1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những thành tựu và hạn chế chính( tác giả, tác phẩm, phương pháp nghiên cứu lịch sử) của sử học nước ta từ 1975 đến nay

31 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Thành Tựu Và Hạn Chế Chính (Tác Giả, Tác Phẩm, Phương Pháp Nghiên Cứu Lịch Sử) Của Sử Học Nước Ta Từ 1975 Đến Nay
Tác giả Huỳnh Diệu Phát, Vũ Thị Hoài Nhi, Nguyễn Nhựt Hào, Nguyễn Thị Yến Ngọc, Vũ Lê Thị Lan Anh, Đặng Thị Tường Vy, Trương Thị Tuyết Nhung, Trần Hoàng Thái, Lý Kim Ngân, Nguyễn Ngọc Tường Oanh, Lê Thị Quỳnh Như, Trần Thị Ngọc Hà, Trần Khánh Ngọc
Người hướng dẫn ThS. Dương Tấn Giàu
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. HCM
Thể loại thuyết trình
Năm xuất bản 2021
Thành phố TPHCM
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 367,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

•Bộ sách này tuy không còn nữa nhưng nội dung chủ yếu đã được các nhà sử học thời Lê là Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh, Lê Hy chép lại trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư.. Về lịch sử nhà Lý, ông ch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HCM

KHOA ĐỊA LÝ

SPLSDL.D



Nội dung thuyết trình

Trang 2

TPHCM, ngày 10 tháng 11 năm 2021

Mục lục



I Những thành tựu chính (tác giả,tác phẩm,quan điểm)

của Sử học thời Lý-Trần (Thế kỷ XI-XIV) 3

I I Những thành tựu chính của Sử học Thời Lê 6

I I I Những thành tựu chính (tác giả,tác phẩm,quan

niệm)của sử học thời Nguyễn 15

I V Những thành tựu và hạn chế chính( tác giả, tác phẩm, phương pháp nghiên cứu lịch sử) của Sử học nước ta từ

Trang 3

Trong buổi đầu dựng nước các triều đại Ngô,Đinh,Tiền Lê chưa có điều kiện tổ chứcbiên soạn,ghi chép lịch sử dân tộc.Chỉ bắt đầu từ thời Lý(từ thế kỷ XI) việc xây dựng nền

Sử học Việt Nam mới có điều kiện để bắt đầu

A) Thời Lý (1009-1226)

-Bối cảnh lịch sử: Nhà Lý là một triều đại trong nền quân chủ Việt Nam.Triều đạinày bắt đầu khi Lý Công Uẩn lên ngôi vào tháng 10 âm lịch năm 1009 sau khi giànhquyền lực từ tay nhà Tiền Lê.Triều đại Lý trải qua 9 vị Hoàng đế và chấm dứt khi LýChiêu Hoàng- lúc đó mới có 7 tuổi,bị ép thoái vị để nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnhvào năm 1225 Trong thời đại này, lần đầu tiên nhà Lý đã giữ được chính quyền một cáchlâu dài đến hơn 200 năm,khác với các vương triều cũ trước đó chỉ tồn tại hơn vài chụcnăm

-Những thành tựu chính của sử học:

+Nhà Lý bắt đầu chăm lo cho việc mở mang học tập và thi cử để đào tạo quan lạicho bộ máy chính quyền, làm nơi học tập cho con em quan lại Năm 1070, Lý ThánhTông cho xây dựng nhà Văn Miếu ở kinh thành Thăng Long Năm 1075, nhà Lý mở khoathi đầu tiên để chọn nhân tài Năm 1076, vua Lý Nhân Tông lập ra Quốc Tử Giám

+Nội dung học tập và chế độ thi cử vẫn dựa vào các Tứ Thư, Ngũ Kinh và thêmBắc sử (Lịch sử các triều đại phong kiến Trung Quốc)

•Tứ thư: là bốn tác phẩm kinh điển của Nho học Trung Hoa, được Chu Hy thờ nhàTống lực chọn bao gồm: Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tứ

•Ngũ kinh:là năm quyển kinh điển trong văn học Trung Hoa dùng làm nền tảngtrong Nho giáo Năm quyển Ngũ Kinh gồm: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch,Kinh Xuân Thu

•Bắc sử: là một quyển sách trong Nhị thập tứ sử do Lý Đại Sư viết về giai đoạnlịch sử từ năm 386 tới 618 Sách có 100 quyển bao gồm: Bản kỷ 12 quyển, Liệt truyện 88quyển

Lịch sử dân tộc chưa được biên soạn và đưa vào nội dung học tập và thi cử.Tuyvậy, ở thời Lý đã có các Sử quan chuyên ghi chép những sự kiện xảy ra trong triều đình

và trong nhân dân

B) Thời Trần (1226-1400)

Trang 4

*Khái quát bối cảnh lịch sử: Nhà Trần là một triều đại quân chủ phong kiến trong lịch sửViệt Nam Đây là triều đại được lưu danh với những chiến công hiển hách và là một thờiđại hưng thịnh nhất của dân tộc Việt Nam Nhà Trần trị vì 175 năm với 12 vị vua Quândân Đại Việt đã 3 lần đánh tan quân xâm lược Nguyên-Mông Có những vị danh tướngnhư Hưng Đạo Vương đã làm rạng danh trang sử Việt.

