1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TÀI LIỆU ÔN TẬP NGỮ VĂN 2022 ĐẦY ĐỦ

105 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ tài liệu phục vụ ôn thi tốt nghiệp năm 2022 có đầy đủ các nội dung ôn tập: Đọc hiểu, nghị luận xã hội, nghị luận văn học (có các dạng đề của từng bài, chủ đề) thực sự cần thiết đối với việc ôn tập năm 2022. Cuối tài liệu có bộ đề ôn thi chi tiết, có đáp án

Trang 1

PHẦN THỨ NHẤT KIẾN THỨC CƠ BẢN PHẦN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

TÂY TIẾN Quang Dũng

I HỆ THỐNG KIẾN THỨC

1 Tác giả

- Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Diệm (1921-1988)

- Quê ở làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây

- Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu của nền thơ ca hiện đại Việt Nam

- Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc

- Ông là nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Pháp, hồn thơ Quang Dũng phóng khoáng, hồnhậu, lãng mạn và tài hoa, tha thiết với quê hương, đất nước mình

- Thơ ông có cái tôi hào hoa, thanh lịch, giàu chất lãng mạn, nhạy cảm với vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên

và con người

2 Tác phẩm

a Hoàn cảnh sáng tác bài thơ

Bài thơ được khơi nguồn cảm xúc từ đoàn quân Tây Tiến:

- Tây Tiến là một đơn vị chủ lực được thành lập đầu năm 1947

- Nhiệm vụ: vụ phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt – Lào, đánh tiêu hao lực lượng quân độiPháp ở Thượng Lào cũng như ở biên giới Tây Bắc Bộ Việt Nam

- Địa bàn đóng quân và hoạt động của Tây Tiến: khá rộng, bao gồm các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình,miền Tây Thanh Hóa và cả Sầm Nưa (Lào) => miền núi hiểm trở

- Thành phần: chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên(như Quang Dũng)

- Hoàn cảnh sống và nghị lực: Chiến đấu trong những hoàn cảnh rất gian khổ, vô cùng thiếu thốn về vậtchất, bệnh sốt hoành hành dữ dội Tuy vậy, họ sống rất lạc quan và chiến đấu vô cùng dũng cảm

- Đoàn quân Tây Tiến, sau một thời gian hoạt động ở Lào, trở về Hòa Bình thành lập trung đoàn 52.Quang Dũng là đại đội trưởng ở đó, từ đầu năm 1947 đến cuối năm 1948 rồi chuyển sang đơn vị khác Nhà thơnhớ đơn vị cũ mà viết bài thơ này ở Phù Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ), Quang Dũng viết bài thơ

Nhớ Tây Tiến Khi in lại, tác giả đổi tên bài thơ là Tây Tiến in trong tập Mây đầu ô (1986).

 Như vậy, hoàn cảnh sáng tác của bài thơ đã cho người đọc thấy Tây Tiến được viết bằng dòng hoàiniệm Qua nỗi nhớ, Quang Dũng đã khắc họa được bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, thơ mộng,huyền ảo cùng với bức tượng đài của người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa, bi tráng

b Về nội dung

Bài thơ đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến trên nền cảnh núi rừng miền Tây Bắc Bứctranh thiên nhiên núi rừng Tây Bắc hiện ra hùng vĩ, dữ dội nhưng vô cùng mĩ lệ, trữ tình Hình ảnh người lính trênchặng đường hành quân gian khổ, hi sinh mà vẫn ngang tàng, tâm hồn vẫn trẻ trung, lãng mạn trong cảm nhận vềthiên nhiên, về những đêm liên hoan văn nghệ rực rỡ, lung linh mang màu sắc xứ lạ, những mộng mơ của tuổi trẻ.Hình tượng người lính Tây Tiến trong bài thơ mang vẻ đẹp đặc trưng của hồn thơ Quang Dũng về một thời kì giankhổ mà hào hùng: Người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng

c Về nghệ thuật

- Bài thơ được viết bằng cảm hứng lãng mạn và bút pháp bi tráng: bức tranh thiên nhiên miền Tây hiện ravừa hùng vĩ, vừa thơ mộng, hình ảnh con người nơi đây tài hoa, người lính Tây Tiến mặc dù bệnh tật, thiếu thốnthậm chí phải đối diện với cái chết nhưng họ hiện ra bi mà không lụy sẵn sàng xả thân hi sinh cho Tổ quốc

- Bút pháp tạo hình đa dạng khi miêu tả thiên nhiên miền Tây và người lính Tây Tiến: tả cận cảnh, miêu tả

viễn cảnh, sử dụng trí tưởng tượng bay bổng, táo bạo để tạo ra những hình ảnh thơ ngộ nghĩnh: Súng ngửi trời, không mọc tóc Kết hợp với hình ảnh tương phản => Hình ảnh thơ vì thế vừa gân guốc, khỏe khoắn lại vừa mềm

mại, thơ mộng, tâm hồn nhà thơ hết sức nhạy cảm, tinh tế trước vẻ đẹp của thiên nhiên và con người

Trang 2

- Ngôn ngữ thơ: kết hợp giữa những từ Hán - Việt mang sắc thái trang trọng, thiêng liêng, cổ kính cùng vớinhững từ thuần Việt mang hơi thở dân dã đời thường, trẻ trung của những người lính Ngoài ra, tác giả còn tạo ra

những từ mới lạ, nghĩa mới cho từ ngữ như: Đêm hơi, hoa về, mùa em

- Sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa các thanh điệu bằng - trắc:

+ Thác gầm thét hiệp âm đầu và thanh trắc, Hịch cọp hiệp thanh trắc vừa gợi tả tiếng vọng, âm thanh

hung hãn, dữ tợn của thác lại gợi thật tài tình bước chân rình rập đâu đây của thú dữ

+ Dốc lên

mưa xa khơi

Cách phối hợp hệ thống thanh bằng - trắc đem lại hiệu quả nghệ thuật thú vị Ba câu thơ đầu đan dàynhững tiếng mang thanh trắc (13/21), dòng cuối bỗng xuất hiện một chuỗi thanh bằng (7/7)

- Thể thơ và giọng điệu: thể thơ thất ngôn trường thiên vừa mang âm hưởng cổ kính, trang nghiêm vừa tự

do phóng khoáng chuyển tải được vẻ đẹp lãng mạn, bi tráng của người lính Giọng điệu thơ phù hợp với cảm xúcbao trùm bài thơ là nỗi nhớ được diễn tả dưới nhiều cung bậc cảm xúc (đoạn 1 thiết tha, bồi hồi; đoạn 2 hồn nhiên,tươi vui; đoạn 3: trang trọng rồi lắng xuống bi tráng; đoạn 4 đầy chiêm nghiệm suy tư mang tính triết lí)

- Tác giả sử dụng nhiều biện pháp tu từ: ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, đảo ngữ, điệp từ mang giá trị biểu cảmcao

II LUYỆN ĐỀ

1 Đề 1 Cảm nhận đoạn thơ sau trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi ………

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

1 Mở bài

- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm:

- Nêu vấn đề cần nghị luận:

+ Vị trí: Là đoạn thơ mở đầu của thi phẩm

+ Nội dung: Đoạn thơ tập trung thể hiện nỗi nhớ của tác giả về thiên nhiên núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ,vừa mĩ lệ; hình ảnh người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân gian khổ mang vẻ đẹp lãng mạn, bi tráng

+ Trích đoạn thơ

2 Thân bài

a Hai câu thơ đầu: Nỗi nhớ được diễn tả khái quát, nỗi nhớ thấm đẫm thời gian và không gian

- Nỗi nhớ bật lên thành tiếng gọi: Có thể nói cả bài thơ là nỗi nhớ trải dài, nỗi nhớ có khi lặn xuống tầngsâu trong tâm hồn nhưng cũng có khi bật lên thành tiếng gọi tha thiết:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

- Đối tượng của nỗi nhớ: Sông Mã, Tây Tiến, rừng núi.

