Trong phân môn chính tả, khi dạy thì phân môn này được chia làm ba kiểu đó là Tập chép, Nghe viết và Nhớ viết. Học sinh sẽ tập làm quen dần với ba dạng qua các lớp. Về Tập chép giúp các em có thể làm quen với chính tả. Khi các em đã quen với việc viết các em sẽ được giáo viên đọc các em viết lại gọi là Chính tả Nghe viết. Khi các em đã viết thành thạo thì các em sẽ viết chính tả với dạng Nhớ viết. Dù viết ở dạng nào thì các em cũng đều được học về viết, môn Chính tả giúp các em viết đúng về âm, về dấu ngã, dấu hỏi…Để hiểu rõ hơn về các kiểu dạy bài Chính tả nên tôi đã quyết định chọn đề tài “Tổ chức dạy các kiểu bài Chính tả” Qua đề tài này sẽ giúp tôi trau dồi thêm kiến thức để giảng dạy tốt hơn.
Trang 1KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON
TÊN ĐỀ TÀI
TỔ CHỨC DẠY CÁC KIỂU BÀI CHÍNH TẢ
HỌC PHẦN: PP DH CHỮ VIẾT VÀ CHÍNH TẢ Ở TIỂU HỌC
ĐỒNG THÁP, NĂM 2021
Trang 2………
………
Điểm của Giảng viên chấm 1:
Nội dung Than
g điểm
Điểm chấm
Nội dung 2 5.0
Kết luận, tài liệu
tham khảo, phụ lục 0.5
Hình thức trình bày 0.5
TỔNG ĐIỂM 10.0
Điểm của Giảng viên chấm 2:
Nội dung Thang
điểm
Điểm chấm
Nội dung 2 5.0
Kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục 0.5 Hình thức trình bày 0.5
TỔNG ĐIỂM 10.0
Điểm toàn bài của Học viên 1:… ……… Điểm toàn bài của Học viên 2:… ……… Điểm toàn bài của Học viên 3:… ………
Giảng viên chấm 1
(ký và ghi rõ họ tên)
Đồng Tháp, ngày ……tháng … năm 2021
Giảng viên chấm 2
(ký và ghi rõ họ tên)
Trang 3MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU………02
PHẦN NỘI DUNG………03
Nội dung 1……… 03
I Tổng quan về nội dung dạy chính tả ở Tiểu học……….03
1 Chương trình phân môn Chính tả………03
2 Cấu trúc bài Chính tả……… 03
3 Các bài tập Chính tả……….04
II Tổ chức dạy các kiểu bài Chính tả……… 04
1 Các kiểu dạy bài Chính tả……….04
1.1 Dạng bài Tập chép………04
1.2 Dạng bài Nghe – Viết……… 05
1.3 Dạng bài Nhớ - Viết……… 06
2 Các dạng bài tập Chính tả Âm – vần……… 06
3 Phương pháp dạy học Chính tả………07
3.1 Phương pháp phân tích ngôn ngữ……….07
3.2 Phương pháp giao tiếp……… 08
3.3 Phương pháp rèn luyện theo mẫu……….08
4.Quy trình lên lớp của một bài chính tả……….09
5 Một số điểm cần lưu ý khi dạy các bài chính tả……… 10
5.1 Khi tổ chức dạy kiểu bài tập chép……….10
5.2 Khi tổ chức dạy các kiểu bài Nghe - viết……… 10
5.3 Khi tổ chức dạy các kiểu bài tập Nhớ - viết……… 11
6 Một số điểm cần lưu ý khi tổ chức thực hiện các bài chính tả âm vần……… 11
Nội dung 2: Thiết kế kế hoạch dạy học môn chính tả……… 12
PHẦN KẾT LUẬN……… 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 17
Trang 4MỞ ĐẦU
Trong cuộc sống hàng ngày, để giao tiếp tốt ngoài ngôn ngữ nói còn có ngôn ngữ viết Ngôn ngữ viết đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong giao tiếp của một quốc gia nói chung và của Việt Nam chúng ta nói riêng Trong tiếng Việt, yêu cầu đặc biệt quan trọng đầu tiên của ngôn ngữ viết là phải viết đúng chính tả
