1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công ty xuất nhập khẩu hoàn thiện

112 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 283,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

được các nhà quản trị chú trọng, việc quản lý chặt chẽ chi phí sản xuất là cơsở để xác định đúng đắn kết quả, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.Chính vì vậy, việc hoàn thiện tổ chức k

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

Trang 3

chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kế toán quản trị giữ vai trò là một công cụ quản lý kinh tế quan trọng,

hỗ trợ đắc lực cho nhà quản lý trong việc ra quyết định quản lý hoạt động kinh

tế tài chính trong nội bộ doanh nghiệp

Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp chế biến đồ gỗ ngàycàng phát triển cả về số lượng và chất lượng, trở thành một trong nhữngngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Đồng thời, nền kinh tế thị trường pháttriển tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt giữa các công ty không chỉ dừng ở phạm

vi trong nước mà cả ở tầm quốc tế Ngành sản xuất và chế biến gỗ ở BìnhĐịnh nói riêng, không chỉ chịu áp lực cạnh tranh từ các doanh nghiệp trongnước, mà còn ở cả nước ngoài, điển hình như Đài Loan – nơi mà chi phínguyên vật liệu đến nhân công rất rẻ

Muốn phát triển trong môi trường hội nhập kinh tế toàn cầu này, ngoàicác giải pháp mở rộng thị trường nhập khẩu nguyên liệu, giữ vững và mở rộngthị trường xuất khẩu, đầu tư mở rộng quy mô sản xuất cả về chiều rộng vàchiều sâu, đa dạng mẫu mã sản phẩm cũng như đảm bảo tiêu chuẩn chất lượnghàng hóa xuất khẩu, … thì các doanh nghiệp gỗ xuất khẩu cần phải quan tâmtăng cường công tác quản trị chi phí sản xuất Có như vậy mới có thể nângcao hiệu quả thông qua việc tiết kiệm chi phí để giảm thiểu các rủi ro, tăngcường năng lực cạnh tranh, củng cố lòng tin của các bên có lợi ích liên quan

và đó chính là tiền đề cho sự phát triển bền vững lâu dài

Hiện nay, chi phí sản xuất đồ gỗ xuất khẩu của các doanh nghiệp còn cao,

tỷ lệ phế phẩm nguyên liệu trong chế biến vẫn chiếm tỷ trọng lớn, các chi phíliên quan đến sản xuất sản phẩm còn chưa được chuẩn hóa để xây dựng địnhmức,… Bên cạnh đó, hiện tại ở một số các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung,Công ty TNHH xuất nhập khẩu Hoàng Thiện nói riêng, kế toán quản trị vẫn

Trang 5

được các nhà quản trị chú trọng, việc quản lý chặt chẽ chi phí sản xuất là cơ

sở để xác định đúng đắn kết quả, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.Chính vì vậy, việc hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất và tínhgiá thành sản phẩm là yêu cầu cấp bách đặt ra cho Công ty nhằm quản lý vànâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh

Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên tôi đã nghiêncứu đề tài: “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHHxuất nhập khẩu Hoàng Thiện” cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Hệ thống hóa lý luận về kế toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp

Phân tích và đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất tạiCông ty TNHH xuất nhập khẩu Hoàng Thiện Từ đó đề xuất giải pháp hoànthiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại đơn vị, góp phần nâng cao hiệu quảkinh doanh trong môi trường kinh doanh đầy cạnh tranh hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH xuất nhập khẩu Hoàng Thiện

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH xuất nhập khẩu Hoàng Thiện năm 2018

4 Phương pháp nghiên cứu

- Khảo sát thực tế về tình hình vận dụng kế toán quản trị tại Công tyTNHH xuất nhập khẩu Hoàng Thiện thông qua các báo cáo kết hợp với việcphỏng vấn cán bộ, nhân viên phụ trách kế toán của đơn vị

- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến kế toán quản trị chi phí từ đó

hệ thống hóa các vấn đề mang tính lý luận vận dụng vào thực tế của Công ty

Trang 6

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Đề tài về kế toán quản trị chi phí sản xuất đã được rất nhiều tác giả đề cập

và nghiên cứu Mỗi công trình nghiên cứu đều có những nét đặc thù riêng tùythuộc vào thực trạng đối với đơn vị và có đóng góp nhất định cho công tác kếtoán nói chung và kế toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm nói riêng

Trong lĩnh vực kế toán thì KTQT chi phí là một công cụ quản lý khôngthể thiếu, hỗ trợ đắc lực cho hệ thống quản trị trong việc hoạch định, kiểmsoát các hoạt động của doanh nghiệp

Những vấn đề về kế toán quản trị, trong đó có kế toán quản trị chi phí sảnxuất được các tác giả Việt Nam nghiên cứu từ những năm 1990 Các công trìnhnghiên cứu của các tác giả trong thời điểm này đều phản ánh chung về quá trìnhxây dựng hệ thống kế toán quản trị Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư53/2006TT – BTC ngày 12/06/2006 nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất,kinh doanh tổ chức tốt công tác kế toán quản trị, nêu rõ nguyên tắc tổ chức thôngtin kế toán quản trị không bắt buộc phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc kế toán

và có thể thực hiện theo những quy định nội bộ của doanh nghiệp nhằm tạo lập

Trang 7

như giáo trình “Kế toán quản trị” của GS.TS Trương Bá Thanh (2008), T.S

Nguyễn Thị Minh Tâm (2010)… đã nghiên cứu bản chất, nội dung

và vận dụng kế toán quản trị trong điều kiện ở Việt Nam

Nhiều tác giả vận dụng KTQT vào các doanh nghiệp Việt Nam với nhiều khía cạnh, góc độ khác như:

+ Tác giả Dương Thị Mai Hà Trâm (2004) nghiên cứu đề tài “xây dựng

hệ thống kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Dệt Việt Nam”, đề tài đánhgiá thực trạng KTQT và các giải pháp nhằm xây dựng hệ thống KTQT tại các doanh nghiệp Dệt Việt Nam;

+ Tác giả Nguyễn Hoãn nghiên cứu về: “Hoàn thiện kế toán quản trịchi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất bánhkẹo tại Việt Nam”, tác giả đã đưa ra một số lý luận cơ bản về kế toán quản trịchi phí và giá thành sản phẩm, nêu lên thực trạng và đề xuất một số giải phápgóp phần hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩmtrong các doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo tại Việt Nam