+ Sông Mã: là con sông từ thượng Lào chảy vào đất Việt Dòng sông ấy đã gắn bó với đoàn quân Tây

Tiến, chứng kiến những vui, buồn trong cuộc đời người lính chiến binh Vì thế, Quang Dũng nhớ về đoàn quânTây Tiến nhà thơ còn nhớ về dòng sông Mã thân thuộc, hơn thế nữa có thể đây còn là dòng sông tâm trạng, dòngsông chở nặng cảm xúc, nỗi niềm đầy vơi trong lòng thi nhân

+ Rừng núi: là hình ảnh khái quát về địa bàn hoạt động của người lính Tây Tiến Đó là nơi rừng núi hoang

vu, rậm rạp, địa hình hiểm trở,

+ Tây Tiến: là một đơn vị thành lập đầu năm 1947, Quang Dũng có mặt tại đơn vị ngay từ những ngày đầu

mới thành lập nên nhà thơ có sự gắn bó sâu sắc với đồng đội của mình

- Nỗi nhớ của tác giả được thể hiện sâu sắc:

+ Câu thơ như một tiếng thở dài: Sông Mã xa rồi, lại cũng như một tiếng gọi: Tây Tiến ơi! Nỗi nhớ có cái

gì đó khắc khoải, thể hiện sự tiếc nuối, trạng thái hụt hẫng cùng với khát vọng trở về quá khứ thân thương mà hào

hùng thuở nào, đó là sông Mã, là Tây Tiến Ba từ Tây Tiến ơi gợi cho người đọc có một cảm giác Tây Tiến không

hề ở xa so với nhà thơ mà đoàn binh Tây Tiến ở ngay trong trái tim nhà thơ Tác giả như đang được đối thoại vớiTây Tiến vậy

+ Điệp từ nhớ: diễn tả nỗi nhớ cháy bỏng, không nguôi cứ tuôn chảy dào dạt trong lòng thi nhân, nhớ đến thổn thức, bồi hồi Hai từ nhớ được đặt trong cùng một câu thơ nhưng lại tách ra làm hai vế khiến cho nỗi nhớ như

Trang 3

được tô đậm thêm cảm xúc Nỗi nhớ dào dạt như những lớp sóng dâng trào mãnh liệt trong lòng thi nhân: Nhớ về rừng núi/ nhớ chơi vơi.

+ Nỗi nhớ da diết, cháy bỏng, vang vọng: Quang Dũng sử dụng hai chữ chơi vơi kết hợp với sự láy lại ba lần của âm ơi (ơi, chơi vơi), đây là ba âm mở có kết cấu thanh bằng mang âm hưởng vang vọng lan tỏa khiến cho

nỗi nhớ như được ngân lên, nhớ đến thiết tha, thường trực trong tâm hồn nhà thơ, cả không gian dường như cũngngập tràn trong nỗi nhớ của tác giả

b Sáu câu thơ tiếp: Nỗi nhớ về thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, thơ mộng trên chặng đường hành quân gian khổ của người lính Tây Tiến

* Nỗi nhớ gắn với những địa danh khó quên:

Trong nỗi nhớ của Quang Dũng có nhiều địa danh xuất hiện như: Sài Khao, Mường Lát, những địa danh

này vừa mang ý nghĩa cụ thể, vừa mang ý nghĩa tượng trưng khái quát

- Đây là những địa danh, tên những vùng đất mà người lính Tây Tiến đi qua, từng gắn bó Dường như chỉcần nhắc lại những địa danh ấy thôi là biết bao kỉ niệm của quá khứ lại ào ạt chảy về trong tâm trí nhà thơ

- Mặt khác, những địa danh này còn mang ý nghĩa khái quát, nó tượng trưng cho một không gian rất riêngcủa Tây Bắc xa xôi, lạ lẫm, hoang dã, bí ẩn

* Bức tranh thiên nhiên vừa hiện thực, vừa lãng mạn:

- Hiện thực: núi rừng Tây Bắc hiện ra trong mờ ảo khói sương, sương dày như muốn che lấp cả đoàn quân mỏi Hai chữ sương lấp cùng chữ mỏi đưa người đọc trở về với cuộc sống hiện thực khốc liệt của người lính.

Sương núi lạnh giá cắt da, cắt thịt như muốn nhấn chìm đoàn quân Đây là kết quả sau một hành trình dài gian khổ,khiến người đọc nhớ đến trạng thái rã rời, mệt mỏi của người tù Hồ Chí Minh trên đường chuyển lao trong bài thơ

Chiều tối

- Lãng mạn: tác giả viết hoa về chứ không phải là hoa nở, đêm hơi chứ không phải là đêm sương khiến

cho câu thơ thêm phần lãng mạn Sương núi bồng bềnh trong đêm tạo nên sự huyền ảo, mơ hồ Đặc biệt hơn nữa là

hình ảnh hoa về đã đem đến cho người đọc nhiều suy ngẫm, có thể hiểu trong sự cảm nhận lãng mạn của người

lính thì sương khói ở Mường Lát lúc tụ vào, lúc tan ra trông như những bông hoa khói vậy Một trong những ýnghĩa mà ta không thể phủ nhận được là do hành quân trong đêm, đường lại nhiều đèo, lắm dốc, khúc khủyu, gậpghềnh đầy hiểm nguy nên những người lính Tây Tiến đã phải đốt đuốc trong đêm Câu thơ đẹp như một bức danhhọa xuất phát từ cách nhìn, cách cảm của một tâm hồn hào hoa lãng mạn Những hình ảnh ấy khiến cho đoạn thơbớt đi sự dữ dằn của hiện thực, người đọc có cảm giác như được xoa dịu, vơi đi những nhọc nhằn, vất vả mà ngườilính Tây Tiến phải chịu đựng

 Trong hai câu thơ trên, tác giả vừa sử dụng hình ảnh gân guốc, vừa sử dụng hình ảnh thơ mộng, đẹp đẽkết hợp với nghệ thuật tiểu đối đã làm nổi bật hai vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc vừa dữ dội, vừa nên thơ, đồngthời cũng làm nổi bật hai khía cạnh trong cuộc đời chiến đấu của người lính Tây Tiến vừa gian khổ, vừa lãng mạn,yêu đời

* Chặng đường hành quân gian khổ của người lính Tây Tiến:

Dốc lên khúc khuỷu,

mưa xa khơi.

- Tác giả sử dụng từ láy có giá trị tạo hình cao:

Trong hai câu thơ đầu, Quang Dũng sử dụng những từ láy (khúc kkuỷu, thăm thẳm, heo hút) đạt giá trị

biểu cảm cao, chúng lại được đặt liên tiếp nhau để đặc tả sự gian nan trùng điệp

+ Dốc khúc khuỷu vì đường đi là núi đèo hiểm trở, gập ghềnh, vừa lên cao đã vội đổ dốc, cứ thế gấp khúc

nối tiếp nhau -> độ cao ngất trời

+ Dốc thăm thẳm: không chỉ đo chiều cao mà còn là ấn tượng về độ sâu, cảm giác như hút tầm mắt người,

không biết đầu là giới hạn cuối cùng -> Độ sâu hun hút

+ Điệp từ dốc được nhắc đến liên tiếp hai lần trong một câu thơ, tách ra ở hai vế gợi ra một địa hình hiểm

trở chỉ có dốc là dốc cao và sâu Người đọc có cảm giác người lính vừa vượt qua con dốc này lại thấy hiện ranhững con dốc khác ngay trước mặt mình

+ Heo hút cồn mây: heo hút gợi ra sự vắng vẻ, hiu quạnh, nghệ thuật đảo ngữ càng nhấn mạnh điều đó Cồn mây là mây tụ lại, xếp tầng, hình ảnh thơ gợi ra vị trí của người lính Tây Tiến đứng trong mây, trên đỉnh núi

cao vời vợi Như vậy, dẫu câu thơ không nhắc đến sự khó khăn nhưng người đọc vẫn hình dung ra chặng đườnghành quân leo dốc, vượt đèo mà người lính phải trải qua

Trang 4

=> Quang Dũng đã mở ra không gian ba chiều khiến hình ảnh thơ được chạm nổi thành một bức phù điêuhùng vĩ về núi rừng Tây Bắc

- Nghệ thuật nhân hóa: Súng ngửi trời

+ Trước hết, đây là một hình ảnh xuất phát từ cảm xúc trước hiện thực, những người lính Tây Tiến hànhquân trong mây mà tưởng như nòng súng chạm tới đỉnh trời

+ Đây là một hình ảnh đẹp, lạ và táo bạo làm rõ vẻ đẹp hào hùng, hào hoa của người lính Tây Tiến

+) Hào hoa, lãng mạn: Tác giả không nói súng chạm trời mà là súng ngửi trời Hình ảnh thơ mang nhiều

ý nghĩa biểu tượng giúp người đọc phát hiện ra vẻ đẹp tâm hồn hào hoa, lãng mạn của người lính Tây Tiến Tác giả

sử dụng nghệ thuật nhân hóa khiến cho những vật vô tri, vô giác cũng trở nên có linh hồn sống động hơn

Quang Dũng không nói đến người lính mà ta vẫn thấy người lính, không nói núi cao mà ta vẫn thấy núi rất

cao Chữ ngửi vẽ ra hình ảnh người lính đang ở tư thế chót vót trên đỉnh núi, đi giữa ngàn mây, nòng súng đang

chạm vào vòm trời Điều đó cho thấy sự hùng vĩ của thiên nhiên Tây Bắc và vẻ đẹp của người lính Tây Tiến Vẻđẹp của con người trong tư thế sánh ngang trời đất, làm chủ hoàn cảnh

- Nghệ thuật đối lập: Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống.