Thái sư Trần Thủ Độ là người gầy dựng lên nhà Trần bằng cách ép anh rể là vua Lý HuệTông phải lên làm thái thượng hoàng, nhường ngôi lại cho con gái thứ hai là Lý ChiêuHoàng, 7 tuổi Sau đó, đưa cháu là Trần Cảnh, 8 tuổi, vào làm chồng Chiêu Hoàng đểcướp ngôi nhà Lý.Trần Cảnh lên ngôi tức là Trần Thái Tông

*Những thành tựu chính của sử học thời Trần: sử học đã tiến thêm một bước, được thểhiện như sau:

-Trong bộ máy nhà nước đã có sự xuất hiện của Viện Quốc sử Đây là cơ quan quốc giachuyên lo việc sưu tầm và biên soạn lịch sử dân tộc Thời nhà Lý không sao khảo được,phải tới nhà Trần mới có ghi chép về cơ quan chuyên việc chép sử Lịch triều hiếnchương loại chí cho rằng Quốc sử viện đã có mặt ở thời Trần với việc phân chia quán,các, sảnh, cục, đài, viện Ngoài ra còn có Thái y viện, Tôn nhân phủ

-Toàn thư cũng đã ghi chép về chức quan thuộc Quốc sử viện ở thời nhà Trần, tiêu biểu làcác nhà sử học:

+Lê Văn Hưu (1230-1322), quê ở Phủ Lý(Ninh Bình ngày nay) Đại Việt sử ký được

biên soạn xong vào năm 1272 gồm 30 quyển chép từ đời Triệu Vũ Đế (Triệu Đà) đếnnăm đầu của Lý Chiêu Hoàng(1225)

•Bộ sách này tuy không còn nữa nhưng nội dung chủ yếu đã được các nhà sử học thời Lê

là Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh, Lê Hy chép lại trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư Vì vậy, ngàynay chúng ta có thể hình dung khá đầy đủ về bộ sách có giá trị đầu tiên về lịch sử dân tộc.Quan điểm của Lê Văn Hưu: Về phương pháp chép sử, ông theo phương pháp thực tế, đixem phong thuỷ các nơi và chỉnh lý các tài liệu lịch sử

Về nội dung: theo ông những truyền thuyết về Hùng Vương, Âu Lạc là chuyện hoangđường, không đáng tin cậy Về lịch sử nhà Lý, ông chỉ chú trọng đến đời sống và hoạtđộng của vui quan(đây chính là hạn chế của ông nói riêng và của các sử gia phong kiếnnói chung)

•Mặc dù có những hạn chế, nhưng Đại việt sử ký là bộ sử đầu tiên của nước ta và Lê VănHưu là người đặt nền móng đầu tiên cho nền sử học dân tộc, xứng đáng là “Người cha

Trang 5

+Hồ Tông Thốc ( không rõ năm sinh năm mất), quê ở Yên Thành( Nghệ An ngày nay),

đỗ Trạng Nguyên vào những năm 1370-1372

•Ông phê phán việc chỉnh sửa lịch sử dân tộc một cách tuỳ tiện và nêu một số nguyên tắc

về suy xét lịch sử thời xưa khi sử dụng những truyền thuyết, chuyện hoang đường

-> Ở thời Trần, sử học đã phát triển, góp phần to lớn trong việc xây dựng ý thức dântộc, tạo nên sức mạnh đánh bại quân Mông-Nguyên xâm lược Viện Quốc sử được thànhlập, chuyên lo biên soạn lịch sử Tuy còn những hạn chế do không vượt qua khuôn khổthời đại ( quan điểm, phương pháp ) Song những tác giả, tác phẩm thời kì này đã đặt cơ

sở cho nền sử học Việt Nam về sau

C) Tóm lại

Hơn 2 thế kỉ (XI-XIV), ở thời Lý-Trần thì Sử học Việt Nam đã hình thành và pháttriển, vừa kế thừa những thành tựu của triều đại trước, và từ đó phát triển, tiến thêm mộtbước Bằng tư liệu cụ thể chính là sách Kiến văn tiểu lục(1770) ở thời hậu Lê do Lê QuýĐôn viết nên, chúng ta càng có thể thấy Việt Nam từ lâu đã có các yếu tố của một quốcgia độc lập, văn minh Nền văn hiến nước ta đã có từ lâu và thực sự phát triển rực rỡ vàothời Lý-Trần

