Kon Tum có điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưatrung bình năm từ 2.500 - 3.000 mm; lượng mưa tập trung theo mùa, lượngmưa trong mùa mưa chiếm 80 - 90% lượng mưa của năm, kết hợ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
HUỲNH MINH TRUNG
NGHIÊN CỨU XÓI MÕN ĐẤT PHỤC VỤ KHAI THÁC VÀ
SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN ĐẤT TỈNH KON TUM
Chuyên ngành: ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN
Mã số: 8440217
Người hướng dẫn: PGS.TS LƯU THẾ ANH
Bình Định, tháng 8 năm 2019
Trang 2quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã đƣợc trích dẫn trong luận văn này đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Huỳnh Minh Trung
Trang 3Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý thầy, cô giáo của Khoa Địa
lý - Địa chính (nay thuộc khoa Tự nhiên), Trường Đại học Quy Nhơn đã dìudắt, dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức bổ ích, cũng như tận tình giúp đỡ
em trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Em xin cảm ơn lãnh đạo, cán bộ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh, SởNông nghiệp và phát triển Nông thôn, Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh KonTum, Chi Cục Kiểm lâm Kon Tum, Chi Cục trồng trọt và chăn nuôi tỉnh KonTum đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu trong quá trình thực hiện đề tài
Em xin cảm ơn CN Nguyễn Ngọc Thành, Viện Địa lý, Viện Hàn lâmKhoa học và Công nghệ Việt Nam đã có nhiều ý kiến góp ý, hỗ trợ kỹ thuật để
em có thể hoàn thành luận văn của mình
Em xin chân thành cảm ơn Đề tài KH&CN cấp Quốc gia “Nghiên cứu,
đề xuất mô hình sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên xuyên biên giới thuộc ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia (gồm các tỉnh Kon Tum, Quảng Nam, Đà Nẵng, Ratanakiri, Atapeu)”, mã số TN18/T19, thuộc Chương trình
Tây Nguyên 2016-2020 đã hỗ trợ và cung cấp số liệu để thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Quy Nhơn, ngày 04 tháng 9 năm
2019
Tác giả
Huỳnh Minh Trung
Trang 4MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đất vừa là điều kiện tự nhiên, vừa là một dạng tài nguyên thiên nhiên
có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với quy hoạch và phát triển kinh tế, đặc biệt
là trong nông nghiệp và lâm nghiệp ở bất kỳ lãnh thổ nào Điều 54 Hiến pháp
năm 2013 đã quy định: “Đất đai à tài nguy n đ c biệt c a qu c gia, nguồn c quan tr ng ph t tri n đất nước, đư c quản theo ph p u t” Hiện nay,
bên cạnh tình trạng suy giảm diện tích đất nông lâm nghiệp do sức ép của quátrình đô thị hóa, công nghiệp hóa, các quá trình thoái đất cũng đang diễn ramạnh mẽ ở nhiều nơi, với quy mô và cường độ khác nhau Trong đó, xói mònđất là một hiện tượng tự nhiên làm thoái hóa tài nguyên đất, làm mất đất,giảm độ phì của đất, gây ra hiện tượng bạc màu, ảnh hưởng nghiêm trọng đếnnăng suất cây trồng, thậm chí dẫn đến tàn phá môi trường
Kon Tum là một tỉnh miền núi, nằm ở phía Bắc vùng Tây Nguyên cóđịa hình đa dạng, phức tạp với nhiều đồi núi, cao nguyên và các vùng trũngxen kẽ nhau Kon Tum có điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưatrung bình năm từ 2.500 - 3.000 mm; lượng mưa tập trung theo mùa, lượngmưa trong mùa mưa chiếm 80 - 90% lượng mưa của năm, kết hợp với địahình dốc đã dẫn đến quá trình xói mòn đất do nước diễn ra mạnh, đặc biệt lànhững khu vực bị mất lớp phủ thực vật, làm mất diện tích đất canh tác ở nhiềunơi, tài nguyên đất bị thoái hóa nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến các hoạtđộng sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp Bên cạnh đó, việc sử dụng tàinguyên đất của tỉnh Kon Tum vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập, như côngtác quản lý đất; tình trạng phá rừng lấy đất sản xuất nông nghiệp; tình trạngphát triển nông - lâm nghiệp tự phát, không theo quy hoạch, phá vỡ quy hoạch
sử dụng đất, cơ cấu cây trồng chưa phù hợp; sự xuất hiện ngày càng nhiều các
Trang 5sử dụng hợp lý tài nguyên đất tỉnh Kon Tum.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá định lượng hiện trạng và nguyên nhân xói mòn đất trên địa bàn tỉnh Kon Tum
- Đề xuất được một số biện pháp giảm thiểu xói mòn đất trong quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên đất tỉnh Kon Tum theo hướng bền vững
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các nguyên nhân gây xói mòn và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình xói mòn đất tỉnh Kon Tum
- Tính toán được lượng đất tổn thất do xói mòn bằng các mô hình toánlàm cơ sở đề xuất các giải pháp giảm thiểu xói mòn đất
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu bao gồm toàn bộ lãnh thổ tỉnh Kon Tum, với tổngdiện tích khoảng 9.680,5 km2
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu xói mòn đất trên thếgiới và ở Việt Nam, từ đó xây dựng quy trình nghiên cứu xói mòn đất cho địabàn nghiên cứu
- Điều tra, khảo sát thực địa bổ sung số liệu, tài liệu và dữ liệu liên quanđến vấn đề nghiên cứu
Trang 6- Nghiên cứu đặc điểm, đặc trưng các nguyên nhân gây xói mòn đất và các nhân tố ảnh hưởng đến các quá trình xói mòn đất tỉnh Kon Tum.
- Ứng dụng mô hình toán để tính toán lượng đất tổn thất do xói mòn đất gây ra trên địa bàn tỉnh Kon Tum
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu xói mòn đất phục vụ khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên đất tỉnh Kon Tum theo hướng bền vững
4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
4.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và làm phong phúthêm cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đánh giá xói mòn đất bằngcác mô hình toán có tính định lượng cao
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn đưa ra được bức tranh tổng thể vềthực trạng xói mòn đất tỉnh Kon Tum, từ đó cung cấp cơ sở khoa học chongười dân và chính quyền các cấp của tỉnh Kon Tum áp dụng các biện phápgiảm thiểu lượng đất bị xói mòn trong quá trình khai thác, sử dụng đất trongchiến lược phát triển bền vững
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ XÓI MÕN ĐẤT1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÓI MÕN ĐẤT
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến xói mòn đất
Đến nay, có rất nhiều các định nghĩa, khái niệm khác nhau về xói mònđất Theo tiếng Latin, xói mòn (erosion) có nghĩa là thể hiện sự ăn mòn dần.Theo đó, xói mòn đất là quá trình làm hao hụt đất (lớp mặt của đất, keo đất,lượng mùn, những tầng đất tơi xốp, các vụn đất và đá sét bị mất đi hoặc trôitheo sườn dốc) Xói mòn xảy ra do các nhân tố tự nhiên (mưa, gió) và cáchoạt động khai thác của con người (chặt phá rừng để lấy đất canh tác, canhtác không áp dụng biện pháp bảo vệ đất, phát triển cơ sở hạ tầng như xây nhà,làm đường,…) [24]
Theo khái niệm khác, xói mòn đất là hiện tượng di chuyển những phần
tử đất từ cao xuống thấp, hoặc từ nơi này đến nới khác do tác động của ngoạilực (như nước, gió) Xói mòn làm cho đất bị mất hàm lượng mùn và các chấtdinh dưỡng khoáng trong đất
Theo Hudson (1981), xói mòn đất là quá trình san bằng, trong đó cáchạt đất hay đá cứng bị nhào lộn, rửa trôi và di chuyển dưới tác dụng của trọnglực, gió và nước là động lực chính của quá trình này [12]
Tống Đức Khang (2008) coi xói mòn đất là hiện tượng lớp đất mặt bịbào mòn do các hạt đất tách rời nhau và di chuyển ra khỏi bề mặt đất [15]
Theo FAO (2015), “xói mòn đất được định nghĩa là loại bỏ nhanh lớpđất mặt khỏi bề mặt đất qua các yếu tố như gió, nước hoặc làm đất” [28]
Morgan (2005) cho rằng, xói mòn đất là một quá trình gồm các pha baogồm: (i) Sự tách rời của các phần tử nhỏ từ mặt đất , (ii) sau đó vận chuyểnchúng dưới các tác nhân gây xói như nước chảy và gió; (ii) quá trình bồi lắng
Trang 8sẽ xảy ra khi năng lượng không còn đủ để vận chuyển các sản phẩm này [14].