+ Tác giả Phạm Thị Thủy (2007) với luận án “ Xây dựng mô hình kếtoán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam”,tác giả đề tài này đã nêu ra những điểm chưa hợp lý và tổ chức mô hìnhKTQT phù hợp cho các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam;

+ Tác giả Nguyễn Thanh Trúc (2008) nghiên cứu về “Kế toán quản trị chi phí ở các Công ty cà phê Nhà nước trên địa bàn tỉnh Đak Lak”;

+ Tác giả Đào Thị Minh Tâm (2009) nghiên cứu về “Kế toán quản trịchi phí và ứng dụng của nó trong các doanh nghiệp chế biến thủy sản ViệtNam”

+ Tác giả Nguyễn Ngãi (2018) nghiên cứu về đề tài “Kế toán quản trị

Trang 8

chi phí tại các doanh nghiệp dăm gỗ Bình Định”

Các tác giả thông qua các đề tài nghiên cứu của mình đã hệ thống cácnội dung cơ bản của kế toán quản trị cũng như kế toán quản trị chi phí và vậndụng vào các ngành cụ thể như ngành vận tải, ngành viễn thông, ngành sảnxuất và kinh doanh bia

Cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về kế toán quản trị chi phísản xuất tại Công ty TNHH XNK Hoàng Thiện Trên cơ sở kế thừa những lýluận về KTQT chi phí nói chung và KTQT chi phí sản xuất nói riêng, cũngnhư nghiên cứu thực trạng KTQT chi phí sản xuất tại Công ty TNHH XNKHoàng Thiện, tác giả đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện KTQT chi phísản xuất của đơn vị

Trang 9

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN

XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

1.1 Tổng quan về kế toán quản trị chi phí sản xuất

1.1.1 Khái niệm về kế toán quản trị chi phí sản xuất

Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, trước yêu cầu thông tin sâu

và rộng hơn của nhà quản trị, ngoài những thông tin về chi phí phục vụ công tácquản trị doanh nghiệp được tốt hơn, kế toán chi phí được bổ sung và phát triểnthành kế toán quản trị KTQT được phát triển mạnh tại Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ

20, và hiện nay được vận dụng ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, kế toán được phân thành 2 bô phận đó là

kế toán tài chính và kế toán quản trị Từ đó, thông tin kế toán cũng được phânthành hai loại, đó là:

- Thông tin phục vụ chủ yếu cho nội bộ, cho các nhà quản lý của doanhnghiệp được cung cấp bởi KTQT

- Thông tin phục vụ cho cả nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp được cung cấp bởi kế toán tài chính

Kế toán quản trị

Khái niệm về kế toán quản trị được Hiệp hội kế toán Mỹ định nghĩa:

“KTQT là quá trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu,giải thích và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban quản trị

để lập kế hoạch, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ mộtdoanh nghiệp, đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặtchẽ các tài sản này”

Luật Kế toán Việt Nam (2015) định nghĩa “Kế toán quản trị là việc thuthập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quảntrị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán ” Theo quan

Trang 10

điểm này, kế toán quản trị được mô tả gồm các bước công việc cụ thể thuthập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính cho các nhàquản trị nhằm đưa ra các quyết định điều hành nội bộ trong các doanh nghiệp

Kế toán quản trị được định hướng xây dựng theo quan điểm này mang tínhthiết thực, phù hợp với trình độ phát triển kế toán quản trị hiện nay của cácdoanh nghiệp Việt Nam

Như vậy, có rất nhiều quan điểm và định nghĩa về kế toán quản trịnhưng có thể hiểu kế toán quản trị là môt bô phận quan trọng của hệ thông thông tin quản lý doanh nghiệp và có quan hệ chặt chẽ với KTTC, KTQT được hình thành

và thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, có nhiệm vụ cung cấp thông tin

kế toán cho các nhà quản trị doanh nghiệp KTQT về cơ bản dựa trên những nội dung cơ bản của kế toán, ngoài ra còn đi sâu, nghiên cứu mối quan hệ giữa chi phí, sản lượng và lợi nhuận để phục vụ tốt cho hoạt động điều hành sản xuất kinh doanh của nhà quản trị Vai trò của KTQT ngày càng được khẳng định và nó được xem như là môt trong những công cụ phục vụ hữu hiệu nhất cho quản lý nội bộ doanh nghiệp.

Kế toán quản trị chi phí sản xuất

Hiện nay, chưa có khái niệm chính thức về kế toán quản trị chi phí sảnxuất, tuy nhiên xuất phát từ các nội dung đã phân tích ở trên về chi phí, quảntrị chi phí và kế toán quản trị có thể rút ra bản chất của kế toán quản trị chi phísản xuất như sau:

+ Kế toán quản trị chi phí sản xuất là một phần của kế toán quản trị dovậy cũng là một bộ phận không thể tách rời của hệ thống kế toán doanh nghiệp;

+ Kế toán quản trị chi phí sản xuất cung cấp thông tin hữu ích về chiphí

cho nhà quản trị doanh nghiệp, để có thể nhận biết, đánh giá và quản lý tốt chiphí sản xuất, từ đó có những quyết định, biện pháp đúng đắn tiết kiệm chi phí,

hạ giá thành sản phẩm và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

Trang 11

thông tin chi phí kịp thời, phù hợp, cần thiết cho các hoạt động quản trị doanhnghiệp do vậy để đạt hiệu quả cao kế toán quản trị chi phí phải có sự phối hợpchặt chẽ với các bộ phận chức năng khác trong doanh nghiệp.

1.1.2 Bản chất của kế toán quản trị chi phí sản xuất

KTQT chi phí sản xuất không nhận thức theo quan điểm của KTTC màtheo nhiều phương diện khác nhau để đáp ứng nhu cầu thông tin trong hoạchđịnh, tổ chức thực hiện, kiểm soát và ra quyết định Kế toán chủ yếu tập trungvào quá trình định dạng, đo lường, ghi chép và cung cấp các thông tin về hoạtđộng kinh tế của một tổ chức Với phương diện này kế toán cung cấp thông tinphù hợp, tin cậy, nhất quán và so sánh được nhằm giúp cho người sử dụng thôngtin đưa ra được quyết định đúng đắn đối với tổ chức

KTQT chi phí sản xuất là một bộ phận của hệ thống kế toán, chính vì vậybản chất của KTQT chi phí chính là bản chất của kế toán

Như vậy, có thể rút ra bản chất của KTQT chi phí như sau:

- KTQT chi phí sản xuất không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin

về các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đã thực sự hoàn thành, đã ghi chép,

hệ thống hóa trong sổ kê toán mà còn xử lý và cung cấp các thông tin phục vụ cho việc lập các dự toán, quyết định các phương án kinh doanh

- KTQT chi phí sản xuất cung cấp các thông tin về hoạt đông kinh tế, tàichính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của DN Những thông tin đó có ýnghĩa với những bộ phận, những người điều hành, nhà quản lý DN

- KTQT chi phí sản xuất là một bộ phận của công tác kế toán nói chung

và là một bộ phận không thể thiếu được để kế toán thực sự trở thành công cụ quản lý

1.1.3 Vai trò của kế toán quản trị chi phí sản xuất

Kế toán quản trị chi phí sản xuất là công cụ quản lý giúp nhà quản trị thực hiện chức năng của mình Theo từng chức năng quản lý, kế toán quản trị có vai trò

Trang 12

loại thông tin.

