Do vậy, để phát triển cùng với sựcạnh tranh của nền kinh tế thị trường thì trước hết các đơn vị sự nghiệp phảihiểu thấu đáo các quy luật kinh tế, phải biết sử dụng tốt nhất các nguồn lực
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
NGUYỄN THỊ THU VÂN
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN
DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI ĐƠN VỊ SỰ
NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành : Kế toán
Người hướng dẫn: TS ĐỖ HUYỀN TRANG
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của TS Đỗ Huyền Trang Các nội dung nghiên cứu, kết quả
trong đề tài này là trung thực và chưa công bố bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo.
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
về nội dung luận văn của mình.
Bình Định, ngày tháng năm 2019 Tác giả luận văn
Trang 3Lời đầu tiên cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến
TS Đỗ Huyền Trang - người hướng dẫn khoa học cho tôi, đã định hướng đề tài,
trực tiếp hướng dẫn và có những góp ý quý báu giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy, Cô của Trường Đại học Quy Nhơn đã giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý giá làm nền tảng để thực hiện Luận văn này.
Đồng thời, Tôi xin chân thành Cảm ơn Quý Thầy, Cô phòng Sau đại học Trường Đại học Quy Nhơn đã nhiệt tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành các thủ tục liên quan đến luận văn tốt nghiệp.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các anh, chị và các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp các tài liệu, thảo luận giúp tôi hoàn thiện các thang đo, phiếu khảo sát và dành thời gian để tham gia và trả lời phiếu khảo sát.
Sau cùng, Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và tạo chỗ dựa vững chắc cho tôi trong suốt quá trình học và có được kết quả nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn.
Bình Định, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế mở cửa và hội nhập, các tổ chức tại Việt Nam cần có sựchuẩn bị về nhiều mặt vốn, công nghệ, thiết bị và quản trị tổ chức Để quản trịhiệu quả, các tổ chức cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin hỗ trợquản trị nói chung và thông tin kế toán quản trị nói riêng để cung cấp thôngtin kịp thời phục vụ cho công tác quản trị và ra quyết định Kế toán quản trị làmột bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác kế toán, hệ thống thông tincủa một tổ chức Các nhà quản lý dựa vào thông tin kế toán quản trị để hoạchđịnh và kiểm soát hoạt động của tổ chức Kế toán quản trị được xem là quátrình cung cấp cho các nhà quản lý và người lao động trong một tổ chức vớicác thông tin có liên quan, cả về tài chính và phi tài chính; đưa ra quyết định,phân bổ nguồn lực và giám sát, đánh giá và khen thưởng việc thực hiện
Trong bối cảnh đó, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sáchmới đối với hoạt động của các đơn vị sự nghiệp (đơn vị sự nghiệp công lập)nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn ngân sách nhà nước, tạo hành langpháp lý cho các đơn vị sự nghiệp phát huy quyền tự chủ để phát triển đơn vị
và giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước Tự chủ tài chính là xu thếtất yếu của xã hội phát triển và các đơn vị sự nghiệp có thu buộc phải thíchnghi Trong môi trường mới này, các đơn vị sự nghiệp có thu sẽ có nhiều cơhội để tự khẳng định mình nhưng cũng phải chịu không ít áp lực cạnh tranhvốn có của kinh tế thị trường Với sự phát triển không ngừng của nền kinh tếthì các đơn vị hành chính sự nghiệp dưới sự quản lý của nhà nước cũng từngbước đổi mới cách thức quản lý hoạt động của mình theo xu hướng từng bướcnâng cao tính tự chủ về tài chính Việc quản lý tài chính ở các đơn vị sựnghiệp công lập cũng nằm trong quá trình đó Tuy nhiên, để làm được điềunày, các nhà lãnh đạo đơn vị phải sử dụng nguồn nhân lực, nguồn tài chính
Trang 5của đơn vị cho hợp lý, hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu, điều này phụ thuộcrất nhiều vào thông tin do kế toán cung cấp Vì vậy, việc sử dụng hệ thống kếtoán quản trị không những đóng vai trò quan trọng trong doanh nghiệp màcòn trong các đơn vị sự nghiệp kế toán quản trị được thực hiện trong các đơn
vị sự nghiệp vừa có tính chất quản lý vừa có tính chuyên môn học thuật,nhằm hỗ trợ cho nhu cầu thông tin, cho việc lập kế hoạch và trách nhiệm raquyết định ở các cấp quản lý trong phạm vi nội bộ đơn vị sự nghiệp, do tácđộng của cơ chế bao cấp trong một thời gian dài nên công tác kế toán ở cácđơn vị sự nghiệp mới chỉ dừng lại ở việc phản ánh các khoản mục thu - chitheo hệ thống tài khoản và mục lục ngân sách nhà nước Việc tổ chức, vậnhành công tác kế toán quản trị chưa mang tính hệ thống và khoa học ở cácđơn vị sự nghiệp đã gây khó khăn cho các nhà quản lý trong việc lập kếhoạch, điều hành kiểm soát các hoạt động Do vậy, để phát triển cùng với sựcạnh tranh của nền kinh tế thị trường thì trước hết các đơn vị sự nghiệp phảihiểu thấu đáo các quy luật kinh tế, phải biết sử dụng tốt nhất các nguồn lựcsẵn có của mình, phải biết nắm bắt những cơ hội… các đơn vị sự nghiệp phải
có thông tin hữu ích liên quan đến thông tin bên trong và bên ngoài tổ chức.Việc vận dụng kế toán quản trị vào công tác quản lý tổ chức trên địa bàn tỉnhBình Định chịu sự tác động của nhiều nhân tố Do vậy, việc nghiên cứu nhậndiện và lượng hóa mức độ tác động của từng nhân tố đến việc vận dụng kếtoán quản trị tại đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định là chủ đề quantrọng và cấp thiết
Nhận thức được vấn đề này, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Các
nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị tại đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định” làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn góp
phần quản lý tài chính hiệu quả hơn trong bối cảnh hiện nay
Trang 62 Tổng quan các đề tài nghiên cứu
2 1 Nghiên cứu trong nước
Nhận thức được tầm quan trọng của việc vận dụng KTQT, các nhànghiên cứu trong nước cũng có các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnhhưởng đến vận dụng KTQT vào các doanh nghiệpở nhiều lĩnh vực, ngànhhàng khác nhau Sau đây, tác giả tổng hợp một số các nghiên cứu có liênquan đến việc vận dụng KTQT cập nhật theo thứ tự thời gian
(1) Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) về các nhân tố ảnhhưởng đến việc vận dung KTQT chiến lược trong các doanh nghiệpViệt Nam.Nghiên cứu được thực hiện đối với người phụ trách công tác kế toán
trong các doanh nghiệp vừa và lớn; việc khảo sát được tiến hành tại 3 thànhphố lớn, đại diện cho trung tâm kinh tế của Việt Nam là: Hà Nội, TP.HCM và
Đà Nẵng Nghiên cứu đã sử dụng mô hình cấu trúc SEM để tiến hành phântích các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT chiến lược và thànhquả Kết quả từ nghiên cứu này cho thấy nhân tố cạnh tranh và phân cấp quản
lý có tác động mạnh đến việc vận dụng các công cụ KTQTCL Cụ thể, khiyếu tố cạnh tranh càng cao, các doanh nghiệp có xu hướng sử dụng càngnhiều các công cụ KTQTCL và khi phân cấp quản lý càng lớn cũng thúc đẩycác doanh nghiệp sử dụng nhiều KTQTCL Kết quả nghiên cứu này còn chỉ
ra rằng khi doanh nghiệp sử dụng càng nhiều KTQTCL thì thành quả củadoanh nghiệp (cả ở góc độ tài chính và phi tài chính) đạt được càng lớn Vìthế, nhà quản trị doanh nghiệp cần đẩy mạnh việc phân cấp quản lý, tạo điềukiện cho các công cụ KTQTCL được sử dụng rộng rãi, đồng thời cần khuyếnkhích đơn vị mình sử dụng KTQTCL nhiều hơn sẽ góp phần nâng cao thànhquả hoạt động của doanh nghiệp Ở góc độ vĩ mô, cần có những chính sáchphù hợp chỉ ra những ưu điểm của việc vận dụng các công cụ KTQTCL, từ
đó khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng KTQTCL, góp phần tăng nănglực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam, cũng như thúc đẩy sự phát
Trang 7triển của KTQT nói chung và KTQTCL nói riêng ở Việt Nam Để thực hiệnđiều này, cần chú ý đến vai trò của hiệp hội nghề nghiệp, cũng như cáctrường đại học, các trung tâm đào tạo trong việc giới thiệu, phổ biến, hướngdẫn việc vận dụng các công cụ KTQTCL đến với doanh nghiệp, thông quacác khóa học chính khóa hay bồi dưỡng kiến thức về KTQTCL;
(2) Nghiên cứu của Trần Ngọc Hùng (2016) về “Các yếu tố tác động đếnviệc vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam” đã đónggóp khoa học một số điểm cơ bản như sau: Một là, thông qua việc tổng hợp thựctiễn vận dụng KTQT trong các DNNVV tại một số quốc gia và khu vực, rút rađược những bài học kinh nghiệm cho việc vận dụng KTQT trong các DNNVV tạiViệt Nam Hai là, thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất các giải phápđồng bộ để góp phần làm gia tăng tính khả thi của việc vận dụng KTQT trong cácDNNVV tại Việt Nam Ba là, kết quả nghiên cứu này cũng góp phần làm tài liệutham khảo cần thiết và bổ ích cho các nghiên cứu khoa học liên quan khác cũngnhư áp dụng trong thời gian tới tại những cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở ViệtNam