Lý – Trần là hai triều đại phong kiến lớn, mang đậm dấu ấn trong lịch sử Việt Nam.Những cổ vật được tìm thấy đã lý giải nguyên nhân vì sao đây là hai triều đại phong kiếnđạt được sự thịnh vượng nhất Sau đây là những hình ảnh về 2 triều đại này được giữ tạiViện bảo tàng quốc gia ngày nay

II. Những thành tựu chính của Sử học Thời Lê

Trang 6

Bối cảnh lịch sử: Sau thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi lên ngôi Vua, kết thúc

20 năm thống trị của giặc Minh, mang lại nền độc lập lâu dài cho đất nước, bắt đầu xâydựng một kỉ nguyên mới Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, thời Lê Sơ là thời kìđộc tôn Nho giáo Việc sử dụng sử học làm vũ khí tinh thần để củng cố và động viên tinhthần dân tộc trong quần chúng nhân dân là truyền thống hình thành từ lâu đời của cái họcNho giáo

Viện Quốc Sử là gì? Là cơ quan lưu trữ các tài liệu lịch sử và phụ trách biên soạn, khắc

in các bộ sử, địa chí của các nhà nước phong kiến Việt nam, ghi chép một cách kháchquan, độc lập những lời nói, việc làm của nhà vua, những sự việc xảy ra trong triều đình

và ngoài xã hội

1 Những thành tựu chính của Sử học

Việc ghi chép lại Sử học đạt được những thành tựu vô cùng quan trọng trong công cuộclưu trữ và truyền lại rất có giá trị

a Đại Việt sử ký toàn thư hay còn gọi tắt là Toàn Thư, là bộ quốc sử viết bằng Hán văn.

Đây là một bộ quốc sử danh tiếng, một di sản quý báu của dân tộc Việt Nam nghìn nămvăn hiến Đó là bộ sử cái, có giá trị nhiều mặt gắn liền với tên tuổi các nhà sử học nổitiếng như Lê Văn Hưu, Phan Tru Tiên, Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ, Lê Hy,…

Lịch sử ra đời: Bộ sử bắt đầu được Ngô Sĩ Liên, một vị quan làm việc trong sử quán dưới

thời vua Lê Thánh Tông, biên soạn dựa trên sự chỉnh lý và bổ sung hai bộ Quốc sử trước

đó mang tên “ Đại Việt sử kí” của Lê Văn Hưu và “Đại Việt Sử ký tục biên” của Phan Phu Tiên hoàn thành vào năm 1497

Ghi chép lịch sử Việt Nam từ thời đại truyền thuyết Kinh Dương Vương năm 2879 TCN đến năm 1675 đời vua Lê Gia Tông nhà Hậu Lê

Tác phẩm thể hiện tinh thần dân tộc mạnh mẽ, vừa có giá trị sử học vừa có giá trị văn học (cách kể chuyện sinh động, hấp dẫn; chú ý ghi chép đến tâm lý, hành động, tính cách của nhân vật lịch sử, )

Về quan điểm của Đại Việt sử ký toàn thư

Quan điểm trong Đại Việt sử ký toàn thư là quan niệm Nho giáo nhằm để quán triệtngười đọc trong biên soạn làm cho người đọc tuân thủ những tiêu chuẩn đạo đức phongkiến

Đạo đức phong kiến: Các tác giả của Đại Việt sử ký toàn thư không trực tiếp nghiên cứu

mà đề cập vấn đề đạo đức một cách gián tiếp qua những câu chuyện, từng nhân vật

Trang 7

để thể hiện tư tưởng đồng thời truyền bá, giáo dục, làm cho những khuôn mẫu đạo đứctrở thành khuôn mẫu của con người

Ví dụ: Những phẩm chất đạo đức Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn được thể hiệntrong Đại Việt sử kí toàn thư là: tài năng toàn diện, lòng trung quân, ái quốc qua nhữngchi tiết như: hết lòng lo tính kế sách giúp vưa giữ nước an dân; bỏ qua hiềm khích củacha và vua, đặt chữ trung lên trước chữ hiếu, nợ nước lên trước lên trên tình nhà; sẵnsàng lắng nghe ý kiến của nô gia và con cái, qua tâm, lo lắng sâu sắc cho dân; sử dụng hếttài năng, mưu lược để làm chuyện lớn

Về mặt tư liệu của Đại Việt sử ký toàn thư:

Trong Đại Việt sử ký toàn thư có hệ thống sử liệu gốc cơ bản nhất, xưa nhất của sử họcViệt Nam, trải qua những lần chỉnh lí và bổ sung, cho đến thời điểm hiện tại, không thểkhông công nhận, Đại Việt kí sử toàn thư là tài liệu sử học vĩ đại nhất, bao quát nhất lịch

sử của dân tộc Việt Nam Niên biểu lịch sử Việt Nam không thể chỉ dựa trên một bộ sử.Một công trình sử học mang hơi thở của thời đại, phản ánh tương đối cụ thể và đầy đủ vềnhững giai thoại hào hùng của một đất nước Và một điều chắc chắn rằng Đại Việt sử kítoàn thư là kho tư liệu phong phú không những cần thiết cho ngành sử học mà còn giúpích cho nhiều ngành khoa học xã hội khác nữa