Thiên nhiên Tây Bắc dường như luôn luôn có ý định thử thách lòng người Tác giả sử dụng nghệ thuật

đối lập cùng cách ngắt nhịp 4/3, kết hợp với điệp từ ngàn thước với hai động từ chỉ hướng lên, xuống khiến cho

câu thơ như bị bẻ gãy làm đôi để miêu tả hai chiều không gian Tây Bắc vừa có độ cao chót vót, vừa có độ sâu thămthẳm Dốc đột ngột vút lên thẳng đứng rồi lại đột ngột gãy gập đổ xuống một cách bất ngờ, nguy hiểm Trần Lê

Văn đã bình về câu thơ này thật xác đáng: Đọc câu thơ và nghe đã muốn mòn chân mỏi gối.

- Tác giả sử dụng tài hoa thanh trắc kết hợp với thanh bằng:

+ Thanh trắc được sử dụng với mật độ dày đặc (liên tiếp ở ba câu thơ: Dốc lên khúc khuỷu ngàn thước xuống) đã vẽ nên những đường nét gân guốc, rắn rỏi về địa hình vùng cao Tây Bắc hiểm trở, đó cũng là chặng

đường hành quân vô cùng gian nan mà người lính Tây Tiến phải trải qua

+ Thanh bằng được sử dụng nguyên văn trong một câu thơ: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi đã tạo cho câu

thơ những nét vẽ dịu mát Không gian được cảm nhận qua điểm nhìn của người lính Tây Tiến khi người lính hànhquân lên đến đỉnh núi phóng tầm mắt ra xa, dưới kia là những ngôi nhà bồng bềnh trong biển mưa

 Nhận xét: Bốn câu thơ có sự kết hợp hài hòa giữa các thanh điệu, quả đúng Quang Dũng là một nghệ sĩ

đa tài, ông có tài không chỉ về thơ ca mà còn cả âm nhạc và hội họa nữa Những câu thơ này thật xứng đáng là lời

thơ Thi trung hữu họa, thi trung hữu nhạc Trong những câu thơ này, Quang Dũng còn sử dụng nghệ thuật của thơ Đường vẽ mây nảy trăng khi nhà thơ tả cảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở, dữ dội để làm nổi bật lên hình

ảnh người lính Tây Tiến trên bước đường hành quân và chiến đấu đầy gian khổ, vất vả, hi sinh nhưng vẫn lạc quanhồn nhiên yêu đời, lãng mạn

c Sáu câu thơ cuối: Nỗi nhớ về người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân gian khổ mang vẻ đẹp bi tráng (vẻ đẹp hào hùng, lãng mạn)

- Hiện thực trên bước đường hành quân của người lính Tây Tiến:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục trên súng mũ bỏ quên đời!

+ Hai chữ anh bạn chứa đựng những tình cảm gắn bó giữa những người bạn thân thiết, giữa những đồng

chí, đây là cách nói thân thuộc, gần gũi

+ Hiện thực bi tráng được diễn tả qua những từ ngữ: Dãi dầu, gục Đó là những vất vả, gian lao mà người

lính Tây Tiến phải trải qua trên chặng đường hành quân gian khổ và quá trình chiến đấu với quân thù Đặc biệt là

chữ gục có nhiều cách hiểu: Có thể đó là sự mệt mỏi khiến người lính ngủ gục trên súng mũ như muốn quên đi tất

cả, có thể đây là cách nói giảm, nói tránh diễn tả sự hi sinh của người lính vì Tổ quốc

- Vẻ đẹp bi tráng của người lính: Quang Dũng vẫn tiếp tục sử dụng cách nói giảm, nói tránh khi viết về vẻ

đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến qua các cụm từ: không bước nữa, bỏ quên đời Chiến đấu và hi sinh đó là

hiện thực khốc liệt của chiến tranh Nhà thơ Quang Dũng đã không ngần ngại nói đến cái chết mặc dù câu thơkhông có từ nào nói đến cái chết Hiệu quả của nghệ thuật nói giảm nói tránh vừa gợi được tình thương, vừa gợiđựơc sự bình thản chứ không bi lụy Người lính Tây Tiến hầu hết là những học sinh, sinh viên Hà Nội chưa quenchuyện súng gươm, chưa quen gian khổ và không ít người đã ngã xuống sau những dãi dầu sương gió và bom đạncủa kẻ thù Điều đó cũng hoàn toàn hợp lí bởi có cuộc chiến tranh nào không có hi sinh, mất mát, có vinh quangnào mà không phải đổ mồ hôi, nước mắt và cả xương máu Cuộc đời con người thật đáng quý biết bao mà họ nói

bỏ quên như bỏ quên một thứ vật chất bình thường mà không hề băn khoăn, hối tiếc.Với cách nói này câu thơ có bi

Trang 5

mà không có lụy, ngược lạ lại hết sức hùng tráng gợi ra chất phong trần, ngang tàng của người lính mang vẻ đẹpcủa những tráng sĩ thủa xưa Người tráng sĩ thủa xưa mang lí tưởng anh hùng, quyết ra đi lập nên sự nghiệp lớn.Chí lớn chưa thành thì không bao giờ nói trở lại Họ sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc, quê hương, coi cái chết thật nhẹnhàng

- Thiên nhiên Tây Bắc bí hiểm, hoang dại luôn rình rập người lính:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

+ Thiên nhiên hoang dã, dữ dội được miêu tả trong tiếng gầm thét của thác, bóng dáng của cọp trêu người

+ Sử dụng từ láy và điệp từ: Chiều chiều, đêm đêm gợi cho người đọc ấn tượng mạnh mẽ về thời gian diễn

ra triền miên nơi rừng thiêng thác sâu, cọp dữ, nơi ấy luôn là mối đe dọa khủng khiếp đối với người lính Tây Tiến

Sự nguy hiểm ấy thường diễn ra vào lúc chiều tối, đêm sâu và thường xuyên, liên tục không phải là một chiều, mộtđêm mà chiều nào cũng thế, đêm nào cũng thế Như vậy, người lính Tây Tiến không chỉ bị ngã xuống trước họngsúng của kẻ thù mà còn có thể bị ngã xuống bởi rừng thiêng, thác hiểm

- Tình quân dân thắm thiết:

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi + Một lần nữa nỗi nhớ lại bật lên thành lời, tác giả đã thốt lên Nhớ ôi Hai từ này mang giọng điệu cảm

thán bộc lộ nỗi nhớ nhung trào dâng mãnh liệt Câu thơ có ba thanh trắc ngắt quãng đều đặn tạo nên âm điệu câuthơ vút lên đẩy nỗi nhớ nhung lên cung bậc cao nhất

- Hai chữ mùa em là một sáng tạo ngôn ngữ tài hoa của tác giả gợi đầy tình thương và nỗi nhớ, trìu mến và thân thương Chữ mùa gợi sự đầy đủ, ăm ắp sự sống, mang hương vị của đồng nội, còn chữ em gợi vẻ đẹp xuân sắc của người thiếu nữ Hai từ mùa em đã gợi tả tinh tế cảm giác xao xuyến, say mê của các chàng trai Hà Thành

hào hoa, lãng mạn trước sản vật và con người Tây Bắc

=> Có lẽ khi viết những câu thơ này, Quang Dũng còn giữ nguyên ấn tượng hồi hộp, xúc động khi đượcđón nhận tình cảm quân dân nồng ấm Trong những năm tháng chiến đấu gian khổ ấy, tình quân dân đã làm vơi đinhững khó khăn mà người lính phải trải qua Đây sẽ mãi mãi là những kỉ niệm đẹp đẽ làm ấm lòng người lính trênchặng đường hành quân gian lao, đầy thử thách

