1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công ty TNHH thiên nam

124 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 199,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các thống kê của ngành Công Thương Tỉnh cho thấy, hiện giá trị sảnxuất của ngành công nghiệp chế biến gỗ Bình Định đang chiếm 35% trongtổng giá trị sản xuất công nghiệp của Tỉnh, tốc độ

Trang 1

LÊ THỊ KIỀU NGA

HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊCHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY TNHH THIÊN NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Bình Định –Năm 2019

Trang 2

LÊ THỊ KIỀU NGA

HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊCHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY TNHH THIÊN NAM

Chuyên ngành: KẾ TOÁN

Mã số: 8.34.03.01

Người hướng dẫn:GS TS NGUYỄN VĂN CÔNG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy GS.TS Nguyễn Văn Công

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiệnluận văn này, cũng như đã giúp đỡ tôi hoàn thiện kiến thức chuyên môn củabản thân

Tôi xin trân trọng cảm ơn đến Ban Giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại học,Khoa Kinh tế & Kế toán Trường Đại học Quy Nhơn đã quan tâm đào tạo và tạomọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, các Trưởng, Phó phòng bancùng toàn thể đội ngũ nhân viên tại Công ty TNHH Thiên Nam đã tạo điềukiện và giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát số liệu và hoàn thiện luận văn này.Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Lê Thị Kiều Nga

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, luận văn với đề tài “Hoàn thiệnkế toán quản trị chi

phí sản xuất tại Công ty TNHH Thiên Nam” là do tôi nghiên cứu thực hiện

dưới sự hướng dẫn khoa học của Thầy GS.TS Nguyễn Văn Công Các thôngtin trong luận văn là những thông tin thu thập thực tế tại đơn vị Luận văn nàychưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Tôi xin hoàn toàn chịu tráchnhiệm về lời cam đoan của mình

Bình Định, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Lê Thị Kiều Nga

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngành sản xuất và chế biến các sản phẩm từ gỗ là ngành đang được Nhànước quan tâm hỗ trợ để phát triển kinh tế của Việt Nam Tỉnh Bình Định là mộttrong những địa phương được coi là thủ phủ của ngành chế biến, xuất khẩu gỗtrong cả nước Phát huy những ưu thế nổi trội với hệ thống giao thông đường bộ,đường thủy và hàng không, đặc biệt, cảng biển Quy Nhơn là đầu mối nhập khẩunguyên liệu cũng như xuất khẩu đồ gỗ không chỉ cho riêng Bình Định mà cả khuvực miền Trung - Tây Nguyên, trở thành cánh cửa rộng mở cho ngành côngnghiệp chế biến gỗ xuất khẩu ở Bình Định và các vùng nguyên liệu tiếp cận thịtrường thế giới Mặt dù, có nhiều lợi thế nhưng trong những năm gần đây cácdoanh nghiệp ngành chế biến gỗ gặp rất nhiều khó khăn trong khâu tiêu thụ,nguồn cung đầu vào, công nghệ sản xuất, trình độ quản lý

Theo Hiệp hội gỗ và Lâm sản Bình Định- cho biết, với trên 120 doanhnghiệp chế biến gỗ, tổng công suất thiết kế đạt khoảng 345.000 m3 sảnphẩm/năm, tổng vốn đầu tư khoảng 7.500 tỷ đồng, ngành chế biến gỗ củaBình Định đang có đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế tỉnh Cùng với BìnhDương, Đồng Nai và TP Hồ Chí Minh, Bình Định được xem là một trongnhững trung tâm chế biến gỗ của cả nước (Nguyễn Văn Thuận, 2018)

Các thống kê của ngành Công Thương Tỉnh cho thấy, hiện giá trị sảnxuất của ngành công nghiệp chế biến gỗ Bình Định đang chiếm 35% trongtổng giá trị sản xuất công nghiệp của Tỉnh, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt10%/năm; kim ngạch xuất khẩu chiếm 50% so toàn tỉnh, trong đó có khoảng

70 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu trực tiếp; giải quyết việc làm khoảng25.000 lao động

Để đứng vững và phát triển ổn định trong xu thế cạnh tranh, hội nhậphiện nay, doanh nghiệp chế biến sản xuất gỗ ở tỉnh Bình Định nói chung và

Trang 6

Công ty Trách nhiệm Hữu hạn (TNHH) Thiên Nam nói riêng cần phải xácđịnh chiến lược kinh doanh rõ ràng, giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăngsức cạnh tranh Để đạt được điều đó, doanh nghiệp cũng đã không ngừng nỗlực để phát triển, bên cạnh đó, nhà quản trị doanh nghiệp cần phải sử dụng cáccông cụ quản lý tài chính của đơn vị mình, kế toán quản trị chi phí sản xuất làcông cụ quản lý kinh tế hiệu quả để doanh nghiệp đạt được lợi nhuận nhưmong muốn.

Công ty TNHH Thiên Nam chuyên kinh doanh lĩnh vực sản xuất chếbiến các sản phẩm từ gỗ nên công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất rấtphức tạp Mặt dù, tại doanh nghiệp đã và đang thực hiện việc xây dựng địnhmức, dự toán, tổ chức quá trình sản xuất Qua tìm hiểu sơ bộ, công tác lập dựtoán chi phí sản xuất còn chưa linh hoạt, việc xây dựng hệ thống định mứccòn chung chung, chưa chi tiết Hệ thống kế toán quản trị chi phí sản xuất vẫnchưa cung cấp thông tin phù hợp, kịp thời và tin cậy cho việc ra quyết địnhcủa nhà quản trị doanh nghiệp Vì vậy, việc áp dụng các hình thức quản lý chiphí dưới góc độ kế toán quản trị chi phí sản xuất là việc làm cần thiết

Xuất phát từ nhận thức trên việc hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sảnxuất ngành sản xuất, chế biến gỗ là vấn đề cần thiết và có tính thực tiễn caogiúp cho doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, góp phần nâng cao hiệu

quả kinh doanh Do đó, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện kế toán

quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Thiên Nam”.

2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Có nhiều công trình nghiên cứu vận dụng kế toán quản trị (KTQT) chiphí sản xuất trong các loại hình doanh nghiệp và đã vận dụng thành công vàothực tế Dưới đây là một số nghiên cứu đã công bố tiêu biểu có liên quan trựctiếp đến kế toán quản trị chi phí nói chung và kế toán quản trị chi phí sản xuấtnói riêng

Trang 7

Về bài báo công bố:

Nguyễn Bích Phương Thảo (2006) “Hiệu quả áp dụng hệ thống KTQTchi phí trong các doanh nghiệp chế biến thủy sản” đăng trên Tạp chí Khoa học

số 75/2006 (13-15) đã cho thấy hiệu quả khi áp dụng hệ thống KTQT thôngqua các chỉ tiêu phản ánh tình hình sử dụng nguồn lực tài chính, nhân lực vàvật tư Tuy nhiên, bài báo cho thấy hiệu quả khi doanh nghiệp áp dụng hệthống KTQT nhưng chưa chỉ ra được tình hình hiện nay của các doanh nghiệpchế biến thủy sản khi hệ thống KTQT chưa được quan tâm đúng mức

Phạm Văn Dược (2009) đăng trên Tạp chí kế toán số 77/2009 về: “Giảipháp kiểm soát chi phí nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp”.Tác giả nêu các giải pháp kiểm soát chi phí và sự cần thiết phải kiểm soát chiphí trong doanh nghiệp

Nguyễn Thị Minh Tâm đăng trên tạp chí khoa học ĐHQG Hà Nội, kinh

tế và kinh doanh 26(2010) về“Vài nét về thực trạng công tác kế toán quản trịchi phí và giá thành tại một số doanh nghiệp sản xuất ở Hà Nội”.Tác giả đãtrình bày những quan điểm của nhà quản trị về nhận thức về kế toán quản trị,phân loại chi phí, phương pháp xác định chi phí, tính giá thành … tại một sốdoanh nghiệp ở Hà Nội Từ đó, đưa ra một số kiến nghị để hoàn thiện hệ

thống kế toán quản trị tại các doanh nghiệp này.