Bằng phương pháp hỗn hợp kết hợp nghiên cứu định tính (như phươngpháp hỏi ý kiến chuyên gia) và định lượng (như phương pháp kiểm định trungbình mẫu độc lập và chi bình phương, phân tích hồi quy đa biến, phân tíchnhân tố khám phá), tác giả đã xác định được các nhóm nhân tố bao gồm: mức
độ sở hữu của nhà nước, mức độ cạnh tranh của thị trường, văn hoá doanhnghiệp, nhận thức của người chủ/điều hành doanh nghiệp, quy mô doanhnghiệp, chi phí cho việc tổ chức KTQT và chiến lược doanh nghiệp lần lượttác động đến việc vận dụng KTQT trong DNNVV Việt Nam theo mức tácđộng từ cao xuống thấp Từ đó, tác giả đưa ra các kết luận và kiến nghị nhằmnâng cao tính khả thi khi vận dụng KTQT vào các DNNVV Việt Nam
(3) Nghiên cứu của Nguyễn Minh Thành (2017) về “Yếu tố ảnh hưởngđến KTQT tại doanh nghiệpsản xuất và kinh doanh điện Theo Nguyễn Minh
Trang 8Thành (2017), trong bối cảnh thị trường phát điện cạnh tranh hiện nay, việc
áp dụng KTQT cũng như bộ máy kế toán của các doanh nghiệpsản xuất kinhdoanh điện có nhiều điểm khác biệt đối với các ngành sản xuất thông thườngkhác Nghiên cứu đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nội dung KTQTthông qua các đặc điểm bên trong và bên ngoài doanh nghiệpsản xuất, kinhdoanh điện tại Việt Nam Theo đó, quy trình sản xuất kinh doanh điện; sảnphẩm điện; doanh thu; chi phí; mục tiêu phát triển doanh nghiệpcủa chủ sởhữu; trình độ của nhà quản trị doanh nghiệp; trình độ của người làm KTQT
và ứng dụng công nghệ thông tin là những yếu tố bên trong ảnh hưởng tới nộidung KTQT tại các doanh nghiệp điện Ảnh hưởng của đặc điểm môi trườngbên ngoài tác động đến KTQT tại các doanh nghiệp điện như: sự phát triểncủa ngành điện; mức độ cạnh tranh trong ngành điện Việc áp dụng nội dungKTQT tại mỗi doanh nghiệp nói chung hay doanh nghiệp sản xuất kinh doanhđiện nói riêng đều phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố bên trong và bên ngoàidoanh nghiệp Do vậy, khi nghiên cứu áp dụng nội dung KTQT tại các doanhnghiệp cần phải xem xét đầy đủ các yếu tố này, như vậy hệ thống KTQT nóichung hay các nội dung KTQT nói riêng tại mỗi doanh nghiệp mới có thểđem lại hiệu quả cao nhất, đáp ứng được nhu cầu thông tin của nhà quản trịcũng như đảm bảo thực hiện được các mục tiêu do chủ sở hữu doanhnghiệpđặt ra
(4) Trần Thị Yến (2017) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc vậndụng KTQT trong các doanh nghiệp tại tỉnh Bình Định Từ đó, đưa ra một sốgiải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý cho các doanh nghiệp trênđịa bàn tỉnh Bình Định Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát đối với giám đốc,
kế toán trưởng, kế toán viên, chuyên viên KTQT và những người tham giaKTQT của doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Bình Định Kết quảnghiên cứu cho thấy khả năng vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp trênđịa bàn tỉnh Bình Định chịu ảnh hưởng của 3 nhân tố, cụ thể: Quy mô
Trang 9doanh nghiệp, Trình độ nhân viên kế toán trong doanh nghiệp, Mức độ cạnhtranh của thị trường Cả 03 yếu tố này đều tác động tích cực đến việc vậndụng KTQT trong các doanh nghiệp tại tỉnh Bình Định Qua việc nghiên cứucác nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp trênđịa bàn tỉnh Bình Định, nghiên cứu đã đưa ra một số kiến nghị cho việc ápdụng KTQT vào điều hành doanh nghiệp, góp phần quan trọng trong vấn đề
hỗ trợ thông tin cho nhà quản lý
(5) Nghiên cứu của Thái Anh Tuấn (2018) đã phân tích một số nhân tốảnh hưởng đến áp dụng KTQT trong các doanh nghiệp Theo Thái Anh Tuấn(2018), trong môi trường cạnh tranh, KTQT ngày càng thể hiện vai trò quan trọngtrong việc hỗ trợ các nhà quản trị ra các quyết định hiệu quả Tăng cường hệ thốngKTQT trong các doanh nghiệp nhằm hỗ trợ thông tin cho các nhà quản trị ra cácquyết định là điều kiện cần thiết để sử dụng hiệu quả các nguồn lực, từ đó nângcao vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp Do vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởngcủa các yếu tố đến việc áp dụng KTQT trong các doanh nghiệp để có các chínhsách tác động phù hợp giúp cho hệ thống
KTQT trong các doanh nghiệp được hoàn thiện trở thành yêu cầu và nhiệm
vụ cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ vàảnh hưởng của một số yếu tố đến việc áp dụng KTQT trong các doanhnghiệp, bao gồm: Áp lực cạnh tranh; Sự phân quyền; Quy mô doanh nghiệp;
Tỷ lệ sở hữu của các thành viên chuyên nghiệp; Công nghệ thông tin; Côngnghệ sản xuất; Sự quan tâm của nhà quản trị đến KTQT; Trình độ nhân viênKTQT
(6) Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Nhân và cộng sự (2019) về các nhân tốtác động đến việc áp dụng KTQT trong các doanh nghiệp ngành xây dựng trên địabàn tỉnh Tiền Giang Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các Nhà quản lý/điềuhành, Giám đốc tài chính hoặc các trưởng phòng ban, Kế toán trưởng và kế toántổng hợp, chuyên viên KTQT và những người tham gia
Trang 10trực tiếp trong công tác KTQT của các doanh nghiệp xây dựng doanh nghiệpNXD tỉnh Tiền Giang Kết quả nghiên cứu cho thấy có 7 nhân tố tác độngcùng chiều với mức độ tác động sắp xếp theo trình tự giảm dần là Nhận thức
về KTQT của người điều hành; Chi phí tổ chức; Trình độ của nhân viên kếtoán; Quy mô doanh nghiệp; Mức độ cạnh tranh; Chiến lược kinh doanh vàcuối cùng là Tính vừa đúng lúc (Just-InTime - JIT) Kết quả nghiên cứu đãxác định được các yếu tố tác động đến áp dụng KTQT của các doanh nghiệptỉnh Tiền Giang với mức độ giải thích của mô hình hồi quy là 53.1% Từ kếtquả nghiên cứu, để có thể triển khai việc áp dụng KTQT nhằm tăng cườngkhả năng cung cấp thông tin để ra quyết định, các tác giả đề xuất các doanhnghiệptỉnh Tiền Giang cần tập trung tăng cường nhận thức cho nhà quản trị
về vai trò và vị trí cũng như tầm quan trọng của KTQT trong doanh nghiệp;xây dựng kế hoạch kinh phí để triển khai và vận hành KTQT; nâng cao trình
độ nhân viên kế toán để đảm bảo được sự vận hành tốt nhất của hệ thốngKTQT
Có thế thấy rằng, tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về vai trò củaviệc vận dụng KTQT vào các doanh nghiệp và các nhân tố tác động đến việcvận dụng KTQT trong các doanh nghiệp bằng nhiều phương pháp nghiên cứukhác nhau (định tính, định lượng, định tính kết hợp định lượng); trong nhiềulĩnh vực nghiên cứu khác nhau (ngành xây dựng, ngành điện,…); quy môdoanh nghiệp khác nhau (DNNVV, doanh nghiệp lớn,…); phạm vi nghiêncứu tại các địa phương khác nhau đã xây dựng nên lượng thông tin đáng kểlàm nền tảng ứng dụng cho đội ngũ quản trị doanh nghiệp Tuy nhiên cho đếnnay, tại Việt Nam các nghiên cứu về phân tích các nhân tố tác động đến việcvận dụng KTQT trong doanh nghiệp chủ yếu là các nghiên cứu định tính,chưa có nhiều nghiên cứu định lượng dẫn đến những đề xuất về hàm ý quảntrị hay giải pháp còn mơ hồ, thiếu tính xác thực và khó ứng dụng
Trang 112.2 Nghiên cứu nước ngoài
Không chỉ ở trong nước, các nghiên cứu nước ngoài về các nhân tố ảnhhưởng đến vận dụng KTQT vào các doanh nghiệp cũng được thực hiện ởnhiều quốc gia, trong nhiều lĩnh vực khác nhau.Tác giả tổng hợp một số cácnghiên cứu có liên quan đếnviệc vận dụng KTQT trong thời gian gần đây,được đăng tải trên các tạp chí quốc tế:
(1) Nghiên cứu của Ahmad (2012) về thực trạng vận dụng KTQT ở cácdoanh nghiệp tại Malaysia đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về việc áp dụngmột loạt các hoạt động KTQT trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) củaMalaysia trong lĩnh vực sản xuất với dữ liệu được thu thập từ một cuộc khảo sátđối với 160 kế toán viên Kết quả chỉ ra rằng các công cụ kế toán truyền thống nhưngân sách thông thường, chi phí truyền thống và
các biện pháp hiệu quả tài chính được sử dụng rộng rãi bởi người trả lời Kếtquả cũng cho thấy một số lượng đáng kể người được hỏi đã áp dụng mộthoặc nhiều biện pháp cả tài chính và phi tài chính nhưng sự phụ thuộc vàocác biện pháp tài chính lớn hơn so với các biện pháp phi tài chính
(2) Nghiên cứu của Eman Al Hawari và Mahmoud Nassar (2017) về cácyếu tố ảnh hưởng đến vận dụng KTQT ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Jordan.Mục đích của nghiên cứu này là xác định ảnh hưởng của một số yếu tố như (Quy
mô của doanh nghiệp, tuổi của doanh nghiệp và mức độ cạnh tranh) trong việc vậndụng các thực tiễn khác nhau của KTQT ở quy mô doanh nghiệpvừa và nhỏ Đểđạt được các mục tiêu này, một bảng câu hỏi được thiết kế để thu thập dữ liệu, cácbảng câu hỏi được phân phối cho các kế toán viên và quản lý tài chính của doanhnghiệp vừa và nhỏ ở Jordan Mẫu nghiên cứu bao gồm 100 nhà quản lý tài chính
và kế toán viên được chọn theo phương pháp mẫu ngẫu nhiên Kết quả của nghiêncứu cho thấy các yếu tố Quy mô doanh nghiệp, Tuổi doanh nghiệp và Mức độcạnh tranh có tác động tích cực đến việc vận dụng KTQT trong các doanh nghiệpvừa và nhỏ ở
Trang 12Jordan Kết quả nghiên cứu cũng phân tích những khó khăn trong việc áp dụng KTQT của các doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ ở Jordan.