1.1.2 Phân loại xói mòn đất
Quá trình xói mòn đất trải qua hai giai đoạn đó là sự tách rời các hạt đấtsau đó di chuyển các hạt đất ra khỏi bề mặt đất ban đầu
Tác nhân chính của hai giai đoạn này là gió, nước và tác động củatrọng lực, ngoài ra còn có thể do tuyết tan hay do dòng bùn đá
1.1.2.1 Xói mòn do gió
Xói mòn do gió là sự tách rời và di chuyển các hạt đất do tác động củagió Xói mòn do gió xảy ra phổ biến ở vùng đất có thành phần cơ giới nhẹnhư vùng đất cát ven biển, vùng đất đồi bán khô cằn, những khu vực có giómạnh có thể dễ dàng huy động các hạt đất, đặc biệt là trong thời gian khô hạn,mặt đất ít lớp phủ thực vật Xói mòn gió không chỉ huy động bụi mà các hạtđất thô hơn (cát) cũng chịu tác động làm nhảy cóc hoặc trườn trên bề mặt
Xói mòn gió thường do quản lý kém nguồn đất như canh tác quá mức,phá rừng
1.1.2.2 Xói mòn do trọng lực
Do đặc tính của đất là có độ xốp, đất có khe hở với nhiều kích thướckhác nhau và do lực hút của Trái đất, nên đất có khả năng di chuyển từ tầngtrên mặt xuống các tầng đất sâu do chính trọng lực của nó, còn gọi là hiệntượng rửa trôi theo chiều sâu Bên cạnh đó xói mòn do trọng lực cũng xãy ratrong trường hợp tác động kết hợp của trọng lực đất đá trên sườn dốc và dòngchảy tràn
1.1.2.3 Xói mòn do nước
Xói mòn do nước gây ra do tác động của nước chảy tràn trên bề mặt(nước mưa, băng tuyết tan hay tưới tràn), hiện tượng xói mòn do nước gây ra
Trang 9Nước mưa chảy tràn trên mặt đất tạo sự rửa trôi trên mặt Nước khôngchỉ cuốn trôi các phần tử cơ giới mịn mà còn hòa tan các muối khoáng làmcho đất ngày càng trở nên nghèo kiệt, tầng đất mỏng dần, thậm chí có nơi chỉcòn trơ sỏi đá.
Để xảy ra xói mòn nước cần có năng lượng của mưa là tách các hạt đất
ra khỏi thể đất sau đó nhờ dòng chảy vận chuyển chúng đi Khoảng cách dichuyển các hạt đất phụ thuộc vào năng lượng dòng chảy, địa hình bề mặt đất,
… Tác động của mưa gây ra xói mòn đối với đất gồm các tác động va đậpphá vỡ, làm tách rời các hạt đất và sau đó vận chuyển các hạt đất bị phá hủytheo các dòng chàv tràn trên mặt đất Dòng chảy của nước có thể tạo ra cácrãnh xói, khe xói hoặc bị bóc theo từng lớp Kiểu xói mòn do nước gây ra cóthể chia thành các dạng [4]:
- Xói mòn thẳng là sự xói lở đất, đá mẹ theo những dòng chảy tậptrung, ăn sâu tạo thành các rãnh xói và mương xói
- Xói mòn phẳng là sự rửa trôi đất một cách tương đối đồng đều trên bềmặt do nước chày dàn đều, đất bị cuốn đi theo từng lớp, phiến
1.1.3 Các yếu tố gây xói mòn và ảnh hưởng đến xói mòn đất
Xói mòn đất là một quá trình động lực phá hủy và làm biến đổi không ngừng bề mặt đất, là một dạng tai biến thiên nhiên xảy ra thường xuyên trên
Trang 10đất dốc làm giảm độ phì nhiêu của đất một cách nhanh chóng và nghiêmtrọng, ảnh hưởng lớn đến cảnh quan và môi trường sinh thái Zakharov(1981) cho rằng, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành và mức độxói mòn đất chia ra làm hai nhóm: Nhóm các yếu tố lịch sử tự nhiên hay lànhóm các yếu tố tự nhiên; nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội (KT-XH) liên quanđến quá trình hoạt động sản xuất của con người [27].
“Xói mòn đất do tự nhiên gây ra là một quá trình liên tục, chậm rãi, xóimòn tự nhiên là một phần của quá trình tái tạo tự nhiên còn gọi là xói mòn đấtcho phép” [15] Tuy nhiên, cùng với mức độ gia tăng hoạt động sản xuất củacon người thì nạn xói mòn đất đã gia tăng một cách đáng kể đồng thời phụthuộc vào phương pháp sử dụng đất đai của con người Xói mòn đất đồngthời chịu ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên và KT-XH, mỗi nhân tố có thểlàm tăng hoặc giảm lượng đất xói mòn [15]
Có thể xác định 5 nhân tố chính ảnh hưởng đến xói mòn đất là: Địahình, khí hậu, đất đai, thảm thực vật và con người
1.1.3.1 Điều kiện địa hình
Địa hình là nhân tố tự nhiên có vai trò quan trọng trong quá trình xóimòn đất, với mỗi kiểu địa hình khác nhau sẽ xuất hiện các dạng xói mòn khácnhau Nhân tố địa hình ảnh hưởng đến xói mòn đất thông qua độ dốc của địahình và chiều dài sườn dốc
Độ dốc có tác động tới tất cả các dạng xói mòn đất thông qua sự phânchia lưu lượng dòng chảy và cường độ của dòng chảy Độ dốc bề mặt đấtcàng lớn thì tốc độ dòng chảy mặt càng mạnh, động năng dòng chảy càng lớngây ra mức độ xói mòn càng lớn và ngược lại Theo Zakharov (1981) quátrình xói mòn bắt đầu phát triển ở độ dốc địa hình từ 0,5 - 20; trên các sườndốc có độ nghiêng từ 6-100 thì hiện tượng xói mòn đất xuất hiện ở trạng tháiđầy đủ nhất [27]
Trang 11Theo Lê Đức và Trần Khắc Hiệp [8], xói mòn đất có thể xảy ra ở địahình có độ dốc 30 và nếu độ dốc địa hình tăng lên hai lần thì cường độ xóimòn đất sẽ tăng lên bốn lần hoặc nhiều hơn Theo kết quả nghiên cứu của một
số tác giả cho thấy, độ dốc địa hình có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xóimòn đất, nhất là trong điều kiện bề mặt đất không có lớp phủ thực vật hay lớpphủ thực vật mỏng
Trang 12dài sườn tăng lên 30 m và 50 m thì lượng đất xói mòn tương ứng
Trang 13tăng lên là 20,7 tấn/ha và 23,6 tấn/ha (Bảng 1.2).
