (2000), sử dụng dữ liệu các nước đã và đang phát triển trong 2 thập kỷ,cho rằng ở các nước đang phát triển áp dụng TGHĐ cố định sẽ làm giảm nguy cơkhủng hoảng ngân hàng [150] Tuy nhiên, một khi khủng hoảng xảy ra thì các quốc gia

có TGHĐ cố định chịu tổn thất lớn hơn các quốc gia có TGHĐ linh hoạt Những pháthiện gần đây cho thấy một quốc gia càng hội nhập sâu rộng vào thị trường vốn quốc tế

và có hệ thống tài chính lành mạnh, càng nên lựa chọn cơ chế TGHĐ linh hoạt hơn

Trong bài viết ―A theory of optimum currency areas – Lý thuyết về khu vực tiền tệ tối ưu”, Mundell (1961) đã đưa ra lý thuyết để xác định một cơ chế TGHĐ xét trên

khả năng duy trì cân bằng kinh tế đối nội, cân bằng kinh tế đối ngoại và đã chỉ ra rằng:i) Đối với các nền kinh tế quy mô nhỏ, mở cửa thì cơ chế tỷ giá cố định sẽ phù hợphơn;

ii) Một nước càng ít đa dạng hoá trong cơ cấu sản xuất, xuất khẩu và ngoại thương,càng tập trung về địa lý thì cơ chế tỷ giá cố định càng phù hợp; iii) những nước có cơ

Trang 21

cấu xuất khẩu kém đa dạng thì các nguồn thu ngoại hối thường có nhiều biến động, dotập trung vào một số mặt hàng nhất định và do đó thường có xu hướng neo TGHĐnhằm tránh những tác động xấu khi diễn ra tình trạng TGHĐ biến động mạnh [171].

Trong nghiên cứu ―No single currency regime is right for all countries or at all times - Không có chế độ tiền tệ nào là phù hợp với tất cả các quốc gia hoặc mọi lúc”,

Frankel, Jeffrey, (1999), khi nghiên cứu cơ chế TGHĐ của các nước trong khoảng

thời gian từ năm 1980 đến năm 1990 đã đi đến nhận định rằng, trên thực tế không tồn tại một cơ chế TGHĐ phù hợp với mọi quốc gia, và cũng không có một cơ chế TGHĐ nào phù hợp với một quốc gia mãi mãi Nghiên cứu này đã giúp các quốc gia nhìn nhận rằng, không nên theo đuổi một cơ chế TGHĐ có thể được cho là tối ưu của một quốc gia nào đó, mà cần phải xem xét điều kiện kinh tế cụ thể của đất nước mình và lựa chọn thời điểm để áp dụng một cơ chế TGHĐ nhất định Jeffrey A Frankel cũng

khẳng định, việc mỗi quốc gia thay đổi cơ chế TGHĐ sao cho phù hợp với từng thời

kỳ phát triển kinh tế là tất yếu Điều quan trọng nhất khi trả lời câu hỏi của một số quốc gia là nên áp dụng cơ chế TGHĐ cố định hay thả nổi là phải xem xét quy mô và mức độ mở cửa nền kinh tế của quốc gia đó [140].

IMF (2007) trong ―Chuyển sang tỷ giá linh hoạt hơn: như thế nào, khi nào và

nhanh như thế nào - Moving to a greater e flexibility: How, When, and How fast” đã

đưa ra bốn điều kiện để chuyển đổi thành công sang cơ chế TGHĐ linh hoạt hơn

[153]: Thứ nhất, thị trường ngoại hối (TTNH) phát triển và có tính thanh khoản cao, có

nghĩa là chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán ở mức nhỏ, phí giao dịch thấp, doanh

số giao dịch lớn, hệ thống giao dịch phải thuận tiện và các đối tượng tham gia thị

trường phải rộng; thứ hai, can thiệp của NHTW được thực hiện có chọn lựa hoặc

không định trước, theo đó NHTW phải xác định mục tiêu, thời gian và khối lượng can

thiệp; thứ ba, lựa chọn neo danh nghĩa thích hợp thay thế neo cố định TGHĐ; thứ tư,

hệ thống giám sát và quản lý rủi ro tỷ giá của cả khu vực công và khu vực tư nhân.Nghiên cứu của IMF giúp các quốc gia có cơ sở lý luận để tiến hành khảo sát thựctrạng cũng như đưa ra các giải pháp để đáp ứng những điều kiện cần thiết nêu trêntrong quá trình linh hoạt hóa cơ chế TGHĐ

Như vậy, các nghiên cứu ngoài nước, đặc biệt là của IMF về cơ chế TGHĐ đãcung cấp các luận chứng khoa học về các cơ chế TGHĐ khác nhau, cách lựa chọn cơchế TGHĐ phù hợp với điều kiện của từng nước, cũng như đưa ra các khuyến nghị cầnthiết khi chuyển đổi sang cơ chế TGHĐ linh hoạt hơn Tuy nhiên, các nghiên cứu trênmới chỉ dừng lại ở việc đưa ra các luận điểm chung áp dụng cho tất cả các nước trên

Trang 22

thế giới mà chưa có nghiên cứu riêng cho Việt Nam.

1.1.1.2 Các nghiên cứu trong nước về lựa chọn cơ chế TGHĐ

Trong nghiên cứu “Lựa chọn chính sách tỷ giá trong bối cảnh phục hồi kinh tế”

của Nguyễn Thị Thu Hằng và các cộng sự (2010) đã khẳng định: cơ chế tỷ giá củaViệt Nam hiện nay là cơ chế neo tỷ giá có điều chỉnh ngày càng bộc lộ ra những hạnchế Cùng với việc so sánh tỷ giá chính thức và tỷ giá trị trường tự do năm 2009, tỷ giáthực tế và tỷ giá danh nghĩa giai đoạn 2000-2009, các tác giả cũng đã tính toán tỷ giáthực đa phương ở Việt Nam và đi đến kết luận đáng chú ý là đồng VND lên giá nhiều

so với các đồng tiền của các nước đối tác, đây là nguyên nhân của sự sụt giảm tínhcạnh tranh của hàng hóa Việt Nam và dẫn đến sự gia tăng nhập siêu của nền kinh tế.Trên cơ sở đó, các tác giả đã đề xuất: i) Việt Nam nên chuyển sang cơ chế TGHĐ thảnổi có quản lý; ii) Khi từ bỏ cơ chế neo tỷ giá, NHNN phải trở nên độc lập hơn; và iii)cần hiện đại hóa thị trường ngoại hối ở Việt Nam [28]

Trong nghiên cứu “Áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu: lý luận và thực tiễn” của Tô Thị Ánh Dương (2015), cũng như trong nghiên cứu “Các biện pháp vô hiệu hoá trong ràng buộc bộ ba bất khả thi tại Việt Nam - đánh giá và những khuyến nghị chính sách” của Tô Trung Thành (2012), các tác giả đều có nhận định rằng, để tiến tới

thực hiện chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu (LPMT) thì phải lựa chọn cơ chế TGHĐlinh hoạt cho nền kinh tế Việt Nam [22], [84]

Tóm lại, tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc lựa chọn cơ chế điều hànhTGHĐ phù hợp với Việt Nam, nhưng đây vẫn luôn được coi là vấn đề mới trong bốicảnh trong nước và thế giới đầy biến động Lựa chọn cơ chế điều hành TGHĐ phù hợpcho Việt Nam nhằm đáp ứng mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô trong quá trình hội nhậpquốc tế sâu rộng là rất cần thiết

1.1.2 Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái và lý thuyết “Bộ ba bất khả thi”

Đối với mỗi quốc gia việc lựa chọn chính sách kinh tế vĩ mô luôn đối diện với

―Bộ ba bất khả thi‖, đó là không thể đồng thời đạt được ba mục tiêu (là ba đỉnh của tamgiác ―Bộ ba bất khả thi‖): Ổn định tỷ giá, chính sách tiền tệ độc lập và tự do hóa tàikhoản vốn

Lý thuyết ―Bộ ba bất khả thi‖ là một lý thuyết cơ bản của kinh tế vĩ mô được sửdụng khá phổ biến, dựa trên mô hình Mundell-Fleming được Robert Mundell vàMarcus Fleming phát triển từ những năm 1960 Từ năm 1980, khi mà nhiều nước bắtđầu chú trọng mở cửa tài khoản vốn, thì những mâu thuẫn giữa việc giữ ổn định tỷ giáhối đoái và chính sách tiền tệ độc lập tất yếu xuất hiện

Trang 23

Mô hình Mundell-Fleming cho thấy: nếu một quốc gia theo đuổi mục tiêu kiểmsoát tài khoản vốn (đỉnh của tam giác) thì phải lựa chọn chính sách tiền tệ (CSTT) độclập và cố định TGHĐ; nếu chọn cơ chế TGHĐ thả nổi (góc bên trái tam giác) thì sẽ tựchủ về CSTT và tự do hóa tài khoản vốn; còn nếu lựa chọn cơ chế TGHĐ cố định (gócbên phải tam giác) để tự do hóa tài khoản vốn thì CSTT sẽ bị phụ thuộc (hình 1.1).