Chính tả thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ viết mới được thuận lợi Vì vậy, việc dạy chính tả phải được coi trọng ngày từ đầu bậc Tiểu học Phân môn chính tả có vị trí quan trọng trong cơ cấu chương trình môn Tiếng việt Giai đoạn Tiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng chính tả cho học sinh Vì vậy môn chính tả được bố trí thành một phân môn độc lập (thuộc môn Tiếng Việt), có tiết dạy riêng, có nhiệm vụ rèn luyện cho học sinh nắm các quy tắc và thói quen viết đúng các chuẩn chính
tả tiếng Việt Ngay từ đầu bậc Tiểu học, cần phải cho học sinh học phân môn chính tả một cách có khoa học, cẩn thận để các em có một ngôn ngữ viết đúng, chuẩn trong suốt những năm tháng ngồi trên ghế nhà trường cũng như để vận dụng trong cuộc sống
Phân môn chính tả giúp học sinh:
- Trang bị một số kiến thức về quy tắc chính tả tiếng Việt; rèn luyện kĩ năng nghe, kĩ năng viết chính tả một đoạn văn, bài văn
- Kết hợp rèn luyện một số kĩ năng sử dụng tiếng Việt và phát triển tư duy cho học sinh -Mở rộng vốn hiểu biết trong cuộc sống, con người, góp phần hình thành nhân cách con người mới; thái độ cẩn thận và yêu cái đẹp trong giao tiếp bằng tiếng Việt
Trong phân môn chính tả, khi dạy thì phân môn này được chia làm ba kiểu đó là Tập chép, Nghe - viết và Nhớ - viết Học sinh sẽ tập làm quen dần với ba dạng qua các lớp Về Tập chép giúp các em có thể làm quen với chính tả Khi các em đã quen với việc viết các
em sẽ được giáo viên đọc các em viết lại gọi là Chính tả Nghe - viết Khi các em đã viết thành thạo thì các em sẽ viết chính tả với dạng Nhớ - viết Dù viết ở dạng nào thì các em cũng đều được học về viết, môn Chính tả giúp các em viết đúng về âm, về dấu ngã, dấu hỏi…
Để hiểu rõ hơn về các kiểu dạy bài Chính tả nên tôi đã quyết định chọn đề tài “Tổ chức dạy các kiểu bài Chính tả” Qua đề tài này sẽ giúp tôi trau dồi thêm kiến thức để giảng dạy tốt hơn
Trang 5NỘI DUNG Nội dung 1
I Tổng quan về nội dung dạy học chính tả ở Tiểu học.
Nội dung dạy học Chính tả là các kiến thức và kĩ năng chính tả được thể hiện qua sự phân bố chương trình, sách giáo khoa, qua cấu trúc chung của các bài học chính tả và các dạng bài học Đặc biệt, trong chương trình tiểu học không có tiết dạy riêng về lí thuyết chính tả, các kĩ năng chính tả đều được hình thành qua việc thực hiện những nhiệm vụ cụ thể Vì vậy, các bài tập chính tả (bài tập chính tả âm, vần) giữ một vị trí quan trọng trong việc hình thành và củng cố kĩ năng chính tả cho học sinh
1 Chương trình phân môn Chính tả
- Phân bố ở cả 5 lớp của bậc Tiểu học ở lớp 1, nội dung dạy học chính tả chủ yếu là làm quen, gắn liền với nhiệm vụ tập viết Có thể chia nội dung dạy học chính tả ở lớp 2, 3, 4, 5 làm hai giai đoạn: giai đoạn 1 (lớp 2, 3) và giai đoạn 2 (lớp 4, 5) Trong chương trình hiện hành có 3 dạng bài chính tả (đoạn - bài): tập chép, nghe - viết và nhớ - viết
2 Cấu trúc bài chính tả
Cấu trúc bài chính tả gồm hai phần:
- Phần 1: Chính tả đoạn / bài Đây là bài viết chính tả có nội dung theo chủ điểm học của tuần Bài viết có thể là trích đoạn của bài tập đọc đã học, hoặc được soạn lại từ một bài tập đọc đã học cho phù hợp với mục tiêu dạy học, hoặc cũng có thể là một bài viết được chọn ở ngoài SGK Tiếng Việt Yêu cầu về dung lượng bài viết và thời gian viết dành cho học sinh mỗi khối lớp khác nhau