Bảng 1.2: Ảnh hưởng của độ dốc và chiều dài sườn dốc đến xói mòn đất tại trạm
nghiên cứu xói mòn Sông Cầu, Thái Nguyên
Cây trồng
Lạc
Nguồn: Nguyễn Viết Khải, 2014 [15]
Theo Lê Văn Khoa và đồng tác giả (2001) nếu tăng chiều dài sườn dốclên 2 lần thì lượng đất bị xói mòn tăng từ 7 - 8 lần [16]
Hình dạng sườn dốc cũng có ý nghĩa rất lớn, sườn có dốc vồng lên haymấp mô thì lượng đất mất đi nhiều hơn so với sườn phẳng Sườn có hình lõmhay lòng đĩa ít bị mất đất hơn Như vậy, để tính toán lượng đất xói mòn trênvùng đất dốc không thể tách rời hai yếu tố trên, mà phải liên hệ chặt chẽ giữayếu tố độ dốc địa hình và chiều dài sườn dốc
Ngoài ra địa hình còn ảnh hưởng đến quá trình xói mòn thông qua việcthay đổi vi khí hậu trong vùng; địa hình núi cao với sườn chắn gió ẩm tạo nênnhững vùng mưa lớn hơn sườn khuất gió
1.1.3.2 Lượng mưa và chế độ mưa
Khí hậu tác động trực tiếp hay gián tiếp đến quá trình xói mòn đấtthông qua nhiều yếu tố như mưa, độ ẩm, bức xạ mặt trời, gió,… Đối với mộtđất nước nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa như Việt Nam thì mưađóng vai trò quan trọng nhất quan đối với xói mòn đất Mưa vừa là tác nhânphá hủy đất vừa là nguồn tạo ra dòng chảy trên bề mặt hoặc dòng chảy trêncác sườn dốc Kích cỡ hạt mưa, vận tốc mưa rơi, cường độ và thời gian mưađều có ảnh hưởng lớn đến mức độ xói mòn
Trang 14Lượng mưa và cường độ mưa càng lớn (lượng mưa trên một đơn vịthời gian) thì lượng đất bị xói mòn càng lớn.
Lượng mưa ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xói mòn đất Ở nhữngvùng có lượng mưa thấp, quá trình xói mòn do nước diễn ra yếu vì lượngnước rơi xuống bề mặt đất ít nên khả năng tạo thành dòng chảy ít, động năng
ít do đó không có khả năng vận chuyển vật chất đi xa và ngược lại Tuynhiên, không phải lượng mưa lớn thì xói mòn lớn mà nó còn thụ thuộc vàocường độ mưa và đặt tính của mưa Với tổng lượng mưa hàng năm lớn songnếu chia ra làm nhiều trận mưa có mức độ nhẹ thì mức độ xói món sẽ ít đi sovới lượng mưa ít hơn nhưng mưa tập trung với cường độ cao Ở nhiều vùngChâu Âu mưa tương đối nhẹ, xói mòn ít xảy ra nghiêm trọng; trong khi phầnlớn các nước ở vùng nhiệt đới và một số vùng thuộc Hoa Kỳ có lượng mưalớn và cường độ lớn cuốn đi nhiều đất hơn
Hiện tượng gia tăng xói mòn khi mưa rào mạnh còn liên quan đến kíchthước hạt mưa Kích thước hạt mưa thay đổi đáng kể trong một trận mưađồng thời ảnh hưởng đến tốc độ rơi của nó Giọt mưa đạt tốc độ lớn nhất saukhi rơi từ 7 - 10 m (Law, 1941) [15], tốc độ này quyết định đến động năng củagiọt mưa là khả năng bắn phá các hạt đất Số lượng hạt mưa càng nhiều,càng lớn thì sức công phá càng mạnh và làm cho đất bị chặt hơn, giảm khảnăng thấm nước của đất, sau đó dòng chảy sẽ cuốn đất đi
Cường độ mưa là lượng mưa trong một thời gian nhất định được tínhbằng đơn vị mm/h Theo một số nghiên cứu trên thế giới thì những trận mưa
có cường độ mưa trên 25 mm/h thì mới có tác dụng tạo nên dòng chảy và từ
đó tăng khả năng gây xói mòn [14] Những trận mưa có cường độ mưa lớn sẽlàm cho lượng nước mưa không kịp thấm xuống đất, lượng nước này sẽchuyển thành dòng chảy trên mặt và tiếp tục bóc tách và cuốn trôi các hạt đấtmặt với cường độ lớn
Trang 151.1.3.3 Đặc điểm các loại đất
Đặc tính của các loại đất có ảnh hưởng đến mức độ xói mòn đất bởi cácđặc trưng như: Thành phần cơ giới, khả năng thấm nước, cấu trúc của đất, độtơi xốp, hàm lượng hữu cơ trong đất, sự liên kết giữa các hạt đất,
a) Thành phần cơ giới của đất:
Thành phần cơ giới của đất là tỷ lệ tương đối giữa các cấp hạt trongđất Từ những tỉ lệ đó, tên đất được đặt là đất cát, đất thịt hoặc đất sét Trong
đó, các cấp hạt cơ giới là kết quả của quá trình hình thành đất tạo ra những hạtđất riêng rẽ có kích thước và hình dạng khác nhau Đất có nguồn gốc phátsinh khác nhau sẽ rất khác nhau về hàm lượng SiO2, FeO, Fe2O3, Al2O3 vàcác thành phần khác Chúng thay đổi một cách có quy luật theo sự nhỏ dầncủa những cấp hạt Thành phần cơ giới của đất còn là biểu hiện đặc trưng vềnguồn gốc phát sinh và tính chất nông học Tất cả các tính chất của nhữngnguyên tố cơ học, hóa học của đất đều thay đổi một cách có quy luật với cấphạt của đất Cho đến nay để phân chia thành phần cơ giới của đất, Việt Namthường áp dụng bảng phân loại các cấp hạt của Liên Xô (cũ)
Bảng 1.3: Phân loại các phân tử cơ học đất ở Liên Xô (cũ)
STT
1 2 3 4 5 6 7
Trang 179 10 11
Trong thực tế việc áp dụng vào phân loại đất theo thành phần cơ giớiđược xét theo 3 cấp hạt là cấp hạ cát, cấp hạt limông và cấp hạ sét
Đất có thành phần cơ giới nặng (phần trăm tỉ lệ sét cao) và đất có hàmlượng hữu cơ cao có tính liên kết càng lớn, khả năng phân tán của đất cànggiảm thì tính bền vững của các hạt đất càng cao thì nguy cơ xói mòn thấp Ởnhững loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, tính liên kết nhỏ, độ ngậm nướcthấp như đất bồi tích, đất giàu silic hòa tan thì có nguy cơ xói mòn lớn
b) Cấu trúc của đất:
Cấu trúc của đất là một trạng thái của đất, ở đó đất có cấu tạo hạt kết(đoàn lạp) đảm bảo cho cây trồng có điều kiện thích hợp về chế độ nước,không khí và nhiệt, tuy nhiên ở một số trường hợp đất không tạo thành cáchạt kết như trong đất cát thô hay trong mẫu chất gọi là đất không hạt kết
Theo Zakarốp [8], trong tự nhiên thường gặp các dạng cấu trúc của đất
ở 3 dạng: Dạng cấu trúc khối, dạng cấu trúc lăng trụ và dạng cấu trúc hình tấm (phiến)
Kết cấu của đất cũng là yếu tố rất quan trọng xác định các quá trình xóimòn Đất có kết cấu hạt càng nhỏ và có cấu trúc dạng viên càng rõ thì có độxốp càng lớn, có độ hổng mao quản và khoảng không giữa các hạt lớn nên độ
Trang 18trữ ẩm cao, khả năng dẫn nước tốt, nước dễ thấm sâu theo các lỗ hổng lớnnên hạn chế việc hình thành dòng chảy trên mặt, giảm bớt quá trình xói mònrửa trôi bề mặt ở vùng đồi núi.