* Đánh giá chung

- Đoạn thơ chỉ là khúc nhạc dạo đầu của nỗi nhớ chảy dọc mạch thơ Tây Tiến song cũng đã ghi lại những

vẻ đẹp riêng của thiên nhiên, cuộc sống, nhất là vẻ đẹp của người lính Tây Tiến

- Nỗi nhớ mà Quang Dũng gửi trong đoạn thơ, bài thơ cũng là nỗi nhớ chung của những ai từng đi quavùng đất miền Tây, từng trải qua những năm tháng chiến đấu đầy gian lao của cuộc kháng chiến chống Pháp Sựgắn bó của nhà thơ với thiên nhiên, con người nơi ấy là biểu hiện của tấm lòng gắn bó với quê hương, đất nước Đóchính là tình cảm yêu nước cao đẹp trong thơ ca cách mạng Việt Nam

3 Kết bài

- Nghệ thuật: Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Quang Dũng lãng mạn, tài hoa ở cách xây dựng hìnhảnh, bút pháp hiện thực kết hợp với lãng mạn, nghệ thuật tương phản, nhân hóa, cách sử dụng từ ngữ, thể thơ thấtngôn trường thiên

- Nội dung: Đoạn thơ đã khắc họa một cách sống động về thiên nhiên núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ, vừa

mĩ lệ; hình ảnh người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân gian khổ mang vẻ đẹp lãng mạn, bi tráng

2 Đề 2: Cảm nhận đoạn thơ sau trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

+ Vị trí: Là đoạn thơ mở đầu của thi phẩm

+ Nội dung: Đoạn thơ tập trung thể hiện hình ảnh người lính Tây Tiến trong đêm liên hoan văn nghệ thấmđẫm tình quân dân, bức tranh thiên nhiên miền Tây hoang sơ, mĩ lệ, con người miền Tây Bắc với những nét đẹpvăn hóa mang màu sắc xứ lạ

Trang 6

+ Trích đoạn thơ.

2 Thân bài

a Bốn câu thơ đầu: Cảnh đêm liên hoan lửa trại (Nỗi nhớ về tình quân dân với cảnh đêm liên hoan văn nghệ mang màu sắc xứ lạ)

* Khái quát chung:

Viết về tình quân dân là một đề tài quen thuộc trong thơ ca nhưng trong thơ Quang Dũng, tình quân dân ấythật mới lạ bởi nếu các nhà thơ khác nghiêng về chất hiện thực, diễn tả tình quân dân một cách giản dị thì QuangDũng lại đậm màu sắc lãng mạn

- Bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng đã đến với chủ đề tình quân dân ngỡ như rất quen thuộc có tính chất

lối mòn nhưng thực ra Quang Dũng đã có những đóng góp mới mẻ, độc đáo Tác giả đã lãng mạn hóa những tình

cảm vô cùng cao đẹp ấy của người lính

* Phân tích

- Có thể nói đây là những phút giây vô cùng hiếm hoi và quý giá của người lính Tây Tiến sau những chặngđường hành quân gian khổ, người lính Tây Tiến được nghỉ ngơi, được sống trong tình quân dân nồng thắm:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

- Đoàn quân Tây Tiến đã phải trải qua biết bao gian lao, vất vả nhưng dường như trong cuộc sống của họkhông thể thiếu những kỉ niệm ngọt ngào Họ là những chàng trai Hà Thành, là những học sinh, sinh viên vì thếtâm hồn họ rất lãng mạn Họ đã tạo ra những điều kì diệu cho cuộc sống của mình Những đêm liên hoan văn nghệ,dưới ánh lửa trại tâm hồn họ như được thăng hoa

- Từ Hán Việt Doanh trại gợi không khí cổ kính, trang trọng.

- Hình ảnh hội đuốc hoa: Cách sử dụng từ ngữ của tác giả thật đặc sắc:

+ Cụm từ hội đuốc hoa: Không phải là ánh lửa trại bình thường mà hội đuốc hoa Đuốc hoa hay còn gọi là hoa chúc là từ Hán - Việt để chỉ ngọn nến thắp lên trong phòng đêm tân hôn Nét độc đáo trong thơ Quang Dũng

đó là tác giả dùng hình ảnh tượng trưng cho hạnh phúc lứa đôi để nói lên tình quân dân Có lẽ đây là cách nói sâusắc nhất bởi vì còn sự đằm thắm nào hơn sự đằm thắm, ấm nồng của tình yêu lứa đôi? Hơn nữa, tác giả còn dùng

từ hội gợi ra sự tưng bừng, náo nhiệt Trong tâm thức của người Việt, hội hè không thể thiếu trai thanh gái lịch vì

thế khổ thơ mang không khí rạo rực, bay bổng Đêm liên hoan văn nghệ thực sự đã trở thành một ngày hội lớn củangười lính Tây Tiến với con người vùng Tây Bắc Đêm liên hoan bỗng trở thành đêm hội với muôn vàn tia sángnhư trong đêm chiến thắng vậy

+ Cảnh đêm liên hoan văn nghệ rực rỡ, tưng bừng được diễn tả rất rõ qua từ bừng: Với một từ bừng,

Quang Dũng đã để lại trong tâm hồn người đọc biết bao liên tưởng và dung ngẫm sâu xa Phải chăng đây là sựbừng sáng của ánh đuốc, là sự tưng bừng của của âm nhạc và còn có thể hiểu là tiếng hát rộn rã vang dội khắpkhông gian rừng núi Tây Bắc Phải chăng đó còn là sự bừng sáng của những kỉ niệm không bao giờ phai mờ trongtâm trí người lính Tây Tiến trong đó có nhà thơ Quang Dũng Dù tác giả đã xa đơn vị nhưng những kỉ niệm ấy vẫnnhư một vùng sáng lấp lánh trong kí ức của nhà thơ Dường như mọi gian khó với người lính Tây Tiến không còn

có nghĩa lí gì nữa, trong tâm hồn họ chỉ còn lại sự yêu đời và lạc quan tin tưởng mà thôi

 Những liên tưởng này cho thấy nét đặc sắc trong phong cách thơ Quang Dũng tài hoa, hơn nữa nhữngngười lính Tây Tiến tâm hồn lãng mạn, đồng thời những câu thơ này là dòng hồi tưởng của tác giả nên dường như

nó được viền bởi một ánh hào quang lung linh, kì diệu

- Vẻ đẹp của những cô gái Tây Bắc cùng với những nét đẹp văn hóa mang màu sắc xứ lạ ở nơi đây khiếncho tâm hồn người lính Tây Tiến thêm dạt dào cảm xúc:

+ Hai từ kìa em: những câu thơ của Quang Dũng đã được viết từ lâu nhưng bây giờ đọc lên như vẫn còn tười nguyên cảm xúc được thẻ hiện qua cái nhìn tình tứ của người lính Kìa em là đại từ dùng để chỉ đối tượng từ

xa nhưng trong câu thơ này nó còn hàm ý chỉ thái độ ngạc nhiên, là niềm vui thích rất đỗi tình tứ của người lính trẻ

khi nhìn thấy cô gái vùng cao trong xiêm áo lộng lẫy uyển chuyển theo điệu nhạc, điệu múa tự bao giờ

+ Nét đặc sắc của một nền văn hóa mới: Quang Dũng đã có một khoảng thời gian gắn bó với cuộc sống

của con người Tây Bắc nên mới có những ấn tượng sâu sắc về nét văn hóa ở nơi đây Man điệu là điệu nhạc, điệu

múa của người dân tộc thiểu số Tiếng khèn là đặc trưng của âm nhạc vùng cao khi cất lên đã tôn vinh vẻ đẹp, lôi

cuốn người xem vừa mang những nét duyên thầm kín đáo e ấp Chính vẻ đẹp ấy đã làm say đắm tâm hồn người

lính Tây Tiến, nó như một dòng nước ngọt ngào, mát lành làm xua tan đi bao mệt nhọc trong cuộc đời người línhsau những chặng đường hành quân gian lao và vất vả khiến tâm hồn họ trở nên lãng mạn, bay bổng, đầy mộng mơ

Trang 7

Đêm liên hoan có đuốc, có hoa, có tiếng kèn, điệu múa và nhất là có hình ảnh những thiếu nữ miền Tây Bắc trong

trang phục dân tộc óng ánh sắc màu văn hoa núi rừng E ấp trong những điệu xòe hoa duyên dáng Tất cả như say,

như mơ, như mê để hồn thơ được xây lên từ đó:

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

- Vẻ đẹp lãng mạn của người lính Tây Tiến: Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Tâm hồn người lính đang say trong tiếng nói, tiếng cười, điệu múa, ánh mắt như đang vấn vít lấy nhau,chính tình quân dân thắm nồng đã nâng đỡ tâm hồn người lính lên trên hiện thực khốc liệt của cuộc chiến tranh.Người lính có giấc mộng một ngày nào đó sẽ được đặt chân đến Viên Chăn - thủ đô của nước Lào Đó là niềmkhao khát được lập chiến công, đất nước được giải phóng, kẻ thù bị quét sạch ra khỏi bờ cõi lãnh thổ

* Đánh giá:

Chỉ với bốn câu thơ, tác giả đã dựng lên một bức tranh vừa phong phú về màu sắc, đường nét, vừa đa dạng

về âm thanh Với tâm hồn lãng mạn, tài hoa, sự nhạy cảm với cái lạ thường, Quang Dũng không chỉ cho người đọcthấy được vẻ đẹp của bản sắc văn hóa mà còn cho ta thấy tình quân dân đằm thắm, mặn nồng và tâm hồn lạc quanyêu đời của người lính Tây Tiến Chính điều đó đã khiến cho đoạn thơ như một thế giới cổ tích hiện ta giữa hiệnthực đầy khốc liệt của cuộc chiến tranh gian khổ

b Bốn câu thơ sau: Khung cảnh thiên nhiên sông nước và con người Tây Bắc

* Dẫn dắt:

Nếu khung cảnh đêm liên hoan văn nghệ đem đến cho người đọc không khí mê say ngây ngất thì cảnhsông nước miền Tây Bắc lại gợi lên cảm giác mênh mang, hoang dại, tĩnh lặng, mờ ảo, cho thấy nét tài hoa, lãngmạn của người lính Tây Tiến

- Nỗi nhớ của nhà thơ không chỉ dừng lại ở thời gian, không gian chiều sương ấy mà còn được diễn tả cụthể hơn:

+ Nhớ Châu Mộc: là một địa danh thuộc vùng đất Sơn La, địa danh này từng gắn bó với tác giả và binh

đoàn Tây Tiến, chứng kiến biết bao kỉ niệm vui buồn một thời chiến binh Cảnh và người Châu Mộc đã trở thànhnhững kỉ niệm khó quên đối với những người lính Tây Tiến, đặc biệt là nhà thơ Quang Dũng

+ Nỗi nhớ về con người: Nỗi nhớ cảnh gắn liền với nỗi nhớ người:

Có nhớ dáng người trên độc mộc Thuyền độc mộc là thuyền dài và hẹp làm bằng một thân cây gỗ to, khoét trũng có một người chèo lái Hình ảnh dáng người trên độc mộc có thể là người lính Tây Tiến, cũng có thể là con người Tây Bắc Dù hiểu theo

cách nào, tác giả đã cho người đọc thấy vẻ đẹp của con người được khai thác ở hai khía cạnh vừa duyên dáng, uyểnchuyển, mềm mại, lại vừa khỏe khoắn, mạnh mẽ với sức sống mãnh liệt qua nghệ thuật tương phản Hình ảnh thơ

vì thế vừa lãng mạn, vừa gợi vẻ hùng vĩ Con thuyền độc mộc thì nhỏ bé mà dòng nước lũ kia là thiên nhiên hoang

sơ, vừa tương phản, vừa làm nền để tôn vinh vẻ đẹp cho con người nơi đây

vật, đó là thiên nhiên đặc trưng của vùng Tây Bắc Tổ quốc, nhà thơ đã nhân hóa gọi là hồn lau Hồn lau trong thơ

Quang Dũng cũng là hồn lau của li biệt phảng phất một chút buồn nhưng không xao xác mà đầy nhớ thương, lưu

luyến bởi tác giả đã hai lần cất lên câu hỏi có nhớ, có thấy.

 Hai chữ hồn lau thực chất gợi tả hoa lau với màu trắng bạc đầy gợi cảm hiện hữu nơi không gian nẻobến bờ xa vắng và quên lãng, qua cảm nhận của nhà thơ nó như có hồn Phải chăng đó là hình ảnh lưu giữ tình cảmthiết tha mà người dân miền Tây dành cho những chiến sĩ Tây Tiến khi xa, cũng là mảnh hồn người chiến sĩ gửilại Mộc Châu lúc giã từ ? Lời thơ còn hướng ta đến một cảm nhận thật thú vị, nếu không có bước chân những

Trang 8

chiến sĩ Tây Tiến, hoa lau sẽ như chưa từng được biết, nó chỉ nở trong thầm lặng mà thôi Điệu thơ có gì đó xa xóttrước một vẻ đẹp bị lãng quên Đó là chất thi sĩ trong sâu thẳm tâm hồn người lính Tây Tiến được đánh thức trongkhoảnh khắc giao cảm bất ngờ với hồn tạo vật.

+) Nhớ về thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng:

Nỗi nhớ về thiên nhiên được đọng lại qua hai hình ảnh tiêu biểu là dòng nước lũ và hoa đong đưa Dòng nước lũ là hình ảnh về thiên nhiên man dại Điều đặc biệt là trên dòng nước lũ ấy, xuất hiện hình ảnh hoa đong đưa Cách sử dụng từ ngữ của tác giả rất độc đáo cho thấy sự tài hoa của nhà thơ Đong đưa chứ không phải là là đung đưa, đong đưa vừa diễn tả được trạng thái chuyển động đung đưa nhưng lại làm sống dậy cái hồn của cảnh vật Hoa đong đưa làm toát lên vẻ đẹp thơ mộng, mềm mại, duyên dáng làm say đắm lòng người Cành hoa ấy

như đang làm duyên trên dòng nước lũ, soi bóng trên dòng sông vậy Vì thế, thiên nhiên vùng Tây Bắc hiện ratrong nỗi nhớ của Quang Dũng vừa mang vẻ đẹp hoang sơ, hùng vĩ, vừa mang vẻ đẹp thơ mộng, mĩ lệ Hình ảnhthơ còn có cách hiểu thú vị khác nữa, hoa đong đưa là một liên tưởng lãng mạn của tác giả khi câu thơ sau có sự hô

ứng với câu thơ trước Dáng người trên độc mộc giống như bông hoa đong đưa trên mặt nước Phải có một tâm

hồn lãng mạn, lạc quan, yêu đời như tác giả mới có những cảm nhận tinh tế như vậy, đó là những phút giây mơmộng vượt lên trên hiện thực khốc liệt, bom đạn dữ dội của kẻ thù Vì thế, nhà thơ Xuân Diệu đã có những nhận

xét thật xác đáng: Đọc bài thơ Tây Tiến, ta có cảm giác như ngậm âm nhạc trong miệng và có thể nói những hình

ảnh thơ, những hình ảnh thơ, những câu thơ trên là những câu thơ đặc sắc, là những nốt nhạc đọng mãi trong tâmhồn Quang Dũng và người đọc

- Câu hỏi tu từ liên tiếp được đặt ra: Có nhớ, có thấy Đây là những câu thơ hoài niệm vì thế nhà thơ đặt ra

những câu hỏi tu từ liên tục gợi ra tâm trạng bâng khuâng, xa vắng, lưu luyến và đầy tiếc nuối Dường như chiều

sương ấy với hồn lau nẻo bến bờ, dáng người trên độc mộc luôn trở thành nỗi nhớ, niềm thương của người ra đi

thấm đẫm, quyện hòa đến mức khó mà tách biệt Nhận xét về cái hay, cái đẹp của đoạn thơ này Giáo sư Trần Đình

Sử cho rằng: Đọc đoạn thơ này, ta như lạc vào thế giới của cái đẹp, của cõi mơ, của cõi nhạc.

3 Đề 3: Cảm nhận của anh/chị về hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ sau:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

+ Vị trí: là đoạn thơ thứ ba của bài thơ

+ Nội dung: Đoạn thơ đã khắc họa nên bức chân dung tập thể người lính Tây Tiến với vẻ đẹp hào hùng,hào hoa thấm đẫm chất bi tráng

+ Trích đoạn thơ

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

2.Thân bài

a Bốn câu thơ đầu: Cuộc sống và chiến đấu của người lính Tây Tiến hào hùng, hào hoa và bi tráng

* Hai câu thơ đầu: Ngoại hình, dáng vẻ của người lính Tây Tiến rất đặc sắc, rất khác thường

Hình tượng tập thể người lính Tây Tiến được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn kết hợp với khuynhhướng tô đậm cái phi thường Tác giả sử dụng nghệ thuật đối lập, tương phản để miêu tả vẻ đẹp hào hùng củangười lính Tây Tiến:

Trang 9

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm

- Chân dung ngoại hình của người lính được miêu tả rất chân thực:

+ Hai chữ Tây Tiến được đảo lên đầu đã nhấn mạnh niềm tự hào, kiêu hãnh của đoàn binh.