Hình 1.1 Tam giác “Bộ ba bất khả thi”

Nguồn: Frankel (1999) [133].

Frankel, Jeffrey, (1999) cũng chỉ rõ, trong thực tế, tùy theo từng thời điểm, để thực hiện mụctiêu phát triển kinh tế đã đề ra, từng quốc gia có thể mở rộng vận dụng lý thuyết ―Bộ ba bấtkhả thi‖, tức là trên cơ sở điều kiện cụ thể mà có thể lựa chọn CSTT bán độc lập (half-independence) và cơ chế tỷ giá bán ổn định (half-stability) để hội nhập sâu hơn vào thị trườngtài chính toàn cầu, đó là lựa chọn tam giác nằm ở phía trong tam giác ban đầu – khi ấy đượcgọi là mô hình trung dung (hay dung hòa)1 - theo đó, có sự kết hợp giữa kiểm soát tài khoản

vốn ở mức độ vừa phải, đồng thời cũng cho phép TGHĐ biến động trong một giới hạn nhấtđịnh để có được sự độc lập CSTT ở một mức độ nhất định [140]

Trong công trình ―Lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái - Choosing an exchange rate regime”, của Calderon và Schmidt-Hebbel (2008) đã đánh giá xác suất các quốc gia

lựa chọn cơ chế TGHĐ cố định hay thả nổi qua một số các biến số kinh tế vĩ mô và đã

đi đến kết luận là những quốc gia tự do hóa dòng chu chuyển vốn và có thị trường tàichính phát triển thường lựa chọn cơ chế TGHĐ thả nổi để có thể duy trì CSTT độc lập[128]

1 Tương đồng với từ ―trung dung‖ còn có từ ―trung hòa‖ hay ―dung hòa‖

Kiểm soáttài khoản vốn

Chính sách tiền tệ độc lập Tỷ giá hối đoái

ổn định

Tỷ giá hối đoái thả nổi Chính sách tiền tệ phụ thuộc

Tự do hóatài khoản vốn

Trang 24

Bên cạnh đó, một số nghiên cứu khác lại tập trung phân tích sự đánh đổi giữacác mục tiêu chính sách trong sự ràng buộc của "Bộ ba bất khả thi" Frankel,Schmukler và Servén (2002) cho rằng mô hình "trung dung" chịu nhiều vấn đềnghiêm trọng hơn so với mô hình tại các góc của tam giác "Bộ ba bất khả thi": Sựtăng lên của các dòng chu chuyển vốn trên thế giới có thể khiến cho các nước, hoặcphải lựa chọn TGHĐ cố định (như tham gia khu vực tiền tệ chung), hoặc là phải lựachọn thả nổi tỷ giá hoàn toàn, theo đó, những mô hình "trung dung" luôn phải chấpnhận sự đánh đổi mục tiêu [141] Patnaik và Shah (2010) nghiên cứu về 11 nướcChâu Á, theo đó, phần lớn các nước thực thi cơ chế TGHĐ ít linh hoạt thay vì thả nổihoàn toàn do các dòng vốn quốc tế đổ vào với quy mô rất lớn khiến đồng nội tệ tănggiá, gây ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng GDP của nềnkinh tế [185].

Aizenman và Ito (2012) trong nghiên cứu về các nền kinh tế thị trường mới nổicho thấy ở những nước này, TGHĐ thả nổi có quản lý được củng cố bởi lượng dự trữngoại hối lớn, mức độ độc lập tiền tệ trung bình và hội nhập tài chính có kiểm soát.Các nền kinh tế thị trường mới nổi với những lựa chọn chính sách hội tụ lại vùng trunggian có xu hướng chịu ít bất ổn trong tăng trưởng hơn trong hai thập niên gần đây.Như vậy, ngoài việc đánh giá xu hướng chính sách và tác động ở các quốc gia, nghiêncứu cũng tiếp tục nhấn mạnh vai trò của dự trữ ngoại hối như một điều kiện để cácquốc gia có thể phát huy tối đa các kết hợp chính sách của mình [119]

Một số nghiên cứu khác đi sâu vào việc giải quyết "Bộ ba bất khả thi" ở từngquốc gia Joshi (2003) cho rằng, trong những năm 1990, Ấn Độ lựa chọn mô hình

"trung dung" là thả nổi TGHĐ, nhưng có quản lý với sự kiểm soát tài khoản vốn, chophép quốc gia này có thể giữ được mức tỷ giá mục tiêu với CSTT tự chủ và vượt quakhủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997-1998 [161] Tuy nhiên, tối ưu nhất trongdài hạn là phải tự do hóa tài khoản vốn ở mức độ cao hơn và thả nổi hơn nữa về TGHĐ.Khoon (2009), khi nghiên cứu về Malaysia, đã chỉ rõ, việc bỏ kiểm soát tài khoản vốn từnăm 1998 với việc theo đuổi cơ chế TGHĐ cố định đã khiến Malaysia phải từ bỏ độc lập

về CSTT Chỉ đến tháng 7/2005 thì Malaysia mới có thể áp dụng tỷ giá thả nổi có quản

lý và lấy lại được sự tự chủ về CSTT khi mở cửa hoàn toàn thị trường vốn [162] Nghiêncứu của Hesse (2007) cho thấy, Thái Lan trước khủng hoảng 1997 có CSTT ở tình trạng

ít độc lập bởi cơ chế TGHĐ cố định và thực hiện tự do hóa tài khoản vốn Sau khủnghoảng, việc giải quyết "Bộ ba bất khả thi" với mô hình "trung dung" thu được hiệu quảtốt hơn, theo đó, CSTT và tỷ giá đã có những ảnh hưởng tích cực đến các biến số sảnlượng và giá

Trang 25

cả của nền kinh tế trong gần một thập niên tiếp theo [149].

Aizenman và Glick (2008) trong nghiên cứu về ―Vô hiệu hóa, chính sách tiền

tệ và hội nhập tài chính toàn cầu - Sterilization, monetary policy, and global financial integration‖ xu thế chính sách của các nước mới nổi, đã nêu bật lên xu hướng hội tụ về

mẫu hình trung gian của bộ ba bất khả thi [117] Trong thập kỷ 1990, các nước Mexico(1994); Thái Lan, Indonesia và Hàn Quốc (1997); Nga và Brazil (1998), Argentina vàThổ Nhĩ Kỳ (2000) đã gánh chịu hàng loạt các cuộc khủng hoảng gắn liền với cơ chếneo tỷ giá cố định (hard peg) và cơ chế tỷ giá neo mềm (soft peg) và xu hướng hộinhập tài chính Cùng thời gian đó, các quốc gia không theo cơ chế neo tỷ giá nhưMexico, Israel và Nam Phi lại tránh được khủng hoảng Kết quả là, các quốc gia mớinổi đã hướng đến một mẫu hình trung gian của ―Bộ ba bất khả thi‖ với tỷ giá thả nổi

có quản lý, trong khi vẫn giữ độc lập tiền tệ ở một mức độ nhất định và hội nhập tàichính sâu rộng Để thực hiện điều này các quốc gia này đã kết hợp chính sách dự trữngoại hối lớn và can thiệp vô hiệu hóa

Từ cuối năm 1980 đến đầu năm 1990, Hàn Quốc, Mexico và một vài nước Châu Ákhác đã chấp nhận tự do hóa và mở cửa tài chính, tuy nhiên, vẫn tiếp tục duy trì độc lậptiền tệ và ổn định tỷ giá Theo thuyết Mundell – Fleming thì lựa chọn này là bất khả thi

Do các mục tiêu chính sách không nhất quan nên dẫn đến khủng hoảng nghiêm trọng ởMexico vào các năm 1994-1995 và khủng hoảng Đông Á vào các năm 1997–1998 Cáccuộc khủng hoảng đó đã chứng minh rằng: Một quốc gia khi cố gắng mở cửa tài chính thìphải từ bỏ ổn định tỷ giá nếu muốn duy trì độc lập tiền tệ Những năm 1990, Argentina đã

cố gắng đạt được cơ chế neo tỷ giá cố định (hard peg) và hội nhập tài chính hoàn toàn, kếtquả là Argentina cũng phải trải qua cuộc khủng hoảng vào đầu những năm 2000 khi họkhông có khả năng chịu đựng việc mất đi sự độc lập tiền tệ Sau các khủng hoảng này thìcác quốc gia thị trường mới nổi mới bắt đầu theo đuổi mẫu hình ―Bộ ba bất khả thi‖ với

tỷ giá linh hoạt có quản lý, duy trì độc lập tiền tệ và tăng cường hội nhập về tài chính.Như vậy, hệ quả quan trọng nhất của định đề ―Bộ ba bất khả thi‖ là: Trong xu thếhội nhập và thống nhất hóa thị trường tài chính, tự do hoá các dòng vốn quốc tế, việcmột nước sẽ lựa chọn cơ chế TGHĐ hoàn toàn linh hoạt hay hoàn toàn cố định sẽ phụthuộc vào một trong hai mục tiêu cơ bản mà nước đó muốn đạt được (CSTT độc lậphay ổn định tỷ giá) Trong điều kiện thực hiện CSTT lạm phát mục tiêu (InflationTargeting-IT), cần có một CSTT độc lập thì NHTW buộc phải linh hoạt TGHĐ; và khilinh hoạt TGHĐ, NHTW cần phải xem xét đến hiệu ứng dẫn truyền từ TGHĐ sanglạm phát, bởi lẽ nếu hiệu ứng dẫn truyền này ở mức cao thì việc thực thi chính sách

Trang 26

tiền tệ lạm phát mục tiêu (LPMT) sẽ gặp nhiều khó khăn.