Trần Hải Long (2012) “Tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất trongdoanh nghiệp” đăng trên Tạp chí Kế toán và Kiểm toán số 12/2012 (111) Bàiviết tập trung đề cập các bước tổ chức KTQT chi phí sản xuất trong doanhnghiệp như: Lập dự toán chi phí sản xuất, tổ chức KTQT chi phí trong doanhnghiệp cũng như quy trình Mục đích, bài viết cung cấp kiến thức hữu ích chocác nhà quản trị doanh nghiệp để có những bước tổ chức KTQT ngày cànghoàn thiện hơn

Trang 8

Ngô Hà Tấn (2014) đăng trên Tạp chí kế toán số tháng 4/2014 “Bàn về

kế toán tài chính, kế toán quản trị, kế toán tổng hợp, kế toán chi tiết nêu trongLuật Kế toán” Tác giả đã nêu sự vận dụng của kế toán tài chính, kế toán quảntrị và kế toán tổng hợp trong Luật kế toán

Văn Thị Thái Thu (2014) đăng trên Tạp chí Kinh tế và dự báo 55/2014 bàn về “Các doanh nghiệp chế biến gỗ Bình Định: Hoàn thiện côngtác kế toán quản trị chi phí” Tác giả trình bày các vấn đề cần hoàn thiện trongcông tác kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp gỗ trên địa bàn TỉnhBình Định

53-Trần Thị Ngọc Hân (2016) Học viện tài chính, 12/08/2016 “Vài trao đổi vềbản chất của kế toán quản trị” Tác giả trình bày một số trao đổi về bản chấtcủa kế toán quản trị khi áp dụng vào trong doanh nghiệp Một số công trình

nghiên cứu luận văn tiêu biểu gần đây:Luận văn thạc sĩ “Hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí trong cácdoanh nghiệp vận tải đường sắt Việt Nam” (Vũ Thị Kim Anh, 2012) Tác giảtrình bày các loại báo cáo phục vụ kế toán quản trị chi phí Trong nghiên cứucủa mình, tác giả chưa phân tích được các nhân tố ảnh hưởng làm phát sinhchênh lệch và nguyên nhân dẫn đến chênh lệch chi phí giữa thực tế và dự toáncũng như các báo cáo cung cấp thông tin thích hợp Việc này làm hạn chế quátrình cung cấp thông tin cho nhà quản lý

Luận văn thạc sĩ “Kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Thủysản Bình Định” (Nguyễn Thị Lệ Chi, Đại học Đà nẵng, 2012) Luận văn đãkhái quát tình hình tổ chức, đặc điểm kinh doanh cũng như thực tế áp dụngKTQT trong doanh nghiệp và luận văn chỉ ra những nhược điểm trong côngtác vận dụng KTQT trong doanh nghiệp Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháphoàn thiện KTQT chi phí trong doanh nghiệp

Trang 9

Luận văn thạc sĩ “Kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần cơ điện

và xây lắp Hùng Vương” (Nguyễn Thụy Phúc Trầm, Đại học Đà Nẵng, 2013).Tác giả đã phân tích chi phí sản xuất để tìm ra nguyên nhân gây biến độngtừng loại chi phí Qua đó, tác giả đưa ra các giải pháp hoàn thiện chi phíhướng Công ty đến mục tiêu tiết kiệm chi phí sản xuất

Luận văn thạc sĩ với đề tài “Kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công ty

cổ phần thủy sản Nhật Hoàng”(Võ Thị Hoa Huệ, Đại học Đà Nẵng, 2014).Luận văn đã hệ thống hóa lý luận về kế toán quản trị chi phí sản xuất áp dụngvào thực tiễn sản xuất Luận văn nghiên cứu thực trạng kế toán quản trị chiphí sản xuất tại đơn vị Tác giả chỉ ra những hạn chế trong công tác quản trịchi phí tại doanh nghiệp Qua đó, đề ra các giải pháp hoàn thiện kế toán quảntrị chi phí sản xuất tại doanh nghiệp

Luận văn thạc sĩ “Kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần VRG đáBình Định” (Nguyễn Lê Dung, Đại học Quy Nhơn, 2016) Tác giả đã hệthống hóa lý thuyết về kế toán quản trị chi phí phục vụ công tác quản trị vàviệc vận dụng công tác kế toán quản trị trong Công ty VRG đá Bình Địnhnhằm phục vụ công tác kế toán quản trị chi phí và góp phần nâng cao hiệu quảkinh doanh của công ty

Nhìn chung, các nghiên cứu về quản trị chi phí sản xuất trong doanhnghiệp đã được tiến hành nhiều ở trong nước Các nghiên cứu đã đưa ra được

hệ thống lý thuyết cơ bản về KTQT chi phí sản xuất Đồng thời, các nghiêncứu cũng đề xuất các giải pháp mang tính áp dụng với từng đặc thù riêng củadoanh nghiệp mà các tác giả nghiên cứu Tuy nhiên với từng doanh nghiệpđều có các đặc điểm riêng biệt phù hợp với loại hình kinh doanh và địa bảnhoạt động, nên các giải pháp không mang thể áp dụng một cách đồng nhất.Tại Công ty TNHH Thiên Nam chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đếnKTQT chi phí sản xuất Xuất phát từ yêu cầu thực tế của đơn vị mà tác giả

Trang 10

đang nghiên cứu, tìm hiểu nhằm phục vụ hữu ích ngay kiến thức đã học vàonâng cao hiệu quả công việc tại Công ty.

3 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn đề ra các mục tiêu cụ thể: Nhận diện được sự cần thiết của kếtoán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp; đánh giá thực trạng kế toánquản trị chi phí sản xuất sản phẩm tại Công ty TNHH Thiên Nam Qua đó, tìm

ra các giải pháp để hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩmnhằm đưa ra những quyết định mang tính cạnh tranh, góp phần tăng lợi nhuậntại Công ty TNHH Thiên Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu công tác KTQT chi phí

sản xuất như: phân loại chi phí, xây dựng định mức, lập dự toán chi phí, tínhgiá thành, cung cấp thông tin tài chính để nhà quản trị kiểm soát chi phí và raquyết định kinh doanh, …

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực trạng công tác

kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Thiên Nam

+ Về thời gian nghiên cứu: Số liệu nghiên cứu được lấy trong 3 năm từ

2016 đến năm 2018

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đã đề ra, luận văn thu thập và xử lý dữ liệu như sau:

+ Thu thập dữ liệu : Dữ liệu thứ cấp lấy từ báo cáo tài chính, sổ sách kếtoán chi tiết về chi phí sản xuất của công ty TNHH Thiên Nam trong 3 năm từ2016-2018, các đánh giá từ việc phỏng vấn nhân viên tại Công ty

+ Xử lý số liệu : Luận văn sử dụng nhiều phương pháp tổng hợp số liệunhư thống kê, phân tích dữ liệu, so sánh và đánh giá số liệu, bên cạnh đó sử

Trang 11

dụng các công cụ hỗ trợ văn phòng như excel để xử lý số liệu nhằm đưa racác đánh giá có cơ sở về thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công

ty TNHH Thiên Nam

Đề tài chọn phương pháp nghiên cứu thực tế, phương pháp thống kêtổng hợp số liệu và phân tích Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng phương phápphỏng vấn cán bộ liên quan đến công tác kế toán tài chính và kế toán quản trị

để tìm hiểu việc áp dụng kế toán quản trị chi phí tại công ty Trên cơ sở đó,đưa ra những nội dung cần hoàn thiện phù hợp với khả năng thực hiện đượccủa Công ty TNHH Thiên Nam

6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Về lý luận: Hệ thống hóa, làm rõ các lý luận cơ bản của kế toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp

- Về thực tiễn: Luận văn đã phân tích và đánh giá thực trạng kế toánquản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Thiên Nam Đồng thời, luận văn

đã đưa ra được một số giải pháp gợi ý cho Ban Giám đốc công ty để thamkhảo từ đó hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất Ngoài ra,luận văn cũng là tư liệu tham khảo cho các đối tượng quan tâm đến vấn đềquản trị chi phí sản xuất

7 Kết cấu của luận văn

Nội dung của đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận, gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp.

Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Thiên Nam.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Thiên Nam.

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN

XUẤT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP1.1.Bản chất, vai trò, yêu cầu và nguyên tắc của kế toán quản trị CPSX

1.1.1 Bản chất và vai trò

Sự ra đời và phát triển của kế toán quản trị là kết quả tất yếu nhằm đápứng nhu cầu thông tin của nhà quản trị doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trườngluôn biến động và nhiều rủi ro Mặc dù, ra đời sau kế toán tài chính nhưng kếtoán quản trị ngày càng chứng tỏ sự cần thiết và có vai trò đặc biệt quan trọngđối với công tác quản trị và điều hành doanh nghiệp (Huỳnh Văn Lợi, 2007)

KTQT chi phí sản xuất là một bộ phận của hệ thống kế toán quản trịnhằm cung cấp thông tin về chi phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quảntrị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch,kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý KTQT chi phí sảnxuất cung cấp bao gồm cả những thông tin quá khứ và thông tin có tính dựbáo thông qua việc lập kế hoạch và dự toán trên cơ sở định mức chi phí Kếtoán quản trị chi phí sản xuất với chức năng quản trị chi phí doanh nghiệp:KTQT chi phí sản xuất cung cấp thông tin chi phí phục vụ cho các chức năngquản lý

- Lập kế hoạch và dự toán

Để xây dựng kế hoạch nhà quản trị thường phải dự đoán, phán đoán kết quả của các chỉ tiêu kinh tế sẽ xảy ra dựa trên những cơ sở khoa học có sẵn Trong quá trình xây dựng, nhà quản trị thường phải liên kết các chỉ tiêu kinh tế với nhau để thấy rõ sự tác động về nguyên nhân và kết quả sẽ xảy ra trong tương lai.

Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu phải đạt và vạch ra các bướcthực hiện để đạt được những mục tiêu đó Các kế hoạch này có thể là kếhoạch dài hạn, ngắn hạn

Trang 13

Dự toán cũng là một loại kế hoạch nhằm liên kết các mục tiêu và chỉ rõcách huy động, sử dụng các nguồn lực để đạt các mục tiêu đề ra.