+ Lớp 1: Tập chép hoặc nghe viết một bài chính tả có độ dài khoảng 35 chữ ghi tiếng + Lớp 2, 3: Tập chép hoặc nghe - viết bài chính tả dài khoảng 50 chữ (lớp 2) hoặc 60 chữ (lớp 3 ) Yêu cầu về tốc độ viết: 3 - 4 chữ / 1 phút + Lớp 4, 5: Nghe - viết hoặc nhớ – viết bài chính tả độ dài khoảng 80 (lớp 4), 100 chữ (lớp 5) Yêu cầu về tốc độ viết: 6 - 7 chữ /
1 phút
- Phần 2: Chính tả âm - vần Phần này gồm các bài tập luyện kĩ năng chính tả cho học sinh Có 2 nhóm bài tập chính tả âm - vần:
+ Nhóm bài tập bắt buộc dành cho mọi đối tượng học sinh Đây là các bài tập nhằm cung cấp kiến thức, kĩ năng chính tả cho học sinh các vùng - miền khác nhau (Ví dụ: bài tập về quy tắc viết chữ hoa, bài tập phân biệt các hiện tượng chính tả có quy tắc c / k / q; g / gh; ngh / ng…)
Trang 6+ Nhóm bài tập lựa chọn (để trong dấu ngoặc đơn) Đây là loại bài tập chính tả phương ngữ Để thực hiện những bài tập này, học sinh phải sử dụng các thao tác đối chiếu, so sánh lựa chọn Tuỳ đặc điểm phương ngữ của từng đối tượng, giáo viên chọn bài tập thích hợp để cho học sinh luyện tập, thậm chí, giáo viên có thể soạn bài tập lựa chọn cho học sinh của mình, nếu như các bài tập trong SGK không thực sự phù hợp với đặc điểm phương ngữ của đối tượng học sinh cụ thể trong lớp mình
3 Các bài tập chính tả
- Ở Tiểu học rất phong phú về số lượng và kiểu loại Hệ thống bài tập chính tả âm, vần gồm hai nhóm: nhóm bài tập chung cho tất cả các học sinh tiểu học thuộc nhiều vùng miền khác nhau, và nhóm bài tập chính tả dành cho học sinh từng vùng phương ngữ nhằm khắc phục những lỗi chính tả đặc thù do ảnh hưởng của lối phát âm địa phương Tùy vào những căn cứ nhất định, có thể phân chia bài tập chính tả thành nhiều loại khác nhau
II Tổ chức dạy các kiểu bài chính tả
1 Các kiểu bài chính tả:
Có 3 kiểu bài chính tả: tập chép, nghe - viết và nhớ - viết Chương trình mới không
có dạng bài chính tả so sánh vì thao tác so sánh được đưa vào thực hiện trong từng bài, tập trung chủ yếu ở bước luyện viết đúng chữ khó và bước thực hiện các bài tập chính tả
âm, vần
1.1 Dạng bài Tập chép:
Tập chép là dạng bài chính tả yêu cầu học sinh chép lại chính xác tất cả các từ, câu hay đoạn trong sách giáo khoa hoặc trên bảng lớp Trong kiểu bài Tập chép, học sinh dựa vào văn bản mẫu để đọc (đọc thầm) và chép lại đúng hình thức chữ viết của văn bản mẫu (chỉ
có một khác biệt nhỏ là có thể chuyển hình thức chữ in sang hình thức chữ viết tay) Kiểu bài này có tác dụng giúp học sinh nhớ mặt chữ của các từ, câu, đoạn Qua việc lặp đi lặp lại hình thức chính tả này, hình thức của các kí hiệu văn tự (mặt chữ) sẽ dần dần định hình trong nhận thức của học sinh, đi vào tiềm thức của các em
Ví dụ: Tập chép (Nhìn chép): “Ngày hôm qua đâu rồi?” chép hai khổ thơ cuối
(Tiếng việt 2, Tập 1, Sách Chân trời sáng tạo)
Trang 7Ngày hôm qua đâu rồi?