c) Chất hữu cơ trong đất:
Chất hữu cơ trong đất có thể hấp thụ và chứa đựng nhiều nước hơn cácchất vô cơ trong đất, nó giúp cho việc liên kết các hạt đất thành hạt lớn hơnhoặc thành cục, tạo cho đất có cấu tượng tốt Đất có chứa nhiều thành phầnhợp chất hữu cơ có tính liên kết bền vững hơn và có khả năng chống xói mòntốt hơn, ngược lại những loại đất chứa ít chất hữu cơ rất dễ bị xói mòn hơn
1.1.3.4 Ảnh hưởng của lớp phủ thực vật
Thảm thực vật là một yếu tố vô cùng quan trọng bảo vệ đất khỏi xóimòn Độ che phủ của thảm thực vật có ý nghĩa quyết định đến lượng đất bịxói mòn Nếu trên mặt đất có cây che phủ, hạt mưa không rơi trực tiếp xuốngđất mà rơi và phân tán trên cành lá, do tác động cơ học nhỏ dẫn đến xói mònxảy ra với cường độ nhỏ Hay nói cách khác thảm thực vật giúp giảm bớtnăng lượng gây xói mòn trực tiếp của hạt mưa đối với đất Bên cạnh đó, thảmthực vật còn giúp phân tán và giảm tốc độ dòng chảy trên sườn dốc; tăng kếtcấu đất, làm tăng khả năng thấm nước, giảm dòng chảy trên mặt Ở những nơikhông có lớp phủ thực vật, hiện tượng xói mòn đất xảy ra mạnh mẽ hơn
Theo nghiên cứu của Võ Đại Hải (1996) [16], nếu giảm độ tàn che từ0,7 - 0,8 xuống mức 0,3 - 0,4 thì xói mòn đất sẽ tăng lên 42,2% và dòng chảymặt tăng 30,4% đối với rừng tự nhiên; xói mòn đất tăng lên 27,1% và dòngchảy mặt tăng 33,8% đối với rừng le Rừng càng có nhiều tầng tán thì khảnăng giữa nước và đất càng tốt, rừng có 1 tầng tán thì lượng đất xói mòn sẽcao gấp 3 lần so với rừng có 3 tầng tán
Tóm lại, mỗi loại cây trồng khác nhau thì có đặc điểm hình thái khácnhau sẽ có khả năng bảo vệ đất và hạn chế xói mòn khác nhau
Trang 191.1.3.5 Tập quán và các biện pháp canh tác
Con người là chủ thể tích cực, quan trọng nhất thông qua các hoạt độngsản xuất có thể tác động tích cực hay tiêu cực đến quá trình xói mòn đất Nếucon người có các biện pháp sử dụng và quản lý đất đai hợp lý và khôn khéo
có thể hạn chế và ngăn chặn xói mòn đất như canh tác theo đường đồng mức,làm ruộng bậc thang nơi đất dốc, tạo băng xanh, đa canh, trồng xen canh,
Ngược lại, việc sử dụng các biện pháp canh tác và mô hình sử dụng đất khôngphù hợp sẽ dẫn đến thúc đẩy hiện tượng xói mòn diễn ra ngày càng mạnh hơn
Tình trạng phá rừng, làm mất diện tích rừng trên đất dốc cũng đã gây rahiện tượng xói mòn đất và những trận lụt lịch sử trên thế giới
Việc chăn thả gia súc quá mức và mất kiểm soát cũng là một trong nhữngnguyên nhân làm đất bị xói mòn Chăn thả gia súc quá mức làm giảm thảm cây
cỏ, nhiều nơi đất trở nên trơ trụi, không có thảm cỏ bảo vệ Bên cạnh đó, việc giasúc dẫm đạp sẽ làm cho đất bị phá vỡ cấu trúc, lớp đất bị nén chặt, giảm khảnăng thấm nước, từ đó dẫn đến tăng quá trình xói mòn đất
Ở các nước đang phát triển, phương thức du canh du cư, phá rừng lấyđất canh tác, tình trạng đốt nương làm rẫy vẫn còn tồn tại và đã làm cho quátrình xói mòn hoạt động mạnh, làm mất tầng đất mặt tới mức báo động
1.2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU XÓI MÕN ĐẤT 1.2.1 Trên thế giới
Vấn đề xói mòn đất đã được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu của cáctác giả trong và ngoài nước Thực tế, hiện tượng xói mòn đất đã được conngười quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Nhiều nền văn minh trên thế giới đềubắt đầu từ những nơi có nền sản xuất nông nghiệp năng suất cao Có nghiêncứu cho rằng, sự suy tàn của một số nền văn minh cổ đại bắt nguồn từ việcnăng suất canh tác giảm đi mà nguồn gốc là do sự quản lý đất sai lầm
Trang 20Một nghiên cứu của Guatemala khoảng năm thứ 900 sau Công nguyên vềnền văn minh kéo dài 1.700 năm của người Maya cho rằng, một trong nhữngnguyên nhân làm cho nền văn minh này sụp đổ là do nạn xói mòn đất [13].