Tô Kim Ngọc (2019), trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Ngành ―Nghiên cứumức độ đánh đổi của ―Bộ ba bất khả thi‖ và gợi ý cho Việt Nam‖ Tác giả nghiên cứu

xu hướng điều chỉnh và quản lý ―bộ ba bất khả thi‖; mức độ tác động của sự điềuchỉnh mục tiêu bộ ba chính sách tới tăng trưởng và ổn định tài chính từ kinh nghiệmcác nước như Singapore, Trung Quốc, Indonesia, Tác giả sử dụng dữ liệu của ViệtNam giai đoạn 2000-2017 để kiểm nghiệm sự tồn tại ràng buộc của ―bộ ba bất khả thi‖đối với Việt Nam; xác định các nhân tố ảnh hưởng tới ràng buộc ―bộ ba bất khả‖ thibằng mô hình SUR (Seemingly Unrelated Regression) và đánh giá ảnh hưởng của quy

mô dự trữ tới tác động của bộ ba chính sách trong việc đạt được các mục tiêu vĩ mô(tăng trưởng kinh tế, lạm phát, ổn định tài chính) Tác giả phân tích và định lượng mức

độ độc lập của CSTT, mức độ ổn định của chính sách TGHĐ, mức độ hội nhập tàichính của Việt Nam; nghiên cứu và đánh giá thực trạng về sự lựa chọn và phối hợpmục tiêu bộ ba chính sách của Việt Nam giai đoạn từ 2000 - 2017 Tác giả đề xuấtViệt Nam cần tiếp tục theo đuổi mô hình trung dung, có ưu tiên về độc lập tiền tệ,chấp nhận giảm dần ổn định TGHĐ và cải thiện quy mô dự trữ ngoại hối [56]

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập đến một số khía cạnhliên quan đến cơ chế TGHĐ đặt trong mối quan hệ ―Bộ ba bất khả thi‖ gắn liền với điềukiện cụ thể của một số quốc gia có đặc điểm và trình độ phát triển kinh tế khác nhau.Tuy nhiên, những nghiên cứu nêu trên chủ yếu tập trung vào giai đoạn trước khi diễn

ra khủng hoảng tài chính toàn cầu, không trùng với khung thời gian nghiên cứu củaLuận án, hoặc là trong bối cảnh Việt Nam chưa hội nhập sâu rộng vào hệ thống tàichính toàn cầu

1.1.3 Nghiên cứu về cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái tại Việt Nam

Nguyễn Quang Huy (2009) trong đề tài cấp ngành“Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái phù hợp trong điều kiện hiện nay‖ đã khẳng định cơ chế tỷ giá hiện thời của Việt

Nam là cơ chế linh hoạt có quản lý, việc sử dụng tỷ giá bình quân liên ngân hàng(BQLNH) và biên độ tỷ giá đã góp phần hạn chế tình trạng đầu cơ và tác động củabiến động tỷ giá trên thị trường nước ngoài, hạn chế tình trạng nhập siêu, các giải phápcải thiện cán cân thanh toán Nghiên cứu đã có những ứng dụng nhất định đối với các

cơ quan quản lý nhà nước trong việc vận hành cơ chế TGHĐ trong giai đoạn trướcnăm 2009 [35]

Luận án của Hoàng Thị Lan Hương (2013) về “Hoàn thiện chính sách tỷ giá ở

Trang 27

Việt Nam giai đoạn 2010-2020” đã nghiên cứu chính sách TGHĐ với 2 nội dung là

lựa chọn cơ chế tỷ giá và điều hành TGHĐ Tác giả tiến hành thu thập số liệu để kiểmđịnh, tiến hành phân tích các biến số kinh tế vĩ mô quan trọng theo từng giai đoạn của

cơ chế TGHĐ ở Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2011, đồng thời so sánh TGHĐ củaViệt Nam với Thái Lan, Trung Quốc và ba quốc gia láng giềng Đông Nam Á khác.Khi đề cập đến vấn đề lựa chọn TGHĐ, theo tác giả, để đến năm 2018 Việt Nam cóthể áp dụng cơ chế TGHĐ thả nổi có quản lý thì cần phải thực hiện cơ chế TGHĐ neovới 1 rổ tiền tệ và dần dần tự do hoá tài khoản vốn Mặt khác, tác giả cho rằng việc phágiá đồng nội tệ không phải là giải pháp hữu hiệu đối với nền kinh tế nước ta Tuynhiên, luận án được thực hiện trong giai đoạn trước khi Việt Nam áp dụng cơ chế điềuhành TGHĐ theo tỷ giá trung tâm, do vậy, chưa đề cập đến những nội dung liên qquanđến cơ chế điều hành tỷ giá mới của Việt Nam Số liệu của luận án mới chỉ cập nhậtđến năm 2011 [40]

Luận án của Phạm Vân Anh (2017) đã nghiên cứu vấn đề “Lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái nhằm thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu ở Việt Nam” Tác

giả đã phân tích các cơ sở để lựa chọn cơ chế TGHĐ nhằm thực thi chính sách tiền tệLPMT theo lý thuyết ―Bộ ba bất khả thi‖ và bằng mô hình phân tích tự hồi quy theoVectơ VAR với bộ số liệu 10 năm liên tục từ 2005 - 2015 để xác định quy mô và thờiđiểm của hiệu ứng dẫn truyền của TGHĐ Kết quả cho thấy hiệu ứng dẫn truyền từ tỷgiá sang lạm phát ở Việt Nam là tương đối mạnh trong khoảng thời gian 2005-2015

Cơ chế TGHĐ cần phải được linh hoạt hóa để có thể theo đuổi chính sách tiền tệLPMT Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào giai đoạn trước khi Việt Nam

áp dụng cơ chế điều hành TGHĐ mới [9]

Như vậy, các nghiên cứu trong nước về cơ chế TGHĐ đã có những phân tích về

cơ chế điều hành TGHĐ tại Việt Nam, đánh giá mối quan hệ giữa TGHĐ và các biếnkinh tế vĩ mô khác, đồng thời đề xuất một số giải pháp phù hợp để hoàn thiện cơ chếTGHĐ Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa cập nhật được những biến động củaTGHĐ và cơ chế điều hành TGHĐ mới theo cơ chế tỷ giá trung tâm giai đoạn 2016-2020

1.1.4 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái với lạm phát, với cán cân thương mại và vay nợ nước ngoài của Việt Nam

1.1.4.1 Các nghiên cứu về mối quan hệ tỷ giá hối đoái với lạm phát

Mối quan hệ TGHĐ với lạm phát hay hiệu ứng dẫn chuyển từ tỷ giá sang lạmphát đã được nghiên cứu ở nhiều quốc gia khác nhau

Trang 28

Campa và Goldberg (2005) đã tiến hành kiểm định chuỗi dữ liệu từ năm 1975đến năm 2003 của 23 quốc gia thuộc OECD, từ đó đưa ra kết luận sau: (i) hiệu ứngdẫn truyền của TGHĐ trong ngắn hạn là nhỏ; (ii) những quốc gia mà TGHĐ không

ổn định thường có hiệu ứng dẫn truyền lớn; (iii) nhân tố quan trọng tác động tới hiệuứng dẫn truyền lại không thuộc về các biến số kinh tế vĩ mô mà thuộc về sự thay đổi

cơ cấu mặt hàng nhập khẩu Bên cạnh đó, Lian An và Jian Wang (2006) cũng nghiêncứu tác động của TGHĐ lên 3 chỉ số giá (giá sản xuất, giá nhập khẩu và giá tiêudùng) trong giai đoạn 1980-2007 của 9 nước thuộc OECD Kết quả nghiên cứu chothấy hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá nhỏ hơn 1, cả trong ngắn hạn và dài hạn Trong

đó, hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá lên chỉ số giá nhập khẩu là lớn nhất và chỉ số giátiêu dùng là nhỏ nhất Đồng thời các tác giả cũng kết luận rằng đối với những nước

có quy mô nhỏ, kim ngạch nhập khẩu lớn, cơ chế TGHĐ cứng nhắc, CSTT khôngnhất quán, lạm phát cao, hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá luôn lớn hơn