(3) Sudhashini Nair & Yee Soon Nian (2017) trong nghiên cứu về cácyếu tố ảnh hưởng đến vận dụng KTQT tại các doanh nghiệp Malaysia, cho
rằng KTQT là quá trình chuẩn bị các báo cáo và tài khoản quản lý cung cấpchính xác và thông tin kịp thời, tài chính và thống kê để hỗ trợ trong việc raquyết định quản lý Nó còn được gọi là quá trình xác định, đo lường, tích lũy,phân tích, chuẩn bị, giải thích và giao tiếp thông tin để giúp các nhà quản lýhoàn thành các mục tiêu của tổ chức Vận dụng KTQT được sử dụng bởi cácnhà quản lý tổ chức ở nhiều cấp độ khác nhau, đồng thời, nó mang lại cho cácnhà quản lý sự tự do lựa chọn khi có không có ràng buộc nào, ngoài chi phíthông tin được thu thập liên quan đến lợi ích của việc quản lý được cải thiệnquyết định Các nghiên cứu đã tìm thấy rằng có những yếu tố có thể ảnhhưởng đến vận dụng KTQT Mục tiêu của nghiên cứu này là nghiên cứu tácđộng của các yếu tố này đến hoạt động KTQT ở Malaysia Nghiên cứu đã thuthập được 200 mẫu từ các doanh nghiệp ở Malaysia Kết quả nghiên cứu chothấy quy mô tổ chức và công nghệ sản xuất tiên tiến có mối quan hệ với vậndụng KTQT
(4) Nghiên cứu của Tijani Amara và Samira Benelifa (2017) về các yếu
tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến vận dụng KTQT tại các doanh
nghiệp ở Tunisian Tijani Amara và Samira Benelifa (2017) cho rằng hệthống kế toán đóng một vai trò quan trọng trong cơ cấu tổ chức công ty Mụcđích của nghiên cứu này là để chứng minh rằng sự tích hợp của vận dụngKTQT là vấn đề hài hòa giữa các yếu tố bên ngoài và bên trong của các công
ty Nghiên cứu thu thập được 189 phiếu trả lời là các nhân viên kế toán tạicác doanh nghiệp ở Tunisian Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố môi trườngdoanh nghiệp; chiến lược kinh doanh và cấu trúc doanh nghiệp tác động đếnviệc vận dụng KTQT tại các doanh nghiệp
Trang 13(5) Zohre Karimi và cộng sự (2017) trong nghiên cứu về các yếu tố ảnhhưởng đến việc sử dụng KTQT trong các công ty lọc dầu và hóa dầu ở Iran.Nghiên cứu đã thu thập được 186 câu trả lời từ các kế toán viên và quản lý tàichính tại các công ty công ty lọc dầu và hóa dầu ở Iran Bằng việc sử dụng môhình cấu trúc để tiến hành phân tích dữ liệu, kết quả nghiên cứu cho thấy các yếutố: Quan điểm của các nhà quản lý, Môi trường cạnh tranh, Văn hóa xã hội là cácyếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng KTQT trong các công ty.
Từ các công trình nghiên cứu trên thế giới, có thể thấy rằng KTQT đóngmột vai trò ngày càng quan trọng trong công tác kế toán của doanh nghiệp.Ngoài ra, cùng sự gia tăng cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế,ngày càng có nhiều các nghiên cứu thực nghiệm về việc vận dụng KTQTtrong doanh nghiệp ở cả các nước đã và đang phát triển bằng các phươngpháp định tính và định lượng, cung cấp nguồn thông tin đáng tin cậy hỗ trợđắc lực cho công tác quản lý và vận hành doanh nghiệp
Qua tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể thấy tính cấpthiết khi thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc vận dụng KTQTtại các doanh nghiệp tại thị trường Việt Nam, để các tổ chức có thể có đượccác bằng chứng thực nghiệm xác thực, từ đó có các giải pháp tăng tính khảthi của việc vận dụng KTQT
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài thực hiện việc phân tích các yếu tố đến việc vận dụng KTQT tạicác đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định Từ đó, tác giả đưa ra cáchàm ý quản trị nhằm nâng cao nâng cao mức độ vận dụng KTQT tại các đơn
vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định
Cụ thể, đề tài thực hiện những nhiệm vụ như:
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT tại các đơn
vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định;
Trang 14- Đo lường mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định;
- Hàm ý một số chính sách nâng cao mức độ vận dụng KTQT tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định
- Không gian: Các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định
- Thời gian: Dữ liệu sơ cấp do tác giả tiến hành thu thập từ các đơn vị sựnghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định trong năm 2019
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp định tính: Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, đầu tiên tácgiả tham khảo và kế thừa các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đó về cácyếu tố ảnh hưởng kế toán quản trị Tiếp theo, tác giả thực hiện phỏng vấn vớimột số chuyên gia là lãnh đao, kế toán trưởng các đơn vị sự nghiệp và một sốgiảng viên tại các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn để xây dựng vàchuẩn hóa các biến quan sát, các thang đo phù hợp với mục tiêu và đối tượngnghiên cứu
Phương pháp định lượng: Gửi bảng khảo sát trực tiếp đến lãnh đạo, kếtoán trưởng tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định Từ dữ liệu
sơ cấp sử dụng phần mềm SPSS 20.0 tiến hành phân tích: đánh giá độ tin cậycủa thang đo, phân tích nhân tố khám phá, phân tích tương quan và phân tíchhồi quy
Trang 156 Ý nghĩa của đề tài
Luận văn góp phần bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm về đến việcvận dụng KTQT tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định thôngqua xây dựng khung phân tích để xác định các nhân tố tác động Từ đó cungcấp luận cứ khoa học cho các gợi ý chính sách nhằm gia tăng kết quả vậndụng kế toán quản trị, đồng thời tạo nền tảng để các đơn vị sự nghiệp và các
cơ quan ban ngành liên quan có các giải pháp nâng cao mức độ vận dụng kếtoán quản trị
7 Cấu trúc đề tài
Đề tài được chia thành 4 chương chính
Chương 1: Cơ sở lý thuyết nnagg
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Kết luận và hàm ý chính sách
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Trong chương này tác giả sẽ trình bày tổng quan các lý thuyết về KTQT;các lý thuyết nền liên quan đến nội dung nghiên cứu và mối quan hệ giữa các
lý thuyết này với nội dung nghiên cứu của luận văn
1.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm về đơn vị sự nghiệp
Là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổchức chính trị - xã hội Thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cáchpháp nhân Cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước (Khoản 1 Điều
9 Luật Viên chức)
Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị thuộc sở hữu nhà nước.Được nhà nước cấp kinh phí khi mới thành lập, lãnh đạo của các đơn vị này
do cơ quan chức năng của nhà nước bổ nhiệm hoặc bãi miễn
Đơn vị sự nghiệp công lập gồm:
- Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thựchiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệpcông lập được giao quyền tự chủ)
- Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự
Ví dự như: Trường Cao đẳng kỹ thuật công nghệ Quy Nhơn là đơn vịthuộc Bộ Lao động thương binh và xã hội là đơn vị sự nghiệp công lập,
trường Trung học cơ sở Lê Hồng Phong Quy Nhơn trực thuộc Phòng Giáodục và Đào tạo tỉnh Bình Định Bệnh viện đa khoa thành phố Quy Nhơn trựcthuộc Sở Y tế Thành phố Quy Nhơn…Các đơn vị nghiên cứu, sự nghiệp(nghiên cứu khoa học kỹ thuật và giáo dục (bệnh viện, trường, viện nghiên
Trang 17cứu)… Đối với các cơ quan quản lý các ngành sự nghiệp, những tổ chức này
là những đơn vị cơ bản thực hiện nhiệm vụ của ngành…
1.1.2 Tiêu chí mức độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp
Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định
cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập đã chia đơn vị sự nghiệp cônglập thành 4 loại:
- Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư;
- Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên;
- Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên;
- Đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên
Luật Viên chức năm 2010 quy định 2 loại đơn vị sự nghiệp công lậpgồm:
Đơn vị được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tàichính, tổ chức bộ máy, nhân sự Và đơn vị chưa được giao quyền tự chủ hoàntoàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự Tiêu chí phânloại này không chỉ dựa trên khả năng tự chủ tài chính Mà còn phụ thuộc vàomức độ tự chủ nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và nhân sự
Xét dưới góc độ vị trí pháp lý, đơn vị sự nghiệp công lập có thể chiathành 5 loại sau:
- Đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ;
- Đơn vị thuộc Tổng cục, Cục;
- Đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
- Đơn vị thuộc cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
- Đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện
Trong đó, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ baogồm: Các đơn vị sự nghiệp công lập được quy định tại nghị định quy địnhchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn Và cơ cấu tổ chức của từng Bộ, cơ quanngang Bộ (các đơn vị nghiên cứu chiến lược, chính sách về ngành, lĩnh vực;
Trang 18báo; tạp chí Trung tâm thông tin hoặc tin học Trường hoặc trung tâm đàotạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; học viện) Và các đơn vị sựnghiệp công lập trong danh sách ban hành kèm theo quyết định của Thủ tướngChính phủ.