Về mặt nội dung của Đai Việt sử kí toàn thư:

Nét nổi bật nhất về nội dung Đại Việt sử kí toàn thư là tinh thần dân tộc, ý thức độc lậpdân tộc về lãnh thổ thống nhất, toàn vẹn Bộ sử thể hiện quan điểm đúng đắn về nguồngốc, giống nòi, niềm tự hào chính đáng về quá khứ vẻ vang của dân tộc Lấy những sựkiện, những chiến thắng, những con người trong các giai đoạn, những chiến thắng vẻvang của dân ta, những khẳng định xác đáng về sự thất bại nhục nhã của kẻ xâm lược vàthân phận bi đát của những kẻ làm tay sai cho giặc

Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị ấy, Đại Việt sử ký toàn thư cũng còn có những hạn chếkhi chỉ tập trung viết về cảnh sinh hoạt trong cung đình và hành động của vua quan mà ítkhi đề cập đến đời sống của nhân dân

Nếu nói đến những nhà tư tưởng lớn ở thời hậu Lê thì không thể không nhắc đến Lê Qúy

Đôn.

Trang 8

THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP:

- Tiểu sử:

Ông sinh ngày 5 tháng 7 năm Bính Ngọ (tức ngày 2 tháng 8 năm 1726), tên thuở nhỏ là

Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấnSơn Nam, nay là thông Đồng Phú thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Yên, tỉnh Thái Bình.Ông là con trai cả của ông Lê Phú Thứ (sau đổi thành Lê Trọng Thứ) và mẹ của Lê QúyĐôn là Trương Thị Ích

trong khoảng 10 năm (1743-1752) Sách Đại Việt thông sử (còn gọi là “Lê triều thông

sử”) được ông làm trong giai đoạn này (1749)

Năm 1752, ông lại dự thi Hội và lần này đỗ Hội nguyên Vào thi Đình thì ông đỗ luônBảng nhãn Vì kì thi này không lấy đỗ Trạng nguyên nên kể như cả ba lần thi ông đều đỗđầu

Sau khi đỗ đại khoa, năm Qúy Dậu (1753) Lê Qúy Đôn được bổ làm Thị thư ở Viền HànLâm rồi sung làm Toản thu quốc sử vào mùa xuân năm Giáp Tuất (1754)

Năm Đinh Sửu (1757), ông được thăng làm Hàn lâm viện Thị giảng Trong năm này, ôngviết Quần thư khảo biện

Năm Nhâm Ngọ (1762) ông được thăng chức Thừa chỉ Viện Hàn Lâm rồi làm học sĩ ở BíThứ các

Năm Qúy Mùi (1763), ông viết Bắc sứ thông lục, trong năm này ông được cử đi thi hội

Đầu năm Đinh Hợi (1767) ông được phong làm chức Thị thư, tham gia biên tập quốc sử,kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám

Trang 9

Năm Mậu Tý (1768), ông làm xong bộ Toàn Việt thi lục Năm Canh Dần(1770), bàn đến

công lao đánh dẹp, ông được thăng làm Hữu thị lang bộ Hộ, kiêm Thiêm đô Ngự sử.Tháng 10 năm Giáp Ngọ (1774), chúa Trịnh Sâm thân chinh mang quân đánh ThuậnHóa, Lê Qúy Đôn được cử giữ chức Lưu thủ ở Thăng Long

Đầu năm Ất Mùi (1775), ông được thăng làm Tả thị lang bộ Lại kiêm Tổng tài Quốc sửquán

Năm Bính Thân (1776), ông được cử làm Hiệp trấn Tham tán quân cơ để cùng với Đốcsuất kiêm Trấn phủ Bùi Thế Đạt tìm cách chống lại quân Tây Sơn Tại đây ông soạn bộ

Phủ biên tạp lục Ít lâu sau ông được triệu về làm Thị lang bộ Hộ, kiêm chức Đô ngự sử.