Xói mòn đất được nghiên cứu ở khắp trên thế giới Tại Mỹ, những thựcnghiệm đầu tiên nhằm xác định xói mòn đất về mặt định lượng được các tổ chứcLâm nghiệp Mỹ tiến hành tại Bang Iuta vào năm 1915 [27] Tiếp theo sau đó,nhiều các công trình nghiên cứu và thực nghiệm chống xói mòn đã được triểnkhai Công trình nghiên cứu đầu tiên của Volni cho thấy nguyên nhân chủ yếucủa xói mòn đất là hạt nước rơi Các nghiên cứu chi tiết đầu tiên về xói mòn domưa được tiến hành bởi Laws (1941), Ellison (1944) phân tích các tác động cơhọc của hạt mưa lên đất và đưa ra tiến trình xói mòn Theo Stalling (dẫn theo
Hudson, 1981) [27] : “Việc phát hiện ra rằng các hạt mưa là nhân t chính c a
xói mòn nước đã kết thúc thời đại đấu tranh vô hiệu quả c a con người ch ng lại xói mòn và lần đầu tiên gieo niềm hi v ng giải quyết đư c một cách có kết quả vấn đề xói mòn đất mà trước đây không nh n ra”
Năm 1947, Musgrave và cộng sự đã phát triển một phương trình thựcnghiệm được gọi là phương trình Musgrave (Hudson, 1995) [27] Tiếp đếncác tác giả Wischmeier và Smith (1958, 1978) đã nghiên cứu và phát triểnphương trình mất đất phổ dụng (USLE) dựa trên kết quả quan trắc và thựcnghiệm ở 47 địa phương của 21 bang vùng Trung và Tây Hoa Kỳ [1]
Từ giữa những năm 1980 đến đầu năm 1990 các mô hình tính toán xóimòn khác nhau đã được phát triển dựa trên phương trình USLE ở nhiều nơitrên thế giới nhằm đáp ứng đòi hỏi cấp bách về bảo vệ môi trường, nâng caonăng suất và thu nhập từ ngành trồng trọt, như: mô hình dự đoán mất đất chomiền Nam của Châu Phi - SLEMSA (Elwell, 1981), mô hình SOILLOSS(Rosewell, 1993) được phát triển tại Úc và mô hình ANSWERS được pháttriển vào cuối những năm 1970 để đánh giá được mức độ bồi lắng lưu vực
Trang 21sông do lượng đất bị xói mòn, rửa trôi (Beasley và cộng sự) [14]
Dựa trên cơ sở số liệu thực nghiệm một số vùng của Rumani, Motoc vàTrăcculesce cũng đã đưa ra công thức tính lượng đất bị xói mòn [15]
Ở Nga, Koctiakov đã xây dựng công thức từ kinh nghiệm để tính lượngđất bị rửa trôi dựa trên cơ sở tài liệu thực nghiệm ở Nga, chủ yếu tập trungvào hệ số ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu, đất và độ che phủ [15]
Cùng với sự phát triển các nghiên cứu xói mòn đất, các mô hình tínhtoán lượng đất tổn thất do xói mòn với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thôngtin Các biện pháp chống xói mòn đất như đắp bờ, làm rộng bậc thang, canhtác theo đường đồng mức, luân canh cây trồng, trồng theo băng, trồng đệm,che phủ cho đất và các biện pháp công trình khác đã mạng lại nhiều kết quảtrong công tác chống xói mòn Nhiều tổ chức nghiên cứu xói mòn và bảo vệđất khỏi xói mòn điển hình như:
- Hệ thống nhóm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế (Consultative Group
on International Agricultural Research - CGIAR) với một số nghiên cứu vềxói mòn đất đã được tiến hành tại các trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc
tế được quản lý bởi hệ thống này [14]
- Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) đã cốgắng phát triển phương pháp đánh giá sự bạc màu của đất gây ra bởi xói mòn
và các tác nhân khác ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng thôngqua việc hỗ trợ các dự án cho các nước thành viên, bao trùm nhiều chủ đề,liên quan tới nhiều chuyên môn và kéo theo các chuyên gia có nhiều kinhnghiệm về bảo vệ đất của nhiều quốc gia như dự án quản lý vùng đầu nguồn
và phát triển đất vùng cao ở Cộng hòa Triều Tiên [13]
1.2.2 Ở Việt Nam
Lịch sử nghiên cứu xói mòn đất ở Việt Nam mới chỉ phát triển từkhoảng năm 1940 trở lại đây Theo Nguyễn Quang Mỹ (2005) [27], có thể
Trang 22chia quá trình nghiên cứu xói mòn đất ở Việt Nam thành 3 giai đoạn:
1.2.2.1 Giai đoạn trước năm 1954
Trong giai đoạn này, Việt Nam bị thực dân Pháp đô hộ, hầu như không
có công trình nào nghiên cứu về xói mòn đất Tuy nhiên, thực tế vẫn có hàngloạt các công trình chống xói mòn đất được xây dựng từ kinh nghiệm sảnxuất của người nông dân như dựng các công trình trên đất dốc bằng gỗ chắn,xây dựng ruộng bậc thang của cộng đồng dân cư dân tộc H'Mông, Dao, ởvùng Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam
1.2.2.2 Giai đoạn từ 1954 - 1975
Các công trình nghiên cứu về xói mòn đất bắt đầu vào những năm
1960, thời kỳ miền Bắc xây dựng Xã hội chủ nghĩa
Năm 1962, có các công trình của Nguyễn Ngọc Bình, Nguyễn QuýKhải, Cao Văn Minh,… đã nêu lên ảnh hưởng của độ dốc đến xói mòn đất,góp phần đưa ra các tiêu chí bảo vệ đất, sử dụng và khai thác đất dốc
Năm 1963, nghiên cứu xói mòn khu vực được tiến hành, một số nhàkhoa học mà đứng đầu là Tôn Gia Huyên đã công bố các nghiên cứu xói mònđất trên nương lúa ở Tây Bắc Chu Đình Hoàng (1962, 1963) đã tiến hànhnghiên cứu ảnh hưởng của lượng mưa đến xói mòn và chống xói mòn đấtbằng biện pháp canh tác [14]
Trong thời kỳ này, một số công trình của một số tác giả (dẫn theoNguyễn Quang Mỹ, 2005 ) đã được công bố như: Nguyễn Quý Khải (1962,1963), Nguyễn Ngọc Bình (1962), Cao Văn Bính (1962), Nguyễn Xuân Kỳ(1962), Tôn Gia Huyên (1964, 1965), Tạ Quang Bửu (1963, 1964, 1965),Nguyễn Xuân Quát (1963, 1964), Chu Đình Hoàng (1963), Trần Ích Châm(1964), Hồ Sỹ Chúc (1964), Bùi Văn Chi (1964), Bùi Quang Toản (1965), BùiNgọc Toản (1965), Nguyễn Văn Hảo (1965), Phương Chí Phạm (1965),
Trang 231.2.2.3 Giai đoạn từ sau năm 1975
Sau năm 1975 đến nay, có nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu về xóimòn đất và các biện pháp hạn chế xói mòn đất ở nhiều nơi trong nước, nhiềuphương pháp nghiên cứu xói mòn hiện đại hơn đã được áp dụng
Trong giai đoạn này, một số trạm quan trắc xói mòn đất đã được xâydựng như: Trạm nghiên cứu xói mòn đất ở vùng Tây Nguyên đặt tại HàmRồng, Pleiku (Gia Lai) xây dựng năm 1976; trạm nghiên cứu xói mòn đất tạitỉnh Thái Nguyên; trạm nghiên cứu xói mòn đất tại huyện Hữu Lũng (LạngSơn); trạm nghiên cứu xói mòn đất Ekmat, Buôn Mê Thuột (Đắk Lắk) [27]
Các trạm quan trắc trên cùng với các Chương trình nghiên cứu tổnghợp Tây Nguyên I (1976 - 1980) và Tây Nguyên II (1980 - 1985), Chươngtrình nghiên cứu Tây Bắc đã thu thập được bộ số liệu thực tế hết sức có ýnghĩa và giá trị để mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu xói mòn đất định lượng, từ
đó đưa ra một số biện pháp chống xói mòn đất thích hợp [27] Việc quan trắcmột loạt các yếu tố tự nhiên và tác động của con người qua các biện phápcanh tác và cơ cấu cây trồng cũng đã đem lại nhiều kết quả khả quan
Nghiên cứu xói mòn đất Tây Nguyên đã được tác giả Nguyễn Quang
Mỹ tiến hành từ năm những 1977 trong “Chương trình điều tra tổng h p Tây Nguyên” bằng phương pháp dựng trạm, trại, bãi - bể quan trắc; đóng cọc kết
hợp với khảo sát thực địa; tổng hợp trên bản đồ đã phản ánh khách quan tìnhhình xói mòn đất Tây Nguyên thời kỳ đó ở từng khu vực có độ dốc, chiều dàisườn và lớp phủ thực vật khác nhau [9]
Trang 24Trên cơ sở xem xét mối tương quan quan giữa các yếu tố ảnh hưởngtới xói mòn đất, tác giả Vi Văn Vị (1983) [14] đã xây dựng lý thuyết thành lậpchỉ tiêu tiềm lực xói mòn thuộc vùng mưa rào dòng chảy Tác giả đã thiết lậpđược một số công thức tính lượng xói mòn sườn dốc và modun dòng chảycát bùn trong sông thuộc miền Bắc Việt Nam.