Bài viết “Cơ chế tỷ giá và chính sách mục tiêu lạm phát” của Tô Kim Ngọc và

Lê Thị Tuấn Nghĩa (2012) đã khái quát mối quan hệ giữa cơ chế TGHĐ và chính sáchtiền tệ LPMT; đã đề cập tới các đặc điểm cơ bản của chính sách LPMT và từ đó yêucầu cần có một cơ chế tỷ giá tương thích Theo các tác giả, chính sách tiền tệ LPMTđược vận hành chủ yếu thông qua công cụ lãi suất với việc NHTW xác định lãi suấtmục tiêu và chuyển tải đến các mức lãi suất thị trường Tất nhiên với trường hợp nàythì phải chấp nhận cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn trong điều kiện tài khoản vốn không bị

kiểm soát hoàn toàn Nghiên cứu khẳng định cơ chế tỷ giá linh hoạt được coi như là điều kiện tiên quyết cho việc vận hành chính sách tiền tệ LPMT [54] Tuy vậy, nếu

xem xét đến các điều kiện cho môi trường vận hành cơ chế tỷ giá linh hoạt ở Việt Nam

từ năm 1999 đến năm 2009 thì khả năng áp dụng là rất hạn chế Vì thế, trước mắt ViệtNam nên duy trì cơ chế tỷ giá hiện hành nhưng với biên độ dao động nới rộng hơn,trước khi hình thành một cơ chế tỷ giá linh hoạt có điều tiết và không thông báo trước.NHNN vẫn giữ quyền can thiệp thị trường khi tỷ giá biến động vượt khỏi biên độ chophép Tuy nhiên, nghiên cứu trên được thực hiện từ năm 2012, cơ chế điều hànhTGHĐ đã có nhiều thay đổi kể từ đó

Trong nghiên cứu “Giải pháp cho chính sách tỷ giá trong nền kinh tế chuyển đổi Việt Nam”, tác giả Mai Thu Hiền (2013), trên cơ sở xác định mục tiêu của việc điều

hành CSTT tại Việt Nam là ổn định giá cả, từ đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tácgiả xây dựng các mô hình lý thuyết để lựa chọn cơ chế TGHĐ phù hợp cho Việt Nam

Trang 29

dựa trên các tiêu chí là cơ chế tỷ giá đó phải đủ độ tin cậy, đảm bảo mục tiêu ổn địnhgiá cả và hạn chế tác động bất lợi của các cú sốc đối với nền kinh tế trong bối cảnh tự

do hóa tài khoản vốn Kết luận của mô hình lý thuyết cũng như thực tiễn tại Việt Namcho thấy Việt Nam nên áp dụng cơ chế tỷ giá linh hoạt và chính sách tiền tệ LTMT.Nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng các điều kiện để Việt Nam thực hiện cơ chế tỷ giá linhhoạt và chính sách tiền tệ LPMT không được thỏa mãn trong bối cảnh kinh tế hiệnnay Chính vì vậy, tác giả đề xuất Việt Nam nên thực hiện một quá trình chuyển đổi cơchế TGHĐ từ cố định sang linh hoạt và chuyển đổi từ hai mục tiêu tỷ giá và tiền tệsang mục tiêu lạm phát nhằm xây dựng các điều kiện cần thiết cho việc áp dụng thànhcông cơ chế tỷ giá linh hoạt ở Việt Nam Đồng thời, khuyến nghị về chiến lược chuyểnđổi và các giải pháp nhằm thực hiện thành công cơ chế tỷ giá linh hoạt ở Việt Namnên được đặt trong mối liên hệ với CSTT và chính sách tài khóa (CSTK); sự phát triểncủa hệ thống tài chính - ngân hàng và thị trường ngoại hối; thiết lập hệ thống quản lýrủi ro trong bối cảnh tự do hóa các giao dịch vốn [29]

Như vậy, đã có một số công trình nghiên cứu về mối liên hệ giữa cơ chế TGHĐ

và chính sách lạm phát mục tiêu Tuy nhiên, các nghiên trên được thực hiện trong giaiđoạn trước khi Việt Nam thực hiện cơ chế điều hành tỷ giá mới - cơ chế điều hành tỷgiá theo tỷ giá trung tâm

1.1.4.2 Nghiên cứu tác động của tỷ giá hối đoái tới cán cân thương mại và vay nợ nước ngoài

Trong bài viết ―Vietnam’s’s Exchange rate Policy and implications for its Foreign Exchange Market, 1986-2009- Chính sách tỷ giá của Việt Nam và hàm ý đối với thị trường ngoại hối, 1986-2009‖, Trần Phúc Nguyên (2010) đã nghiên cứu những

nguyên nhân cơ bản dẫn đến hạn chế của thị trường ngoại hối (TTNH) ở Việt Nam,đặc biệt nhấn mạnh vai trò của chính sách tỷ giá đến quá trình phát triển của TTNH

Trong cuốn sách “Phân tích ảnh hưởng của biến động tỷ giá (USD, EURO) đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, tác giả

Nguyễn Thị Quy (2008) đã khảo sát, điều tra và lượng hoá tác động của biến động ngoại

tệ đến hoạt động xuất khẩu, chỉ rõ tỷ giá của đồng Việt Nam so với USD và EURO cóảnh hưởng nhất định đến hoạt động xuất khẩu; tỷ giá là một trong nhiều nhân tố góp sứclàm thay đổi cán cân thương mại (CCTM) [73] Kết quả nghiên cứu này cũng đồng nhấtvới quan điểm của một số nhà kinh tế trong nước khi cho rằng, muốn cải thiện CCTMcủa Việt Nam cần phải quan tâm hơn nữa trong điều hành tỷ giá và TTNH

Trang 30

Luận án của Đặng Thị Huyền Anh (2012) về “Tác động tỷ giá thực đến cán cân thương mại trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, bằng phương pháp bình phương

nhỏ nhất OLS tác giả đã phân tích định lượng mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái hữuhiệu và CCTM giai đoạn 2002-2012 của Việt Nam Tác giả chỉ ra rằng trong nhiềugiai đoạn, TGHĐ hữu hiệu thực thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam, góp phần cải thiệnCCTM và từ đó tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế [2]

Trong nghiên cứu “Tỷ giá hối đoái giai đoạn 2000-2011: mức độ sai lệch và tác động đối với xuất khẩu” của tác giả Vũ Quốc Huy và cộng sự (2012) đã phân tích xu

hướng và biến động TGHĐ của Việt Nam trong giai đoạn 2000-2011 Bằng phươngpháp nghiên cứu định lượng (mô hình VECM) nghiên cứu cho thấy TGHĐ có ảnh hưởnglớn đến xuất khẩu của Việt Nam, khẳng định vai trò của TGHĐ trong việc thúc đẩy xuấtkhẩu; Tác động này phụ thuộc vào cả mặt hàng xuất khẩu và thị trường xuất khẩu [37]

Luận án của Lê Mai Trang (2017) về “Chính sách TGHĐ thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam” đã kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng; sử dụng

số liệu từ năm 2005-2015, cho thấy: i) Chính sách tỷ giá (CSTG) của Việt Nam hướngtới ưu tiên thúc đẩy xuất khẩu; ii) TGHĐ có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động xuấtkhẩu, lạm phát, lãi suất và tăng trưởng kinh tế; Mức độ ảnh hưởng của TGHĐ đến cácmặt hàng xuất khẩu chính không giống nhau và có những thời điểm trái chiều nhau[93] Vì vậy, để đạt được mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu mà không ảnh hưởng đến cácmục tiêu kinh tế vĩ mô khác, CSTG cần phải hoàn thiện hơn và phải có khả năng dunghòa được các mục tiêu trong từng giai đoạn cụ thể

Luận án của Nguyễn Thị Thái Hưng (2012) “Chính sách tỷ giá của Việt Nam nhằm góp phần ổn định kinh tế vĩ mô trong điều kiện hội nhập” đã đánh giá sự ổn định

kinh tế vĩ mô thông qua chính sách tỷ giá, cũng như tác động của chính sách tỷ giá tớicác biến số kinh tế như cán cân thương mại (CCTM), lạm phát, tăng trưởng kinh tế;các hoạt động kinh tế đối ngoại như đầu từ nước ngoài, vay nợ nước ngoài và kiều hốicủa Việt Nam trong giai đoạn 1997-2011 Tác giả sử dụng mô hình Véc tơ tự hồi quyVéc tơ để khảo sát mối quan hệ giữa tỷ giá và tăng trưởng cũng như quan hệ giữa tỷgiá và lạm phát Kết quả cho thấy: cả trong ngắn hạn và dài hạn tỷ giá tác động tớiGDP thông qua tác động tới CCTM Chính sách tỷ giá tác động không nhỏ trong việcthu hút vốn đầu tư nước ngoài, kiều hối vào Việt Nam nhưng cũng gây ra nhiều rủi rotrong vay nợ nước ngoài [39]