Năm Tân Sửu (1781), ông lại được giữ chức Tổng tài Quốc sử quán

Tháng 9 năm Nhâm Dần (1782) ông bị chúa Trịnh Khải giáng chức

Đầu năm Qúy Mão (1783), ông nhận lệnh đi làm Hiệp trấn xứ Nghệ An Ít lâu sau, ôngđược triệu về triều làm Thượng thư bộ Công

Những công trình sử học của Lê Qúy Đôn :

Với trí thông minh và sự nghiệp rực rỡ như thế thì có nhiều nhận xét về ông cho rằng LêQúy Đôn là một “ nhà bác học ham đọc ham biết và ham viết” là “một nhà bác học cókiến thức hết sức uyên bác và đa dạng” và còn là “bác học lớn của Việt Nam trong thờiphong kiến” Theo GS Dương Quảng Hàm, Lê Qúy Đôn thật là một nhà bác học ở đời

Lê mạt: một tay ông đã biên tập, trứ thuật rất nhiều sách Tuy tác phẩm của ông đã thấtlạc ít nhiều, nhưng những công trình sử học của ông để lại đều hết sức quý giá trong đótiêu biểu như:

Đại việt thông sử: Đại Việt Thông Sử cũng gọi là Lê Triều Thông Sử là một tác phẩm

lớn, gồm 30 quyển (theo Phan Huy Chú), được viết năm 1749 Là bộ sử đầu tiên của ViệtNam được ghi chép về một triều đại theo lối chí truyện tức là được chia theo từng loại Đây là một bộ sách sử lớn viết theo thể kỷ truyện đầu tiên trong lịch sử sử học của Việt Nam Trong Lời tựa của ông, chính Lê Quý Đôn cũng viết: “Tôi muốn bắt chước thể kỷtruyện bản kỷ và liệt truyện, sự việc chép theo từng loại, chia riêng ra từng điều cho có hệthống ”

Ở Phàm Lệ, Lê Quý Đôn viết: “Nay viết sử căn cứ viết từ đời Thái Tổ Cao hoàng đế trở

Trang 10

xuống đến Cung Hoàng gọi là bản kỷ, rồi đến các chí, các truyện.”

Trong Lời tựa, ông viết: “Về các chí thì bắt chước thể lệ Tùy thư, Tấn thư của Ngụy Trưng, chép thêm chính sự nhà Lý, nhà Trần ở trên thể lệ các triều đại trước đây…

Xét như trên, chúng ta thấy về lịch sử dòng chính thống, Lê Quý Đôn đã viết từ cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi ở Lam Sơn đến Lê Cung Hoàng làm bản kỷ và liệt truyện, còn các chí thì ông bắt đầu từ thời Lý, thời Trần Các loại chí được chép là: thiên văn, ngũ hành, luật lịch, địa lý, hà cừ, lễ nghi, nhạc, nghi vệ, dư phục, tuyển cử, chức quan, thực hóa, binh, hình pháp, nghệ văn hay văn tịch

Như vậy, Đại Việt thông sử là bộ sách lịch sử khá đầy đủ chép các vua thời Lê từ Lê Thái

Tổ qua Lê Thái Tôn, Lê Thánh Tôn, Lê Hiến Tôn, Lê Thuần Tôn (Túc Tôn), Lê Uy Mục,

Lê Tương Dực, Lê Chiêu Tôn đến Cung Hoàng (hoàng đệ Xuân), trải qua mười đời vua, nếu kể cả Lê Nghi Dân thì là mười một đời vua, trong một thời gian dài đến hơn một trăm năm Nhưng mười đời vua này hiện chỉ còn có khởi nghĩa Lam Sơn và đời Lê Thái

Tổ mà thôi, còn các đời vua khác đều không thấy

Về phần chí, Lê Quý Đôn theo Tấn thư, Tùy thư và Tống sử Theo các sách này thì có mười lăm chí như đã nói ở trên, nhưng tra Đại Việt thông sử, chúng ta chỉ thấy có một chí

là Nghệ văn chí mà thôi

Về phần liệt truyện, theo lời tựa của Lê Quý Đôn và theo Phan Huy Chú trong Lịch triều

hiến chương loại chí, thì Đại Việt thông sử phải có những liệt truyện như hậu phi, đế hệ,

công thần, tướng văn, tướng võ, nho lâm, tiết nghĩa, cao sĩ, liệt nữ, phương kỹ, ngoại thích, nịnh thần, gian thần, nghịch tặc, tứ di Nhưng trong các bản Đại Việt thông sử hiện

có, chúng ta chỉ thấy chép các truyện về hậu phi, đế hệ, công thần và nghịch thần Ngay ởphần công thần cũng thiếu nhiều

Trong Lịch triều hiến chương loại chí (phần Văn tịch chí), Phan Huy Chú có viết về Lê

triều thông sử như sau:

“Sách Lê triều thông sử ba mươi quyển do bảng nhãn Lê Quý Đôn soạn Bộ sách của ông rất đầy đủ rõ ràng, có thể là một bộ sử hoàn toàn của một triều đại."