+ Cụm từ Không mọc tóc: Mặc dù tác giả không viết cụ thể về cuộc sống của người lính nhưng người đọc

vẫn có thể hình dung ra cuộc sống của họ chắc chắn là gian khổ, là thiếu thốn nên những cơn sốt rét rừng đã khiếncho tóc họ rụng hết, thậm chí căn bệnh hiểm nghèo này đã cướp đi tính mạng của biết bao chiến sĩ Tây Tiến Nhà

thơ Tố Hữu đã nói về căn bệnh này qua hình ảnh anh vệ quốc quân trong bài Cá nước thật cụ thể: Giọt giọt mồ hôi rơi/ Trên má anh vàng nghệ Hay trong bài thơ Đồng chí, Chính Hữu đã viết: Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh/ Sốt run người vầng chán ướt mồ hôi.

Bên cạnh đó là những người lính khỏe mạnh nhưng thấy đồng đội của mình rụng hết tóc nên cũng tinhnghịch cạo trọc đầu để thuận tiện cho việc chiến đấu khi mang lá ngụy trang, đánh giáp lá cà với địch, cũng có thểđây là một cách ngông của người lính Tây Tiến mà chỉ những học sinh, sinh viên mới có những ý tưởng tinhnghịch đó

+ Quân xanh màu lá: Da họ xanh xao, vàng đi do những cơn sốt rét rừng hoành hành vì thiếu máu.

 Đây là những hình ảnh thực xuất từ hiện thực khốc liệt của cuộc chiến tranh Hình ảnh người lính TâyTiến hiện ra chân thật đến xót xa không hề cường điệu Con người tồn tại được trong hoàn cảnh ấy quả là phải cómột nghị lực phi thường

- Vẻ đẹp hào hùng, lãng mạn của người lính Tây Tiến:

Người lính ốm mà không yếu, với bút pháp lãng mạn, tác giả đã nhấn mạnh sự tương phản giữa ngoạihình và tâm hồn, giữa hình thức có phần xanh xao tiều tụy vì bệnh tật với sức mạnh tinh thần bên trong của họ

+ Từ Hán - Việt đoàn binh: vừa là tên để gọi, vừa là cách định danh đoàn quân Tây Tiến nhưng đồng thời

nó lại là từ Hán - Việt diễn tả sự khỏe khoắn, khí thế xung trận mạnh mẽ, đông đảo, hùng dũng

+ Cách nói phủ định không mọc tóc: câu phủ định nhưng hàm ý lại là khẳng định gợi lên sự chủ động, cứ

như là không cần, không thèm mọc tóc vậy Với cách nói ấy người lính đã khẳng định sự ngang tàng, kiêu hùngbất cần của mình

+ Hình ảnh quân xanh màu lá: vừa là hình ảnh thực về làn da xanh xao, vàng vọt mà cũng thể hiện sự hòa

hợp giữa thiên nhiên và con người, hình ảnh người chiến sĩ như đang hòa vào rừng cây bát ngát xanh

+ Tư thế dữ oai hùm: đó là tư thế oai phong lẫm liệt, vẻ đoàng hoàng của vị chúa sơn lâm từng ngự trị,

tung hoành ngang dọc nơi chốn rừng thiêng Đó là tư thế chế ngự hoàn cảnh sống khắc nghiệt dữ dội làm cho quânthù khiếp sợ Người lính ngay trong khó khăn gian khổ, thiếu thốn, bệnh tật cũng đã bộc lộ phẩm chất hào hùng rấtđáng ngợi ca

* Hai câu thơ tiếp: Tâm hồn mộng mơ của người lính Tây Tiến

Đằng sau vẻ dữ oai hùm, ở người lính Tây Tiến còn ẩn giấu những trái tim khao khát yêu thương, lãngmạn và đầy mộng mơ Có thể nói hai câu thơ sau là hai câu thơ được đánh giá là đẹp nhất, hay nhất, vẽ thành côngnhất chân dung Tây Tiến hào hùng, hào hoa, lãng mạn:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

* Phân tích:

- Hình ảnh mắt trừng gửi mộng: Hình ảnh đôi mắt thể hiện sự tập trung cao độ vừa bộc lộ niềm căm thù

hừng hực một khí thế chiến đấu, một giấc mộng lập công Dường như bao nhiêu suy nghĩ, bao nhiêu cảm xúc, ước

vọng đều hướng về phía trước qua biên giới, hướng về chiến trường Mộng ở đây là mộng ước, đánh đuổi quân thù

ra khỏi bờ cõi lãnh thổ Đây là sự oai phong lẫm liệt của trang nam nhi thời loạn

- Ý chí của người lính mạnh mẽ nhưng tâm hồn họ cũng thật mộng mơ:

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Người lính Tây Tiến phần đông là những thanh niên Hà Nội Họ ra đi từ trường xưa, phố cũ nên cũng cónhững mộng mơ đặc biệt của người lính Trên đường hành quân ra trận người lính đã để lại biết bao nỗi nhớthương

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm + Thời gian đêm: đây là những phút giây lắng dịu của tâm hồn, những khoảng lặng của cuộc chiến tranh,

trái tim người lính trẻ thao thức, rạo rực, khao khát được yêu thương

Trang 10

+ Hai từ mộng và mơ đặt liên tiếp ở hai câu thơ đã diễn tả sâu sắc tâm hồn lãng mạn của người lính Tây

Tiến

+ Người lính mơ về Hà Nội, mơ đến dáng kiều thơm Nói đến người con gái đẹp yêu kiều xưa nay văn học đã viết nhưng các tác giả thường sử dụng hai từ dáng kiều hoặc yêu kiều còn dáng kiều thơm thì có lẽ chỉ có Quang Dũng mới có cách nói tài hoa như vậy Dáng kiều là mượn lối nói mĩ lệ hóa của văn học cổ nhằm chỉ những thiếu nữ Hà Thành xinh đẹp Quang Dũng thêm một từ thơm khiến cho vẻ đẹp ấy như tỏa hương thơm ngát

gợi lên biết bao nâng niu, ấp ủ, gợi ra cả một thế giới lãng mạn, đa tình trong tâm tư của người lính, góp cho ngườilính vẻ đẹp hào hoa, sang trọng

 Nhận xét: Câu thơ là sự lắng dịu của tâm hồn, là phút giây người lính Tây Tiến nhớ về Hà Nội với tráitim rạo rực, khao khát yêu thương Như vậy, người lính đâu chỉ có tinh thần thép, ý chí kiên cường mà còn có cảmột trái tim luôn dạt dào cảm xúc Giữa chiến trường miền Tây Bắc khốc liệt nếu người lính không mộng mơ,không có tình yêu thôi thúc, không có chất men say lãng mạn nồng say thì không thể có sức mạnh vượt lên hiệnthực khắc nghiệt ấy

- Quang Dũng diễn tả rất tinh tế tâm hồn người lính Tây Tiến trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

nói riêng và người lính trong các cuộc chiến tranh li tán nói chung Bởi các anh ai cũng có một trái tim biết yêu thathiết đất nước, quê hương, một trái tim biết căm thù quân xâm lược thật đẹp, thật hào hùng và lãng mạn

b Bốn câu thơ cuối: Vẻ đẹp bi tráng của người lính trong chiến đấu và hi sinh

- Hình tượng người lính trong bài Tây Tiến của Quang Dũng được nhà thơ nói đến với nét hào hoa lãng

mạn, lấp lánh vẻ đẹp bi tráng, thấm đẫm chất anh hùng ca của thời đại Hồ Chí Minh:

Rải rác biên cương

độc hành

Tác giả sử dụng từ ngữ Hán - Việt kết hợp với từ thuần Việt cùng với nghệ thuật đảo ngữ Tác giả sử dụng

hai từ Hán - Việt là biên cương và viễn xứ tạo ra không khí trang trọng khi nói về sự hi sinh của người lính Những

từ Hán - Việt này đặt bên cạnh những từ ngữ thuần Việt rải rác vừa tạo ra sự hi sinh lại vừa thể hiện được nỗi đau của con người Hai từ rải rác là hai từ tượng hình gợi sự thưa thớt, ít ỏi, tác giả đảo hai từ đó lên đầu câu thơ càng

nhấn mạnh về cái chết đau thương của người lính Tây Tiến Có ai không rơi nước mắt trước những nấm mồ hoanglạnh nằm rải rác bên đường ở một nơi xa xôi địa đầu của Tổ quốc? Khi chiến đấu, họ có đồng đội kề bên, vậy màlúc ra đi họ bơ vơ, tội nghiệp, cô đơn, lẻ loi, rải rác ở nơi xứ xa lạ