1.2 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Kế toán quản trị
KTQT ra đời và phát triển trên thế giới có thể đánh dấu từ đầu thế kỷ thứ 19, và cơ bản có thể chia làm 4 giai đoạn như sau [11]:
- Giai đoạn trước những năm 1950: KTQT ở giai đoạn này là xác địnhchi phí và kiểm soát tài chính Các kĩ thuật kế toán được sử dụng là dự toán và kếtoán chi phí Tuy nhiên, hoạt động KTQT mới dừng lại ở mức độ hoạt độngchuyên môn thuần túy mang tính nghiệp vụ, kĩ thuật
- Giai đoạn từ sau năm 1950 đến đầu năm 1965: trọng tâm của KTQT làlợi nhuận KTQT lúc này phải cung cấp thông tin cho các nhà quản trị thực hiệnchức năng hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức Về mặt kĩ thuật,KTQT đi sâu vào việc phân tích các quyết định; thiết kế và vận hành hệ thống kếtoán trách nhiệm nhằm thu thập, xử lý và cung cấp những thông tin cần thiết choviệc đánh giá trách nhiệm quản lý của các nhà quản trị các cấp trong những tổchức có phân cấp trong quản lý
- Giai đoạn từ sau năm 1965 đến 1985: KTQT tập trung cắt giảm hao phínguồn lực thông qua chiến lược quản trị chi phí Kĩ thuật kế toán được phát triểngiai đoạn này là phân tích các quá trình và quản lý chi phí Hoạt động KTQT giaiđoạn này là hoạt động theo nhóm
- Giai đoạn từ 1995 đến nay: quản trị nguồn lực và tạo ra giá trị thôngqua việc quản trị nguồn lực chiến lược và sử dụng hiệu quả các nguồn lực Kĩ thuật
kế toán tập trung vào việc phân tích các yếu tố giá trị khách hàng, giá trị cổ đông
và cải cách tổ chức Hoạt động KTQT được xem là một bộ phận của quá trìnhquản trị
Trang 19Bảng 1.1 Các giai đoạn phát triển của kế toán quản trị
Giai đoạn Trọng tâm của Các kĩ thuật Vị trí của KTQT
Trước những Chi phí: xác định Dự toán và kế Hoạt động mang
Lợi nhuận: cung
Phân tích quyết Chức năng thamcấp thông tin cho
hoạch định và
trách nhiệm quản lýkiểm soát
Cắt giảm hao phí:
Phân tích quátiết kiệm chi phí
trình và quản trị
chi phí đươngquản trị chi phí
đạichiến lược
cải cách tổ chứchiệu quả các nguồn
lực
(Nguồn: Trần Ngọc Hùng (2016))
Như vậy, quá trình phát triển của KTQT được ghi nhận theo 4 giai đoạn.Tuy nhiên, việc phân chia như vậy chỉ mang tính tương đối, thực ra, sự pháttriển của KTQT có sự chuyển hóa và hòan thiện dần từ giai đoạn này đến giai
Trang 20đoạn khác Mỗi quá trình của sự phát triển thể hiện sự đáp ứng của kế toánđối với yêu cầu quản trị trong môi trường mới Ngày nay, cùng với sự pháttriển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, KTQT đã không ngừng hòan thiện,phát triển đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc cung cấp thông tin hỗtrợ các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định và trở thành một bộ phậnkhông thể thiếu trong quá trình quản trị hiện đại.
Cũng như theo xu thế phát triển chung, kế toán quản trị vào Việt Namban đầu với hình thái hệ thống lập kế hoạch (dự toán ngân sách) và quản trịchi phí Phương pháp lập kế hoạch đã bắt đầu sơ khai từ sau những năm
1985, tuy nhiên bước đầu còn đơn giản và thiếu chính xác Sau khi kinh tế tưnhân phát triển thì việc lập kế hoạch phục vụ cho nhu cầu hoạch định củadoanh nghiệp mới được phát triển rầm rộ Phương pháp lập kế hoạch ở nhiềudoanh nghiệp cũng khác nhau.Về cơ bản, phương pháp lập kế hoạch đượcphân làm hai cách [11]:
- Thứ nhất: lập kế hoạch dự trên sự tăng trưởng Các doanh nghiệp
thường dựa trên sự phát triển của công ty và các số liệu quá khứ (tốc độ tăngtrưởng của doanh thu, mức độ gia tăng chi phí) và ước lượng kế hoạch thực hiệncho tương lai Phương pháp này thường được vận dụng khá phổ biến hiện nay do
dể thực hiện và ước lượng tương đối chính xác Các doanh nghiệp hoạt động trongkhối sản xuất thường vận dụng theo phương pháp này
- Thứ hai : dựa vào mục tiêu của doanh nghiệp Các doanh nghiệp
thường dựa vào mục tiêu tăng trưởng của mình trong thời gian tới và đề ra kếhoạch hành động sao cho thực hiện được mục tiêu đó Phương pháp lập kế hoạchnày thường được vận dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ
Ngoài ra, rất ít doanh nghiệp chú trong đến việc lập kế hoạch kết hợpgiữa hai phương pháp trên do sự phức tạp trong khâu lượng hoá số liệu kếhoạch và hạ tầng thông tin chưa đáp ứng được
Trang 21Qua quá trình phát triển gần 30 năm, KTQT tại Việt Nam hiện vẫn chỉdừng lại ở khâu lập kế hoạch và quản trị chi phí, chưa tạo ra giá trị tăng thêmcho doanh nghiệp KTQT vẫn bị hiểu sai từ nội dung đến cách thức xây dựngkhiến cho nhiều doanh nghiệp còn lúng túng khi nghiên cứu để áp dụng(Phạm Quang Thịnh, 2018).