Kế toán quản trị thu thập thông tin thực hiện (quá khứ) và những thôngtin liên quan đến tương lai (thông tin dự đoán, dự tính) để phục vụ cho việclập kế hoạch, dự toán

Hàng năm, các doanh nghiệp xây dựng kế hoạch tổng thể về tiêu thụ vàsản xuất chi tiết cho từng quý trong năm dựa trên số liệu về tiêu thụ của nămtrước và dự báo tình hình tiêu thụ của năm sau Từ dự toán kế hoạch tiêu thụ

và sản xuất kết hợp với định mức nhân công và định mức tiêu hao vật tư kếtoán sẽ lập dự toán các loại chi phí sản xuất như: Dự toán chi phí nguyên vậtliệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí SXC

- Tổ chức thực hiện

Trong việc tổ chức, nhà quản lý sẽ quyết định cách liên kết tốt nhất giữa

tổ chức, con người với các nguồn lực lại với nhau sao cho kế hoạch được thựchiện có hiệu quả nhất Trong việc điều hành, các nhà quản lý giám sát hoạtđộng hàng ngày và giữ cho cả tổ chức hoạt động trôi chảy

Kế toán quản trị có vai trò thu thập và cung cấp các thông tin đã vàđang thực hiện để phục vụ cho việc ra quyết định (như các quyết định ngắnhạn: quyết định loại bỏ hoặc tiếp tục duy trì kinh doanh một bộ phận nào đó,quyết định tự sản xuất hay mua, quyết định nên bán ngay nửa thành phẩm haytiếp tục chế biến… hoặc các quyết định tài sản dài hạn khác…) Ngoài ra cònthu thập thực hiện phục vụ cho việc kiểm tra đánh giá sau này

- Kiểm tra và đánh giá

Kiểm tra và đánh giá là việc đối chiếu, so sánh giữa doanh thu, chi phíthực hiện với các kế hoạch và dự toán đã đặt ra, qua đó phát hiện những điểmmạnh và những hạn chế để có chính sách khen thưởng, động viên và chế tàikịp thời Với yêu cầu đánh giá cho từng cá nhân, từng đơn vị, từng bộ phận

Trang 14

trong quá trình kinh doanh, việc tổ chức dữ liệu cho đánh giá và kiểm tra phảiđược thực hiện chi tiết Đây là một công việc đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa

kế toán tài chính và kế toán quản trị

Do vậy, một yêu cầu đặt ra cho công tác kế toán, đặc biệt là kế toán quản trị làphải đáp ứng nhu cầu thông tin nhanh, chính xác cho nhà quản lý nhằm hoànthành tốt việc ra quyết định

Như chúng ta đã biết, kế toán tài chính chủ yếu phục vụ nhu cầu bênngoài doanh nghiệp KTQT cung cấp thông tin nội bộ cho nhà quản trị doanhnghiệp Như vậy, KTQT chi phí sản xuất không ghi nhận chi phí như kế toántài chính, KTQT chi phí sản xuất được ghi nhận theo nhiều chiều hướng khácnhau để đáp ứng nhu cầu thông tin trong hoạch định, thực hiện, kiểm soát và

ra quyết định

KTQT có vai trò rất to lớn trong việc cụ thể hóa các kế hoạch hoạt độngcủa doanh nghiệp thành các dự toán sản xuất kinh doanh KTQT chi phí sảnxuất cũng cung cấp các thông tin để nhà quản lý kiểm soát quá trình thực hiện

kế hoạch thông qua các báo cáo đánh giá, kiểm soát chi phí, nâng cao hiệuquả và hiệu năng hoạt động của doanh nghiệp Thông tin chi phí sản xuất củatừng bộ phận, phân xưởng, sản phẩm được cung cấp chi tiết và thường xuyên

sẽ giúp nhà quản lý kiểm soát quá trình sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ,giúp loại bỏ những khoản chi phí không cần thiết hoặc hữu ích nhằm kích

Trang 15

thích quá trình kinh doanh có hiệu quả và tiết kiệm chi phí Trên cơ sở các báocáo định kỳ so sánh kết quả thực tế với kế hoạch dự kiến về doanh thu, chiphí, lợi nhuận của doanh nghiệp, các nhà quản lý sẽ đánh giá hoạt động quảntrị và tìm ra động lực cố gắng thực hiện tốt mục tiêu kinh doanh, nắm bắt điềukiện hoạt động hiện tại cũng như dự đoán bối cảnh tương lai cho đơn vị mình.Ngoài ra, KTQT chi phí sản xuất còn cung cấp các thông tin thích hợp cho cácnhà quản lý để xây dựng chiến lược cạnh tranh như cung cấp các báo cáo vềcác bộ phận, phân xưởng, dịch vụ, sản phẩm…và các báo cáo về lựa chọnphương án kinh doanh như mở rộng cơ sở, đầu tư máy móc trang thiết bị, mởrộng thị trường tiêu thụ…

KTQT chi phí sản xuất sẽ trả lời câu hỏi chi phí sẽ là bao nhiêu, thay đổinhư thế nào khi có sự thay đổi về sản lượng sản xuất, ai phải chịu trách nhiệmgiải thích về những thay đổi bất lợi của chi phí và giải pháp cần đưa ra để điềuchỉnh chi phí cho phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh

1.1.2 Yêu cầu và nguyên tắc

Thông tin của KTQT chi phí sản xuất chủ yếu là thông tin mang tính dựbáo nên khó chính xác tuyệt đối, do vậy người làm công tác kế toán quản trịchi phí trong doanh nghiệp cần phải tuân thủ những yêu cầu và nguyên tắcnày để đảm bảo số liệu được chính xác, bám sát được tình hình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp

Để tiến hành hoạt động kế toán quản trị chi phí sao cho đạt hiệu quảcao nhất, cần tuân thủ một số yêu cầu như sau (Trương Bá Thanh, 2014)

- Cung cấp đầy đủ, chính xác và kịp thời thông tin theo yêu cầu quản lý

về chi phí sản xuất của từng hoạt động, bộ phận, công việc, sảnphẩm Nhữngthông tin thực hiện về khối lượng, đơn giá đầu vào, đầu ra nhằm phục vụcho việc lập kế hoạch, lập định mức, lập dự toán, kiểm tra, giám sát, đánh giá

và ra quyết định

Trang 16

- Thông tin kế toán quản trị chi phí sản xuất cung cấp chi tiết, cụ thể hơn so với kế toán tàichính.

- Thông tin kế toán quản trị chi phí sản xuất cung cấp có tính logic và

so sánh được nhằm nhận diện thông tin nhanh, chínhxác

- Thông tin kế toán quản trị chi phí sản xuất phải mang tính bảomật Vì,thông tin kế toán quản trị ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp

Để hoạt động kiểm soát chi phí đem lại hiệu quả và tiết kiệm nhất cóthể, ngoài việc thực hiện các yêu cầu trên, cần thiết phải tuân thủ các nguyêntắc sau:

- Nguyên tắc khách quan: Thực hiện nguyên tắc này để phù hợp vớiquy luật khách quan của nền kinh tế thị trường như trình độ quản lý, quy môsản xuất, ngành nghề kinh doanh, thực hiện nguyên tắc này để giảm thiểusai sót trong khâu dự báo kế hoạch sản xuất

-Nguyên tắc phù hợp: Phải gắn lĩnh vực hoạt động kinh doanh trongtình hình thực tế kinh doanh của ngành, địa phương, lĩnh vực, Bên cạnh đó,tùy thuộc vào quy mô, lĩnh vực hoạt động, ngành nghề kinh doanh mà bố tríđội ngũ người làm công tác kế toán quản trị phù hợp với nhu cầu và trình độquản lý của nhà quản trị doanh nghiệp và bối cảnh chung của nền kinh tế

- Nguyên tắc tiết kiệm và hiệuquả: Cần tránh tình trạng tổ chức bộ máy

kế toán quản trị cồng kềnh, không linh hoạt và kém hiệu quả

- Nguyên tắc linh hoạt: Cần nhận thức rằng tại mỗi doanh nghiệp tổ chứcmột mô hình kế toán quản trị riêng, phù hợp với doanh nghiệp mình Không áp

dụng mô hình kế toán quản trị sử dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp

- Nguyên tắc phối hợp: Cần phối, kết hợp giữa kế toán quản trị và kếtoán tài chính có hiệu quả để cung cấp thông tin cho các đối tượng cần sửdụng thông tin ở bên trong và bên ngoài doanh nghiệp

Trang 17

Như vậy, để vận hành hệ thống kế toán quản trị chi phí sản xuất hiệuquả thì nhà quản trị cần phải vận dụng và tiến hành giám sát, thực hiện cácyêu cầu và nguyên tắc trong kế toán quản trị chi phí sản xuất

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán quản trị chi phí sản xuất