Trong đó, nhiệm vụ cơ bản của KTQT chi phí sản xuất là cung cấp thôngtin kinh tế tài chính cho người ra quyết định trong doanh nghiệp và không bắtbuộc phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc kế toán KTQT chi phí sản xuất thựchiện những quy định đề ra theo các yêu cầu cụ thể trong nội bộ của từng doanhnghiệp nhằm tạo lập nên một hệ thống thông tin quản lý thích hợp, phục vụ yêucầu quản trị và các quyết định kinh tế, tài chính của doanh nghiệp

1.2 Nội dung kế toán quản trị chi phí sản xuất

1.2.1 Nhận diện và phân loại chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất

1.2.1.1 Phân loại chi phí sản xuất theo chức năng hoạt động

Chi phí phát sinh trong các doanh nghiệp sản xuất, xét theo từng hoạt động

có chức năng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh mà chúng phục

vụ, được chia thành hai loại lớn: chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất

Trang 14

liệu xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm Trong đó nguyên vật liệuchính dùng để cấu tạo nên thực thể chính của sản phẩm và các loại vật liệu phụkhác có tác dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính để hoàn chỉnh sản phẩm vềmặt chất lượng và hình dáng Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể xác địnhcho từng đơn vị sản phẩm nên được tính thẳng vào từng đơn vị sản phẩm

- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí tiền lương và các

khoản

trích theo lương phải trả cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm Chiphí nhân công trực tiếp cũng giống như chi phí NVL trực tiếp, có thể xác định rõràng, cụ thể và tách biệt cho từng đơn vị sản phẩm nên được tính thẳng vào từngđơn vị sản phẩm

- Chi phí sản xuất chung: Bao gồm các chi phí phát sinh trong phạm vi các

phân xưởng để phục vụ hoặc quản lý quá trình sản xuất sản phẩm Trong thực tếquá trình sản xuất, chi phí sản xuất chung thường bao gồm: tiền lương và cáckhoản trích theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí vật liệu phục

vụ cho phân xưởng và đội sản xuất, chi phí công cụ, dụng cụ cho phân xưởng vàđôi sản xuất, chi phí khấu hao tài sản cố định phục vụ cho quá trình sản xuất, chiphí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác gồm các khoản như tiếp khách phân xưởng,thiệt hại trong quá trình sản xuất Cách phân loại này tạo điều kiện thuận lợi choviệc tính giá thành sản phẩm, từ đó xác định đúng giá bán, làm cơ sở cho việc raquyết định về cơ cấu sản phẩm trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp

b Chi phí ngoài sản xuất:

Để tổ chức và thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm, DN còn phải thựchiện một số khoản chi phí ở khâu ngoài sản xuất được gọi là chi phí ngoài sảnxuất, bao gồm hai khoản mục: chi phí bán hang và chi phí quản lý DN

Chi phí bán hàng bao gồm toàn bộ những chi phí cần thiết để đấ mạnhquá trình lưu thông hàng hóa và đảm bảo việc đưa hàng hóa đến tay ngườitiêu dùng Bao gồm các khoản chi phí như: chi phí bốc dỡ, đóng gói sảnphẩm, lương nhân viên bán hàng, tiền hoa hồng bán hàng, khuyến mãi, quản

Trang 15

Chi phí quản lý DN gồm những khoản chi phí liên quan tới việc tổchức hành chính và các hoạt động văn phòng làm việc của DN như: lương,phụ cấp lương, các khoản trích theo lương của bộ phận quản lý và nhân viênvăn phòng, chi phí văn phòng phẩm…

1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử chi phí

Có rất nhiều cách phân loại chi phí trong các DN sản xuất, song tiêuthức phân loại quan trọng nhất và có rất nhiều ứng dụng trong KTQT chi phí

là phân loại chi phí theo cách ứng xử Theo cách phân loại này chi phí trong

DN sản xuất chia thành biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp

- Biến phí:

Là chi phí xét về lý thuyết, tổng số có sự thay đổi tỷ lệ thuận với mức độhoạt động Trong phạm vi phù hợp, tổng biến phí tăng (giảm) theo sự tăng (giảm)của mức độ hoạt động nhưng biến phí tính cho một đơn vị của mức độ hoạt độngthì không thay đổi Như vậy, biến phí chỉ phát sinh khi có hoạt động

Biến phí bao gồm các khoản chi phí như: Chi phí NVL trực tiếp, chiphí lao động trực tiếp…

Xét về mặt tác động thì biến phí chia thành 2 loại: Biến phí tỷ lệ và biếnphí cấp bậc

Biến phí tỷ lệ là nhũng khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận trực tiếpvới biến động của mức độ hoạt động căn cứ Biến phí tỷ lệ bao gồm chi phíNVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp

Biến phí cấp bậc là những khoản chi phí thay đổi khi mức độ hoạt độngthay đổi nhiều và rõ ràng Biến phí này không thay đổi khi mức độ hoạt động căn

cứ thay đổi ít Nói cách khác, biến phí cấp bậc cũng có quan hệ tỷ lệ nhưngkhông tuyến tính với mức độ hoạt động thay đổi cho phép chi phí thay đổi đểtương ứng với mức hoạt động mới chi phí cấp bậc gồm những khoản chi phi

Trang 16

như: chi phí lao động gián tiếp, lao động bảo trì,… Chiến lược của nhà quảntrị trong việc ứng phó với biến phí cấp bậc là phải nắm được toàn bộ khả năngcung ứng của từng bậc để tránh khuynh hướng hi động quá nhiều so với nhucầu, vì điều này sẽ gây khó khăn khi nhu cầu sau đó giảm đi