Trang 31

1.2 Khoảng trống trong các nghiên cứu

Như đã đề cập ở trên, đã có nhiều nghiên cứu quốc tế và trong nước về TGHĐ và

cơ chế điều hành TGHĐ Tuy vậy, nền kinh tế Việt Nam nói riêng và thế giới nóichung luôn vận động không ngừng và liên tục phát triển với những thuận lợi và khókhăn mới Những diễn biến kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế luôn thay đổi vàluôn đặt ra những yêu cầu mới trong việc lựa chọn một cơ chế điều hành TGHĐ phùhợp với điều kiện mới của Việt Nam trong hiện tại và cả trong tương lai (ngắn hạn vàtrung, dài hạn) Trên góc độ đó, có thể nêu một số khoảng trống có liên quan đến đề tàiluận án như sau:

Một là, việc nghiên cứu và lựa chọn một cơ chế điều hành TGHĐ phù hợp với điều

kiện một quốc gia như Việt Nam luôn được coi là vấn đề mới và cần thiết gắn với bốicảnh mới, bởi vì mỗi quốc gia sẽ phải tự lựa chọn cho mình một cơ chế TGHĐ và cơ chếđiều hành phù hợp cho một giai đoạn phát triển nhất định của quốc gia đó Trong bối cảnhViệt Nam ngày càng phát triển và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc nghiên cứu lựa chọnmột cơ chế điều hành TGHĐ phù hợp và đưa ra các giải pháp hoàn thiện cơ chế điềuhành TGHĐ nhằm góp phần ổn định kinh tế vĩ mô luôn là vấn đề cấp thiết

Thứ hai, đến nay có rất ít công trình nghiên cứu về cơ chế điều hành TGHĐ của

Việt Nam trong cả một giai đoạn dài từ năm 2007 đến năm 2020 (kể từ khi khủnghoảng Tài chính toàn cầu đến nay), do vậy, rất cần những nghiên cứu để tổng kết, đánhgiá những kết quả đạt được, cũng như những vấn đề đặt ra trong từng giai đoạn điềuhành chính sách tỷ giá hối đoái

Thứ ba, có rất ít công trình nghiên cứu đánh giá về cơ chế điều hành tỷ giá mới

-điều hành theo tỷ giá trung tâm ở Việt Nam, do vậy, cần có những nghiên cứu sâu vềvấn đề này để đề xuất các giải pháp, tiếp tục hoàn thiện cơ chế điều hành TGHĐ củaViệt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng

Thứ tư, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về cơ chế điều hành

TGHĐ gắn với vấn đề thao túng tiền tệ trong bối cảnh Việt Nam bị gắn mác là quốcquốc gia thao túng tiền tệ (trong báo cáo tháng 12/2020 của Bộ Tài chính Mỹ về Cácchính sách kinh tế vĩ mô và chính sách tỷ giá của các nước đối tác thương mại chủ yếucủa Mỹ, Việt Nam đã bị gắn mác là quốc gia thao túng tiền tệ) và đề xuất các giải pháp

và kiến nghị chính sách để tháo gỡ

Từ những khoảng trống trong các nghiên cứu nêu trên, tác giả chọn chủ đề

nghiên cứu "Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế”.

Trang 32

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH

2.1 Cơ sở lý luận về tỷ giá hối đoái

2.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái

Mỗi quốc gia đều có một đơn vị tiền tệ riêng là phương tiện chủ yếu để buôn bán,trao đổi hàng hóa trong phạm vi quốc gia đó Tuy nhiên, trong điều kiện hội nhập quốc

tế, các quan hệ thương mại, tài chính, tín dụng, ngày càng được mở rộng thì cũng tấtyếu hình thành nên thị trường tiền tệ quốc tế Trên thị trường tiền tệ quốc tế, đồng tiềncủa quốc gia này có thể trao đổi để lấy đồng tiền của quốc gia khác theo một tỷ lệ nhấtđịnh và từ đó hình thành nên khái niệm tỷ giá hối đoái (TGHĐ) Có thể định nghĩa tỷgiá hối đoái như sau:

Theo Frederic S Mishkin (2015):“Tỷ giá hối đoái là giá của một đồng tiền tính theo một đồng tiền khác” [171].

Theo Từ điển Thuật ngữ Tài chính (Dictionary of Financial Terms): “Tỷ giá hối đoái là mức giá tại đó đồng tiền của quốc gia này có thể được chuyển đổi sang đồng tiền của quốc gia khác”.

Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010:“Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam” [68].

Ví dụ, vào ngày 17/01/2020 Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam niêm yết tỷ giá:

1 USD bằng 23.2450 VND, hay 1 GBP bằng 30.403VND

Như vậy, có nhiều khái niệm khác nhau về TGHĐ, trong nghiên cứu này, tỷ giá hối đoái được hiểu là mức giá của một đồng tiền nước này biểu hiện bằng số đơn vị tiền tệ của nước khác.

Đối với các nhà đầu tư và kinh doanh thì họ quan tâm đến tỷ giá hữu hiệu, lúc đóTGHĐ là sự so sánh tương quan giá trị giữa hai đồng tiền phát sinh trong các hoạtđộng liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa, hoạt động đầu tư, giao dịch tài chính

quốc tế, v.v… Khái niệm TGHĐ theo cách hiểu này là tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn Thực tế, mức tỷ giá lại thường xuyên biến động Nếu hiểu rộng và sâu hơn về cơ

sở tạo nên mức tỷ giá cụ thể ở từng thời điểm thì TGHĐ là sự phản ánh tương quan sức mua giữa đồng nội tệ với một loại ngoại tệ nhất định và phản ánh quan hệ cung cầu giữa chúng trên thị trường ngoại hối (TTNH) Như vậy, đơn vị tính toán và thước

Trang 33

đo để trao đổi trong quan hệ quốc tế không thể chỉ là đơn vị tiền tệ trong nước mà cònphải sử dụng các đồng tiền khác và do đó việc ra đời phạm trù tỷ giá hối đoái là mộttất yếu khách quan.

2.1.2 Phân loại tỷ giá hối đoái

Trong nghiên cứu và trong thực tế tùy theo tiêu thức lựa chọn phân loại sẽ cónhững loại TGHĐ phù hợp với mục đích nghiên cứu Dưới góc độ nhà quản lý, điềuhành chính sách TGHĐ thường đề cập đến những loại TGHĐ sau:

Tỷ giá chính thức (Official Rate): Ngân hàng Trung ương sẽ công bố loại tỷ giá

này và được áp dụng trong một thời kỳ nhất định Ở Việt Nam, theo Quyết định số2730/QĐ-NHNN từ ngày 04/01/2016, tỷ giá chính thức là tỷ giá trung tâm (TGTT): ―Tỷgiá trung tâm của Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ được xác định trên cơ sở tham chiếudiễn biến tỷ giá bình quân gia quyền trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, diễn biến

tỷ giá trên thị trường quốc tế của một số đồng tiền của các nước có quan hệ thươngmại, vay, trả nợ, đầu tư lớn với Việt Nam, các cân đối kinh tế vĩ mô, tiền tệ và mục tiêuchính sách tiền tệ‖ Tỷ giá trung tâm là ―Tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trườngngoại tệ liên ngân hàng của Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ‖, dựa vào tỷ giá trung tâm,ngân hàng thương mại quyết định tỷ giá mua vào và bán ra trong biên độ cho phép

Tỷ giá thị trường (Market Rate) là tỷ giá được hình thành bên ngoài hệ thống

ngân hàng, do quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định Các NHTM lấy tỷ giáchính thức làm căn cứ và dao động quanh đó với một biên độ cho phép Tùy vào cơchế điều tiết tỷ giá ở từng giai đoạn, tỷ giá chính thức có thể hoàn toàn độc lập với tỷgiá thị trường, cũng có thể lấy tỷ giá thị trường làm tham chiếu

Tỷ giá danh nghĩa song phương (Nominal Exchange Rate - NER) Tỷ giá danh

nghĩa song phương là giá cả niêm yết của một đơn vị ngoại tệ được biểu hiện qua sốđơn vị nội tệ Giả sử: Ngân hàng hoặc đại lý thu đổi ngoại tệ niêm yết 1 USD = 23.500VND, đây là tỷ giá danh nghĩa, bởi vì nó chưa đề cập tới tương quan sức mua giữaUSD và VND, tức là số lượng hàng hóa trên 1USD ở Mỹ và số lượng hàng hóa trên23.500VND ở Việt Nam chưa được thể hiện

Tỷ giá danh nghĩa hữu hiệu (Nominal Effective Exchange Rate -NEER) là chỉ số

tỷ giá trung bình của một đồng tiền so với các đồng tiền còn lại Mỗi quốc gia có quan

hệ thương mại với nhiều nước nên NEER cho thấy sự biến động tỷ giá của đồng tiềnnước mình với các đồng tiền quốc gia khác cùng có mối quan hệ thương mại

Tính NEER giống như cách tính chỉ số giá tiêu dùng (CPI), khác là hàng hoátrong rổ hàng là ngoại tệ và để tính NEER sẽ phải chọn một rổ ngoại tệ phù hợp