1.2.1 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp

Quy trình sản xuất kinh doanh tại các lĩnh vực kinh doanh khác nhau sẽkhông giống nhau trong từng doanh nghiệp Như vậy các nhân tố bên trongdoanh nghiệp là nhu cầu thông tin của nhà quản trị doanh nghiệp; đặc điểmhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (quy trình sản xuất, xác địnhsản phẩm kinh doanh của doanh nghiệp, doanh thu, chi phí, mục tiêu pháttriển doanh nghiệp của chủ sở hữu); trình độ của nhà quản trị doanh nghiệp,trình độ của nhân viên làm công tác kế toán quản trị và việc ứng dụng côngnghệ thông tin … là những yếu tố ảnh hưởng tới nội dung KTQT chi phí sảnxuất tại các doanh nghiệp.Cụ thể:

- Nhu cầu thông tin của nhà quản trị doanh nghiệp:

Chủ sở hữu là những người có toàn quyền quyết định mục tiêu pháttriển của doanh nghiệp Mục tiêu phát triển của doanh nghiệp đòi hỏi phải cónhu cầu thông tin của nhà quản trị doanh nghiệp Theo đó, mỗi doanh nghệp

sẽ có những mục tiêu phát triển riêng Ngược lại, những doanh nghệp không

có mục tiêu phát triển dài hạn, hoạt động trongphạm vi hẹp thì nội dungKTQT chi phí sản xuất chỉ cần áp dụng những nội dung cơ bản, truyền thống,chủ yếu phục vụ mục tiêu quản lý tác nghiệp

- Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:Quy trình sản xuất sản phẩm có sự tham gia chủ yếu của máy móc, thiết

bị, đòi hỏi việc xây dựng định mức chi phí tại doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh phải tập trung vào các định mức kinh tế kỹ thuật Quy trình sản xuấtkinh doanh diễn ra liên tục, đòi hỏi nội dung KTQT chi phí sản xuất liên quan

Trang 18

đến các hoạt động tác nghiệp phải được triển khai đầy đủ, bao gồm: hoạch định tác nghiệp; kiểm soát và đánh giá hiệu quả tác nghiệp.

- Sản phẩm của doanh nghiệp: Sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất rađến đâu tiêu thụ hết đến đó hay có sản phẩm làm dở dang Vì vậy, việc xácđịnh phương pháp tính giá thành phải phù hợp Sản phẩm có sự khác biệt haykhông có sự khác biệt với những sản phẩm được tạo ra bởi các doanh nghiệpkhác nhau Vì vậy, việc thực hiện các chức năng quản lý chiến lược của nhàquản trị cao cấp tại các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không hướng tớimục tiêu tạo ra sự khác biệt của sản phẩm mà đều tập trung vào việc dẫn đầuchi phí thấp

- Doanh thu của doanh nghiệp: doanh thu cũng có thể có sự biến động trong ngắn và trung hạn

- Chi phí: Thường là các chi phí trực tiếp liên quan đến một hay nhiều sảnphẩm Do đó, doanh nghiệp cần sử dụng phương pháp để phân biệt và nhận diệnchi phí sản xuất, xây dựng định mức chi phí, tập hợp chi phí và tính giá thành

phù hợp với đặc điểm, loại hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Trình độ, nhận thức của nhà quản trị doanh nghiệp, cơ sở vật chất và việc ứng dụng công nghệ thông tin:

Thông tin KTQT chi phí sản xuất là để phục vụ nhà quản trị Ngoại trừyếu tố nhu cầu thông tin để điều hành doanh nghiệp đạt được các mục tiêu củachủ sở hữu thì yếu tố trình độ của nhà quản trị cũng ảnh hưởng tới việc ápdụng nội dung KTQT chi phí sản xuất tại từng doanh nghiệp

Thông tin KTQT chi phí sản xuất được phân cấp thành nhiều loại đểcung cấp cho nhà quản trị ở các cấp tương ứng Vì vậy, trình độ của nhà quảntrị là yếu tố ảnh hưởng tới việc áp dụng nội dung KTQT chi phí sản xuất tạitừng doanh nghiệp cụ thể

Trang 19

Cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin: Việc ứng dụng côngnghệ thông tin trong thực hành KTQT chi phí sản xuất ngày nay cũng rất quantrọng, bởi khối lượng và mức độ phức tạp trong việc KTQT chi phí sản xuấtngày càng tăng cao.Do vậy, người quản lý về KTQT chi phí sản xuất cần có

sự hỗ trợ của công nghệ thông tin mới có thể thực hiện tốt công việc củamình, đảm bảo đáp ứng yêu cầu thông tin của nhà quản trị với từng nội dungKTQT chi phí sản xuất

1.2.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

Thị trường kinh doanh tại Việt Nam hiện nay đã tiến những bước đitrong quá trình đổi mới, vận hành và phát triển thị trường cạnh tranh Bản chấtcủa thị trường cạnh tranh là điều tiết nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêudùng Do vậy, các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp ảnh hưởng đến KTQT chiphí sản xuất như:

- Hệ thống văn bản liên quan đến chính sách, pháp luật của Nhà nước

và các văn bản liên quan đến ngành nghề sản xuất của doanh nghiệp

Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan Nhà nước ban hànhhoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục đượcquy định trong Luật Cụ thể, đối với lĩnh vực kế toán thì Nhà nước Ban hànhLuật kế toán năm 2018, Luật này là kim chỉ nam trong việc xây dựng, tổ chức

hệ thống kế toán tại doanh nghiệp Sau Luật, Nhà nước ban hành rất nhiềuThông tư, Nghị định để hướng dẫn doanh nghiệp áp dụng Luật này vào thựctiễn của doanh nghiệp Việc ban hành các văn bản hướng dẫn không cụ thể sẽlàm cho doanh nghiệp rất khó khăn trong việc triển khai công tác kế toán củadoanh nghiệp Đối với KTQT chi phí sản xuất thì Nhà nước chỉ cần ban hànhcác hành lang pháp lý tổng quát, việc vận dụng chi tiết thì doanh nghiệp sẽthực hiện để bộ máy KTQT chi phí sản xuất được tốt hơn Bên cạnh đó, Nhànước còn ban hành rất nhiều văn bản liên quan đến ngành nghề sản xuất của

Trang 20

doanh nghiệp.Ví dụ: Luật xây dựng, Luật bảo hiểm, …các văn bản hướng dẫnchi tiết cho từng lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp.

- Cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế

Sự cạnh tranh tập trung trong phát triển các sản phẩm mới với lợi thếcạnh tranh (nếu có) chủ yếu đến từ việc dẫn đầu chi phí thấp Cạnh tranh sẽbùng nổ khi các doanh nghiệp tham gia vào thị trường kinh doanh quốc tế Vìvậy, cạnh tranh là thách thức và cũng là cơ hội để bộ máy KTQT chi phí sảnxuất của doanh nghiệp tận dụng hết công suất, hiệu quả giúp doanh nghiệp điđến thắng lợi và dẫn đầu trong lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp mình

Tóm lại, việc áp dụng nội dung KTQT chi phí sản xuất tại mỗi doanhnghiệp nói chung hay doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói riêng đều phụthuộc rất nhiều vào các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Do vậy,khi nghiên cứu áp dụng nội dung KTQT chi phí sản xuất tại các doanh nghiệpcần phải xem xét đầy đủ các yếu tố này, như vậy hệ thống KTQT nói chunghay các nội dung KTQT chi phí sản xuất nói riêng tại mỗi doanh nghiệp mới

có thể đem lại hiệu quả cao nhất, đáp ứng được các nhu cầu thông tin của nhàquản trị cũng như đảm bảo thực hiện được các mục tiêu do chủ sở hữu doanhnghiệp đặt ra

1.3 Nội dung kế toán quản trị chi phí sản xuất

1.3.1 Nhận diện và phân loại chi phí

Thông tin chủ yếu nhất mà KTQT xử lý và cung cấp cho các nhà quảntrị là thông tin về chi phí Trong quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp,chi phí thường xuyên phát sinh, gắn liền với mọi hoạt động và có ảnh hưởngtrực tiếp đến lợi nhuận thu được Hơn nữa, trên giác độ quản lý, chi phí phầnlớn phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp, chịu sự chi phối chủ quan của nhàquản trị, do vậy, việc nhận diện và phân loại chi phí là mối quan tâm hàng đầucủa nhà quản trị doanh nghiệp

Trang 21

Chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí về lao động sống và lao động vậthóa mà doanh nghiệp bỏ ra để mua các yếu tố đầu vào nhằm sản xuất sảnphẩm bán ra trong một thời kỳ nhất định (Đoàn Xuân Tiên, 2009).