1.2.2 Khái niệm về Kế toán quản trị
KTQT là sự kết hợp giữa các phần hành kế toán và hoạt động quản trị,giúp cho doanh nghiệp đưa ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn nhằm đạtmục tiêu chung của doanh nghiệp
KTQT là một bộ phận cấu thành của hệ thống thông tin kế toán nóichung trong các tổ chức.Việc nghiên cứu KTQT được xem xét từ nhiều quanđiểm và góc độ khác nhau
Theo Ronald W.Hilton (2011), kế toán quản trị là một bộ phận của hệthống thông tin quản trị trong một tổ chức mà nhà quản trị dựa vào đó đểhoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chứ Trong khi đó, Ray H.Garrison
và cộng sự (2012) cho rằng: “ Kế toán quản trị có liên hệ với việc cung cấptài liệu cho các nhà quản lý là những người bên trong tổ chức kinh tế và cótrách nhiệm trong việc điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức”[43]:
Theo các giáo sư đại học South Florida là Jack L.Smith, Robert M.Keith và William L.Stephens (1983): “ Kế toán quản trị là một hệ thống kếtoán cung cấp cho các nhà quản trị những thông tin định lượng mà họ cần đểhoạch định và kiểm soát”[36]:
- Theo Thông tư 53/2006/TT-BTC ngày 12/6/2006 của Bộ Tài chínhhướng áp dụng kế toán quản trị doanh nghiệp: “Kế toán quản trị là việc thu thập,
xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị vàquyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”
Trang 22Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm KTQT, song đều có những điểm cơ bản giống nhau:
+ KTQT là một bộ phận cấu thành trong hệ thống kế toán của các tổ chức hoạt động
+ KTQT là công cụ không thể thiếu được trong các doanh nghiệp kinhdoanh theo cơ chế thị trường vì nó là cơ sở khoa học để đưa ra mọi quyết định kinh doanh
+ Thông tin KTQT trong các tổ chức hoạt động giúp cho nhà quản trịthực hiện chức năng quản trị doanh nghiệp: Lập kế hoạch; tổ chức thực hiện; kiểmtra
Như vậy, KTQT là một môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thôngtin định lượng kết hợp với định tính về các hoạt động của một đơn vị cụ thể.Các thông tin đó giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định liên quanđến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thựchiện các hoạt động của đơn vị nhằm tối ưu hóa các mục tiêu; là loại kế toándành cho các nhà quản trị, nó được coi như một hệ thống trợ giúp cho quảntrị, ra quyết dịnh, là phương tiện để thực hiện kiểm soát quản lý trong doanhnghiệp
KTQT gồm có các mục tiêu:
- Cung cấp thông tin cho nhà quản lý để lập kế hoạch và ra quyết định;
- Trợ giúp cho nhà quản lý trong việc điều hành và kiểm soát hoạt động của đơn vị;
- Thúc đẩy các nhà quản lý đạt được mục tiêu đề ra;
- Đo lường hiệu quả hoạt động của các nhà quản lý và các bộ phận, đơn
vị trực thuộc của đơn vị
Trang 231.2.3 Chức năng của Kế toán quản trị
Lập kế hoạch
Đánh giá thực
hiện kế hoạch
Ra quyếtđịnh
Kiểm tra và đánh
giá kết quả thựchiện
Tổ chức thực
hiện
Hình 1.1 Mô hình chức năng của kê toán quản trị
Kế toán quản trị là bộ phận trong hệ thống thông tin của một tổ chức,các nhà quản lý dựa vào thông tin kế toán quản trị để hoạch định và kiểm soáthoạt động của tổ chức, do đó nó có vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạtđộng của đơn vị
Một là, lập kế hoạch: để xây dựng kế hoạch nhà quản trị thường phải dựđoán, phán đoán kết quả của các chỉ tiêu kinh tế sẽ xảy ra dựa trên những cơ
sở khoa học có sẵn Các nhà quản lý luôn có kế hoạch kinh doanh rõ ràng vàođầu các năm tài chính và mục tiêu của họ là đưa công ty cán đích doanh thu
Trang 24Kế hoạch này sẽ gắn liền với mục tiêu ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn Khilên kế hoạch, nhà quản lý cần liên kết tất cả các lực lượng của các bộ phậntrong công ty để hướng tới mục tiêu đã xác định.
Tóm lại, kế hoạch là phương hướng chỉ đạo để các hoạt động kinhdoanh diễn ra một cách bình thường, đồng thời cũng là căn cứ để đánh giácác kết quả của đơn vị
Hai là, tổ chức công tác điều hành: trong việc tổ chức, nhà quản lý sẽquyết định cách liên kết tốt nhất giữa tổ chức, con người với các nguồn lựclại với nhau sao cho kế hoạch được thực hiện có hiệu quả nhất Trong việcđiều hành, các nhà quản lý giám sát hoạt động hàng ngày và giữ cho cả tổchức hoạt động trôi chảy
Đây là chức năng cơ bản của các nhà quản trị Chức năng này nhằmtruyền đạt các chỉ tiêu kế hoạch đã xây dựng cho các bộ phận trong đơn vị.Đồng thời tổ chức hoạt động tại các bộ phận theo như kế hoạch đã phê duyệt.Chức năng này yêu cầu các nhà quản lý phải liên kết các bộ phận với nhau, sửdụng nguồn lao động hợp lý nhằm khai thác tối đa các yếu tố để đạt được cácmục tiêu đã dự định Chức năng này yêu cầu các nhà quản trị phải sử dụngtổng hợp các thông tin của nhiều bộ phận trong đơn vị, các thông tin bên trong
và bên ngoài, thông tin định lượng và thông tin định tính để từ đó phán đoán
và thực hiện tốt các quá trình kinh doanh theo các kế hoạch, dự toán đã xâydựng
Tổ chức thực hiên còn là sự kết hợp hải hoà giữa các yếu tố trong quátrình sản xuất và vai trò của các nhà quản trị để thực hiện các khâu công việctheo như kế hoạch đã đề ra nhằm để đạt được mục tiêu của quá trình kinhdoanh Đây là giai đoạn quyết định nhất, bởi vì các quyết định kinh doanhphải hết sức linh hoạt, phù hợp với các yếu tố sản xuất và đạt được mục tiêutối ưu
Trang 25Ba là, kiểm tra và đánh giá kết quả thực hiện: Sau khi đã lập kế hoạch và
tổ chức thực hiện, nhà quản lý phải kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kếhoạch Để thực hiện chức năng kiểm tra, các nhà quản lý sử dụng các bướccông việc cần thiết để đảm bảo cho từng bộ phận và cả tổ chức đi theo đúng
kế hoạch đã vạch ra Trong quá trình kiểm tra, nhà quản lý sẽ so sánh hoạtđộng thực tiễn với kế hoạch đã thiết lập.So sánh này sẽ chỉ ra ở khâu nào côngviệc thực hiện chưa đạt yêu cầu, và cần sự hiệu chỉnh để hoàn thành nhiệm vụ
và mục tiêu đã thiết lập.Hệ thống kiểm soát nội bộ được thực hiện thông quaviệc phân công, phân cấp dựa trên cơ chế quản lý tài chính và trách nhiệm củatừng cá nhân, bộ phận trong một tổ chức hoạt động cụ thể
Bốn là, ra quyết định: Ra quyết định là việc thực hiện những lựa chọnhợp lý trong số các phương án khác nhau Ra quyết định không phải là mộtchức năng riêng biệt, nó là một chức năng quan trọng, xuyên suốt các khâutrong qúa trình quản lý một tổ chức, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiệncho đến kiểm tra đánh giá Chức năng ra quyết định được vận dụng liên tụctrong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp Tất cả các quyết định đều
có nền tảng từ thông tin Do vậy, một yêu cầu đặt ra cho công tác kế toán, đặcbiệt là KTQT là phải đáp ứng nhu cầu thông tin nhanh, chính xác cho nhàquản lý nhằm hoàn thành tốt việc ra quyết định
Ra quyết định là công việc thường xuyên của các nhà quản trị ảnh hưởngđến kết quả cuối cùng của doanh nghiệp Việc ra quyết định thường dựa trên
cơ sở tổng hợp nhiều nguồn thông tin khác nhau, nhưng trong đó thông tin kếtoán quản trị thường giữ vai trò có tính chất quyết định và độ tin cậy cao Cácnhà quản trị thường đứng trước nhiều phương án kinh doanh khác nhau Mỗiphương án thường bao gồm nhiều hệ thống thông tin đa dạng như là số lượng,chủng loại, chi phí, lợi nhuận, vốn, thị trường… Do vậy đòi hỏi kế toán quảntrị phải tổng hợp, phân tích và chọn lọc hệ thống thông tin này Trên cơ sởđánh giá hệ thống thông tin do kế toán quản trị cung cấp để đưa ra các quyếtđịnh chọn phương án tối ưu
Trang 261.2.4 Nội dung của Kế toán quản trị
Kế toán quản trị có nội dung rất rộng, nội dung cơ bản như sau:
- Nếu xét theo nội dung các thông tin mà KTQT cung cấp, có thể kháiquát KTQT doanh nghiệpbao gồm:
+ KTQT các yếu tố sản xuất kinh doanh (bao gồm: Hàng tồn kho, tài sản
cố định, lao động và tiền lương)
+ KTQT chi phí và giá thành sản phẩm
+ KTQT doanh thu và kết quả kinh doanh
+ KTQT về các hoạt động đầu tư tài chính
+ KTQT các hoạt động khác của doanh nghiệp
Trong các nội dung nói trên, trọng tâm của KTQT là lĩnh vực chi phí Vìvậy, một số tác giả cho rằng KTQT là kế toán chi phí
- Nếu xét quá trình KTQT trong mối quan hệ với chức năng quản lý, KTQT bao gồm các khâu:
+ Chính thức hoá các mục tiêu của doanh nghiệpthành các chỉ tiêu kinh
tế + Lập dự toán chung và các dự toán chi tiết
+ Thu thập, cung cấp thông tin về kết quả thực hiện các mục
tiêu + Soạn thảo báo cáo KTQT
Như vậy, thông tin của KTQT không chỉ là thông tin quá khứ, thông tinthực hiện mà còn bao gồm các thông tin về tương lai (kế hoạch, dự toán ).Mặt khác, thông tin KTQT không chỉ là các thông tin về giá trị còn bao gồmcác thông tin khác (hiện vật, thời gian lao động )
1.3 CÁC LÝ THUYẾT NỀN LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
1.3.1 Lý thuyết bất định
Lý thuyết bất định đã được phát triển từ giữa những năm 1960, sau đó
nó được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu KTQT giữa những năm 1970 Lýthuyết bất định có tầm quan trọng đáng kể để nghiên cứu KTQT vì nó đã
Trang 27thống trị kế toán hành vi từ năm 1975 Lý thuyết bất định đưa ra giả thuyết làmột quy trình và cấu trúc hiệu quả của doanh nghiệplà bất định trong bốicảnh của doanh nghiệp (CIMA và Tiessen, 1978) Lý thuyết này giả địnhrằng hoạt động hiệu quả của doanh nghiệpphụ thuộc vào mức độ phù hợp củacấu trúc doanh nghiệp với các sự kiện ngẫu nhiên xảy ra trước đó (Mullins,2013) Các nhà lý luận về học thuyết bất định này tuyên bố rằng không cómột giải pháp toàn cầu nào có thể giải quyết được tất cả mọi vấn đề củadoanh nghiệp, và mức độ hiệu quả của giải pháp còn tuỳ thuộc vào đặc điểmcủa doanh nghiệp cũng như môi trường xung quanh.