Ví dụ: chi phí NVLTT, chi phí NCTT, giá vốn hàng bán

- Định phí:

Là chi phí xét về lý thuyết, tổng số không có sự thay đổi với mức độhoạt động Trong phạm vi phù hợp, tổng định phí không tăng (giảm) theo sự tăng(giảm) của mức độ hoạt động nhưng định phí tính cho một đơn vị của mức độhoạt động thì thay đổi tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động Định phí trong các DNsản xuất gồm: chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí bảo dưỡng, chi phí CCDC,…

Có hai loại định phí: định phí bắt buộc và định phí có thể thay đổi

+ Định phí bắt buộc: là loại chi phí có bản chất lâu dài dù mức độ hoạt

động có bị giảm hay đình đốn ở 1 kì nào đó, định phí bắt buộc vẫn giữ nguyênkhông đổi Ví dụ như chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí tiền lương nhân viên quảntrị, chi phí quảng cáo, chi phí bảo hiểm tài sản,

+ Định phí có thể thay đổi: là loại chi phí có bản chất ngắn hạn và trongnhững trường hợp cần thiết nhà quản lý có thể cắt giảm, ví dụ như: chi phí quảngcáo, chi phí tiếp khách, chi phí đào tạo nghiệp vụ, chi phí điện thoại, văn phòngphẩm

Ngày nay, với xu hướng tăng cường ứng dụng tự động hóa trong sản xuất KD nên tỷ trọng định phí ngày càng tăng

-Chi phí hỗn hợp:

Là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm định phí và biến phí Phầnđịnh phí trong chi phí hỗn hợp để duy trì mức độ hoạt động ở mức tối thiểu đểduy trì và luôn ở tình trạng sẵn sàng phục vụ, và khi mức độ hoạt động tăng lên,chi phí hổn hợp sẽ biến đổi như đặc điểm của biến phí, phản ánh chi phí thực tế

xử dụng hoặc sử dụng quá định mức Để phục vụ cho công tác quản trị chi phí,

Trang 17

hợp thành biến phí và định phí Việc phân tích này được thực hiện bằng mộttrong ba phương pháp sau: phương pháp cực đại, cực tiểu, phương pháp đồ thịphân tán và phương pháp bình quân bé nhất.

Ví dụ: chi phí hỗn hợp là chi phí điện thoại thì tiền thuê bao hàng tháng làđịnh phí, tiền cước là biến phí

1.2.1.3 Phân loại chi phí phục vụ mục đích ra quyết định

- Chi phí trực tiếp - chi phí gián tiếp

Chi phí trực tiếp là các khoản chi phí phát sinh có liên quan trực tiếpđến quá trình sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện các đơn đặt hàng, do vậy cóthể tính trực tiếp cho từng sản phẩm hay đơn đặt hàng

Chi phí gián tiếp là những khoản chi phí phát sinh cho mục đích phục

vụ và quản lý chung, liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ nhiều loại sảnphẩm, nhiều đơn đặt hàng cần được tiến hành phân bổ cho các đối tượng sửdụng chi phí theo các tiêu thức phân bổ phù hợp

- Chi phí kiểm soát được - chi phí không kiểm soát được

Một khoản chi phí được xem là có thể kiểm soát được hoặc không kiểmsoát được ở một cấp bậc quản lý nào đó tùy vào khả năng của cấp quản lý này cóthể ra các quyết định để chi phối, tác động đến khoản chi phí đó hay là không.Như vậy, nói đến khía cạnh quản lý chi phí bao giờ cũng gắn liền với một cấpbậc quản lý nào đó có quyền ra quyết định để chi phối nó thì được gọi chi phíkiểm soát được, nếu ngược lại thì gọi là chi phí không kiểm soát được

- Chi phí lặn: Khoản chi phí này nảy sinh khi ta xem xét các chi phí gắn

liền với phương án hành động liên quan đến tình huống cần ra quyết định lựachọn Chi phí lặn được hiểu là khoản chi phí đã bỏ qua trong quá khứ và sẽ biểuhiện ở tất cả mọi phương án với giá trị như nhau Hiểu một cách khác chi phí lặn

là một khoản chi phí không thể tránh được cho dù người quản lý quyết

Trang 18

định lựa chọn thực hiện theo phương án nào

- Chi phí chênh lệch: được hiểu là phần giá trị khác nhau của các loại

chi phí của một phương án này so với một phương án khác Chi phí chênhlệch có thể định phí hoặc biến phí

- Chi phí cơ hội: là những thu nhập tiềm tàng bị mất đi khi lựa chọn

phương án này thay cho phương án khác Chi phí cơ hội là một yếu tố đòi hỏiluôn phải được tính đến trong mọi quyết định của cấp quản lý

1.2.1.4 Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với lợi nhuận xác định trong kỳ

Khi xem xét cách tính toán và kết chuyển các loại chi phí để xác địnhlợi nhuận trong kỳ kế toán, chi phí sản xuất kinh doanh trong DN được chiathành hai loại là chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ

- Chi phí sản xuất sản phẩm: chi phí sản phẩm bao gồm các chí phíphát sinh liên quan đến việc sản xuất sản phẩm hoàn thành Xét theo mốiquan hệ với việc xác định lợi nhuận trong từng kỳ kế toán, chi phí sản phẩmchỉ được tính toán, kết chuyển để xác định lợi nhuận trong kỳ tương ứng vớikhối lượng sản phẩm đã được tiêu thụ trong kỳ đó

- Chi phí thời kỳ: chi phí thời kỳ bao gồm các khoản mục chi phí cònlại sau khi đã xác định các khoản mục chi phí thuộc chi phí sản phẩm Nóthường bao gồm chi phí bán hàng, chi phí quản lý DN và chi phí tài chính.Các chi phí thời kỳ phát sinh ở kỳ kế toán nào được xem là có tác dụng phục

vụ cho quá trình kinh doanh của thời kỳ đó, do vậy chúng được tính toán kếtchuyển hết để xác định lợi nhuận ngay trong kỳ mà chúng phát sinh

1.2.2 Xây dựng định mức

Định phí sản xuất chung định mức cho một sản phẩm nghĩa là: chi phísản xuất mong muốn cho một sản phẩm Trong kế toán quản trị có hai loạiđịnh mức được sử dụng phổ biến: định mức về lượng và định mức về giá

Trang 19

để tạo ra một sản phẩm hoặc cung cấp một dịch vụ.