Có thể phân loại chi phí sản xuất theo nhiều cách khác nhau, như:

- Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động:

Việc phân chi phí sản xuất theo chức năng hoạt đông giúp cho doanhnghiệp có thể xác định rõ vai trò, chức năng của từng khoản mục chi phí sảnxuất trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp

+ Là căn cứ để tính giá thành sản xuất và giá thành toàn bộ của sản phẩm và tập hợp chi phí theo từng hoạt động chức năng

+ Cung cấp thông tin có hệ thống để lập các báo cáo quản trị Trong

doanh nghiệp sản xuất, chi phí sản xuất được chia thành các khoản mục:

* Chi phí vật liệu trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm các loạinguyên liệu và vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm Trong

đó, nguyên vật liệu chính dùng để cấu tạo nên thực thể chính của sản phẩm vàcác loại vật liệu phụ khác có tác dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính đểhoàn chỉnh sản phẩm về mặt chất lượng và hình dáng

* Chi phí nhân công trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm tiền lươngphải trả cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm và những khoản trích

theo lương của họ được tính vào chi phí Cần phải chú ý rằng, chi phí tiềnlương và các khoản trích theo lương của bộ phận công nhân phục vụ hoạtđộng chung của bộ phận sản xuất hoặc nhân viên quản lý các bộ phận sảnxuất thì không bao gồm trong khoản mục chi phí này mà được tính là mộtphần của khoản mục chi phí sản xuất chung

* Chi phí sản xuất chung là các chi phí trực tiếp khác ngoài các khoảnchi phí phát sinh ở các phân xưởng, bao gồm: lương nhân viên quản lý phânxưởng, các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN, BHTNLĐ tính trên tiền

Trang 22

lương phải trả nhân viên phân xưởng, nhân viên điều khiển máy móc thiết bị,khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp và chi phí liên quan đến hoạt động của phân xưởng.

- Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí:

Mối quan hệ giữa chi phí với hoạt động rất cần thiết cho các chức nănglập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định của quản lý Nhằm mục đích lập kếhoạch và soạn thảo dự toán, nhà quản trị cần dự báo chi phí sẽ phát sinh ởnhững mức sản xuất và tiêu thụ khác nhau Khi phân loại chi phí theo cáchứng xử, kế toán quản trị chia chi phí thành 3 loại:

+ Biến phí: Là những khoản mục chi phí mà tổng của nó có quan hệ tỷ

lệ thuận trực tiếp với biến động của mức hoạt động nhưng không thay đổi khitính trên một đơn vị của mức độ hoạt động Biến phí là những chi phí gắn liềnvới hoạt động sản xuất kinh doanh trực tiếp như chi phí nguyên vật liệu trựctiếp, chi phí nhân công trực tiếp… Biến phí thường thay đổi theo các yếu tốnhư sản lượng sản xuất, số giờ máy hoạt động, số giờ lao động trực tiếp, số

km vận chuyển, mức tiêu thụ sản phẩm…

Biến phí tồn tại dưới nhiều hình thức ứng xử khác nhau:

* Biến phí tỷ lệ: tổng của nó biến động tỷ lệ thuận với biến động củamức hoạt động căn cứ Biến phí tỷ lệ gồm các khoản chi phí như chi phínguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, …

* Biến phí bậc thang: là những biến phí mà sự thay đổi của chúng chỉxảy ra khi mức hoạt động đạt đến một giới hạn, phạm vi nhất định Biến phíbậc thang gồm chi phí nhân công gián tiếp, chi phí bảo trì máy móc Nhà quảntrị phải theo dõi toàn bộ khả năng cung ứng của từng bậc để tránh hiện tượnghuy động quá nhiều nguồn lực so với nhu cầu, gây lãng phí nguồn lực

+ Định phí: Là những chi phí không biến đổi khi mức hoạt động thayđổi, nhưng khi tính cho một đơn vị hoạt động cơ sở thì định phí lại thay đổi,

Trang 23

cụ thể khi mức hoạt động tăng thì định phí tính cho một đơn vị hoạt động cơ sởgiảm và ngược lại Định phí bao gồm các khoản tiền lương cho đội ngũ cán bộ,chi phí khấu hao TSCĐ cho văn phòng, nhà xưởng, thiết bị máy móc….

Định phí tồn tại dưới nhiều hình thức ứng xử khác nhau trong hoạtđộng của doanh nghiệp, bao gồm:

* Định phí bắt buộc: là những khoản định phí mà nhà quản trị không thểthay đổi dễ dàng vì chúng liên quan đến năng lực sản xuất hay cấu trúc cơ bảncủa tổ chức như chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí lương cho đội ngũ cán bộ…

* Định phí tùy ý: là những khoản chi phí mà nhà quản trị có thể quyếtđịnh mức độ hay thay đổi dễ dàng khi lập kế hoạch hàng năm như chi phíquảng cáo, chi phí đào tạo nhân viên, chi phí nghiên cứu và phát triển…

- Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó bao gồm cả các yếu tốbiến phí và định phí Phần định phí phản ánh phần chi phí căn bản, tối thiểu đểduy trì hoạt động Còn phần biến phí phản ánh thực tế phục vụ hoặc phần vượtquá định mức Vì vậy, để quản lý chi phí hỗn hợp nhà quản trị cần phân tích chiphí hỗn hợp nhằm tách riêng các yếu tố định phí và biến phí Các phương phápthường được sử dụng là: phương pháp cực đại cực tiểu, phương pháp bìnhphương bé nhất, phương pháp hồi quy bội, phương pháp đồ thị phân tán

Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong phân tích mối quan hệchi phí- khối lượng- lợi nhuận, xây dựng mô hình kế toán chi phí và giúp nhàquản lý nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí

- Phân loại chi phí trong kiểm tra và ra quyết định:

Để phục vụ cho việc kiểm tra và ra quyết định trong quản lý, chi phí sản xuất của doanh nghiệp còn được xem xét ở nhiều khía cạnh khác

+ Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được:

Một khoản chi phí được xem là chi phí có thể kiểm soát được hoặc là chi phí không kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó là tuỳ thuộc vào khả

Trang 24

năng cấp quản lý này có thể ra các quyết định để chi phối, tác động đến khoảnchi phí đó hay là không Như vậy, nói đến khía cạnh quản lý chi phí sản xuấtbao giờ cũng gắn liền với một cấp quản lý nhất định: khoản chi phí sản xuất

mà ở một cấp quản lý nào đó có quyền ra quyết định để chi phối nó thì đượcgọi là chi phí kiểm soát được (ở cấp quản lý đó), nếu ngược lại thì là chi phíkhông kiểm soát được Chi phí không kiểm soát được ở một bộ phận nào đóthường thuộc hai dạng: các khoản chi phí phát sinh ở ngoài phạm vi quản lýcủa bộ phận, hoặc là các khoản chi phí phát sinh thuộc phạm vi hoạt động của

bộ phận nhưng thuộc quyền chi phối và kiểm soát từ cấp quản lý cao hơn.Xem xét chi phí ở khía cạnh kiểm soát có ý nghĩa lớn trong phân tích chi phísản xuất và ra các quyết định xử lý, góp phần thực hiện tốt kế toán tráchnhiệm trong doanh nghiệp

+ Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp:

Trong các doanh nghiệp sản xuất, các khoản chi phí phát sinh có liênquan trực tiếp đến quá trình sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện các đơn đặthàng và do vậy có thể tính trực tiếp cho từng loại sản phẩm hay từng đơn đặthàng thì được gọi là chi phí trực tiếp Ngược lại, các khoản chi phí phát sinhcho mục đích phục vụ và quản lý chung, liên quan đến việc sản xuất và tiêuthụ nhiều loại sản phẩm, nhiều đơn đặt hàng cần tiến hành phân bổ cho cácđối tượng sử dụng chi phí theo các tiêu thức phân bổ được gọi là chi phí giántiếp Thông thường, khoản mục chi phí NLVLTT và chi phí NCTT là cáckhoản mục chi phí trực tiếp, còn các khoản mục chi phí sản xuất chung là chiphí gián tiếp

Cách phân loại chi phí này giúp ích cho việc xây dựng các phươngpháp hạch toán và phân bổ thích hợp cho từng loại chi phí sản xuất

+ Chi phí lặn:

Trang 25

Khái niệm chi phí lặn chỉ nảy sinh khi ta xem xét các chi phí sản xuấtgắn liền với các phương án hành động liên quan đến tình huống cần ra quyếtđịnh lựa chọn Chi phí lặn được hiểu là khoản chi phí đã bỏ ra trong quá khứ

và sẽ hiển hiện ở tất cả mọi phương án với giá trị như nhau Hiểu một cáchkhác, chi phí lặn được xem như là khoản chi phí không thể tránh được cho dùngười quản lý quyết định lựa chọn thực hiện theo phương án nào Chính vìvậy, chi phí lặn là loại chi phí không thích hợp cho việc xem xét, ra quyếtđịnh của người quản lý Tuy nhiên, trong thực tế, việc nhận diện được chi phílặn cũng như sự nhận thức rằng chi phí lặn cần được loại bỏ trong tiến trình raquyết định không phải lúc nào cũng dễ dàng

+ Chi phí chênh lệch:

Chi phí chênh lệch (cũng còn được gọi là chi phí khác biệt) cũng chỉxuất hiện khi so sánh chi phí sản xuất gắn liền với các phương án trong quyếtđịnh lựa chọn phương án tối ưu Chi phí chênh lệch được hiểu là phần giá trịkhác nhau của các loại chi phí sản xuất của một phương án so với một phương

án khác Có hai dạng chi phí chênh lệch: giá trị của những chi phí chỉ phátsinh ở phương án này mà không có ở phương án khác, hoặc là phần chênhlệch về giá trị của cùng một loại chi phí ở các phương án khác nhau Ngườiquản lý đưa ra các quyết định lựa chọn các phương án trên cơ sở phân tích bộphận chi phí chênh lệch này nên chi phí chênh lệch là dạng thông tin thíchhợp cho việc ra quyết định

+ Chi phí cơ hội:

Chi phí cơ hội là những thu nhập tiềm tàng bị mất đi khi lựa chọn thựchiện phương án này thay cho phương án khác Chi phí cơ hội là một yếu tốđòi hỏi luôn phải được tính đến trong mọi quyết định của quản lý Để đảmbảo chất lượng của các quyết định, việc hình dung và dự đoán hết tất cả cácphương án hành động có thể có liên quan đến tình huống cần ra quyết định là

Trang 26

quan trọng hàng đầu Có như vậy, phương án hành động được lựa chọn mớithực sự là tốt nhất khi so sánh với các khoản lợi ích mất đi của tất cả cácphương án bị loại bỏ.