Lý thuyết bất định được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu vềKTQT của Otley (1980).Theo Otley (1980), các yếu tố bất định tác động đếnthiết kế của doanh nghiệp cũng đồng thời tác động đến các công cụ kỹ thuậtKTQT Sau đó, Waterhouse và Tiessen (1983) đã chỉ ra rằng cấu trúc củadoanh nghiệp phụ thuộc vào công nghệ và môi trường hoạt động của doanhnghiệp và sự hiệu quả của hệ thống KTQT lại phụ thuộc bất định vào cấu trúccủa doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp hoạt động trong môi trường kinh doanhkhông ổn định hay áp dụng công nghệ đòi hỏi thay đổi liên tục thì thông tinchủ yếu là nội bộ và ngược lại, nếu môi trường hoạt động ổn định hoặc côngnghệ ít thay đổi thì thông tin là hướng ra bên ngoài
Theo quan điểm của lý thuyết bất định, KTQT được coi là thành phâncủa cơ cấu tổ chức Việc thông qua ký thuyết bất định để nghiên cứu KTQT
là quá trình điều chỉnh sự phù hợp giữa KTQT cụ thể với các biến theo ngữcảnh trong một tổ chức Không thể có một hệ thống KTQT duy nhất áp dụngcho tất cả các tổ chức, hoặc có thể thỏa mãn tất cả các tình huống diễn ratrong một tổ chức Hệ thống KTQT là bất định theo các hoàn cảnh có thể thayđổi bất kỳ lúc nào Hệ thống này cần phải có năng lực thích nghi với tất cảnhững thay đổi về môi trường, cạnh tranh, cơ cấu tổ chức hay công nghệ
Lý thuyết bất định nghiên cứu KTQT doanh nghiệp trong mối quan hệ
Trang 28tương tác với môi trường hoạt động của doanh nghiệp Nói cách khác một hệthống KTQT thích hợp với doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm doanhnghiệp và môi trường doanh nghiệp đó đang hoạt động Điều này cho thấykhông thể xây dựng một mô hình KTQT khuôn mẫu áp dụng cho tất cả cácdoanh nghiệp mà việc vận dụng KTQT doanh nghiệp phải tùy thuộc vào đặcthù từng ngành, từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đồng thời phải phù hợpvới cơ cấu tổ chức, quy mô doanh nghiệp, trình độ công nghệ sản xuất vàchiến lược tổ chức trong từng giai đoạn Điều này có nghĩa là việc xây dựngmột hệ thống KTQT hiệu quả phải thích hợp với từng doanh nghiệp, với môitrường bên trong và bên ngoài mà doanh nghiệp đó đang hoạt động.
Đã có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng lý thuyết bất định là lý thuyết quantrọng nhất để giải thích mối quan hệ phức tạp giữa những thay đổi trong hệthống KTQT và các yếu tố bên trong và bên ngoài tổ chức Lý thuyết bất địnhnghiên cứu KTQT trong mối quan hệ tương tác với môi trường hoạt động của
tổ chức Nói cách khác, một hệ thống KTQT thích hợp với tổ chức phụ thuộcvào đặc điểm và môi trường tổ chức đó đang hoạt động Điều này cho thấykhông thể xây dựng một mô hình KTQT khuôn mẫu áp dụng cho tất cả tổchức mà việc vận dụng KTQT vào tổ chức phải phụ thuộc vào đặc thù từngngành, từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đồng thời phải phù hợp với cơ cấu
tổ chức, quy mô tổ chức, trình độ công nghệ và chiến lược tổ chức trong từnggiai đoạn Việc xây dựng một hệ thống KTQT hiệu quả phải thích hợp vớitừng tổ chức, với môi trường bên trong và bên ngoài tổ chức đó hoạt động
1.3.2 Lý thuyết đại diện (Agency theory)
Lý thuyết thứ hai có tầm quan trọng đối với vận dụng KTQT là lý thuyếtđại diện Lý thuyết đại diện nhấn mạnh rằng, các cổ đông cần phải sử dụngcác cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông vàngười quản lý công ty, bằng cách (i) thiết lập những cơ chế đãi ngộ(compensation mechanisms) thích hợp cho các nhà quản trị, và (ii) thiết lập
Trang 29cơ chế giám sát (supervisory mechanisms) hiệu quả để hạn chế những hành
vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty
Theo Jensen and Meckling (1976), quan hệ giữa các cổ đông và người quản
lý công ty được hiểu như là quan hệ đại diện - hay quan hệ ủy thác Mối quan
hệ này được coi như là quan hệ hợp đồng mà theo đó các cổ đông (nhữngngười chủ - principals), bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quản lý công ty(người thụ ủy - agents), để thực hiện việc quản lý công ty cho họ mà trong đóbao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của công
ty Lý thuyết về đại diện cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổđông và người quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có
cơ sở để tin rằng người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợiích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ đông Từ đó xung đột sẽ phát sinh khi
có thông tin không đầy đủ và bất cân xứng giữa chủ thể và đại diện trongcông ty Cả hai bên có lợi ích khác nhau và vấn đề này được giảm thiểu bằngcách sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa
cổ đông và người quản lý công ty, thông qua thiết lập những cơ chế đãi ngộthích hợp cho các nhà quản trị, và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạnchế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty
Lý thuyết đại diện cho rằng xung đột sẽ phát sinh khi có thông tin khôngđầy đủ và bất cân xứng giữa chủ thể và đại diện trong công ty Cả hai bên cólợi ích khác nhau và vấn đề này được giảm thiểu bằng cách sử dụng các cơchế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và ngườiquản lý công ty, thông qua thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho cácnhà quản trị, và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vikhông bình thường, tư lợi của người quản lý công ty
Hợp đồng tối ưu giữa nhà quản trị với nhà đầu tư, thỏa thuận thù lao vàtiền thưởng của nhà quản trị, giải pháp dung hòa lợi ích giữa nhà quản trịdoanh nghiệp (và chủ doanh nghiệp) với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài
Trang 30(Healy và Palepu (2001)) Những hợp đồng này thường yêu cầu doanh nghiệpphải sử dụng thông tin được cung cấp bởi hệ thống KTQT như: hệ thống ngânsách, thông tin kiểm soát chi phí, phân bổ các nguồn lực để nhà đầu tưđánh giá sự tuân thủ những cam kết trong hợp đồng và đánh giá nhà quản trịdoanh nghiệp có quản trị các nguồn lực của công ty gắn với lợi ích của nhàđầu tư bên ngoài.
Lý thuyết đại diện giải thích vì sao phải áp dụng hệ thống kế toán tráchnhiệm trong tổ chức và đối với các công ty cổ phần, công ty niêm yết hệthống KTQT cần cung cấp những thông tin gì để đảm bảo lợi ích cho các nhàđầu tư và các cổ đông Đặc biệt là trong điều kiện Việt Nam khi mà chưa cómột thị trường chứng khoán phát triển hoàn chỉnh thì các thông tin KTQT tổchức cung cấp chính xác và đầy đủ thực sự có ý nghĩa đối với các nhà đầu tư.Ngoài ra, lý thuyết đại diện cũng là cơ sở để xây dựng các báo cáo nội
bộ trong tổ chức, các báo cáo đánh giá trách nhiệm phù hợp với hệ thốngphân quyền trong các tổ chức Việt Nam
1.3.3 Lý thuyết xã hội học (sociological theory)
Lý thuyết xã hội học tập trung vào việc làm thế nào tổ chức được thànhlập thông qua tương tác giữa con người, tổ chức và xã hội Covaleski và cộng
sự (1996) cho rằng sự tồn tại của một tổ chức yêu cầu phù hợp với xã hội vềhành vi có thể chấp nhận được để đạt được mức độ cao của hiệu quả sản xuất.Các nhà lý thuyết xã hội học xem xét hệ thống KTQT về mặt thực tiễn
xã hội hơn là chỉ về mặt kỹ thuật để đưa ra quyết định nội bộ và hiệu quả tổchức Thực tiễn KTQT phản ánh quyền lực chính trị và xã hội Ví dụ,Wildavsky và Caiden (2003) lập luận rằng hệ thống ngân sách có thể được sửdụng cho mục đích khác ngoài vấn đề kiểm soát như sử dụng ngân sách đểthiết lập và duy trì các mối quan hệ quyền lực hiện tại, bản chất chính trị củangân sách thường quan sát thấy trong đời sống xã hội phức tạp Quan điểm vềquá trình lao động trong các tác phẩm của Carl Marx nhấn mạnh sự phân chia
Trang 31giai cấp trong xã hội, mâu thuẫn giữa lao động, tiền lương và các nhà tư bản.