Trang 34

(2-1)Trong đó: e là TGHĐ danh nghĩa song phương; w là tỷ trọng của TGHĐ songphương, được tính bằng tỷ trọng thương mại giữa các quốc gia có đồng tiền được lựachọn trong rổ ngoại tệ tính NEER; j là số thứ tự của các TGHĐ song phương; i là thời

kỳ tính toán

Tỷ giá thực song phương - e r (Real Bilateral Exchange Rate - RER) Tỷ giá thực

song phương bằng tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát giữa trongnước với nước ngoài, là chỉ số phản ánh mối tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại

tệ Thực chất, đó là tỷ lệ trao đổi hàng hoá giữa hai quốc gia

(2-2)Trong đó: E: tỷ giá hối đoái danh nghĩa; P*: mức giá ở nước ngoài; P: mức giá ở trong nước

Sự thay đổi của TGHĐ thực tế (er) sẽ ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu:khi đồng nội tệ được định giá thực thấp (real depreciation) khuyến khích xuất khẩu, vì

er >1, giá hàng hoá trong nước rẻ hơn giá hàng hóa ở nước ngoài Ngược lại, khi er <1

sẽ khuyến khích nhập khẩu, vì giá hàng hoá trong nước đắt hơn giá hàng hóa ở nướcngoài Trong trường hợp lạm phát trong nước bằng lạm phát ở nước ngoài, TGHĐdanh nghĩa tăng sẽ làm cho TGHĐ thực tế tăng Bởi vì giá hàng hoá không co giãntrong ngắn hạn, nên khi phá giá nội tệ sẽ giúp cải thiện sức cạnh tranh thương mạiquốc tế

Tỷ giá thực hữu hiệu (Real Effective Exchange Rate -REER): Vì NEER chưa đề

cập được tương quan sức mua hàng hoá giữa nội tệ với các đồng tiền còn lại, do đó,khi NEER thay đổi không nhất thiết phải tác động đến cán cân thương mại (CCTM).Chính vì vậy, để biết được tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các đồng tiền cònlại, ta phải dùng tới khái niệm tỷ giá thực hữu hiệu (REER)

Tỷ giá thực hữu hiệu đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước với tất

cả các nước còn lại, do đó, nó phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả cácđồng tiền khác REER tương tự như RER nhưng có ý nghĩa lớn hơn ở chỗ nó là thước

đo tổng hợp vị thế cạnh tranh thương mại của một nước so với tất cả các nước bạnhàng còn lại Do vậy, hiện nay hầu hết các nước đều tính toán và công bố TGHĐ này.Ngoài ra, trong thực tế còn có các loại tỷ giá như: Tỷ giá mua, tỷ giá bán, tỷ giágiao ngay, tỷ giá kỳ hạn

Trang 35

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái

Trong nền kinh tế thị trường, TGHĐ bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhaunhưng tựu chung lại có một số nhân tố chủ yếu tác động tới TGHĐ đó là:

2.1.3.1 Cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối

Tỷ giá hối đoái luôn thay đổi dưới tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến cungcầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối

Trong hình 2.1, E là tỷ giá hối đoái (nội tệ/ ngoại tệ) D là đường cầu ngoại tệ(khi các nhà đầu tư /nhà nhập khẩu muốn mua hàng hoá ở nước ngoài, từ nhu cầu duhọc hay chữa bệnh ở nước ngoài ) Đường cầu ngoại tệ chạy dốc xuống để biểu diễnmối quan hệ nghịch biến giữa TGHĐ và cầu ngoại tệ Cầu ngoại tệ chịu ảnh hưởng củacác yếu tố như: Thu nhập của người dân, giá cả hàng hoá, sở thích của người dân vànhững can thiệp của chính phủ vào thị trường ngoại hối (TTNH)

Hình 2.1 Mô hình thị trường ngoại hối

S là đường cung ngoại tệ, nguồn cung này xuất phát từ như cầu của người nướcngoài muốn mua hàng hoá để đầu tư vào trong nước, người trong nước có thu nhập dolàm việc cho các doanh nghiệp nước ngoài, lượng kiều hối đưa về Cung ngoại tệchịu ảnh hưởng của thu nhập của người nước ngoài, giá cả hàng hoá, sở thích củangười tiêu dùng ngoại quốc và sự can thiệp của Ngân hàng Trung ương vào TTNH

A là điểm cân bằng cung-cầu ngoại tệ và xác lập mức TGHĐ trên TTNH Trạngthái cân bằng luôn thay đổi khi có yếu tố tác động đến cung-cầu ngoại tệ Một quốc gia

áp dụng cơ chế TGHĐ cố định khi muốn ổn định TGHĐ thì Ngân hàng Trung ương

sẽ phải sử dụng các công cụ để can thiệp vào TTNH

Ngoài các yếu tố tác động trực tiếp lên cung - cầu ngoại tệ thì các yếu tố giántiếp (chi tiêu chính phủ, sản lượng, năng suất lao động,…) cũng ảnh hưởng tới TGHĐ.Cung - cầu ngoại tệ là hai yếu tố vô cùng nhạy cảm, quyết định trực tiếp TGHĐ

Trang 36

NHTW sẽ sử dụng các công cụ để can thiệp vào TTNH nhằm đối phó kịp thời vớinhững rủi ro tiềm ẩn xảy ra do biến động của TGHĐ.

2.1.3.2 Chênh lệch lãi suất trong nước và nước ngoài

Chênh lệch lãi suất trong nước và nước ngoài là yếu tố tác động đến TGHĐ trongngắn hạn Nếu nền kinh tế không có lạm phát, lãi suất huy động vốn bằng nội tệ caohơn lãi suất huy động vốn bằng ngoại tệ, sẽ làm tăng cầu về nội tệ Khi ấy, thay vì gửivào NH bằng ngoại tệ người ta sẽ gửi bằng nội tệ để tăng thu nhập từ tiền gửi Nếu nềnkinh tế có lạm phát cao thì việc chuyển sang nắm giữ nội tệ sẽ có rủi ro rất lớn Do đó,khi xác định mức lãi suất tiền gửi tiền nội tệ, cần kết hợp với chính sách lãi suất tiềngửi ngoại tệ và TGHĐ giữa nội tệ với ngoại tệ

Lãi suất được xem là công cụ của NHTW trong việc điều chỉnh TGHĐ trongngắn hạn Theo lý thuyết ngang giá lãi suất, đồng tiền của một quốc gia nào có lãi suấtthấp hơn thì nhất định sẽ bù kỳ hạn cho hợp đồng kỳ hạn đối với đồng tiền của mộtquốc gia khác có lãi suất cao hơn Nói đơn giản là, sự cân bằng TTNH đòi hỏi sựngang bằng về tiền lãi, lợi tức của hai loại tiền gửi là tương đương nhau khi cùng quy

về một đồng tiền Khi tất cả các lãi suất dự kiến bằng nhau tức có sự xuất hiện nganggiá lãi suất thì TTNH sẽ cân bằng do không thể có dư cung hoặc dư cầu

2.3.1.3 Chênh lệch giữa lạm phát trong nước và nước ngoài

Chênh lệch giữa lạm phát trong nước và nước ngoài là yếu tố ảnh hưởng đếnTGHĐ trong dài hạn Nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn so với lạm phát ở nướcngoài sẽ làm cho giá hàng hoá trong nước đắt hơn, người tiêu dùng có xu hướng dùnghàng ngoại thay thế hàng nội, từ đó làm cho nhập khẩu tăng, nên cầu ngoại tệ tăng,đẩy TGHĐ tăng, đồng tiền của nước có tỷ lệ lạm phát cao sẽ bị giảm giá để bù lại phânchênh lệch lạm phát Tác động này được giải thích bằng lý thuyết ngang giá sức mua(Purchase Power Parity- PPP) TGHĐ giữa hai đồng tiền lúc này phải biến động đểtương ứng với mức lạm phát giữa chúng

2.3.1.4 Đầu tư nước ngoài

Tác động của đầu tư nước ngoài lên TGHĐ được xem xét ở hai góc độ: Thứ nhất, TGHĐ chịu ảnh hưởng của quy mô vốn đầu tư nước ngoài, gồm đầu tư trực

tiếp (FDI), đầu tư gián tiếp (FPI) và các khoản vay quốc tế, chúng tạo nên nguồncung ngoại tệ cho nền kinh tế Trên TTNH, cung ngoại tệ sẽ tăng khi nhận thêmnhững khoản đầu tư nước ngoài, còn cầu ngoại tệ tăng khi các nhà đầu tư trong nướctiến hành đầu tư ra nước ngoài Nếu các yếu tố khác không đổi, giá trị của đồng nội

tệ sẽ tăng nếu đầu tư ra nước ngoài lớn hơn so với nhận đầu tư nước ngoài và ngược

lại Thứ hai, TGHĐ chịu tác động của tỷ suất sinh lợi vốn đầu tư và mức độ rủi ro

của nước nhận vốn đầu tư Tỷ suất sinh lợi có mối quan hệ đồng biến với cung ngoại