1.3.2 Xây dựng định mức và dự toán chi phí sản xuất

- Xây dựng định mức cho chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:Định mức

cho chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phải được xây dựng riêng biệt cho haiyêu tố đó là giá và lượng của chi phí nguyên liệu (Huỳnh Văn Lợi, 2007)

Về mặt giá nguyên vật liệu ước tính: Căn cứ vào các hợp đồng thu mua

đã ký; các quá trình thương lượng giá với các nhà cung cấp thường xuyên; dựbáo về tình hình biến động trên thị trường, các hình thức chiết khấu mua sỉ;chi phí thu mua nguyên vật liệu Về mặt lượng nguyên vật liệu, lượng nguyênvật liệu cần thiết để sản xuất một sản phẩm, có cho phép những hao hụt bìnhthường Để sản xuất một sản phẩm thì định mức tiêu hao nguyên vật liệu đó làđịnh mức sử dụng theo tiêu chuẩn kỹ thuật và định mức tiêu hao ở mỗi côngđoạn sản xuất; lượng vật liệu tính cho sản phẩm Đối với định mức sử dụngtheo tiêu chuẩn kỹ thuật phải được doanh nghiệp thường xuyên xem xét nên

có sự thay đổi về yêu cầu chất lượng phải kịp thời điều chỉnh cho phù hợp

Đối với định mức tiêu hao doanh nghiệp xác định tổng tỷ lệ tiêu haotheo định mức của các giai đoạn sản xuất theo công thức:

T= {1 -[(1 –T1)x (1 -T2)x (1 -T3)x (1 -Tn)]}* 100(%)

Trong đó:

- Ti là tỷ lệ tiêu hao công đoạn thứ i trong quá trình sản xuất

- T là tổng tỷ lệ tiêu hao qua các công đoạn sản xuất

Và xác định nhu cầu nguyên vật liệu cần cung cấp để cung cấp để sảnxuất sản phẩm doanh nghiệp sử dụng hệ số định mức K (định mức kg nguyên

liệu/kg sản phẩm) : K= 1 /(1 -T)

Trang 27

Trong đó: T là tổng tỷ lệ tiêu hao qua các công đoạn sản xuất Qua công

thức trên có thể thấy được kết quả tỷ lệ hao hụt theo định mức phụ thuộcnhiều vào đặc điểm của nguyên vật liệu và quy trình công nghệ sản xuất

Do đó, khi xác định tiêu hao của các giai đoạn phải căn cứ vào đặcđiểm của công đoạn sản xuất, đặc điểm nguyên vật liệu sử dụng

- Xây dựng định mức cho chi phí nhân công trực tiếp:Định mức chi phí

nhân công trực tiếp bao gồm định mức giá của một giờ lao động trực tiếp và địnhmức lượng thời gian cần thiết Định mức về giá một đơn vị thời gian lao độngtrực tiếp căn cứ mức lương căn bản một giờ, các khoản phụ cấp, các khoản tríchtheo lương Định mức về lượng thời gian cho phép để hoàn thành một đơn vị sảnphẩm dựa trên phương pháp kỹ thuật là chia công việc theo nhiều công đoạn rồikết hợp với bảng thời gian tiêu chuẩn của những thao tác kỹ thuật để định thờigian chuẩn cho từng công việc Thời gian cần thiết để sản xuất một sản phẩmđược xác định như sau: thời gian cần thiết để sản xuất một sản phẩm; thời giannghỉ ngơi, lau chùi máy; thời gian cho sản phẩm hỏng Định mức về giá của chiphí NCTT là ổn định Nó bao gồm đơn giá tiền lương, phụ cấp và các khoản phảitrả khác: tiền ăn tăng ca liên quan đến lao động

-Xây dựng định mức chi phí sản xuất chung:

Do đặc điểm của chi phí sản xuất chung là mang tính gián tiếp và liênquan đến nhiều bộ phận quản lý nên không thể tính trực tiếp cho từng đơn vịsản phẩm, do đó việc tính chi phí sản xuất chung được thực hiện qua việcphân bổ chiphí

Đơn giá chi phí sản

xuất chung phân bổ

Việc lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ tùy thuộc vào từng doanh nghiệp cho phù hợp với sản phẩm sản xuất hay công việc thực hiện Thông thường có thể

Trang 28

chọn tiêu chuẩn phân bổ là tổng số giờ công lao động trực tiếp, tổng số giờ

máy chạy, tổng khối lượng sảnxuất, tổng khối lượng sản phẩm hoàn thành,

Chi phí sản xuất chung bao gồm cả chi phí biến đổi và chi phí cố định,

sự tác động và ảnh hưởng của chi phí biến đổi và chi phí cố định với sự biến

động chung của chi phí sản xuất chung khác nhau, do đó phải xây dựng riêng

định mức chi phí biến đổi và định mức chi phí cốđịnh

Định mức chi phí sản xuất chung biến đổi:Cũng được xây dựng theo

định mức giá và lượng Định mức giá phản ánh chi phí biến đổi của đơn giá

chi phí sản xuất chung phân bổ

Định mức chi phí sản xuất chungcố định:Cũng được xây dựng tương tự

như ở phần chi phí biến đổi Sở dĩ tách riêng là nhằm giúp cho quá trình phân

tích chi phí sản xuất chung sau này được rõ ràng hơn

- Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:

Phản ánh tất cả chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cần thiết để đáp ứng

yêu cầu sản xuất đã được thể hiện trên dự toán sản xuất.Để lập dự toán

nguyên vật liệu trực tiếp cần xác định

Định mức tiêu hao nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm

Đơn giá xuất nguyên vật liệu Thông thường đơn giá xuất ít thay đổi

Tuy nhiên để có thể phù hợp với thực tế và làm cơ sở cho việc kiểm tra, kiểm

soát khi dự toán đơn giá này cần phải biết doanh nghiệp sử dụng phương pháp

tính giá hàng tồn kho nào: phương pháp nhập trước, xuất trước; giá đích danh

hay đơn giá bình quân

Mức độ dự trữ nguyên vật liệu trực tiếp vào cuối kỳ dự toán được tính

toán trên cơ sở lý thuyết quản trị tồn kho Như vậy:

Dự toán lượng

nguyên vật liệu

sử dụng

Trang 29

Và dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp xuất dùng cho sản xuất sẽ là:

- Dự toán chi phí nhân công trực tiếp:

Dự toán lao động là cơ sở để doanh nghiệp lập dự toán về đào tạo,tuyển dụng trong quá trình hoạt động sản xuất Để lập dự toán chi phí này,doanh nghiệp phải tính toán dựa vào số lượng nhân công, quỹ lương, cáchphân phối lương và nhiệm vụ của doanh nghiệp

Định mức tiêu hao

NVL trực tiếp

- Dự toán chi phí sản xuất chung:

Bao gồm dự toán biến phí sản xuất chung và dự toán định phí SXC

Dự toán chi phí sản Dự toán định phí Dự toán biến phí

xuất chung sản xuất chung sản xuất chung

Biến phí sản xuất chung có thể được xây dựng theo từng yếu tố chi phícho một đơn vị hoạt động (chi phí vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công giántiếp, )

Dự toán biến phí Dự toán biến phí Sản lượng sản xuất

Dự toán biến phí cũng có thể được lập theo tỷ lệ trên biến phí trực tiếp,khi đó biến phí sản xuất chung dự toán sẽ xác định:

Dự toán biến phí Dự toán biến Tỷ lệ biến phí theo

sản xuất chung phí trực tiếp dự kiến

Trang 30

Dự toán định phí sản xuất chung cần thiết phải phân biệt định phí bắtbuộc và định phí tùy ý Dự toán định phí hằng năm có thể được lập dựa vàomức độ tăng giảm liên quan đến việc trang bị, đầu tư mới ở doanh nghiệp.