Từ quan điểm của nhà tư bản, lao động cần được giảm thiểu và tối đa hóa giátrị thặng dư, không giống như các yếu tố khác của sản xuất Do đó các nhàđầu tư phải kiểm soát được lao động cũng như quá trình lao động Thông quamột số công trình như Hopper và Armstrong (1991), Collinson (1987), Oakes
và Covaleski (1994), các tác giả đều lập luận rằng KTQT và thông tin chi phí
là công cụ để khai thác hiệu quả sản xuất
Foucault (1926-1984) sử dụng cách tiếp cận để nghiên cứu KTQT trongmột bối cảnh chính trị và xã hội rộng hơn Một loại của lý thuyết xã hội họcthường được sử dụng là lý thuyết đại diện Nó giải thích quá trình thể chế màtheo đó quy định, chuẩn mực hoặc thói quen đã trở thành hướng dẫn cho hành
vi xã hội (Scott 2004) Như Covaleski et al.(1996) đã chỉ ra sự phù hợp vớichuẩn mực xã hội của hành vi chấp nhận được và mức độ cao của sản xuấthiệu quả là tương đối quan trọng cho sự sống còn của một tổ chức
Một cách tổng thể, lý thuyết xã hội học là các khung phân tích dùng đểnghiên cứu các hiện tượng xã hội Khái niệm “lý thuyết xã hội học” bao hàmcác ý tưởng về việc xã hội thay đổi và phát triển như thế nào, các phươngpháp để giải thích về hành vi xã hội (social behavior), về sức mạnh và cấutrúc xã hội, về giới tính và sắc tộc, về sự hiện đại và hiện tượng xã hội hoá, vềcác cuộc cách mạnh và các xã hội lý tưởng (Harrington 2005, 1) Trong mỗinghiên cứu về xã hội học, mỗi chủ đề sẽ được nêu bật hơn so với các chủ đềcòn lại, ví dụ như các chủ đề về bản chất của đời sống xã hội (the nature ofsocial life), mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, cấu trúc của các tổ chức xãhội, vai trò và khả năng biến đổi xã hội, cũng như các chủ đề về giớitính,chủng tộc và giai cấp … (Elliot 2008)
Lý thuyết xã hội học tập trung vào việc làm thế nào tổ chức được thànhlập thông qua tương tác giữa con người, tổ chức và xã hội Covaleski et al.(1996) cho rằng sự tồn tại của một tổ chức yêu cầu phù hợp với xã hội về
Trang 32hành vi có thể chấp nhận được để đạt được mức độ cao của hiệu quả sản xuất.
Từ đó, các nghiên cứu của các nhà lý thuyết xã hội học xem xét hệ thốngKTQT về mặt thực tiễn xã hội hơn là chỉ về mặt kỹ thuật để đưa ra quyếtđịnh nội bộ và hiệu quả tổ chức
Lý thuyết xã hội học cho thấy hệ thống KTQT trong tổ chức không chỉ
là những vấn đề mang tính nội bộ tổ chức mà nó chịu tác động ảnh hưởngtrong một bối cảnh xã hội chung, nó liên quan đến các chế độ, chính sáchhiện hành và giải quyết các mối quan hệ với người lao động trong tổ chức.Chính vì vậy các mục tiêu của tổ chức đặt ra phải nằm trong mục tiêu chung
mà xã hội chấp nhận được Điều này phù hợp với xu hướng phát triển bềnvững và lợi ích tổ chức phải gắn với lợi ích chung của xã hội Ví dụ các tiêuchuẩn chi phí phải xây dựng trên cơ sở định mức chung của ngành, hay việclập các kế hoạch về chi phí tiền lương phải trên cơ sở mức lương tối thiểu donhà nước quy định, các thông tin về chi phí KTQT cung cấp cũng sẽ chịu sựtác động bởi các quy định của các chính sách thuế, chính sách tài chính củaNhà nước…
1.3.4 Lý thuyết tâm lý (Psychological theory)
Lý thuyết tâm lý học đã được sử dụng để nghiên cứu KTQT trong hơn
50 năm, Argyris (1952, 1953) dựa vào mối quan hệ của con người và độnglực nhóm để điều tra bối cảnh xã hội của ngân sách
Lý thuyết này nhấn mạnh vai trò con người trong tổ chức, quan điểm củanhóm này cho rằng năng suất lao động không chỉ do yếu tố vật chất quyếtđịnh mà còn do nhu cầu tâm lý xã hội của con người "Vấn đề tổ chức là vấn
đề con người" và họ chỉ ra rằng trong trường phái cổ điển có nhiều hạn chế vì
đã bỏ qua yếu tố con người trong quá trình làm việc
Tác giả của lý thuyết các quan hệ con người trong tổ chức là MaryParker Pollet (1868 - 1933) Tác giả này cho rằng, trong quá trình làm việc,người lao động có các mối quan hệ với nhau và với các nhà quản trị Đồng
Trang 33thời tác giả cũng nhấn mạnh, hiệu quả của quản trị phụ thuộc vào việc giảiquyết các mối quan hệ này Các tác giả về hành vi con người cho rằng hoạtđộng của con người phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tâm lý xã hội Chính cácyếu tố này tạo nên các quan hệ tốt đẹp trong quá trình lao động, từ đó mà cóthể đạt hiệu quả trong quá trình làm việc.
Con người là một trong những thành phần quan trọng nhất của các tổchức, đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động của các tổ chức Khi hành
vi cá nhân phù hợp với mục tiêu của tổ chức, các tổ chức phát triển thịnhvượng Để hiểu tác động của các hành vi của cá nhân đối với tổ chức, lý thuyếttâm lý được áp dụng trong nghiên cứu KTQT để nghiên cứu mối quan hệ giữahành vi cá nhân và KTQT (Birnberg và cộng sự, 2007) trong các quá
trình lập ngân sách, kiểm soát và ra quyết định
Stedry (1960) sử dụng lý thuyết động lực để điều tra ảnh hưởng của mụctiêu ngân sách tới hiệu suất cá nhân Hopwood (1972) sử dụng khái niệm này
từ lý thuyết tâm lý nghiên cứu cấp trên sử dụng thông tin kế toán để đánh giácấp dưới và ảnh hưởng của cấp dưới với các nhân viên khác
Trong những năm 1970, KTQT sử dụng lý thuyết tâm lý để nghiên cứulàm thế nào các cá nhân xử lý các thông tin để lập kế hoạch, kiểm soát và raquyết định Mock và cộng sự (1975) điều tra sự phản hồi tương tác củaKTQT với nhận thức và phong cách cá nhân để gây ảnh hưởng đến các quyếtđịnh điều hành Lý thuyết tâm lý học có thể được sử dụng để giải thích cảnguyên nhân và ảnh hưởng của KTQT đến hành vi cá nhân
Lý thuyết tâm lý chỉ ra rằng việc thiết lập và vận hành hệ thống KTQTtrong tổ chức phải xem xét tác động đến mối quan hệ con người trong tổ chức(quan hệ cấp trên với cấp dưới, quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức vớinhau) Điều này liên quan đến quá trình hoạch định ngân sách, quá trình kiểmsoát đánh giá và ra quyết định phải tạo được động lực và hướng đến việcnâng cao hiệu suất các bộ phận Ví dụ việc thiết lập các định mức chi phí và
Trang 34các chỉ tiêu đánh giá nếu chỉ quan tâm đến cắt giảm chi phí mà không chú ýđến nâng cao hiệu suất và giải quyết hài hòa lợi ích giữa các bộ phận trong tổchức có thể sẽ không huy động được mọi người trong tổ chức nỗ lực phấnđấu giảm chi phí và gia tăng lợi nhuận.