Nếu ở câu thơ trước Quang Dũng nói lên bi kịch về cái chết của người lính Tây Tiến thì ở câu thơ sau lờithơ khỏe khoắn:

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Câu thơ vang lên một triết lí sống của tuổi trẻ Giọng thơ mạnh mẽ, dứt khoát vừa phảng phất chí khí

người anh hùng tráng sĩ thủơ xưa, vừa thể hiện lí tưởng cao đẹp của thời đại: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh Tư

thế của người lính là tư thế chủ động, họ biết rằng ra đi chiến đấu là phải trải qua gian lao, thử thách, hi sinh Họ

không hề do dự, tính toán mà coi cái chết thật nhẹ nhàng, vì độc lập của dân tộc mà chẳng tiếc đời xanh Đời xanh

tượng trưng cho tuổi trẻ, sức sống đang lên Đó là độ tuổi đẹp đẽ nhất của một đời con người với bao hoài bão dựđịnh cho tương lai

Vậy mà người lính ra đi không hề băn khoăn, day dứt, không chút đắn đo suy nghĩ Tác giả đã sử dụng

cách nói phủ định chẳng tiếc để khẳng định dứt khoát, quyết liệt sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc Thái độ của người

lính Tây Tiến hiện lên thật đẹp, họ coi sinh mạng Tổ quốc lớn hơn sinh mạng của mình

Hai câu thơ tỏa sáng lí tưởng sống đẹp của tuổi trẻ thời loạn, sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân của mìnhcho quê hương, đất nước:

Chúng tôi đi đã không tiếc đời mình Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc

Trang 11

Áo bào thay chiếu anh về đất Chiếc áo hàng ngày họ quen dùng nay lại cùng người lính về với đất mẹ, thậm chí

đó là chiếc áo đã sờn vai, phai màu: Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách, hay: Áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá Đó là sự bi thương của người lính Tây Tiến nói riêng và người lính trong cuộc kháng chiến chống thực

dân Pháp nói chung Khi nói về sự hi sinh của người lính Tây Tiến: Người lính Tây Tiến ra đi trong tư thế tráng sĩ

anh hùng và đã nằm xuống bằng cái chết của người anh hùng Hình ảnh áo bào thay chiếu biến cái chết trở thành

sự hi sinh sang trọng của khách chinh phu ngày xưa Đó là chiếc áo bào trong trí tưởng tượng của nhà thơ đã đắpcho những người đồng đội của mình bằng tất cả niềm tiếc thương Tuy nhiên, qua cái nhìn lãng mạn của nhà thơQuang Dũng, những vật đơn giản bình dị ấy là tấm áo hàng ngày đã trở thành tấm áo bào sang trọng, không còngợi cảm giác về sự thiếu thốn bi thương nữa Đây là hình ảnh quen thuộc trong văn học cổ gợi lên sắc thái cổ kính,một giọng điệu trang trọng khi nói về sự hi sinh Những người lính Tây Tiến ra đi rất thanh thản (hào hùng) qua từ

về Đây là cách nói giảm, nói tránh làm vơi đi những mất mát, dù tác giả không nói đến cái chết nhưng người đọc vẫn hiểu sự hi sinh của người lính Tây Tiến Từ về gợi sự gần gũi, thân thuộc Dường như họ sinh ra từ cát bụi nay

lại trở về với cát bụi, cái chết được nói đến như một điều hiển nhiên, tất yếu vậy

Như vậy, cái chết được nói đến nhưng không gợi cảm giác bi lụy mà có cái gì đó rắn rỏi, mạnh mẽ vìngười lính tự nguyện hiến dâng tuổi xuân của mình cho Tổ quốc Sự hi sinh ấy thật thầm lặng, vĩ đại nhưng khôngphải là sự ra đi của một cá nhân đơn lẻ mà của biết bao người lính Tây Tiến, điều đó làm nên chất sử thi hùng trángcho thi phẩm Họ đã ra đi như bao chiến sĩ vô danh, không có tên cụ thể, làm nên một tượng đài về người chiến sĩ:

Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra đất nước (Đất Nước - Nguyễn Khoa Điềm)

+ Thiên nhiên cũng tấu lên khúc hát bi tráng:

Sự hi sinh của người lính Tây Tiến không chỉ để lại sự tiếc thương cho con người mà còn khiến cho thiênnhiên sông núi Tây Bắc cũng xót xa:

Sông Mã gầm lên khúc độc hành Khúc độc hành được tấu lên từ tiếng gầm của dòng sông Mã càng tô đậm không khí bi tráng của cả đoạn

thơ Sông Mã đã tấu lên tiếng kèn bi tráng đưa người lính về nơi yên nghỉ cuối cùng Sông núi nghiêng mình, tiếng

gầm ấy như tiếng khóc đau thương, tiếng phẫn uất Dòng sông Mã được diễn tả ở thế động, nó gầm lên giống như

con chiến mã trung thành, đau thương khi chứng kiến cái chết của người lính Tây Tiến Phải chăng, đó là nỗi uấthận của người lính hi sinh mà chưa trả được mối thù cho đất nước, hi sinh mà chưa thỏa ước nguyện Họ ra đikhông một vòng hoa, không một điếu văn, chỉ có tiếng sông Mã gầm lên khúc dữ dội càng gợi lên nét hùng tráng

+ Đoạn thơ đã khắc họa rõ nét chân dung người lính Tây Tiến như một bức tượng đài bất tử về người lính

vô danh một thời đánh giặc không thể nào quên

Trang 12

VIỆT BẮC

Tố Hữu

I HỆ THỐNG KIẾN THỨC

I Tác giả

- Tố Hữu (1920 - 2002), tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành

- Quê hương: làng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế

- Gia đình:

+ Có truyền thống Nho học và rất yêu chuộng văn chương

+ Cha và mẹ sớm truyền cho ông tình yêu tha thiết với văn học

 Chính gia đình và quê hương đã tạo điều kiện thuận lợi phát triển hồn thơ Tố Hữu sau này

- Cuộc đời:

+ Năm 1938, được kết nạp vào Đảng

+ Năm 1939, bị bắt và bị giam qua nhiều nhà tù ở miền Trung và Tây Nguyên

+ Năm 1942, vượt ngục, ra Thanh Hoá, tiếp tục hoạt động

+ Cách mạng tháng Tám 1945: là Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa ở Huế

+ Kháng chiến chống Pháp: đặc trách văn hoá văn nghệ ở cơ quan trung ương Đảng

+ Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ  1986: liên tục giữ những cương vị quan trọng trong bộ máylãnh đạo của Đảng và Nhà nước

- 1996: được tặng Giải thưởng HCM về Văn học nghệ thuật

2 Phong cách thơ Tố Hữu:

a Về nội dung:

* Thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình - chính trị rất sâu sắc:

Trong việc biểu hiện tâm hồn, thơ Tố Hữu luôn hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềmvui lớn của con người cách mạng, của cả dân tộc

* Thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi:

+ Luôn đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân: Công cuộc xây dựng đất nước

(Bài ca mùa xuân 1961), cả nước ra trận đánh Mĩ (Chào xuân 67)

+ Cảm hứng chủ đạo trong thơ Tố Hữu là cảm hứng lịch sử - dân tộc, không phải là cảm hứng thế sự - đờitư

+ Hình tượng trung tâm là con người của sự nghiệp chung, mang phẩm chất tiêu biểu cho cả dân tộc, mang

tầm vóc lịch sử và thời đại: anh vệ quốc quân (Lên Tây Bắc), anh giải phóng quân (Tiếng hát sang xuân), anh Nguyễn Văn Trỗi (Hãy nhớ lấy lời tôi), chị Trần Thị Lý (Người con gái Việt Nam)…  ngợi ca

* Giọng thơ mang chất tâm tình rất tự nhiên, đằm thắm, chân thành, ngọt ngào, tha thiết:

Nói chuyện chính trị với đồng bào bằng những lời hô gọi ngọt ngào trìu mến của tình bạn, tình yêu, tình

cảm gia đình: bạn đời ơi, hỡi người bạn, đồng bào ơi, anh chị em ơi, em ơi…

b Về nghệ thuật: Thơ Tố Hữu mang tính dân tộc rất đậm đà:

- Về thể thơ: thành công khi vận dụng những thể thơ truyền thống của dân tộc:

+ Lục bát: mang sắc thái ca dao và cổ điển (Khi con tu hú, Việt Bắc, Bầm ơi, Kính gửi cụ Nguyễn Du…)

+ Thất ngôn: trang trọng cổ điển nhưng linh hoạt trong việc gieo vần, tạo nhịp và diễn tả tình cảm của thời

đại mới (Mẹ Tơm, Bác ơi, Theo chân Bác…)

- Về ngôn ngữ:

+ Sử dụng từ ngữ và cách nói quen thuộc với dân tộc

+ Phát huy cao độ tính nhạc phong phú của tiếng Việt

+ Sử dụng tài tình các từ láy, các thanh điệu, các vần ,…

“Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan, Đường bạch dương sương trắng nắng tràn”.