Trang 37

tệ và có nghịch biến với cầu ngoại tệ Tỷ suất sinh lời tăng sẽ làm cho nội tệ lên giá

vì thu hút được các nhà đầu nước ngoài, cung ngoại tệ tăng; còn cầu ngoại tệ giảm vìcác nhà đầu tư trong nước có ít nhu cầu ngoại tệ để đầu tư ra nước ngoài Ngược lại,đồng nội tệ sẽ xuống giá khi tỷ suất sinh lời thấp hoặc mức rủi ro tại quốc gia đó cao

2.3.1.5 Hiện tượng đô la hoá

Đô la hoá là hiện tượng dân cư sử dụng rộng rãi đồng USD cùng với đồng nội tệhoặc thay thế đồng nội tệ Theo tiêu chí của IMF, một nền kinh tế được coi là có tìnhtrạng đô la hoá cao khi tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm từ 30% trở nên trong tổngkhối lượng tiền rộng (M2) Đôla hoá là hiện tượng phổ biến, đặc biệt ở các nước đang

và chậm phát triển hoặc đang chuyển đổi kinh tế Đôla hoá thường gặp khi một nềnkinh tế có lạm phát cao, sức mua của đồng nội tệ giảm sút nên người dân phải tìm cáccông cụ dự trữ khác, trước hết là các đồng ngoại tệ có uy tín Dần dần ngoại tệ sẽ cạnhtranh với nội tệ trong chức năng làm phương tiện thanh toán hay chức năng làm thước

đo giá trị Hiện tượng đôla hoá sẽ gây áp lực cho NHTW khi muốn can thiệp vào thịtrường ngoại hối (TTNH) để thay đổi trạng thái cung - cầu ngoại tệ nếu có những cúsốc do có hiện tượng găm giữ ngoại tệ

2.3.1.6 Yếu tố tâm lý

Trên thị trường ngoại hối, khi các chủ thể (người dân, nhà đầu cơ, ngân hàng, )tham gia mua bán sẽ tạo nên cung - cầu ngoại tệ Một trong những yếu tố tác động đếncung - cầu ngoại tệ là các tin đồn hoặc kỳ vọng trong tương lai Nếu mọi người kỳvọng TGHĐ sẽ tăng trong tương lai thì họ sẽ mua ngoại tệ dẫn tới tỷ giá tăng tronghiện tại và ngược lại Trong thực tế rất khó có những dự báo đúng về xu hướng vậnđộng của TGHĐ

Tóm lại, với sự hội tụ các nhân tố khác nhau như trên thì TGHĐ là một chỉ sốkinh tế tổng hợp Nó vừa là tấm gương phản chiếu các mặt quan hệ đối nội và đốingoại là sự phản ánh tương quan sức mua giữa đồng nội tệ với một loại ngoại tệ nhấtđịnh và phản ánh quan hệ cung cầu giữa chúng trên thị trường ngoại hối

2.1.4 Ảnh hưởng của biến động tỷ giá hối đoái đến nền kinh tế

Sự biến động của tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế trongtiến trình hội nhập quốc tế là vấn đề thường xuyên được đặt ra Hơn nữa, nó tác độngnhư thế nào đến việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô còn là điều quan trọng nhất vì nếukhông đảm bảo được ổn định kinh tế vĩ mô thì tiến trình hội nhập quốc tế chắc chắn sẽgặp nhiều khó khăn, thậm chí còn bị trả giá đắt vì khi ấy rất dễ đưa đến những thuathiệt với đối tác bên ngoài, thậm chí dẫn đến tình trạng nền kinh tế bị phụ thuộc

Trang 38

2.1.4.1 Biến động tỷ giá hối đoái tác động đến xuất nhập khẩu và sản lượng

Theo Sameti và các cộng sự (2012), bất ổn kinh tế vĩ mô được đánh giá bởi cácbiến động của một tổ hợp các biến số kinh tế vĩ mô như tăng trưởng, lạm phát, thâmhụt cán cân vãng lai, dự trữ ngoại hối và thâm hụt ngân sách Biến động của TGHĐbiểu hiện cho sự không chắc chắn trong các giao dịch quốc tế về hàng hóa và tài sảntài chính từ đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế Sự bất ổn kinh tế vĩ mô được thểhiện thông qua sự suy giảm sản lượng của nền kinh tế

Sự biến động của TGHĐ ảnh hưởng tới sản lượng của nền kinh tế thông qua cácbiến số của tổng cầu là cán cân thương mại (xuất khẩu trừ nhập khẩu) và đầu tư KhiTGHĐ hữu hiệu tăng, xuất khẩu tăng, nhập khẩu giảm, làm cho tổng cầu tăng lên Tuynhiên, không phải trong trường hợp nào, biến động của TGHĐ cũng ảnh hưởng đếnhoạt động của nền kinh tế như vậy Mức độ thúc đẩy sản xuất trong nước còn phụthuộc vào khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước với hàng hóa nước ngoài, vịtrí của nền kinh tế so với mức sản lượng tiềm năng, mức độ linh hoạt của giá cả trongnền kinh tế… Mối quan hệ giữa TGHĐ và cán cân thương mại được lý giải như sau:

Lý thuyết co giãn được xây dựng bởi Bickerdike (1920), được tiếp tục phát triển

bới Robinson (1947), Metzler (1948) và sau này được chuyển thành điều kiệnMarshall – Lerner bởi Alfred Marshall và Abba Lerner Theo đó, việc giảm giá nội tệ sẽtạo ra hai hiệu ứng giá cả và khối lượng lên hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu với hiệuứng ròng phụ thuộc vào tính trội của hiệu ứng nào lớn hơn Để việc phá giá tạo ra lợi thếthương mại, thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, cải thiện cán cân thương mại và

từ đó khuyến khích hoạt động sản xuất trong nước, gia tăng sản lượng của nền kinh tế thì

độ co giãn của xuất khẩu và độ co giãn của nhập khẩu với tỷ giá phải lớn hơn 1

Lý thuyết chi tiêu lập luận rằng việc phá giá nội tệ có tác dụng làm tăng tổng cầu

nhưng mức độ tồn tại và ảnh hưởng phụ thuộc vào tổng cung Nếu nền kinh tế chưađạt mức sản lượng tiềm năng thì nền kinh tế có đủ các nguồn lực dự trữ để sản xuất rathêm hàng hóa và đáp ứng được sự gia tăng của tổng cầu Ngược lại, nếu nền kinh tế

đã đạt mức sản lượng tiềm năng hoặc quá mức sản lượng tiền năng thì nhìn chung nềnkinh tế không thể tiếp tục sản xuất thêm hàng hóa Tổng cầu tăng lên sẽ nhanh chóngđẩy mức giá cả và tiền lương tăng và làm giảm đi sức cạnh tranh quốc tế của hàng hóatrong nước có được nhờ phá giá trước đó Hơn nữa, muốn khắc phục được thâm hụtcán cân thương mại và gia tăng sản xuất trong nước thì chính các tác nhân trong nướcphải cắt giảm chi tiêu và hoặc thay đổi thói quen chi tiêu (chuyển sang tiêu dùng hànghóa trong nước) với điều kiện tốc độ giảm của tổng chi tiêu nhanh hơn tổng thu nhậpcủa nền kinh tế

Trang 39

Cuối cùng, theo trường phái tiền tệ, cán cân thanh toán là một hiện tượng tiền tệ,

sự mất cân bằng trong cán cân thanh toán thể hiện sự mất cân bằng trên thị trường tiền

tệ Theo cách tiếp cận này, giả sử một quốc gia tiến hành phá giá tiền tệ, sẽ làm tăngmức giá nội địa, các chủ thể trong nền kinh tế sẽ cắt giảm chi tiêu, cán cân thương mạiđược cải thiện Tuy nhiên, đây chỉ là điểm cân bằng trong ngắn hạn Do lượng cungtiền trong nước cũng sẽ phải tăng lên để thỏa mãn nhu cầu tiền cao hơn do giá tăngnên nền kinh tế sẽ quay trở lại trạng thái cân bằng tuy nhiên vẫn cao hơn mức giá banđầu Như vậy, ảnh hưởng của phá giá đối với cán cân thương mại và sản lượng của nềnkinh tế chỉ là tạm thời

Tóm lại, mỗi cách tiếp cận dựa trên những giả định khác nhau và đưa ra nhữngkết luận không giống nhau, nhưng đều khẳng định là khi có biến động TGHĐ sẽ có tácđộng tới sản lượng của nền kinh tế thông qua tổng cầu hoặc tổng cung