Nguyễn Quang Mỹ và Hoàng Xuân Cơ (1983) [14] đã tính mối tươngquan giữa chỉ số mưa và xói mòn ở Tây Nguyên bằng công thức của các tácgiả nước ngoài cho thấy, giữa chỉ số mưa và lượng đất xói mòn có mốitương quan không chặt chẽ, giữa cường độ mưa và chỉ số mưa trung bình cómối tương quan rất chặt chẽ
Tác giả Thái Phiên và Nguyễn Tử Siêm (1995) đã nghiên cứu, tính toánlượng dòng chảy khác nhau, tùy thuộc vào tính chất đất, độ dốc địa hình, độche phủ của cây trồng và đưa ra các biện pháp kỹ thuật sinh học có thể hạnchế dòng chảy bề mặt nhằm hạn chế xói mòn đất do nước mưa
Biện pháp sinh học bảo vệ và cải thiện độ phì nhiêu đất dốc (1996) củaNguyễn Tử Siêm, Thái Phiên, Trần Đức Toàn với các biện pháp chống xóimòn trên đất phù sa cổ Ba Vì; đất phát triển trên đá bazan Đắk Lắk và đất pháttriển trên phiến thạch sét ở Lương Sơn, Hòa Bình như tạo băng cây xanh theođường đồng mức, mương bờ, tạo bồn, trồng cây phủ đất, đều cho kết quảtốt, giảm lượng đất bị xói mòn 50% so với đối chứng
Tống Đức Khang và Nguyễn Đức Quý (2008) [15] đã nêu cơ bản vềcác nguyên nhân gây xói mòn đất ở Việt Nam, đồng thời đưa ra các biện pháptổng hợp để bảo vệ đất, chống xói mòn vùng đồi núi Việt Nam
Đặc biệt, từ năm 1990 đến nay, với sự phát triển vượt bậc công nghệthông tin, các tư liệu ảnh Viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) kếthợp với các mô hình toán đã được ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu vềxói mòn đất và đã đem lại nhiều kết quả khả quan trong công tác chống xói
Trang 25mòn, bảo vệ đất Ưu điểm của phương pháp này là cho kết quả có độ chínhxác cao, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí và có thể áp dụng đối với cácvùng lãnh thổ rộng lớn Một số nghiên cứu xói mòn đất ứng dụng Viễn thám
và GIS có thể kể đến như: Nguyễn Ngọc Thạch, Nguyễn Tứ Dần (1998),Nguyễn Xuân Đạo, Phạm Văn Cự (1993, 1995), Nguyễn Quang Mỹ (1996),Lại Vĩnh Cẩm (1999), Cao Đăng Dư (2000), Trần Văn Ý (2000) và Vũ AnhTuân (2004) (dẫn theo Nguyễn Quan Mỹ, 2005) [27] Tiếp theo có một số tácgiả tiếp tục ứng dụng Viễn thám và GIS để nghiên cứu xói mòn đất như:Đánh giá xói mòn đất huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ (Trần Quốc Vinh, 2012);ứng dụng phương trình mất đất phổ dụng (USLE) và GIS đánh giá xói mòntiềm năng đất Tây Nguyên và đề xuất giải pháp giảm thiểu xói mòn (NguyễnMạnh Hà và nnk, 2013); ứng dụng phương trình mất đất phổ dụng và kỹ thuậtGIS trong đánh giá lượng xói mòn đất tỉnh Kon Tum (Lưu Thế Anh vàNguyễn Ngọc Thành, 2015)
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về xói mòn đất ở Việt Nam tronghơn 30 năm qua có thể tóm tắc theo các hướng sau:
- Nhóm nghiên cứu về những nhân tố hoạt động của xói mòn đất
- Nhóm nghiên cứu về xói mòn đất theo vùng lãnh thổ
- Nhóm nghiên cứu các biện pháp chống xói mòn đất
- Nhóm nghiên cứu định lượng xói mòn đất bằng mô hình toán
- Nhóm nghiên cứu về phân vùng xói mòn đất
- Nhóm nghiên cứu định lượng xói mòn đất bằng Viễn thám và GIS
1.2.3 Một số mô hình chuẩn đoán và đánh giá xói mòn
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về các mô hình đánh giá xói mòn đã được nghiên cứu và đưa vào sử dụng như:
- Mô hình đ nh gi xói mòn đất tr n cơ sở phương trình mất đất phổ dụng (Universal Soil Los Equation – USLE) [27]
Trang 26Phương trình mất đất phổ dụng – USLE được Wischmeier và Smith vànhững người khác hoàn thành năm 1978, được chấp nhận rộng rãi và trởthành một công cụ đánh giá xói mòn được sử dụng phổ biến tại Mỹ và cácnước khác trên toàn thế giới.
Năm yếu tố chính được sử dụng để tính toán lượng đất mất trên mộtkhu vực cụ thể, đó là: mưa, đất, thực vật, địa hình, biện pháp canh tác và biệnpháp bảo vệ đất Các giá trị xói mòn phản ánh bởi các yếu tố đó có thể thayđổi đáng kể do sự biến đổi của các điều kiện thời tiết Phương trình mất đấtphổ dụng có dạng như sau:
A =R x K x LS x C x P
A - Lượng đất mất bình quân bị xói mòn trong năm (tấn/ha/năm)
R - Hệ số xói mòn do mưa Yếu tố lượng mưa và dòng chảy mặt theo
vị trí địa lý Cường độ và thời gian mưa bão càng lớn thì tiềm năng xói mòncàng cao
K - Hệ số kháng xói của đất Đó là lượng đất mất trung bình theo đơn
vị diện tích cho một loại đất cụ thể K là đơn vị đo độ nhạy của các hạt đấttách rời và vận chuyển bởi mưa và dòng chảy mặt Kết cấu là yếu tố chínhảnh hưởng đến K, chứ không phải là cấu trúc, vật chất hữu cơ và cũng nhưtính chất thấm
LS - Hệ số ảnh hưởng của địa hình đến xói mòn đất Hệ số LS thể hiện
tỷ số đất mất dưới các điều kiện cụ thể mà tại một địa bàn với độ dốc sườn
“chuẩn” và độ dài sườn xác định Sườn càng dài và càng dốc, thì nguy cơ xóimòn càng cao
C - Hệ số ảnh hưởng của lớp phủ thực vật đến xói mòn đất Hệ số nàyđược sử dụng để xác định ảnh hưởng tương đối của độ che phủ đất trong sựngăn ngừa mất đất Hệ số C là một tỷ số so sánh lượng đất mất từ đồng ruộng
Trang 27với lượng đất mất tương ứng của đất bỏ hóa cách năm Hệ số C có thể xác định bởi việc lựa chọn kiểu canh tác và phương pháp canh tác
P - Hệ số ảnh hưởng của các biện pháp canh tác đến xói mòn đất Hệ
số này phản ánh ảnh hưởng của các hoạt động con người sẽ làm giảm khốilượng và tốc độ của nước bề mặt và do vậy làm giảm khối lượng xói mòn
Hệ số P thể hiện tỷ số của lượng đất mất đi bởi các biện pháp canh tác
- Phương trình mất đất phổ dụng hiệu chỉnh (Revised Universal Soil Loss Equation - RUSLE): RUSLE là mô hình tính toán định lượng xói mòn đất do
mưa trên cơ sở nền tảng của mô hình USLE được Renard hoàn thiện và
phát triển năm 1997 Mô hình RUSLE cập nhật thông tin của dữ liệu đầu vào
và kết hợp với một số quá trình của xói mòn đất Phương trình tương quan đểtính toán lượng đất xói mòn của mô hình RUSLE cũng tương tự như phươngtrình mất đất phổ dụng USLE [27]
Tuy nhiên, nguyên tắc để hiệu chỉnh chỉ số xói mòn do mưa R là dựa vàolượng mưa, khả năng gây xói mòn của dòng chảy mặt hình thành do nước mưahoặc tuyết tan Chỉ số C cũng được hiệu chỉnh và thay đổi so với mô hìnhUSLE, cụ thể C được tính toán dựa trên chỉ số phụ về tỷ số tổn thất đất SLR(Soil loss ratios) Chỉ số SLR phụ thuộc vào độ ẩm đất, độ nhám của bề mặt, lớpphủ bề mặt, độ dày tán lá, kiểu sử dụng đất chính,… (Renard, 1997)
- Mô hình WEPP [27]
Mô hình WEPP là kết quả của dự án dự báo xói mòn đất do nước(Water Erosion Prediction Project) của Phòng Nghiên cứu Quốc gia về Xóimòn đất của Mỹ (National (USA) Soil Erosion Research Laboratory)
"WEPP à một qu trình, mô phỏng một c ch i n tục và à một mô hình d
b o xói mòn đư c sử dụng cho c c m y tính c nhân Nó có th ứng dụng cho c c
qu trình xói mòn sườn đồi (xói mòn dạng phẳng và xói mòn
Trang 28rãnh), cũng như mô phỏng c c qu trình thuỷ văn và xói mòn tr n c c ưu v c nhỏ".