BẾ KIẾN QUỐC
1.2 Dạng bài Nghe - viết:
Đây là kiểu bài thể hiện đặc trưng riêng của phân môn Chính tả Hình thức chính tả nghe đọc thể hiện rõ nhất đặc trưng của chính tả tiếng Việt: là chính tả ngữ âm, giữa âm
và chữ (đọc và viết) có mối quan hệ mật thiết - đọc thế nào viết thế ấy Dạng bài chính tả Nghe - viết yêu cầu học sinh nghe từng từ, cụm từ, câu do giáo viên đọc và viết lại một cách chính xác, đúng chính tả những điều nghe được theo đúng tốc độ quy định Muốn viết được các bài chính tả nghe - viết, học sinh phải có năng lực chuyển ngôn ngữ âm thanh thành ngôn ngữ viết, phải nhớ mặt chữ và các quy tắc chính tả tiếng Việt Bên cạnh
đó, vì chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ nghĩa, muốn viết đúng chính tả, học sinh còn phải hiểu nội dung của tiếng, từ, câu hay của bài viết Để các kĩ năng chính tả được hình thành một cách nhanh chóng ở học sinh, văn bản được chọn làm bài viết chính tả phải chứa nhiều hiện tượng chính tả cần dạy (cần chú ý tới yêu cầu dạy chính tả theo phương ngữ) Bên cạnh đó, văn bản ấy phải có nội dung phù hợp với với học sinh ở từng độ tuổi,
có tính thẩm mĩ cao, có độ dài đúng với quy định của chương trình… Bài viết chính tả có thể là trích đoạn của bài tập đọc đã học trước đó hoặc là bài tập đọc đã được biên soạn lại cho phù hợp với yêu cầu của bài chính tả Cũng có thể chọn bài viết ngoài sách giáo khoa
để gây hứng thú cho học sinh khi tìm hiểu và thực hành viết bài
Ví dụ: Nhớ - viết: Đường đi Sa Pa (từ Hôm sau đến hết) (Trang 115
SGK lớp 4, tập 2)
Đường đi Sa Pa
Hôm sau chúng tôi đi Sa Pa Phong cảnh ở đây thật đẹp Thoắt cái lá vàng rơi trong khoảnh khắc mùa thu Thoắt cái, trắng long lanh một cơn mưa tuyết trên những cành đào,
Ngày hôm qua ở lại Trong hạt lúa mẹ trồng Cánh đồng chờ gặt hái Chín vàng màu ước mong
Ngày hôm qua ở lại Trong vở hồng của con Con học hành chăm chỉ
Là ngày qua vẫn còn
Trang 8lê, mận Thoắt cái gió xuân hây hẩy nồng nàn với những bông hoa lay ơn màu đen nhung hiếm quý
Sa Pa quả là món quà tặng diệu kì mà thiên nhiên dành cho đất nước ta
1.3 Dạng bài chính tả Nhớ - viết:
Dạng bài chính tả Nhớ - viết yêu cầu học sinh tái hiện lại hình thức chữ viết, viết lại một văn bản mà các em đã học thuộc Kiểu bài này nhằm kiểm tra năng lực ghi nhớ của học sinh và được thực hiện ở giai đoạn học sinh đã quen và nhớ hình thức chữ viết của tiếng Việt
Nhớ - viết: Đất nước (từ Mùa thu nay đến hết) (Trang 105, SGK lớp 5, Tập 2)
Đất nước
2 Các dạng bài tập chính tả Âm - vần
Hệ thống bài tập chính tả Âm - vần trong chương trình phân môn Chính tả có số lượng phong phú và được thể hiện băng nhiều hình thức đa dạng Nhờ sự đa dạng, phong phú
đó, hệ thống bài tập chính tả âm - vần đã góp phần rèn luyện cho học sinh các kĩ năng chính tả, đặc biệt là kĩ năng viết đúng chính tả trong những trường hợp khó hoặc dễ lẫn
Sự phong phú về hình thức bài tập giúp cho học sinh thực hành một cách thoải mái, không cảm thấy chán hay, mỏi mệt Thông qua hệ thống bài tập thích hợp, các kĩ năng
Mùa thu nay khác rồi Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi Gió thổi rừng tre phấp phới Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha
Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về
Trang 9chính tả ở học sinh được hình thành một cách tự nhiên và bền vững mà không cần đến những kiến thức phức tạp
Căn cứ vào hình thức, có thể chia hệ thống bài tập chính tả Âm - vần thành nhiều nhóm Ví dụ:
* Điền vào chỗ trống
* Tìm từ có đặc điểm chính tả và có ý nghĩa nhất định (hoặc tìm từ có đặc điểm chính tả thuộc kiểu từ loại / kiểu cấu tạo từ nhất định)
* Phân biệt cách viết chính tả các chữ
* Giải câu đố để tìm từ chứa hiện tượng chính tả cần học
* Rút ra quy tắc chính tả từ bài tập chính tả đã làm
* Tập phát hiện và chữa lỗi chính tả
Ngoài các dạng bài tập kể trên, giáo viên có thể bằng kinh nghiệm và sự sáng tạo của mình tạo ra các bài tập đa dạng phong phú, gây hứng thú cho học sinh để nâng cao hiệu quả giờ dạy chính tả