Nếu chúng ta so sánh một số truyện công thần (như truyện Nguyễn Xí, Trần Nguyên Hãnchẳng hạn), chúng ta sẽ thấy Phan Huy Chú đã được đọc Lê triều thông sử của Lê Quý Đôn khi bộ sách này còn đầy đủ

Trang 11

Xét như trên, chúng ta thấy Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn còn lại cho chúng ta hiện

nay đã mất mát rất nhiều

Đọc Đại Việt thông sử, chúng ta thấy Lê Quý Đôn dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên và nhiều tài liệu khác Trong phần “Chư thần truyện”, chúng ta thấy Lê Quý Đôn đã sử dụng nhiều tài liệu của các gia phả và bi ký của các công thần

Trong khi ghi chép các sự kiện, Lê Quý Đôn tỏ ra rất khách quan Tư tưởng chính thống của Nho giáo khiến ông coi nhà Mạc là "Ngụy” Nhưng khi trình bày các sự kiện lịch sử

từ lúc Mạc Đăng Dung giết hoàng đệ Xuân (Cung Hoàng) và cướp ngôi vua của nhà Lê, ông đã trình bày các sự kiện đúng như nó có Do dó, qua Đại Việt thông sử, chúng ta thấyđược các việc làm của họ Mạc một cách tương đối rõ ràng

Đại Việt thông sử, tóm lại, là một bộ sử có giá trị Giá trị này không những được thể hiện

ở chỗ nó được biên soạn đầu tiên theo thể tài kỷ truyện, mà còn thể hiện ở chỗ nó chứa đựng nhiều tài liệu khác mà các bộ sử khác không có Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, các sử thần của Quốc sử quán nhà Nguyễn, khi viết Khâm định Việt

sử thông giám cương mục đã sử dụng nhiều tài liệu của Đại Việt thông sử

Đại Việt thông sử, mặc dù không còn nguyên vẹn, nhưng vẫn là một bộ sách có ích cho những người làm công tác nghiên cứu lịch sử dân tộc, cụ thể là lịch sử dân tộc hồi thế kỷ XVI -XVII

Và cũng không thể không nhắc đến tác phẩm Kiến văn tiểu lục của Lê Qúy Đôn, được

soạn năm 1770 bao gồm 12 phần nhưng nay chỉ còn lại 8 phần, ghi chép về các lễ văn,chế độ, địa lí của các triều đại Lý, Trần, Lê; các thơ văn Việt Nam và Trung Quốc, sáchghi chép những điều mà Lê Qúy Đôn tâm đắc khi đọc sách, những điều mắt thấy tai nghe,

kể cả ở trong và ngoài nước

Bằng các tư liệu cụ thể, Lê Qúy Đôn đã chứng minh rằng: Việt Nam từ lâu đã có các yếu

tố của một quốc gia độc lập, văn minh; nền văn hiến nước ta đã có từ lâu và phát triển rực

rỡ vào thời Lý-Trần

Kiến văn tiểu lục là một tác phẩm có giá trị về văn học, địa lí, lịch sử và thể hiện phầnnào tư tưởng và hình thái ý thức của con người Việt xưa qua các thời đại Lý, Trần, Lê Làcuốn sách cuối cùng của Lê Qúy Đôn, thu nhặt tất cả những tri thức còn sót lại, chưa đưavào sách nào Và tư tưởng chủ đạo của cuốn sách này chính là tình thần dân tộc đúngđắn, lòng tự hào dân tộc sâu sắc

Trang 12

Về mặt phương pháp: Kiến văn tiểu lục thể hiện phương pháp viết nghiêm túc Ông chú

ý thu thập và kết hợp các tài liệu trong sách vở với tài liệu trong thực tế, phân chia tư liệu

ra các loại khác nhau để không bị nhầm lẫn

Về mặt nghệ thuật: thì nội dung nhiều vẻ, sâu sắc của Kiến văn tiểu lục lại được tác giảghi chép với bút pháp sinh động, sâu lắng… Đó cũng là những nét đặc sắc ở thể văn ký

sự của nhiều tác giả đương thời

Như đã nói như trên phần sự nghiệp của ông thì vào Năm Bính Thân (1776), ông được cửlàm Hiệp trấn Tham tán quân cơ để cùng với Đốc suất kiêm Trấn phủ Bùi Thế Đạt tìm

cách chống lại quân Tây Sơn Tại đây ông soạn bộ Phủ biên tạp lục Phủ biên tạp lục đã

ghi chép lại một cách khách quan và chân thực về công cuộc khai chiếm, xác lập và thựcthi chủ quyền của các nhà nước phong kiến Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa

Phủ biên tạp lục đã ghi lại khá chi tiết về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của hai quần đảoHoàng Sa và Trường Sa Điều này cho thấy rõ các Nhà nước phong kiến Việt Nam đãthực sự chinh phục hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Qua những ghi chép trong tác phẩm Phủ biên tạp lục, có thể thấy từ thế kỷ XVI-XVII,nhà nước phong kiến Việt Nam đã nghiên cứu và hiểu biết rất rõ vị trí địa lý, địa hình vànhững điều kiện tự nhiên của 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa

Đặc biệt, trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn đã ghi chép rất chi tiết về tổ chức, cơ chếhoạt động và các hoạt động của đội Hoàng Sa, Bắc Hải trong việc thực hiện Lệnh củaTriều đình đi khai thác quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Để khai thác các nguồn lợi kinh tế và bảo vệ chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa, các chúa Nguyễn và sau này là các vua Tây Sơn, vua Nguyễn đã cho lập cácđội Hoàng Sa và Bắc Hải