- Định thức về giá chỉ rõ nên trả bao nhiêu cho mỗi đơn vị nguồn lực Định mức được xây dựng cho các hoạt động khác nhau, và các kết quả

thực tế được so sánh với các định mức này Bất kỳ những chênh lệch nào đượcxem là đáng kể sẽ được các nhà quản trị lưu ý như là những “trường hợp đặcbiệt” Xây dựng giá thành định mức đòi hỏi sự kết hợp của mọi người có tráchnhiệm với việc mua và sử dụng các nguồn lực Các định mức được xây dựngnhằm khuyến khích các hoạt động tương lai có hiệu quả, tránh lập lại các hoạtđộng kém hiệu quả trong quá khứ Vì vậy đây là khâu vô cùng quan trọng, giúpnhà quản trị kiểm soát và sử dụng hiệu quả nhất nguồn lực của doanh nghiệp

Phương pháp xác định giá thành định mức cho một đơn vị sản phẩm (Zđm/đv)

Giá thành định mức cho luật đơn vị sản phẩm được xác định theo côngthức:

Trang 21

1.2.3 Dự toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

1.2.3.1 Khái quát về dự toán

Dự toán là các kế hoạch chi tiết mô tả việc huy động và sử dụng cácnguồn lực của doanh nghiệp trong khoảng thời gian nhất định

Lập dự toán chi phí SXKD là việc lập dự kiến chi tiết những chỉ tiêu trong

hệ thống quá trình SXKD của doanh nghiệp trong từng kỳ Dự toán chi phí SXKD chiếm một phần công việc quan trọng trong KTQT chi phí Trên cơ sở các định mức chi phí NVL, NCTT, SXC… cho từng chi tiết sản phẩm, doanh nghiệp lập dự toán chi phí, xây dựng kế hoạch cụ thể về việc sử dụng các nguồn lực có hạn của mình sao cho phù hợp, làm cơ sở để đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí của doanh nghiệp Với vai trò như vậy dự toán chi phí có những ý nghĩa sau:

- Dự tính được trong tương lai cần phải làm gì, kết quả đạt được nhằm cung

cấp cho nhà quản trị các mục tiêu hoạt động thực tiễn, trên cơ sở đó kết quả thực tế sẽ được so sánh và đánh giá

Trang 22

- Dự toán là cơ sở để nhà quản lý tổ chức thực hiện nhiệm vụ của doanh

Trang 23

các nhà quản lý biết rõ cách thức các hoạt động trong doanh nghiệp đan kếtvới nhau.

- Dự toán là phương thức truyền thông để các nhà quản lý trao đổi cácvấn đề liên quan đến mục tiêu, quan điểm và kết quả đạt được Lập dự toáncho phép các nhà quản lý xây dựng và phát triển nhận thức về sự đóng gópcủa mỗi hoạt động đến hoạt động chung trong nội bộ doanh nghiệp

1.2.3.2 Dự toán chi phí sản xuất

Định kỳ, doanh nghiệp tiến hành lập dự toán tổng quát bao gồm tậphợp tất cả các dự toán chi tiết của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tạiđơn vị mình Trong dự toán tổng quát đó, bao gồm dự toán chi phí sản xuất và

dự toán chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp, dự toán chi phí tài chính

Dự toán về chi phí sản xuất bao gồm: dự toán chi phí nguyên vật liệu trựctiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất chung

- Dự toán chi phí NVL trực tiếp phản ánh tất cả chi phí nguyên vật liệutrực tiếp cần thiết để đáp ứng yêu cầu sản xuất đã được thể hiện trong kếhoạch sản xuất Để lập dự toán nguyên vật liệu trực tiếp cần xác định:

+ Định mức tiêu hao nguyên vật liệu để sản xuất một sản phẩm Địnhmức NVL được xác định trên cơ sở mối quan hệ về mặt kỹ thuật giữa chi phíNVL trực tiếp và sản phẩm đầu ra Mức tiêu hao thường do bộ phận phòng kỹthuật xác định trên cơ sở tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm

+ Đơn giá xuất nguyên vật liệu do bộ phận mua hàng của doanh nghiệpxác định và yêu cầu đặt ra là bộ phận mua hàng cần lựa chọn nhà cung ứngNVL có chất lượng cao, giá cả hợp lý Thông thường đơn giá xuất ít thay đổi.Tuy nhiên để có thể phù hợp với thực tế và làm cơ sở cho việc kiểm tra, kiểmsoát khi dự toán đơn giá này cần phải biết doanh nghiệp sử dụng phươngpháp tính giá hàng tồn kho nào: phương pháp LIFO, FIFO, đơn giá đích danhhay đơn giá bình quân

Trang 24

Chi phí

NVLTT

dự toán

- Dự toán chi phí NCTT được tính trên căn cứ vào đơn giá tiền lương

được xây dựng cho từng sản phẩm và sản lượng sản phẩm dự kiến sản xuất

Mục tiêu cơ bản của dự toán này là duy trì lực lượng lao động vừa đủ để đáp

ứng yêu cầu sản xuất, tránh tình trạng lãng phí hoặc bị động trong sử dụng lao

động

Chi phí

dự toánTrong đó, định mức tiêu hao thời gian lao động do bộ phận kỹ thuật

doanh nghiệp xây dựng trên cơ sở quy trình sản xuất theo yêu cầu của từng

sản phẩm

Dự toán lao động còn là cơ sở để doanh nghiệp lập dự toán về đào tạo,

tuyển dụng trong qúa trình hoạt động sản xuất Để lập dự toán chi phí này,

doanh nghiệp phải tính toán dựa vào số lượng nhân công, quỹ lương, cách

phân phối lương và nhiệm vụ của doanh nghiệp

- Dự toán chi phí sản xuất chung trên cơ sở định phí SXC và biến phí

SXC, dự toán này được tính:

Trang 25

Dự toán địnhphí SXC

1.2.3.3 Dự toán giá thành sản phẩm

Trong công tác quản trị doanh nghiệp thì dự toán giá thành đóng vai trò

rất quan trọng, thể hiện cụ thể như sau:

Đây là cơ sở để xác định kết quả kinh doanh của từng loại sản phẩm và

của doanh nghiệp Trên cơ sở dự toán giá thành giúp nhà quản lý thực hiện tốt

việc hoạch định và kiểm soát chi phí Trên cơ sở hoạch định kiểm soát nhà

quản lý có thể sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả nhất, cải tiến sản

phẩm, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường

Và một vấn đề cốt lõi của dự toán giá thành sản phẩm là cơ sở để

doanh nghiệp có thể xác định giá bán hợp lý khi ký kết nhận các đơn hàng sản

xuất và các quyết định phù hợp khác

Từ những vấn đề trên, cho thấy công tác lập dự toán giá thành sản

phẩm là một nội dung vô cùng quan trọng và là chủ yếu của KTQT chi phí

1.2.4 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

1.2.4.1 Đối tượng tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm

Đôi tượng tập hợp chi phí: là phạm vi được xác định trước để tập hợp chi

phí Xác định đối tượng tập hợp chi phí thực chất là xác định giới hạn các bộ

phận chịu chi phí hoặc các đối tượng chịu chi phí làm cơ sở cho việc tổ chức

Trang 26

kế toán tập hợp chi phí phục vụ cho tính giá thành sản phẩm Việc xác địnhđúng đắn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là công việc hàng đầu rất quantrọng trong công tác tổ chức kế toán quản trị nói chung của doanh nghiệp

Để xác định được đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể căn cứ vào các yêu tố sau như: vào địa điểm phát sinh chi phí, tính chất sản xuất và đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, loại hình sản xuất, yêu cầu quản lý…

Đối tượng tính giá thành: là kết quả của quá trình sản xuất hoặc quá trình

cung cấp dịch vụ cần được tính giá thành để phục vụ các yêu cầu của quản lý.Xác định đối tượng tính giá thành thường gắn với yêu cầu của nhà quản trị vềkiểm soát chi phí, định giá bán và xác định kết quả kinh doanh về một đối tượng,một hoạt động nào đó Trong doanh nghiệp sản xuất, đối tượng tính giá thành cóthể là sản phẩm, bán thành phẩm, công việc hoàn thành qua quá trình sản xuất

1.2.4.2 Tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Tùy thuộc vào yêu cầu thông tin để lập báo cáo phục vụ quản lý mà kếtoán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành có thể được thực hiện theo 2phương pháp:

Phương pháp toàn bộ

Là phương pháp mà tất cả các chi phí tham gia vào quá trình sản xuấtsản phẩm (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chiphí sản xuất chung) đều được tính vào giá thành sản phẩm sản xuất hoànthành Cơ sở tính các chi phí này vào giá thành được chuẩn mực kế toán chấpnhận như là một nguyên tắc khi xác định giá gốc của thành phẩm ở doanhnghiệp sản xuất

Phương pháp tính giá thành toàn bộ gồm hai hệ thống tính giá thànhsản phẩm: hệ thống tính giá thành theo công việc và hệ thống tính giá thànhtheo quá trình sản xuất

Trang 27

cáo tài chính theo quy định Trên phương diện kế toán quản trị, phương phápnày có thể coi là một cách tính đầy đủ các chi phí sản xuất để làm cơ sở địnhgiá bán sản phẩm, đánh giá hiệu quả nội bộ, kiểm soát chi phí theo từng trungtâm chi phí Nếu như kế toán tài chính chỉ quan tâm đến chi phí thực tế phátsinh để tính giá thành thì vận dụng phương pháp này trong kế toán quản trị cóthể tính theo chi phí tạm tính như trường hợp tính giá thông dụng trong hệthống tính giá theo đơn đặt hàng, hoặc giá định mức, giá tiêu chuẩn trong quátrình xây dựng kế hoạch Chính sự khác biệt này đã nâng tầm kế toán chi phítrong hệ thống kế toán quản trị ở các tổ chức Tuy nhiên phương pháp nàykhông đáp ứng được yêu cầu cho các nhà quản trị trong việc lập các kế hoạchlinh hoạt đáp ứng nhu cầu thông tin về chi phí đơn vị trong các tình huốngquy mô sản xuất khác nhau và các quyết định về giá bán sản phẩm với mứcsản lượng khác nhau.

Phương pháp trực tiếp

Theo phương pháp này, giá thành sản phẩm sản xuất chỉ bao gồm cácchi phí sản xuất biến đổi, còn các chi phí sản xuất cố định không được tínhvào giá thành sản phẩm hoàn thành

Như vậy, khác với phương pháp trên, theo phương pháp tính giá trựctiếp thì chỉ có những chi phí của quá trình sản xuất mà trực tiếp biến độngtheo hoạt động sản xuất mới được xem là chi phí sản xuất, bao gồm: chi phínguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuấtchung khả biến Chi phí sản xuất chung bất biến được coi là chi phí thời kỳ

và được tính vào chi phí kinh doanh ngay trong kỳ kế toán

Phương pháp này được sử dụng nhiều trong KTQT như: Định giá sản phẩm,lập dự toán linh hoạt, lập báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí, ứng dụng trongphân tích mối quan hệ chi phí, khối lượng và lợi nhuận, xác định sản

Trang 28

lượng hòa vốn,

1.2.5 Kiểm soát chi phí sản xuất

1.2.5.1 Kiểm soát chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Chi phí NVLTT bao gồm các chi phí nguyên liệu, vật liệu chính, vậtliệu phụ hao phí cho từng quá trình sản xuất Biến động chi phí NVLTT có thểđược kiểm soát gắn liền với các nhân tố giá và lượng có liên quan

Mức biến động về chi phí nguyên vật liệu được xác định theo hai nộidung là: biến động về lượng và biến động về giá với công thức được dử dụngnhư sau:

Biến động về CPNVL TT = Biến động về giá + Biến động về lượng

Biến động nhân tố giá: Là sự chênh lệch giữa giá NVL trực tiếp thực tế

với giá NVL trực tiếp theo dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định

Ảnh hưởng về giá có thể là âm hay dương Nếu ảnh hưởng là âm chứng

tỏ giá vật liệu thực tế thấp hơn giá giá vật liệu dự toán đặt ra Tình hình nàyđược đánh giá là tốt nếu chất lượng vật liệu đảm bảo Ngược lại, ảnh hưởng làdương thể hiện giá vật liệu tăng so với dự toán sẽ làm tăng tổng chi phí sảnxuất Khi kiểm soát biến động về giá, cần quan tâm đến các nguyên nhân biếnđộng của giá giá vật liệu trên thị trường, chi phí thu mua, chất lượng NVL,thuế, các phương pháp tính giá NVL,

Biến động nhân tố lượng: Là chênh lệch giữa lượng NVL trực tiếp thực

tế với lượng NVL trực tiếp theo dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhấtđịnh Biến động về lượng phản ánh tiêu hao vật chất thay đổi như thế nào vàảnh hưởng đến tổng chi phí NVL trực tiếp ra sao

Trang 29

Biến động về

lượng NVLTTĐM)