- Lập dự toán giá thành sản phẩm:

Dự toán giá thành sản phẩm là một trong những nội dung quan trọng của KTQT chi phí sản xuất

+ Giá thành dự toán: là tổng số các chi phí dự toán để hoàn thành một

sản phẩm Giá thành dự toán được xác định trên cơ sở các định mức theo thiết

kế được duyệt và khung giá nguyên vật liệu, nhân công cơ bản áp dụng tạithời điểm Giá thành dự toán là chỉ tiêu dùng làm căn cứ cho các doanhnghiệp xây dựng kế hoạch sản xuất của đơn vị, đồng thời làm căn cứ cho các

cơ quan quản lý nhà nước giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanhnghiệp

+ Giá thành kế hoạch: Là chỉ tiêu được xác định trên cơ sở giá thành

dự toán gắn liền với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp

Giá thành kế hoạch của sản phẩm là mục tiêu phấn đấu của doanhnghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạchgiá thành và kế hoạch hạ thấp giá thành của doanh nghiệp

+ Giá thành thực tế: Là chỉ tiêu giá thành được xác định theo số

liệu

hao phí thực tế liên quan đến khối lượng sản phẩm hoàn thành bao gồm chiphí định mức, vượt định mức và các chi phí khác Giá thành thực tế là chỉ tiêukinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổchức và sử dụng các giải pháp kinh tế- tổ chức- kĩ thuật để thực hiện quá trình

Trang 31

sản xuất sản phẩm, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp.

1.3.3 Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Mục tiêu của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều hướng đến lợi nhuận,muốn vậy, thu nhập phải đảm bảo đủ trang trải chi phí bỏ ra và có lãi Kế toánchi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm gồm các công việc sau:

-Xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất:

Tùy theo lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp xác định đốitượng kế toán chi phí sản xuất phù hợp Với doanh nghiệp sản xuất: Đốitượng kế toán chi phí sản xuất là từng sản phẩm, chi tiết từng sản phẩm, nhómsản phẩm, đơn đặt hàng

- Xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm:

Đây là việc xác định toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp bỏ ra để sảnxuất ra sản phẩm Đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp sản xuất cóthể là sản phẩm, bán thành phẩm, công việc, đơn đặt hàng, từng chi tiết, bộphận … mà doanh nghiệp bỏ ra

+ Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp toàn bộ: Là phương pháp

mà tất cả các chi phí liên quan vào quá trình sản xuất đều được tính vào giáthành sản phẩm sản xuất hoàn thành Bao gồm 2 hệ thống: hệ thống tính giáthành theo công việc áp dụng tại các doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng

và hệ thống tính giá thành theo quá trình sản xuất (áp dụng cho những doanhnghiệp sản xuất hàng loạt)

+ Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp trực tiếp:Theo phươngpháp này, giá thành sản phẩm chỉ bao gồm các chi phí sản xuất biến đổi, còn cácchi phí sản xuất cố định không được tính và giá thành sản phẩm hoàn thành

Như vậy, phương pháp trực tiếp chỉ tính vào giá thành sản phẩm nhữngchi phí trực tiếp biến động theo hoạt động sản xuất bao gồm: chi phí nguyên

Trang 32

vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung ở dạngbiến phí Còn chi phí sản xuất chung ở dạng định phí được xem là chi phí thời

kỳ và được tính vào chi phí kinh doanh ngay khi phát sinh

Công thức tính giá thành sản phẩm

Tổng giá thànhSXSPGiá thành đơn vị

+ Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ: Sản phẩm dở dang là khối lượngsản phẩm, công việc còn đang trong quá trình sản xuất gia công, chế biến, đangnằm trên các giai đoạn của quy trình công nghệ hoặc đã hoàn thành một vài quytrình chế biến nhưng vẫn còn phải gia công chế biến tiếp mới trở thành sảnphẩm Đánh giá sản phẩm dở dang là công việc không thể thiếu trong các doanhnghiệp sản xuất để tính giá thành sản phẩm Vì khi xác định giá thành sản phẩm,doanh nghiệp cần phải xác định giá trị chi phí nằm trong sản phẩm dở dang, mức

độ của sản phẩm dở dang còn trên dây chuyền sản xuất Tùy thuộc vào đặc điểmloại hình kinh doanh, quy trình sản xuất, trình độ của nhà quản lý, … để lựa chọnphương pháp đánh giá phù hợp nhất Doanh nghiệp có thể áp dụng một trong cácphương pháp sau: Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí vật liệu chính (chi phívật liệu trực tiếp); đánh giá sản phẩm dở dang theo phương pháp ước tính sảnlượng tương đương; Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sảnxuất định mức (hay chi phí kế hoạch)

1.3.4 Phân tích biến động chi phí

Chi phí là một trong những vấn đề quan trọng được nhà quản trị doanhnghiệp đặc biệt quan tâm vì nó tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm, kếtquả kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, việc phân tích biến động chi phí đểtìm hiểu lý do tăng, giảm chi phí, từ đó, tìm ra các biện pháp để khắc phục

Trang 33

tình trạng này Để đạt được lợi nhuận doanh nghiệp phải tăng doanh thu, hạchi phí Việc tăng doanh thu và hạ chi phí có quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau.Việc tăng doanh thu phụ thuộc vào nhu cầu của người tiêu dùng và quy luậtcủa nền kinh tế thị trường Bên cạnh đó, để đạt được lợi nhuận như mongmuốn, nhà quản trị phải tìm mọi cách hạ thấp chi phí Do đó, muốn kiểm soát

và phân tích biến động chi phí thì nhà quản trị phải hiểu được các loại chi phíđang phát sinh tại doanh nghiệp

- Kiểm soát chi phí sản xuất:

Bất kỳ doanh nghiệp nào khi hoạt động đều phát sinh chi phí, đối với nhàquản lý thì vấn đề kiểm soát được các chi phí là mối quan tâm hàng đầu Bởi vìlợi nhuận thu được nhiều hay ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của những chi phí đãchi ra Kiểm soát được chi phí sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu, từ đó sẽ làm tănglợi nhuận của doanh nghiệp Qua phân tích có thể xác định được khả năng tiềmtàng, các nguyên nhân về chủ quan và khách quan tác động đến tăng giảm chiphí thực tế so với dự toán, do đó kịp thời khắc phục những yếu điểm, góp phầntiết kiệm chi phí đồng thời giúp kiểm soát chi phí chặt chẽ hơn

+ Kiểm soát chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:

Là chênh lệch giữa chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực tế phát sinh vớichi phí nguyên vật liệu trực tiếp dự toán với khối lượng sản xuất thực tế, đượcphân tích qua biến động mức tiêu hao nguyên vật liệu và biến động giá Chiphí vật liệu trực tiếp chịu ảnh hưởng bởi hai nhân tố là lượng vật liệu sử dụng(gọi tắt là nhân tố lượng) và chi phí đơn vị vật liệu (gọi tắt là nhân tố giá)

Hình 1.1: Phân tích chi phí vật liệu trực tiếp

Trang 34

Việc tìm ra nguyên nhân dẫn đến các chênh lệch có ý nghĩa quan trọngtrong quản lý Khi đã xác định được nguyên nhân dẫn đến các chênh lệch, đặcbiệt là các chênh lệch bất lợi, sẽ xác định được người chịu trách nhiệm, từ đó,

sẽ có các giải pháp quản lý thích hợp để kiểm soát tốt hơn hơn cho các kỳ sau

* Biến động về giá nguyên vật liệu:

Xét trên phương diện các trung tâm trách nhiệm thì biến động về giágắn liền với trách nhiệm của bộ phận cung ứng vật liệu Khi kiểm soát biếnđộng về giá, cần quan tâm đến các nguyên nhân do biến động của giá vật liệutrên thị trường, chi phí thu mua, chất lượng nguyên vật liệu, thuế và cả cácphương pháp tính giá nguyên vật liệu (nếu có)

* Biến động lượng tiêu hao nguyên vật liệu trực tiếp:

Nhân tố biến động về lượng sử dụng thường do nhiều nguyên nhân, gắnliền với trách nhiệm của bộ phận sử dụng vật liệu (phân xưởng, tổ, đội…) Đó

có thể là do khâu tổ chức sản xuất, mức độ hiện đại của công nghệ, trình độcông nhân trong sản xuất Ngay cả chất lượng nguyên vật liệu mua vàokhông tốt dẫn đến phế liệu hoặc sản phẩm hỏng nhiều làm cho lượng tiêu haonhiều Khi tìm hiểu nguyên nhân của biến độngvề lượng cũng cần xem đếncác nguyên nhân khách quan, như: thiên tai, hỏa hoạn, mất điện…

+ Kiểm soát chi phí nhân công trực tiếp: Là chênh lệch giữa chi phí nhâncông trực tiếp thực tế phát sinh với chi phí nhân công dự toán cho khối lượngsản xuất thực tế, được phân tích qua biến động giá nhân công và biến độngthời gian lao động

Chi phí nhân công trực tiếp cũng chịu ảnh hưởng bởi hai nhân tố là lượng laođộng sử dụng (gọi tắt là nhân tố lượng) và đơn giá lao động (gọi tắt là nhân tốgiá) Nguyên nhân của chênh lệch lượng lao động thường bao gồm:Tay nghềcông nhân; Chất lượng vật liệu; Máy móc thiết bị; …

Trang 35

Nguyên nhân chênh lệch giá lao động thường bao gồm:Tay nghề công

nhân; Hợp đồng lao động;