Mô hình WEPP thể hiện một công nghệ mới về dự báo xói mòn dựatrên cơ sở khí hậu, lý thuyết thấm, thuỷ văn, cơ lý đất, khoa học về cây trồng,thuỷ lực học và cơ học về xói mòn Mô hình có nhiều điểm thuận lợi Cácthuận lợi nổi bật bao gồm khả năng ước lượng sự phân bố về lượng đất mất
đi do xói mòn theo thời gian và không gian (lượng đất thực sự mất đi củatoàn bộ sườn dốc hoặc đối với mỗi điểm trên một tuyến sườn dốc có thểđược ước tính theo ngày, tháng hoặc trung bình năm)
- Mô hình Morgan, Morgan và Finney (MMF): năm 1984, Morgan và
nhóm nghiên cứu đã phát triển một mô hình để dự báo lượng đất mất trungbình hàng năm Với mục đích cố gắng giữ nguyên tính đơn giản của mô hìnhUSLE kết hợp với một số kỹ thuật mới trong nghiên cứu các pha của quátrình xói mòn gồm: pha nước (năng lượng của hạt mưa phá vỡ cấu trúc củađất) và pha vận chuyển, bồi lắng vật chất Sự vận chuyển và bồi lắng vật chấttrong quá trình xói mòn đất là kết quả của sự tách các hạt đất ra khỏi các tậphợp (phá vỡ cấu trúc của đất) bởi dòng chảy mặt hình thành do nước mưa
Do vậy, pha vận chuyển và bồi lắng vật chất gồm 2 phương trình tính toán,phương trình thứ nhất để tính toán khả năng phá vỡ cấu trúc của đất, tách cáchạt đất và phương trình thứ 2 dùng để tính toán khả năng vận chuyển vật chấtcủa dòng chảy mặt
1.3 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.3.1 Cách tiếp cận
Có nhiều cách tiếp cận và xu hướng khác nhau trong nghiên cứu xóimòn đất Trong đó, xu hướng tiếp cận phổ biến hiện nay là nghiên cứu xóimòn đất theo hướng mô hình hóa nhằm diễn tả động lực của quá trình xói
Trang 29mòn và nghiên cứu xói mòn kết hợp với các khoa học khác, chủ yếu để tìmhiểu quá trình, cũng như tác động của xói mòn đất lên môi trường nhằm đềxuất các biện pháp chống xói mòn khả thi [14]
Tiếp cận tổng hợp được vận dụng nhiều trong các nghiên cứu xói mònđất, khi coi tự nhiên là một tổng thể thống nhất và hoàn chỉnh; các hợp phần
tự nhiên có mối quan hệ tương hỗ chặc chẽ với nhau Vì vậy, khi nghiên cứumột hiện tượng tự nhiên, đặc biệt là nghiên cứu xói mòn đất cần xem nó làkết quả của các quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa các hợp phần địa lý tựnhiên, cũng như các tác nhân ảnh hưởng khác
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu
Qua công trình nghiên cứu xói mòn đất của các tác giả đã thực hiện, cóthể nhận thấy, có nhiều phương pháp khác nhau đã được áp dụng, như:
- Phương pháp kế thừa và tổng hợp tài liệu
- Phương pháp khảo sát thực địa
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp phân loại, phân vùng lãnh thổ theo mức độ xói mòn
- Phương đánh giá xói mòn dùng đồng vị phóng xạ
- Phương pháp mô hình hóa
- Phương pháp chuyên gia
Trong nghiên cứu cụ thể này, tác giả sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như sau:
1.3.2.1 Phương pháp kế thừa và tổng hợp tài liệu
Tiến hành thu thập và tổng hợp các số liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, KT-XH và tình hình sử dụng đất Kon Tum như:
- Niên giám thống kê tỉnh Kon Tum năm 2017
- Báo cáo kết quả thống kê đất đai năm 2017 tỉnh Kon Tum
Trang 30- Số liệu đo lượng mưa một số năm của một số trạm đo mưa đặt trênđịa bàn tỉnh Kon Tum.
- Các loại bản đồ về địa hình, thổ nhưỡng, hiện rạng sử dụng đất, hiện trạng lớp phủ thực vật của tỉnh Kon Tum năm 2015
- Kết quả phân tích các mẫu đất chính của tỉnh Kon Tum của kết quảđiều tra thoái hóa đất kỳ đầu tỉnh Kon Tum
Đồng thời, kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của một số côngtrình nghiên cứu xói mòn đã được thực hiện trước đây, từ đó lựa chọnphương pháp và quy trình nghiên cứu phù hợp áp dụng cho điều kiện cụ thểcủa tỉnh Kon Tum, nơi có địa hình núi chia cắt, biến động sử dụng đất lớn
Để tiến hành xử lý số liệu tác giả sử dụng các phần mền như MicrosoftExcel, ArcGIS 10.5, MapInfor
1.3.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Tiến hành lập và lựa chọn các tuyến điều tra, khảo sát thực địa để bổsung số liệu, tài liệu và dữ liệu về điều kiện địa hình, địa mạo, tập quán canhtác, hiện trạng sử dụng đất, quan sát và mô tả các đặc điểm của quá trình xóimòn trên thực địa Cụ thể:
- Khảo sát thực trạng xói mòn đất tại một số địa điểm trên địa bàn tỉnhKon Tum trên cơ sở phân tích các dữ liệu về xói mòn đất và các bản đồ địahình, thảm thực vật, đất, thủy văn của tỉnh Kon Tum
- Khảo sát thực trạng sử dụng đất hiện nay ở các địa điểm điều tra
- Khảo sát thảm thực vật chính ở các địa điểm điều tra
Trên cơ sở phân tích các dữ liệu về địa hình và hiện trạng sử dụng đất
và hiện trạng lớp phủ thực vật của tỉnh Kon Tum; tác giả đã lựa chọn một sốđịa điểm tiến hành khảo sát, điều tra, mô tả chi tiết các dạng xói mòn đất ởmột số địa điểm khảo sát (mỗi địa điểm được khảo sát mang tính đặc trưngcho các nhân tố gây xói mòn đất), từ đó xác định nguyên nhân và cường độ
Trang 31xói mòn đất như sau:
- Thành phố Kon Tum: Xã Đắk Bla (thực vật chủ yếu là cây bụi và trảng cỏ, địa hình có độ dốc tương đối lớn)
- Huyện Kon Rẫy: Tân Lập, Đắk Ruồng (thực vật trảng cỏ, cây bụi)
- Huyện Sa Thầy: Xã Sa Bình (cây bụi)
- Huyện Đắk Tô: Xã Diên Bình (độ dốc lớn)
- Huyện Đắk Hà: Thôn 7 thuộc xã Đắk Măng (Độ dốc lớn, rừng trồng)
- Huyện Đắk Glei: Xã Xốp (Độ dốc lớn)
- Huyện Kon Plong: Xã Đắk Long (độ dốc địa hình lớn và bị chia cắt mạnh, thảm thực vật rừng đang bị tàn phá nặng nề)
1.3.2.3 Phương pháp tham vấn chuyên gia
Phương pháp này được sử dụng nhằm tham vấn ý kiến các chuyên gia
có kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu Từ đó, có cách tiếp cận và cái nhìntoàn diện hơn trong quá trình nghiên cứu, đánh giá xói mòn đất tỉnh KonTum Bên cạnh việc khảo sát các địa điểm trên, tác giả còn tiến hành thamvấn, xin ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý tài nguyên đất,nước, rừng,… như Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Chi cục Kiểm lâm,Cục Thống kê tỉnh Kon Tum, một số hộ dân có kinh nghiệm trong sản xuấtnông nghiệp,… Từ đó, xác định nguyên nhân, đặc điểm và cường độ xói mònđất, làm cơ sở thành lập bản đồ xói mòn tỉnh Kon Tum và các biện pháp canhtác nhằm góp phần bảo vệ đất, hạn chế xói mòn đất hiệu quả hiện nay
1.3.2.4 Phương pháp mô hình hóa
Sử dụng Phương trình mất đất phổ dụng (USLE) của Wischmeier Smith (1978) để tính toán lượng đất tổn thất do xói mòn đất gây ra:
-A=R*K*L*S*C*P
Trang 32và thể hiện các kết quả tính toán trên bản đồ Các phần mềm GIS (ArcGIS,MapInfo,…) cho phép phân tích liên hợp (tích hợp) các bản đồ thành phần đểthành lập bản đồ xói mòn thực tế tỉnh Kon Tum theo không gian Đồng thời,cho phép thống kê diện tích các cấp xói mòn theo đơn vị hành chính đượcnhanh chóng, dễ dàng và thuận tiện.