Việc nghiên cứu các lý thuyết có ý nghĩa thực tiễn trong việc xây dựng
mô hình và nội dung vận dụng KTQT trong từng loại hình tổ chức và trongcác nền kinh tế khác nhau Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu KTQT là
cơ sở nền tảng và xuất phát điểm để xác định các nội dung KTQT đối vớitừng tổ chức và vận dụng một cách có hiệu quả Đồng thời các lý thuyết cũngchỉ ra rằng hệ thống KTQT tổ chức chỉ thực sự hữu hiệu khi nó được xâydựng và phát triển phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng loại hình tổ chức
và từng nền kinh tế cụ thể Điều đó cũng có nghĩa không có một mô hìnhKTQT khuôn mẫu áp dụng cho tất cả các tổ chức Việt Nam, việc vận dụngKTQT trong tổ chức còn tùy thuộc vào đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực kinhdoanh, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, quy mô tổ chức, trình độ công nghệ vàmôi trường kinh doanh hiện tại Đồng thời trước những thay đổi nhanh chóngcủa công nghệ sản xuất và môi trường kinh doanh mang tính toàn cầu, hệthống KTQT trong tổ chức cũng cần có sự thay đổi và điều chỉnh linh hoạtmới đem lại hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu của các nhà quản trị
Tóm tắt Chương 1
Trong Chương 1, tác giả đã trình bày tổng quan các lý thuyết về KTQTbao gồm quá trình hình thành và lịch sự phát triển của KTQT, vai trò củaKTQT trong hoạt động của tổ chức; các lý thuyết nền liên quan đến nội dungnghiên cứu như lý thuyết bất định, lý thuyết đại diện, lý thuyết xã hội học và
lý thuyết tâm lý và mối quan hệ giữa các lý thuyết này với nội dung nghiêncứu của luận văn
Trang 35CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong Chương này, từ cơ sở lý thuyết ở Chương 1, tác giả xây dựng môhình nghiên cứu cho đề tài luận văn thạc sĩ, đưa ra các lập luận và giả thuyếtnghiên cứu Tiếp theo, tác giả trình bày cụ thể phương pháp nghiên cứu của
đề tài, tác giả cho thấy được phương pháp nghiên cứu, cũng như các vấn đềcần thiết trong việc thu thập dữ liệu từ bảng khảo sát và các bước phân tíchnhư: Thiết kế bảng hỏi, các bước điều tra, thống kê mô tả dữ liệu và mô hìnhhồi quy
2.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.1.1 Mô hình nghiên cứu
Từ tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước và trên cơ sở nghiêncứu được đề cập đến ở Chương 1, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu về cácnhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT tại các đơn vị sự nghiệp trên địabàn tỉnh Bình Định như hình vẽ bên dưới:
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT tại các đơn vị sựnghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định bao gồm:
Mức độ phân quyền;
Nhận thức về KTQT của Ban lãnh đạo;
Trình độ của nhân viên kế toán;
Sự hỗ trợ của ban lãnh đạo;
Văn hóa tổ chức
Bên dưới, tác giả trình bày các giả thuyết nghiên cứu trong mô hình nghiên cứu đề xuất ban đầu
Trang 36(Nguồn: do tác giả tự tổng hợp, phân tích)
2.1.2 Giả thuyết nghiên cứu
a Mức độ phân quyền
Theo Chenhall và Morris (1986), phân quyền là mức độ giao quyền tựchủ cho các nhà quản trị cấp dưới [28] Phân cấp quản lý cho phép các nhàquản trị các cấp tự chủ hơn trong việc lập kế hoạch cũng như kiểm soát hoạtđộng, đồng thời gắn liền trách nhiệm của mình với các hoạt động đó
Sự phân quyền trong tổ chức thể hiện qua việc nhà quản trị cấp cao phânquyền cho cấp dưới trong việc ra quyết định và chịu trách nhiệm về kết quả
Trang 38hoạt động trong phạm vi trách nhiệm của họ Phân quyền trong tổ chức là cơ
sở để hình thành hệ thống kế toán trách nhiệm Các nhà quản trị được đánhgiá và khen thưởng dựa trên kết quả hoạt động của trung tâm do họ kiểm soát.Như vậy, phân quyền là một yếu tố thúc đẩy các nhà quản trị việc sử dụnghiệu quả các nguồn lực để làm phát sinh các nhu cầu thông tin phục vụ lập kếhoạch, kiểm soát, đánh giá hiệu quả và ra quyết định
Khi nhà quản trị các cấp được ủy quyền nhiều hơn trong các tổ chức, họcũng là người chịu nhiều trách nhiệm hơn trong việc hoạch định và kiểm soáthoạt động liên quan Vì thế, nhà quản trị các cấp cần sử dụng nhiều hơn cáccông cụ quản trị, trong đó có công cụ KTQT để giúp họ có được thông tinhữu ích hơn trong việc cải thiện hệ thống quản lý doanh nghiệp Các tổ chứcphân quyền thành công thường thiết kế hệ thống KTQT để cung cấp thông tinphù hợp cho các nhà quản trị trong việc lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyếtđịnh (Abdel-Kader, 2008) Ngoài ra, Baines và Langfield-Smith (2003) cũngcho rằng, vai trò của phân quyền KTQT trong doanh nghiệphay tổ chứckhông chỉ đơn giản là để cung cấp các dữ liệu mà còn cho phép nhân viênđưa ra các quyết định tốt hơn
Đã có nhiều nghiên cứu trước đây nghiên cứu mối quan hệ giữa phânquyền với việc áp dụng KTQT trong các doanh nghiệpnhư nghiên cứu củaAbdel-Kader (2008), Đoàn Ngọc Phi Anh (2012), Soobaroyen &Pourundersing (2008) Kết quả các nghiên cứu trên đều cho thấy mức độphân quyền tác động tích cực đến việc vận dụng KTQT trong các tổ chức.Đối với các đơn vị sự nghiệp, việc triển khai thực hiện cơ chế tự chủ đãđược thực hiện từ năm 2006 theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày25/4/2006 của Chính phủ và càng mạnh mẽ sau khi Chính phủ ban hành Nghịđịnh số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 về việc quy định cơ chế tự chủ củađơn vị sự nghiệp thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP theo hướng quy địnhcác vấn đề chung, làm căn cứ cho các bộ, cơ quan liên quan xây dựng các
Trang 39Nghị định riêng quy định đối với từng lĩnh vực cụ thể Nghị định16/2015/NĐ-CP đã thể hiện rõ mục tiêu đổi mới toàn diện các đơn vị sựnghiệp; đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vịđồng bộ cả về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính Việcđổi mới đơn vị sự nghiệp sang tự chủ thực tế đã làm thay đổi tích cực hiệuquả hoạt động, mang lại nhiều lợi ích Trước hết, đã góp phần nâng cao tính
tự chủ tài chính trong hoạt động của các đơn vị, tiết kiệm chi cho ngân sách,tăng thu nhập người lao động, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ cho xãhội Đồng thời, góp phần cơ cấu lại chi thường xuyên, từng bước chuyển dần
từ giao dự toán ngân sách sang thực hiện phương thức đấu thầu, đặt hàng,giao nhiệm vụ
Do đó, tác giả đưa ra giả thuyết H1:
H1: Mức độ phân quyền tác động tích cực đến việc vận dụng KTQT tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định.
b Nhận thức về Kế toán quản trị của Ban lãnh đạo
Nhà quản trị là người trực tiếp sử dụng thông tin KTQT để ra quyếtđịnh, do vậy nhu cầu sử dụng thông tin của nhà quản trị có ảnh hưởng quantrọng đến việc vận dụng KTQT trong các tổ chức Ngoài nhu cầu thông tin,
sự ủng hộ của nhà quản trị trong việc tiếp cận các kỹ thuật KTQT mới và vậndụng vào tổ chức cũng là nhân tố tích cực ảnh hưởng đến sự vận dụng KTQTtrong tổ chức
Để thực hiện tốt công tác KTQT, yếu tố ảnh hưởng đầu tiên là nhận thứccủa ban lãnh đạo của đơn vị Ban lãnh đạo có nhận thức được tầm quan trọng,vai trò của hệ thống KTQT thì việc công tác KTQT mới có hiệu quả, có chấtlượng Trong môi trường cạnh tranh, KTQT ngày càng thể hiện vai trò quantrọng trong việc hỗ trợ các nhà quản trị ra các quyết định hiệu quả Tăngcường hệ thống KTQT trong các tổ chức nhằm hỗ trợ thông tin cho các nhà
Trang 40quản trị ra các quyết định là điều kiện cần thiết để sử dụng hiệu quả cácnguồn lực, từ đó nâng cao vị thế cạnh tranh của các tổ chức.
Việc vận dụng KTQT khó thành công hoặc gặp khó khăn nếu ban lãnhđạo không biết về lợi ích do việc vận dụng các công cụ kỹ thuật KTQT manglại Khi ban lãnh đạo có sự hiểu biết về các công cụ kỹ thuật KTQT, sẽ phátsinh nhu cầu về việcvận dụng KTQT Điều này giúp họ đánh giá cao về tínhhữu ích của các công cụ kỹ thuật KTQT và không ngần ngại bỏ chi phí đầu tưvào việc vận dụng KTQT
Kết quả nghiên cứu của Abdel-Kader (2008), Ahmad (2012), Sulaiman
và cộng sự (2015) cho thấy nhận thức về KTQT của ban lãnh đạo có ảnhhưởng tích cực đến mức độ áp dụng KTQT
Do đó, tác giả đưa ra giả thuyết H2:
H2: Nhận thức về KTQT của Ban lãnh đạo tác động tích cực đến việc vận dụng KTQT tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định.
c Trình độ của nhân viên kế toán
Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu trong sự thành bại của tổchức, doanh nghiệp nói chung Trong môi trường toàn cầu hóa, với sự pháttriển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và sự bùng nổ của công nghệ thông tin,kiến thức có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự thành công của tổ chức
Do đó vận dụng KTQT vào tổ chức cũng sẽ chịu ảnh hưởng bởi nguồnnhân lực, cụ thể là trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán Hầu hết các tổchức sự nghiệp đều có phòng tài chính kế toán riêng biệt với các chuyên viên
kế toán có trình độ để đảm bảo đáp ứng các yêu cầu, quy định của cơ quanquản lý nhà nước Nếu trình độ chuyên môn về KTQT không đáp ứng đượcnhu cầu thì việc vận dụng KTQT sẽ không thực hiện được hoặc thực hiệnkém hiệu quả