Biến động về giáNVLTT

1.2.5.2 Kiểm soát biến động chi phí nhân công trực tiếp

Mức biến động về chi phí nhân công trực tiếp được xác định theo hai

nội dung là: sự biến động về đơn giá lao động trực tiếp và sự biến động về

năng suất lao động trực tiếp và được xác định bởi công thức sau:

Biến động vềgiá nhân công

1.2.5.3 Kiểm soát biến động chi phí sản xuất chung

Biến độngnăng suất laođộng

Trang 30

Biến động chi phí sản xuất chung được xem xét trên hai góc độ là chiphí sản xuất chung cố định và chi phí sản xuất chung biến đổi của hai yếu tố

là giá và lượng, được xác định như sau:

Trang 31

Biến động chiphí SXC

Kiểm soát biến động biến phí sản xuất chung: Biến phí SXC gồm

những chi phí gián tiếp liên quan đến phục vụ và quản lý hoạt động sản xuất.Chi phí nay thường thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt động sản xuấtcủa doanh nghiệp như: chi phí vật tư gián tiếp, tiền lương bộ phận quản lý trảtheo sản phẩm gián tiếp

Ảnh hưởng của nhân tố giá đến biến phí SXC thường do sự thay đổicủa các mức chi phí được xem là biến phí SXC Các mức này thay đổi thường

do nhiều nguyên nhân như: đơn giá mua vật liệu gián tiếp cũng như chi phíthu mua thay đổi, sự biến động giá cả chung của thị trường

Ảnh hưởng củagiá đến biến phíSXCẢnh hưởng củalượng đến biếnphí SXC

Kiểm soát biến động định phí sản xuất chung: Định phí SXC là các

khoản chi phí phục vụ và quản lý sản xuất, thường không thay đổi theo sự biếnthiên của mức độ hoạt động trong phạm vi phù hợp Chẳng hạn: tiền lương bộ

Trang 32

phận quản lý phân xưởng trả theo thời gian, chi phí bảo hiểm, tiền thuê mặtbằng Biến động CPSXC cố định là chênh lệch giữa CPSXC cố định thực tế

Trang 33

Biến độngđịnh phí SXC

Trang 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Kế toán quản trị là công cụ không thể thiếu trong việc thực hiện nhiệm vụquản trị doanh nghiệp một cách khoa học và hiệu quả, kế toán quản trị chi phísản xuất là bộ phận của hệ thống kế toán quản trị thực hiện chức năng xử lý vàcung cấp thông tin về chi phí trong quá trình sản xuất để mỗi tổ chức thực hiệntốt chức năng quản trị, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động

và ra các quyết định hợp lý Chương này của luận văn trình bày những nội dungchủ yếu của kê toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp sản xuất, cụ thể

dự toán chi phí sản xuất, xác định giá phí sản phẩm sản xuất, kiểm soát chi phíphù hợp Đồng thời, đây là cơ sở lý luận cho việc phản ánh thực

trạng và đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện hơn kế toán quản trị chi phí sảnxuất tại Công ty TNHH Xuất Nhập Khẩu Hoàng Thiện

Trang 35

THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY TNHH XUẤT NHẬP KHẨU HOÀNG THIỆN

2.1 Giới thiệu khái quát vể Công ty TNHH XNK Hoàng Thiện

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển ngành nghề kinh doanh

Tên doanh nghiệp: Công ty TNHH xuất nhập khẩu Hoàng Thiện

Địa chỉ trụ sở chính: Số 47, đường Ngô Mây, TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.Điện thoại: 02563.647047 Fax: 056 847805

Mã số thuế : 4101438460 Ngày cấp: 19/01/2015

Email: sales@hoangthienfurniture.com

Website: www.hoangthienfurtuniture.com

Giám đốc: Nguyễn Hoàng Đức Hậu

Địa điểm kinh doanh: Nhà máy sản xuất đồ nội thất gỗ ngoài trời

Địa chỉ: Phước Lộc – Tuy Phước - Bình Định

Năm 1998, Công ty TNHH Hoàng Thiện được thành lập tại địa bànTỉnh Bình Định, thực hiện dự án xây dựng nhà máy sản xuất và chế biến lâmsản Đây là một trong những nhà máy chế biến lâm sản đầu tiên tại BìnhĐịnh, diện tích toàn bộ nhà máy trên 3ha, được đầu tư xây dựng quy mô Đếnnăm 1999, nhà máy đã bắt đầu hoạt động xuất khẩu, thu được ngoại tệ

Năm 2015, được sự cho phép của Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình ĐịnhCông ty TNHH Hoàng Thiện mở rộng thêm ngành nghề kinh doanh, quy môhoạt động sản xuất, đầu tư thêm nhiều hạn mục máy móc, trang thiết bị hiệnđại, mở rộng thị trường xuất khẩu sang nhiều quốc gia khác Và được đổi tênthành Công ty TNHH Xuất Nhập Khẩu Hoàng Thiện cho đến nay

Với quá trình thành lập và phát triển hơn 20 năm Công ty đã khẳngđịnh vị thế của mình trên thị trường, đặc biệt là thị trường châu Âu, châu Úc

Công ty chuyên sản xuất mặt hàng đồ gỗ ngoại thất, gỗ kết hợp sắt, mâynhựa… để xuất khẩu Thông qua sự hợp tác thương mại lâu dài với lượng kháchhang chủ yếu là các tập đoàn nước ngoài như Carrefour, MGB Metro

Trang 36

2.1.2 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất chế biến gỗ xuất khẩu

2.1.2.1 Quy trình công nghệ sản xuất

Quy trình cơ bản về công nghệ sản xuất sản phẩm gỗ như sau :

● Bước 1: Nhập khẩu, mua gỗ tròn, gỗ hộp, gỗ xẻ

● Bước 2: Tổ chức cưa xẻ gỗ tròn thành gỗ xẻ nhập kho

● Bước 3: Tổ chức sấy gỗ trong các lò sấy chuyên dụng (khoảng từ

20 đến 32 ngày)

● Bước 4: Phân loại và nhập kho gỗ sấy sau khi hoàn thành sấy

● Bước 5: Sơ chế, tinh chế gỗ sấy thành phôi chi tiết sản phẩm của các đơn hàng xuất khẩu