1.3.3 Quy trình các bước nghiên cứu xói mòn đất tỉnh Kon Tum
Để tiến hành nghiên cứu xói mòn đất của một khu vực nào đó, cần phảixác định rõ và lựa chọn được phương pháp tiến hành nghiên cứu Trongnghiên cứu này, phương pháp mô hình hóa bằng USLE kết hợp với kỹ thuậtGIS được sử dụng Các bước thành lập bản đồ xói mòn đất tiềm năng và bản
đồ hiện trạng xói mòn đất khu vực nghiên cứu như sau:
Trang 33Bản đồ lượng mưa trung bình năm
Mô hình DEM Bản đồ thổ nhưỡngBản đồ hiện trạng sử dụng đất và hiện trạng rừng
Dữ liệu đầu vào
Hình 1.1 Quy trình thành lập bản đồ xói mòn đất bằng mô hình USLE và GIS
Các số liệu đầu vào được thu thập, xử lý và tính toán phục vụ xây dựng
các bản đồ hệ số đầu vào cho mô hình USLE gồm:
1.3.3.1 Xác định hệ số xói mòn đất do mưa (R)
Hệ số xói mòn do mưa (R) chỉ sự tác động của mưa và dòng chảy mặt đối
với quá trình xói mòn đất Giá trị hệ số R tỉ lệ thuận với lượng đất bị xói mòn do
nước mưa Hệ số R bao gồm tổng lượng mưa năm và cường độ mưa Cùng
một lượng mưa trung bình năm, tuy nhiên cường độ mưa tập trung càng lớn,
thời gian mưa càng lâu thì nguy cơ xói mòn đất càng cao Như vậy hệ số
R phụ thuộc vào từng khu vực nhất định, mỗi khu vực đều có sự khác nhau về
lượng mưa, cường độ mưa và phân bố mưa Để tiến hành nghiên cứu xói mòn
ở tỉnh Kon Tum, tác giả sử dụng công thức hệ số R như sau:
Trang 34năm với hệ số a = 38,5 và b = 0,35 [27].
Số liệu lượng mưa hàng năm
Số hoáBản đồ đẳng trị lượng mưa trung bình
Raster hoá và nội suyBản đồ lượng mưa trung bình năm
Tính toán theo công thứcBản đồ hệ số R
Hình 1.2 Quy trình xây dựng bản đồ hệ số xói mòn đất do mưa (R)
1.3.3.2 Xác định hệ số xói mòn của đất (K)
Hế số xói mòn của đất (K) phụ thuộc vào thành phần cơ giới của đất,cấu trúc của đất, khả năng thấm nước của đất cũng như hàm lượng hữu cơ cótrong đất Hệ số K càng lớn thì khả năng xói mòn của đất càng cao.Wischmeier và Smith (1976) đưa ra công thức tính hệ số K [27]:
Trang 3518 Đất mùn Alit núi cao
19 Đất mùn Alit núi cao Glây
20 Đất mùn thô than bùn núi cao
Trang 361 2
Trang 3836 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 61 62 63 64 65 66 67 68
Trang 3969 70 71
Nguồn: Viện Địa lý, Viện Hàn lâm Khoa h c và Công nghệ Việt Nam [7]
Theo kết quả tham khảo chỉ số xói mòn K của một số loại đất đồi núi ởViệt Nam trên, có thể thấy hệ số xói mòn K của các loại đất đồi núi ở ViệtNam dao động từ 0,09 - 0,39 Theo phân tích của nhiều nhà nghiên cứu, cácloại đất đồi núi ở Việt Nam có tính xói mòn đất từ trung bình đến cao
Hình 1.3 Quy trình thành lập bản đồ hệ số xói mòn của đất (K)
1.3.3.3 Xác định hệ số độ dốc và chiều dài sườn dốc (LS)
Địa hình đóng vai trò quan trọng trong quá trình xói mòn đất thông qua
độ dốc địa hình và chiều dài sườn dốc Trong thực tế, khi tính toán hệ sốchiều dài sườn dốc (L) và độ dốc địa hình (S) trong GIS có nhiều điểm tươngđồng, vì thế thường được gộp chung và gọi là hệ số xói mòn do địa hình LS
Wischmeier và Smith (1978) [10] đã đưa ra công thức định lượng ảnhhưởng của độ dốc và chiều dài sườn dốc LS đến xói mòn như sau:
LS= (
Trang 40Như vậy, L được tính theo công thức: (
L: Hệ số chiều dài sườn
dốc x: Chiều dài sườn dốc
m: Hệ số mũ tùy thuộc vào độ dốc
S = 0,065 + 0,045S + 0,0065S2 ; với S là độ dốc của sườn đo bằng %.Mitasova (1996) đã đưa ra công thức xác định hệ số LS có dạng:
LS = (m+1) [A/a0]m[sin b/b0]n Trong đó:
A: Diện tích đóng gióp cho dòng chảy trên đơn vị chiều dài dòng chảy (m2).
b: Độ dốc địa hình (độ)
m, n: Các thông số tiêu chuẩn, với giá trị m = 0,6; n = 1,3
a0 = 22,1m: là chiều dài tiêu chuẩn của sườn dốc
a0 = 0,09% (5,160), là độ dốc tiêu chuẩn ô thực nghiệm trong phươngtrình USLE
Mô hình số độ cao (DEM)
Hướng dòng chảy (Flow Direction)
Độ dốc địa hình (Slope)
Dòng chảy tích lũy (Flow Accumulation)
Áp dụng công thức
Bản đồ hệ số LS
Hình 1.4 Quy trình thành lập bản đồ hệ số LS