Các chênh lệch lao động có thể được kiểm soát một phần bởi các nhà

quản trị sản xuất

* Biến động giá nhân công: Là chênh lệch giữa thực tế và dự toán giá

nhân công tính theo giờ lao động thực tế sử dụng

Biến động về giá(Biến động đơn giátiền lương)Nhân tố này phản ánh sự thay đổi về giá của giờ công lao động để sản

xuất sản phẩm ảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp

Biến động về giá thường do các nguyên nhân gắn liền với việc trả công

lao động như chế độ lương, tình hình thị trường cung cầu lao động, chính sách

của nhà nước v.v Nếu ảnh hưởng tăng (giảm) giá là thể hiện sự lãng phí

hoặc tiết kiệm chi phí nhân công trực tiếp, thì việc kiểm soát chi phí nhân

công còn cho phép ta làm rõ bộ phận chịu trách nhiệm, làm ảnh hưởng đến

công tác quản lý chi phí và giá thành Nhân tố giá tăng hay giảm được đánh

giá là tốt hay không tốt phải căn cứ vào chất lượng công nhân tức trình độ và

năng lực làm việc của công nhân Nếu giá giảm so với dự toán nhưng chất

lượng vẫn đảm bảo thì sự biến động đó là tốt và ngược lại

* Biến động lượng: Là chênh lệch giữa số giờ lao động trực tiếp thực tế

với dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định

Biến động

(Biến động

suất lao động)

Trang 36

Nhân tố này phản ánh sự thay đổi về số giờ công để sản xuất sản phẩmảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp hay gọi là nhân tố năng suất Ảnhhưởng của nhân tố lượng thể hiện như sau:

Nhân tố thời gian lao động do nhiều nguyên nhân: có thể là trình độ vànăng lực của người lao động thay đổi, do điều kiện trang bị máy móc thiết bị,chính sách lượng của doanh nghiệp Biến động do nhiều nguyên nhân khácnhau tác động đến chi phí sản xuất có thể do chính quá trình sản xuất củadoanh nghiệp hoặc vì biến động của các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp Việcphân tích biến động chi phí sản xuất theo các khoản mục và theo nhân tố giá,nhân tố lượng giúp người quản lý phát hiện, xem xét các yếu tố đã gây ra biếnđộng nhằm đưa ra biện pháp đúng đắn và kịp thời để chấn chỉnh hoặc pháthuy các nhân tố đó theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp

+ Kiểm soát chi phí sản xuất chung:

* Kiểm soát biến động biến phí sản xuất chung: Biến phí sản xuất chunggồm những chi phí gián tiếp liên quan đến phục vụ và quản lý hoạt động sảnxuất Chi phí này thường thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt độngsản xuất của doanh nghiệp

Biến động của biến phí sản xuất chung do nhiều nguyên nhân, nhưng vềphương pháp phân tích trong kiểm tra, nó cũng được phân tích thành ảnhhưởng của nhân tố giá và nhân tố lượng như đối với chi phí nguyên vật liệutrực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp Ảnh hưởng của nhân tố giá đến biếnphí sản xuất chung thường do sự thay đổi của các mức chi phí được xem làbiến phí sản xuất chung Các mức này thay đổi thường do nhiều nguyên nhânnhư: đơn giá mua vật tư gián tiếp cũng như các chi phí thu mua thay đổi, sựbiến động giá cả chung của thị trường, nhà nước thay đổi mức lương,…Nếubiến phí sản xuất chung được xây dựng chung cho nhiều yếu tố chi phí theomức hoạt động thì ảnh hưởng của nhân tố giá được xác định:

Trang 37

biến đổi

Biến

CPSXC biến đổi

-Kiểm soát biến động định phí sản xuất chung:

Định phí sản xuất chung là các khoản chi phí phục vụ và quản lý sảnxuất, thường không thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt động trongphạm vi phù hợp Biến động định phí sản xuất chung thường liên quan đếnviệc thay đổi cấu trúc sản xuất của doanh nghiệp hoặc do hiệu quả sử dụngnăng lực sản xuất của doanh nghiệp Kiểm soát định phí sản xuất chungnhằm đánh giá việc sử dụng năng lực tài sản cố định Khi phân tích định phísản xuất chung, người ta cần xem xét định phí tùy ý, định phí bắt buộc cũngnhư định phí kiểm soát được với định phí không kiểm soát được để xác địnhnguyên nhân, trách nhiệm cụ thể các bộ phận

lượng CPSXC =

- Phân tích chi phí sản xuất để ra quyết định kinh doanh

* Phân tích chi phí cho việc ra quyết định ngắn hạn:

Các quyết định ngắn hạn của nhà quản trị doanh nghiệp thường baogồm nội dung: Chấp nhận hay từ chối một đơn đặt hàng đặc biệt (với giágiảm); Tự sản xuất hay mua ngoài một chi tiết sản phẩm từ bên ngoài; Ngừng

Trang 39

hay tiếp tục sản xuất một mặt hàng nào đó; Nên bán ngay dưới dạng bánthành phẩm hay tiếp tục chế biến ra thành phẩm rồi mới bán?;Quyết định sảnxuất trong điều kiện năng lực giới hạn

Quá trình phân tích các thông tin thích hợp gồm các bước sau:

- Bước 1: Tập hợp tất cả các thông tin liên quan đến các phương án cần xem xét.

- Bước 2: Nhận diện và loại trừ các thông tin không thích hợp, bao gồm các chi phí lặn và các khoản thu nhập, chi phí như nhau giữa các phương án

- Bước 3: Phân tích các thông tin còn lại (thông tin thích hợp hay khác biệt để ra quyết định)

Các thông tin không thích hợp với việc ra quyết định ngắn hạn bao gồm:

- Chi phí chìm (chi phí lặn) là loại chi phí không thể thay đổi được dù chọn phương án nào Chúng không phải là chi phí thích hợp vì không có tính chênh lệch.

- Các thu nhập và chi phí như nhau không phải là thông tin thích hợp đốivới việc ra quyết định ngắn hạn Các khoản thu nhập và chi phí như nhau khôngtạo ra sự chênh lệch nên không cần quan tâm xem xét đến khi lựa chọn phương

án Chúng được coi là thông tin không thích hợp cho việc ra quyết định

Tóm lại trong nền kinh tế thị trường việc đề ra các quyết định nhanhchóng và chính xác có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh lợi của doanhnghiệp Do đó phân tích thông tin thích hợp là một công cụ tốt nhất nhằmhướng dẫn các nhà quản trị thực hiện chức năng quyết định

+ Phân tích chi phí cho việc ra quyết định dài hạn:

Ra quyết định là một chức năng cơ bản của người quản lý, đồng thờicũng là nhiệm vụ phức tạp và khó khăn nhất của họ.Trong quá trình điều hànhhoạt động kinh doanh, người quản lý luôn phải đối diện với việc phải đưa racác quyết định ở nhiều dạng khác nhau Tính phức tạp càng tăng thêm khi màmỗi một tình huống phát sinh đều tồn tại không chỉ một hoặc hai mà nhiềuphương án liên quan khác nhau đòi hỏi người quản lý phải giải quyết

Trang 40

Quyết định đầu tư dài hạn (còn gọi là quyết định đầu tư vốn )là cácquyết định liên quan đến việc đầu tư vốn vào các loại tài sản dài hạn nhằmhình thành hoặc mở rộng cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động lâu dài củadoanh nghiệp.Các phương án (dự án) liên quan đến quyết định đầu tư thườnggồm 2 loại:

* Dự án loại bỏ lẫn nhau (còn gọi là dự án xung khắc hoặc dự án sànglọc) là loại dự án mà trong một quyết định chỉ được quyền chọn 1 dự án còncác dự án khác bị loại bỏ Như vậy nếu chấp nhận dự án này thì buộc phải từchối các dự án khác

* Dự án độc lập (hay còn gọi là dự án tối ưu) là các dự án mà khi thựchiện chúng không ảnh hưởng gì đến dự án khác, nó có thể quyết định chọn chúngcùng lúc nếu chúng đều hiệu quả và doanh nghiệp có đủ điều kiện đầu tư

Các quyết định này có ảnh hưởng lớn đến qui mô cũng như đặc điểmhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời đòi hỏi lượng vốn đầu tưlớn, thời gian thu hồi vốn đầu tư và sinh lợi phải trải qua nhiều năm nên phảiđối diện với vô số điều không chắc chắn, khó dự đoán và độ rủi ro cao Dovậy, các quyết định dài hạn đòi hỏi người ra quyết định sự cẩn trọng, sự hiểubiết căn bản về vốn đầu tư dài hạn cũng như kỹ năng sử dụng các phươngpháp tính toán đặc thù liên quan đến nó làm cơ sở cho việc ra quyết định Cóhai phương pháp thường được sử dụng để thực hiện vấn đề này: phương pháphiện giá thuần và phương pháp tỉ lệ sinh lời điều chỉnh theo thời gian Ngoài

ra, nhà quản trị có thể sử dụng các phương pháp khác như phương pháp kỳhoàn vốn, phương pháp tỷ lệ sinh lời giản đơn Quyết định về vốn đầu tư dàihạn thường là các quyết định phức tạp, nhiều phương pháp xem xét vốn đầu

tư được xây dựng nhằm tăng cường khả năng lựa chọn của nhà quản trị

Ngày đăng: 18/11/2021, 15:56

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w