● Bước 6: Lắp ráp thành cụm chi tiết sản phẩm sau tinh chế

● Bước 7: Sơn, dầu bóng … bề mặt các cụm sản phẩm

● Bước 8: Lắp ráp hoàn chỉnh sản phẩm

● Bước 9: Kiểm nghiệm chất lượng sản phẩm

● Bước 10: Đóng gói bao bì sản phẩm

● Bước 11: Nhập kho thành phẩm từng đơn hàng

● Bước 12: Giao hàng xuất khẩu theo đơn hàng

Trong điều kiện hiện nay, để đảm bảo việc thực hiện được các quy địnhnghiêm ngặt của thị trường Mỹ, Châu Âu, đòi hỏi phải có chứng chỉ FSC chodoanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ, trong đó có Việt Nam thì vần đế tăng cường quản

lý chất lượng cũng như quản lý được nguồn gốc gỗ hình thành sản phẩm là hếtsức quan trọng và cấp bách Vì vậy, nguyên liệu gỗ từ lúc thu mua, nhập khẩuphải đảm bảo có nguồn gốc hợp pháp và trong quá trình chế biến phải thực hiệnquy trình theo dõi sát sao, ghi chép cụ thể về chuỗi hành trình sản

Trang 37

Tuy quy trình chế biến theo các bước như trên nhưng có thể tóm tắt thông qua 3 công đoạn chính như sau:

- Công đoạn hậu cần chuẩn bị nguyên liệu sản xuất: Công đoạn nàychủ yếu là thu mua và chế biến để hình thành nên loại nguyên liệu sản xuấthàng xuất khẩu nhập kho, chính là gỗ sấy đạt ẩm độ 14%

- Công đoạn chế biến và lắp ráp sản phẩm: Công đoạn này chỉ tiếnhành khi có lệnh sản xuất, kèm theo các bảng hướng dẫn tiêu chuẩn kỹ thuật,

số lượng chi tiết quy định của từng sản phẩm Tiêu chuẩn kỹ thuật của chi tiếtsản phẩm có thể bằng bảng vẽ chi tiết hoặc có thể bằng mẫu sống cụ thể

Nguyên liệu gỗ sấy được cấp phát theo bảng định mức cấp phát nguyênliệu được tính cho từng lệnh sản xuất cụ thể, trong đó ghi rõ loại gỗ, quy cáchdày, khối lượng, Kế toán kho và thủ kho nguyên liệu gỗ sấy sẽ cấp phátnguyên liệu theo định mức ban hành và cấp trực tiếp cho bộ phận công nhân

sơ chế để chế biến ra các loại chi tiết phôi của sản phẩm tương ứng số lượngtheo yêu cầu Phôi chi tiết sản phẩm sau sơ chế được chuyển tiếp sang các bộphận công nhân tinh chế để bào nhẵn, đục mộng, khoan lỗ, đánh bóng, Tiếptheo, một bộ phận công nhân lắp ráp sẽ nhận phôi tinh chế để lắp ráp thànhcụm chi tiết như mặt bàn, bộ chân bàn, mặt ghế, cụm lưng tựa ghế, và một

bộ phận công nhân lắp ráp khác lắp ráp các cụm chi tiết thành sản phẩm vàtiến hành kiểm nghiệm các tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm sau lắp ráp

- Công đoạn hoàn chỉnh sản phẩm: Công đoạn này tiếp nhận sản phẩmlắp ráp hoàn thành, trực tiếp xử lý bề mặt sản phẩm và KCS của công ty kiểmnghiệm trước khi sơn phủ lanh, dầu hoặc sơn bóng Công đoạn này thườngđược thực hiện trên các dây chuyền treo hoặc dây chuyển con lăn để giảm bớt

sự nặng nhọc cho người lao động Sản phẩm sau khi qua công đoạn này, sẽđược bộ phận KCS của khách hàng kiểm nghiệm trực tiếp, hoặc đơn vị thứ 3kiểm nghiệm, nếu chấp nhận hoặc không chấp nhận phải sửa chữa lại rồi mới

đóng bao bì nhập kho thành phẩm trước khi xuất hàng (Tóm tắt quy trình sản xuất theo sơ đồ 2.1)

Trang 38

31

Trang 40

2.1.2.2 Đặc điểm về sản phẩm gỗ xuất khẩu

Sản phẩm gỗ xuất khẩu có hình thái vật chất cụ thể, gồm nhiều loại sảnphẩm khác nhau, đa dạng về chủng loại, mẫu mã và được sản xuất hàng loạtnhưng có giới hạn về số lượng tùy từng đơn hàng của khách hàng Chính vì vậy,mỗi loại sản phẩm đều có yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật, cũng như kết cấuriêng, đòi hỏi kỹ thuật chế biến phù hợp cho từng loại sản phẩm tương ứng

Trong cùng một quá trình sản xuất, với các loại sản phẩm của các đơnhàng có mẫu mã khác nhau nhưng sử dụng cùng loại nguyên liệu gỗ thì có thểchế biến cho ra nhiều loại chi tiết sản phẩm khác nhau để có thể tận dụng tối

đa nguyên liệu gỗ, giảm tiêu hao trong sản xuất

2.1.3 Đặc điểm tổ chức sản xuất

Trong hoạt động SXKD, Công ty đang song song thực hiện sản xuất sảnphẩm gỗ để xuất khẩu trực tiếp hoặc gia công cho đơn vị khác nhận xuất khẩu

- Xuất khẩu trực tiếp: Căn cứ vào các đơn hàng đã ký với khách hàng, Công

ty tiến hành sản xuất bắt đầu từ khâu mua nguyên vật liệu cho đến khi sản phẩm

hoàn thành giao cho khách hàng theo giá FOB Với hình thức này, công tychủ động trong việc tổ chức sản xuất, ký kết các hợp đồng kinh tế và trực tiếpthu được ngoại tệ xuất khẩu

- Gia công cho các đơn vị khác xuất khẩu: Công ty nhận đơn hàng gia

công cho các Công ty khác trong nước trên cơ sở các hợp đồng gia công đểcác Công ty này trực tiếp xuất khẩu Và với hình thức này thì mẫu mã, tiêuchuẩn và chất lượng sản phẩm do công ty giao gia công đưa ra và chịu tráchnhiệm Về nguyên vật liệu sản xuất có thể do bên gia công cung cấp toàn bộhoặc công ty gia công tự lo tùy theo hợp đồng ký kết Tuy nhiên loại hình nàykhông được ổn định và phụ thuộc hoàn toàn vào đối tác ký kết hợp đồng do

đó công ty không chú trọng nhiều vào việc thực hiện các đơn hàng gia công

và chiếm khoảng 5% hoạt động sản xuất của Công ty gỗ

Ngày đăng: 18/11/2021, 15:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w