Mỗi dạng bài tập chính tả âm- vần có tác dụng riêng khác nhau, nhưng đích chủ yếu là hướng tới rèn các kĩ năng chính tả cho học sinh, đặc biệt là kĩ năng viết chính tả trong các trường hợp tiếng các vần khó / ít xuất hiện hoặc tiếng có chứa âm/ vần mà học sinh phương ngữ hay nhầm lẫn khi phát âm dẫn đến nhầm lẫn khi viết
3 Phương pháp dạy học Chính tả
Là sự cụ thể hoá các phương pháp dạy học tiếng Việt nói chung cho phù hợp với đặc điểm riêng của phân môn Dưới đây là các phương pháp dạy học thường được sử dụng trong phân môn Chính tả
3.1 Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Phương pháp phân tích ngôn ngữ bao gồm các thao tác phân tích và tổng hợp ở phân môn Chính tả, thao tác phân tích thể hiện ở việc phân tích cấu tạo của chữ (ghi tiếng), cách đọc các âm, vần khó hay dễ lẫn; giải thích nghĩa của tiếng/ từ… tạo điều kiện cho việc viết đúng chính tả Phân tích còn là so sánh sự tương đồng, khác biệt về âm, nghĩa và chữ của các từ ngữ có trong bài Việc phân tích giúp cho học sinh khắc sâu ghi nhớ và hiểu sâu sắc về hiện tượng chính tả
Ngược lại với phân tích là tổng hợp Các thao tác tổng hợp thể hiện trong việc khái quát các hiện tượng chính tả thành quy tắc chính tả hoặc thành các mẹo chính tả cho học sinh dễ nhớ, dễ viết Thao tác phân tích, tổng hợp được phối hợp với nhau một cách linh
Trang 10hoạt trong suốt giờ chính tả, nhưng thể hiện rõ nhất trong bước luyện viết đúng các từ ngữ khó và trong quá trình thực hiện các bài chính tả Âm - vần
Muốn hoạt động phân tích ngôn ngữ đạt hiệu quả, cần phải tạo điều kiện để học sinh thực hành phân tích, tổng hợp Giáo viên không làm hộ mà giữ vai trò hướng dẫn, gợi ý, giúp học sinh lưu ý các hiện tượng chính tả cần quan tâm
3.2 Phương pháp giao tiếp
Phương pháp giao tiếp được thể hiện ở việc giáo viên tổ chức tiết học bằng cách giao nhiệm vụ học tập sao cho học sinh tích cực, chủ động tham gia vào hoạt động giao tiếp một cách hiệu quả
Hình thức giao tiếp trong dạy học chính tả rất đa dạng, bao gồm cả đọc, nghe, nói, viết Thao tác nghe trong phân môn Chính tả vừa là nghe đọc bài chính tả, vừa là nghe giáo viên hoặc các bạn nói về hiện tượng chính tả, quy tắc chính tả Với chính tả đoạn - bài, thao tác nghe còn có thể được thực hiện từ giờ Tập đọc trước đó, nếu bài viết chính tả được trích từ bài tập đọc đã học Thao tác đọc được học sinh thực hiện khi đọc bài chính
tả đoạn bài hoặc các bài tập chính tả âm, vần Thao tác nói được sử dụng khi các em trả lời các câu hỏi về nội dung bài viết, về nghĩa từ hay phân biệt cách viết các chữ… Trong giờ chính tả, thao tác viết được sử dụng thường xuyên nhất, từ bước kiểm tra bài cũ đến bước viết chính tả đoạn bài (bao gồm cả việc luyện viết đúng), và cả bước làm bài tập chính tả âm, vần
Để học sinh giao tiếp được tốt, giáo viên phải soạn hệ thống câu hỏi và bài tập chính tả phong phú, phù hợp với đặc điểm tâm lí, đặc điểm ngôn ngữ và vốn hiểu biết về tự nhiên,
xã hội của học sinh Giáo viên cũng cần tạo tình huống để học sinh tham gia vào các hoạt động giao tiếp một cách hào hứng, nhẹ nhàng và thoải mái
3.3 Phương pháp rèn luyện theo mẫu
Phương pháp rèn luyện theo mẫu trong dạy học Chính tả có cách thể hiện riêng Đó chính là sự vận dụng các quy tắc hay mẹo chính tả đã biết vào trường hợp khác tương tự Khi thực hiện các bài tập chính tả âm - vần, học sinh sử dụng các thao tác so sánh, điền thế, phân tích, tổng hợp theo một quy trình mẫu đã quen từ trước, hoặc do giáo viên hướng dẫn Nhờ các mẫu này, học sinh có thể giải các bài tập một cách thoải mái và chủ động Rèn luyện theo mẫu còn thể hiện ở việc viết theo một mẫu cho trước Mẫu có thể là bài chính tả tập chép trong sách giáo khoa hoặc do giáo viên viết lên bảng Chính vì điều này, bài chính tả đoạn - bài được chọn cho học sinh viết phải là mẫu mực không chỉ về các hiện tượng chính tả, mà còn là một văn bản mẫu về nội dung, cách sử dụng từ ngữ