2.1.4.2 Biến động tỷ giá hối đoái tác động tới lạm phát

Tỷ giá hối đoái tác động đến lạm phát theo 2 kênh: Thứ nhất, theo lý thuyết

ngang giá sức mua thì sự thay đổi của tỷ giá là sự phán ánh tương quan giữa lạm pháttrong nước và nước ngoài Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái cũng có tác động tới lạm phátthông qua cơ chế trung chuyển tác động của TGHĐ tới lạm phát (Exchange rate pass-through – ETF) Tác động từ sự thay đổi của TGHĐ tới mức giá cả trong nước đượctruyền dẫn thông qua ba kênh bao gồm kênh truyền dẫn trực tiếp, kênh truyền dẫn gián

tiếp và kênh truyền dẫn đầu tư trực tiếp nước ngoài Thứ hai, theo kênh truyền dẫn trực

tiếp, khi tỷ giá tăng, giá hàng hóa nhập khẩu phục vụ cho mục đích tiêu dùng quy đổisang nội tệ tăng lên sẽ dẫn đến mặt bằng giá cả trong nước tăng lên Ngoài ra, giá hànghóa nhập khẩu là nguyên vật liệu đầu vào cho các ngành sản xuất trong nước cũng làmcho giá thành hàng hóa tăng lên, làm mức giá chung trong nền kinh tế tăng Lập luậnnày được thể hiện thông qua qua công thức:

Theo kênh truyền dẫn gián tiếp, khi TGHĐ tăng, giá hàng hóa nhập khẩu tính

bằng nội tệ tăng, hàng hóa nội địa sẽ rẻ hơn tương đối so với hàng nhập khẩu và dẫntới hành vi của người tiêu dùng và doanh nghiệp chuyển sang dùng hàng nội địa Cầuhàng hóa nội địa tăng lên dẫn tới mặt bằng giá hàng nội địa tăng theo Ngoài ra, tăngcầu liên tục đối với hàng xuất khẩu từ bên ngoài có thể dẫn tới tăng sản lượng của nềnkinh tế trong dài hạn và gây ra áp lực lạm phát trong nước

Trang 40

Theo kênh truyền dẫn gián tiếp (thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài), khi

TGHĐ tăng và xu hướng mở cửa của nền kinh tế tăng, làm tăng mức độ thu hút cácnhà đầu tư nước ngoài Khi đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế tăng, làm tăng cầu laođộng trong nước và dẫn tới tăng mức lương Ngoài ra, mức lương của các công tynước ngoài cao hơn có thể đẩy mặt bằng lương trong nước, tăng chi phí sản xuất vàlàm tăng giá hàng hóa sản xuất ra và tăng giá tiêu dùng Mặt khác, khi dòng vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài sẽ làm tăng tổng cầu của nền kinh tế, đẩy mặt bằng giá cả trongnước tăng lên

2.1.4.3 Biến động tỷ giá hối đoái tác động tới đầu tư nước ngoài

Trong các yếu tố tác động đến đầu tư nước ngoài thì TGHĐ là một nhân tố cóảnh hưởng quan trọng Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái định giá thấp đồng nội tệ sẽthu hút được nhiều đầu tư nước ngoài khi mà một đồng ngoại tệ đổi được nhiều nội tệhơn Ngoài ra, một cơ chế điều hành duy trì sự ổn định của tỷ giá thay vì chịu áp lựcphá giá nội tệ sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư an tâm đầu tư dài hạn vào nền kinh

tế Ngược lại, đầu tư nước ngoài sẽ bị hạn chế với chính sách định giá cao nội tệ Hơnnữa, khi đồng nội tệ được định giá cao thì sẽ tiềm ần khả năng phá giá nội tệ Trongtrường hợp này, các nhà đầu tư sẽ quan ngại và hạn chế đầu tư vào các quốc gia nhưvậy

Khi thị trường tài chính quốc gia hội nhập ngày càng sâu vào thị trường quốc tếthì TGHĐ là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài (cả đầu tư trựctiếp và gián tiếp) Việc điều chỉnh TGHĐ linh hoạt theo hưởng thị trường sẽ giúp thuhút được đầu tư nước ngoài nhiều hơn nhằm đáp ứng mục tiêu huy động vốn đầu tưcho phát triển kinh tế

2.1.4.4 Biến động tỷ giá hối đoái tác động đến hiện tượng đô la hoá

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô biến động theo chiều hướng xấu, thị trường ngoại

tệ mất cân bằng cung cầu, sự biến động trong TGHĐ có tác động tới kỳ vọng về TGHĐtrong tương lai và điều chỉnh hành vi nắm giữ nội tệ của công chúng, họ chuyển sang nắmgiữ tài sản tài chính bằng ngoại tệ, bất động sản hoặc vàng Như vậy, để đảm bảo mục tiêu

ổn định giá cả, kích thích tăng trưởng kinh tế, hạn chế tình trạng đô la hoá cần phải lựachọn thời điểm phá giá hoặc nâng giá nội tệ phù hợp với điều kiện hiện tại của quốc gia.2.1.4.5 Biến động tỷ giá hối đoái tác động đến nợ nước ngoài

Nợ nước ngoài của một quốc gia bao gồm toàn bộ khoản tiền gốc và lãi phải trảcho nước ngoài khi đến hạn Giá trị nợ nước ngoài tính bằng ngoại tệ là không đổi,nhưng giá trị này nếu đối ra nội tệ sẽ thay đổi phụ thuộc vào sự biến động của TGHĐ.Nếu TGHĐ tăng thì giá trị phải trả bằng sẽ nội tệ sẽ tăng Như vậy, các chủ thể trongnền kinh tế đang ở trạng thái nợ tài sản ngoại tệ ròng, đặc biệt với các quốc gia có mức

nợ nước ngoài quá cao trong khi các khoản đầu tư kém hiệu quả, sẽ phải đối mặt với

Ngày đăng: 18/11/2021, 20:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Thị Huyền Anh, (2011), Tác động tỷ giá thực tế đến cán cân thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án Tiến sĩ kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động tỷ giá thực tế đến cán cânthương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Đặng Thị Huyền Anh
Năm: 2011
2. Đặng Thị Huyền Anh (2012), ―Tác động của tỷ giá thực tới cán cân thương mại: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam.‖, Tạp chí Ngân hàng, số 9, tháng 5/2012. tr.6-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Ngân hàng
Tác giả: Đặng Thị Huyền Anh
Năm: 2012
3. Nguyễn Tú Anh và Lê Anh Tuấn (2019), ―Điều hành chính sách tiền tệ trog môi trường biến động‖, Tạp chí Ngân hàng, (số 2+3/2019), tr.30-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Ngân hàng
Tác giả: Nguyễn Tú Anh và Lê Anh Tuấn
Năm: 2019
4. Phạm Thị Hoàng Anh, Nguyễn Thị Minh Nguyệt và các cộng sự (2015).Diễn biến tỷ giá và thị trường ngoại tệ Việt Nam dưới tác động chính sách của Ngân hàng Nhà nước, Báo cáo nghiên cứu 15/1, Học viện Ngân hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến tỷ giá và thị trường ngoại tệ Việt Nam dưới tác động chính sách củaNgân hàng Nhà nước
Tác giả: Phạm Thị Hoàng Anh, Nguyễn Thị Minh Nguyệt và các cộng sự
Năm: 2015
5. Phạm Thị Hoàng Anh và Nguyễn Thị Hồng Hải (2013). ―Một vài nhận định về điều hành chính sách tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong năm 2012‖. Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, số 2+3/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng
Tác giả: Phạm Thị Hoàng Anh và Nguyễn Thị Hồng Hải
Năm: 2013
6. Phạm Thị Hoàng Anh (2016). ―Điều hành chính sách tỷ giá dưới góc nhìn chỉ số áp lực thị trường ngoại hối.‖ Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, số 164 và 165 (tháng 1+2/2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngânhàng
Tác giả: Phạm Thị Hoàng Anh
Năm: 2016
7. Phạm Thế Anh (2015), Hiệu ứng chuyển tải của tỷ giá hối đoái ứng dụng mô hình SVAR cho Việt Nam, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu ứng chuyển tải của tỷ giá hối đoái ứng dụngmô hình SVAR cho Việt Nam
Tác giả: Phạm Thế Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 2015
8. Phạm Thế Anh và Đinh Tuấn Minh (2014), ―Chính sách tỷ giá hối đoái:Lựa chọn nào cho Việt Nam‖, Tạp chí Kinh tế Phát triển, số 210, tr.11-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kinh tế Phát triển
Tác giả: Phạm Thế Anh và Đinh Tuấn Minh
Năm: 2014
9. Phạm Thị Vân Anh (2017), Lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái nhằm thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá hối đoáinhằm thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Vân Anh
Năm: 2017
10. Nghiêm Văn Bảy (2015), ―Tỷ giá và điều hành chính sách tỷ giá của Việt Nam‖.Tạp chí Nghiên cứu Tài chính, Kế toán, số 06 (143) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Tài chính, Kế toán
Tác giả: Nghiêm Văn Bảy
Năm: 2015
11. Trần Thị Lương Bình (2013), ―Chính sách tỷ giá và những vấn đề đặt ra‖. Tạp chí Tài chính, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tài chính
Tác giả: Trần Thị Lương Bình
Năm: 2013
12. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019), ―Diễn biến của tỷ giá USD/VND thời gian qua dưới tác động của chiến tranh thương mại Mỹ-Trung‖. Truy cập http://ncif.gov.vn/Pages/NewsDetail.aspx?newid=21742ngày 20/02/2020 Link
13. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019), ―Báo cáo tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2020‖. http://www.mpi.gov.vn/Pages/tinbai.aspx Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w