Theo ghi chép của Lê Quý Đôn thì đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải là một tổ chức dân binhvừa mang tính dân sự vừa mang tính quân sự do nhà nước lập ra, vừa có chức năng kinh

tế, vừa có chức năng quản lý biển đảo

Công trình phản ánh khá rõ lịch sử chính trị, kinh tế, văn hóa ở Đàng trong, nhất là hai xứThuận Quảng từ thế kỉ XVII về trước Và phản ánh ngắn gọn, rõ ràng, có giá trị, giúp íchcho việc nghiên cứu nhiều mặt như: lịch sử, địa lí, kinh tế, sinh học về phần đất phía Namcủa đất nước

Trang 13

Và các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế đều thống nhất cho rằng tác phẩm Phủ biêntạp lục của Lê Qúy Đôn là nguồn tài liệu xác thực và có giá trị quan trọng bậc nhất đểnghiên cứu các đội Hoàng Sa và Bắc Hải.

Và một trong những nhà sử học lớn ở thời Lê không thể không kể đến Ngô Thì Sỹ.

Tiểu sử:

Ngô Thì

Sỹ tự Thế Lộc, hiệu Ngọ Phong, đạo hiệu Nhị Thanh cư sĩ; là nhà sử học, nhà văn, nhàthơ nổi tiếng ở thế kỷ 18 tại Việt Nam Ông sinh ngày 20 tháng 9 năm Bính Ngọ (tức 15tháng 10 năm 1726) tại làng Tả Thanh Oai (làng Tó), huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam(sau thuộc tỉnh Hà Đông, nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội), trong một dòng họ lớn ởlàng có nhiều người nổi tiếng hay chữ, đỗ đạt Ông là thân phụ của các danh sĩ: Ngô ThìNhậm, Ngô Thì Chí, Ngô Thì Trí, Ngô Thì Hương và là nhạc phụ của danh sĩ Phan HuyÍch

-Sự nghiệp:

Thuở trẻ ông nổi tiếng thông minh, hiếu học Nhà nghèo, ông có làm bài "Trách bần quỉ

văn" (Văn trách con quỉ nghèo), được khen ngợi, và được truyền tụng nhiều đời.

Các nhà nghiên cứu có nhận xét rằng, thông qua cuộc đời hoạt động và qua các tác phẩm,bài viết của Ngô Thì Sĩ, chứng tỏ ông là một nhà chính trị có tầm nhìn xa rộng, có tâmhuyết và có nhiều ý tưởng cải cách nền chính sự đương thời với mong muốn làm cho xãhội ổn định, nhân dân được sống, lao động yên vui

Trên lĩnh vực sử học, ông là một sử gia nổi tiếng, vì có tinh thần làm việc cẩn trọng, cóngòi bút sinh động, có nhiều phát hiện mới và có suy nghĩ riêng Trong những công trình

trước tác của Ngô Thì Sĩ: Việt sử tiêu án, Đại Việt sử ký tiền biên, Đại Việt sử ký tục

biên là những tác phâm có nhiều tư liệu quý giá Ông soạn các sách này nhằm mục đích

sửa chữa lại những sai lầm trong sử cũ Trong sách, ông đưa ra nhiều ý kiến khá xácđáng, thể hiện tinh thần dân tộc sâu sắc, được các nhà sử học đời sau trích dẫn lại

Và cũng không thể không nói đến người anh hùng lỗi lạc, một nhà chính trị, quân sự và là

một trong 14 vị anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam đó chính là Quang Trung Và chúng ta cũng không xa lạ gì, Quang Trung hoàng đế sinh năm 1753 mất năm 1792 hay

Trang 14

còn gọi là Nguyễn Huệ, miếu hiệu là Tây Sơn Thái Tổ, danh xưng khác là Bắc BìnhVương, tên khai sinh là Hồ Thơm, sau đổi tên thành Nguyễn Huệ, Nguyễn Quang Bình.

Là một nhà chính trị, quân sự người Việt Nam, vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn, saukhi hoàng đế Nguyễn Nhạc thoái vị thì thoái vị cho ông

Quang Trung không chỉ là một trong những vị tướng lĩnh quân sự xuất sắc bách chiến bách thắng, mà còn là nhà cai trị tài giỏi Ông đã đưa ra nhiều chính sách cải cách kinh

tế, xã hội nổi bật trong lịch sử Việt Nam

Tuy không tồn tại lâu, nhưng Quang Trung cũng chăm lo phát triển văn hóa, giáo dục,biên soạn sách vở, trong đó có sách về lịch sử

Và qua những thành tựu về sử học trên thì thấy rằng sử học đời Lê tiếp tục phát triển lênmột bước mới với sự đóng góp của những nhà sử học lớn Nổi bật trong các sử gia thời

đó là nhóm sử thần biên soạn Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, trong đó có Ngô Sĩ Liên; Lê QúyĐôn, Ngô Thời Sỹ,

Và lịch sử dân tộc đã được ghi chép khá đầy đủ, có hệ thống, thể hiện lên được ý thứcđộc lập, tự cường và lòng yêu nước của nhân dân ta

I I I.Những thành tựu chính (tác giả,tác phẩm,quan niệm)của sử học thời Nguyễn

a) Bối cảnh lịch sử

Triều Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam tồn tại đã hơn

một thế kỷ (1802-1945)khởi đầu khi Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu là GiaLong(1802) cho đến khi Bảo Đại thoái vị vào năm 1945 có thể nói lần đầu tiên trong lịch

sử các triều đại phong kiến, triều Nguyễn đã góp phần quan trọng trong việc hoàn thành

Trang 15

Mục Nam Quan đến đất Hà Tiên.Bên cạnh đó,triều Nguyễn còn là triều đại đã để lạinhiều di sản đáng ghi nhận, đặc biệt trên lĩnh vực sử học,với một khối lượng lớn di sản

đồ sộ là những bộ sử và các công trình mang tính bách khoa do nhà nước tổ chức biênsoạn; có được những thành tựu đó,chính là nhờ các vua nhà Nguyễn đã nhận thức đượctầm quan trọng của lịch sử, coi việc biên soạn quốc sử là công việc trọng đại của mộtquốc gia nhằm khẳng định tính chính thống của vương triều

Quốc sử quán (1820) do Tổng tài đứng đầu,lo việc biên soạn lịch sử(cả về lịch sử dân tộctrước và lịch sử triều Nguyễn)

Trên cơ sở những tác phẩm sử học đó, có thể nêu một số nhận xét khái quát về côngviệc của Quốc sử quán triều Nguyễn như sau:Quốc sử quán triều Nguyễn đã tập hợp mộtkhối lượng tư liệu khá phong phú về lịch sử dân tộc và lịch sử vương triều.Các triều vua

từ Gia Long đến Tự Đức đều lệnh thu thập và lưu giữ những tài liệu sử sách cũ.Quốc sửquán làm nhiệm vụ biên soạn, in ấn, phát hành sách sử và lưu giữ tài liệu.Năm 1856, sửquán đã cho in lại bộ Đại việt sử ký toàn thư để làm tài liệu nghiên cứu.Tiếp thu thànhquả và kế thừa kho tư liệu quý báu của các sử gia đời trước, tham khảo thêm những bộchính sử của Trung Quốc, sử quán triều Nguyễn đã hội tụ trong những công trình sử họccủa mình khối lượng tư liệu phong phú.Đó là một đóng góp quan trọng của những ngườitham gia trong Quốc sử quán triều Nguyễn

Các vua triều Nguyễn đặc biệt quan tâm đến công việc soạn sử và tổ chức Quốc

sử quán.Tổng tài Quốc sử quán triều Nguyễn bao giờ cũng là đại thần văn quanhàm nhất phẩm ở đây cũng cần nhận rõ một thực tế là mục đích soạn sử của triềuNguyễn còn nhằm tán dương công trạng, thần thánh hóa vai trò của Nhà Nguyễntrong tiến trình lịch sử dân tộc.Triều Nguyễn muốn chứng minh là đã kế tục xứngđáng sự nghiệp của tổ tiên dòng họ Nguyễn

Để tiến hành biên soạn các bộ quốc sử, thực lục các triều vua, các sách chuyên khảo vềđịa chí, văn hóa, giáo dục theo mệnh lệnh vua, triều đình nhà Nguyễn đã thiết lập ra một

bộ máy biên tập, đứng đầu chịu trách nhiệm thi hành là những văn, võ đại thần đầutriều,bên cạnh đó còn có hàng loạt những quy chế nghiêm ngặt trong việc soạn thảo, sankhắc và in ấn.Trong quá trình biên soạn, để hoàn thành bản thảo, các sử quan phải khảocứu thực hiện trong một thời gian dài, tốn nhiều công sức Mỗi bộ sách sau khi biên soạnxong đều được các vị chuyên trách, đứng đầu là Tổng tài, kiểm duyệt kỹ càng, trải quanhiều khâu, cuối cùng được chép “tinh tả” rõ ràng theo nguyên bản, kèm theo biểu dângsách tiến trình hoàng đế “ngự lãm”

Tuy nhiên, vì là tín sử (sử đáng tin) của thời thanh bình, cho nên việc tổ chức biên soạn,san khắc được triều Nguyễn rất coi trọng, sau khi thiết lập Quốc Sử quán, vua MinhMạng liền hạ lệnh cho tiến hành biên soạn bộ Liệt thánh thực lục, việc soạn thảo, biên tập

Ngày đăng: 18/11/2021, 18:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w