Trang 13

đô Hà Nội Tố Hữu cũng là một trong số những cán bộ kháng chiến từng sống và gắn bó nhiều năm với Việt Bắc,nay từ biệt chiến khu Việt Bắc để về xuôi Bài thơ được viết trong buổi chia tay lưu luyến đó.

b Sắc thái tâm trạng:

- Hoàn cảnh sáng tác tạo nên một sắc thái tâm trạng đặc biệt:

“Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

 đầy xúc động, bâng khuâng không nói nên lời

- Đây cũng là cuộc chia tay của những người từng gắn bó:

“Mười lăm năm ấy, thiết tha mặn nồng”

 có biết bao kỷ niệm ân tình thuỷ chung

- Chuyện ân tình cách mạng được Tố Hữu thể hiện khéo léo như tâm trạng của tình yêu đôi lứa

2 Giá trị nội dung:

a khung cảnh chia tay:

Mình về mình có nhớ ta?

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không?

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

- Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân ly Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

- Bốn câu đầu: lời ướm hỏi của người ở lại

+ Câu hỏi ngọt ngào, khéo léo “mười lăm năm” cách mạng gian khổ hào hùng, cảnh và ngườiViệt Bắc gắn

bó nghĩa tình với những người kháng chiến; đồng thời khẳng định tấm lòng thủy chung của mình

+ Nghĩa tình của kẻ ở- người về được biểu hiện qua các đại từ mình- ta quen thuộc trong thơ ca dân giangắn liền với tình yêu đôi lứa, cách xưng hô: mình- ta tạo nên sự thân mật, gần gũi Điệp từ nhớ, láy đi, láy lại cùngvới lời nhắn nhủ “mình có nhớ ta”, “mình có nhớ không” vang lên day dứt khôn nguôi

+ Các từ thiết tha, mặn nồng thể hiện bao ân tình gắn bó

- Bốn câu sau: tiếng lòng của người cán bộ về xuôi

+ Tuy không trả lời trực tiếp câu hỏi của người ở lại nhưng tâm trạng bâng khuâng, bồn chồn, cùng với cửchỉ “cầm tay nhau” xúc động bồi hồi đã nói lên tình cảm: chưa xa đã nhớ, sự bịn rịn luyến lưu của người cán bộ vớicảnh và người Việt Bắc Lời có hay không mà là những cử chỉ Câu thơ bỏ lửng “cầm tay…” diễn tả thái độ nghẹnngào không nói lên lời của người cán bộ giã từ Việt Bắc về xuôi

+ Hình ảnh “áo chàm”- nghệ thuật hoán dụ, trang phục quen thuộc của người dân Việt Bắc

b Tâm tình người ở lại:

- Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?

Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

Trang 14

Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son Mình về, còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

- Nhớ về thiên nhiên, cuộc sống, tình người Việt Bắc:

- Nhớ một thiên nhiên khắc nghiệt: “mưa nguồn, suối lũ, mây cùng mù”

- Nhớ một chiến khu đầy gian khổ, nhưng sẵn lòng căm thù giặc sâu sắc: cơm chấm muối, mối thù nặngvai

- Nhớ những sản vật miền rừng: trám bùi, măng mai

- Nhớ những mái nhà nghèo nàn nhưng ấm áp tình người, tình cách mạng

- Nhớ những năm đầu kháng Nhật với những địa danh lịch sử: “Tân Trào Hồng Thái mái đình cây đa”

- Nỗi nhớ ấy được thể hiện bằng những dòng thơ lục bát đậm chất dân gian, những cặp câu thơ lục bát có

sự phối hợp thanh điệu hài hòa Sáu dòng lục tạo thành một điệp khúc âm thanh: nó đan dày thành những cấu trúcthanh bằng- trắc- bằng tạo ra nhạc điệu ngân nga trầm bổng nhẹ nhàng, khoan thai

- Hầu hết các câu thơ ngắt theo nhịp 4/4 làm nên những tiểu đối cân xứng, hô ứng về câu trúc, nhạc điệu:Mưa nguồn suối lũ/những mây cùng mù; Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai… Có những cặp tiểu đối khắcghi những sự kiện, có những cặp tiểu đối vế đầu nói về hiện thực gian khổ, vế còn lại khắc sâu vẻ đẹp tâm hồn củacon người Việt Bắc gắn bó son sắt cùng với lối sống ân nghĩa thủy chung Người đọc như gặp lại hồn xưa dân tộctrong những trang thơ lục bát của Tố Hữu

- Câu thơ “Mình đi mình lại nhớ mình”: nhớ mình - tức nhớ người ở lại nhưng cũng như là nhắc nhở chínhmình hãy nhớ về quá khứ gian khổ nhưng thấm đẫm nghĩa tình

c Tâm tình người ra đi:

Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy

Ta đi, ta nhớ những ngày Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi

Thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô Nhớ sao lớp học i tờ Ðồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.

Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa

- Người ra đi đồng nhất quan hệ: trong ta có mình, trong mình có ta.

- Nỗi nhớ của người ra đi

“Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Trang 15

Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy”.

+ Nỗi nhớ Việc Bắc được so sánh “như nhớ người yêu”

 Nỗi nhớ thật da diết, mãnh liệt, cháy bỏng

+ Điệp từ “nhớ” được đặt ở đầu câu

 như liệt kê ra từng nỗi nhớ cụ thể: nhớ ánh nắng ban chiều, ánh trăng buổi tối, những bản làng mờ

trong sương sớm, những bếp lửa hồng trong đêm khuya, những núi rừng, sông suối mang những cái tên thân thuộc.

=> Nỗi nhớ bao trùm khắp cả không gian và thời gian

- Trong nỗi nhớ của nhà thơ, đồng bào Việt Bắc hiện lên với những phẩm chất cao đẹp:

+ Hình ảnh “Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”

 Tuy họ nghèo về vật chất nhưng lại giàu về nghĩa tình

 Họ đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi với người cán bộ kháng chiến

- Nhớ nhịp sống sôi động: lớp học i tờ , tiếng hát ca vang núi đèo …

- Nhớ âm thanh yên ả khi rừng chiều và đêm đêm

 Âm hưởng trữ tình tạo khúc ca ngọt ngào, đằm thắm của tình yêu thương đồng chí, đồng bào, tình yêuthiên nhiên, đất nước

- Đẹp nhất trong nỗi nhớ là sự hoà quyện thắm thiết giữa cảnh với người:

Ta về mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người.

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình.

Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung

+ Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với vẻ đẹp đa dạng, sinh động, thay đổi theo từng mùa:

Mùa xuân: trong sáng, tinh khôi và đầy sức sống với “mơ nở trắng rừng”

Mùa hè: rực rỡ, sôi động với âm thanh “rừng phách đổ vàng”

Mùa thu: yên ả, thanh bình, lãng mạn với hình ảnh “trăng rọi hoà bình”

Mùa đông: tươi tắn, không lạnh lẽo với hình ảnh “hoa chuối đỏ tươi”

+ Gắn bó với thiên nhiên là những con người bình dị:

+) Người đi làm nương rẫy (Ngày xuân mơ nở trắng rừng)

+) Người khéo léo trong công việc đan nón (Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang)

+) Người đi hái măng giữa rừng tre nứa (Nhớ cô em gái hái măng một mình)

 Bằng những việc làm nhỏ bé, họ góp phần tạo nên sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến

d Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu, vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến:

* Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu:

- Bức tranh Việt Bắc ra quân hùng vĩ:

Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung.

Quân đi điệp điệp trùng trùng.

Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.

Trang 16

Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước đi nát đá, muôn tàn lửa bay.

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.

+ Những hình ảnh không gian rộng lớn, những từ láy (rầm rập, điệp điệp, trùng trùng), biện pháp so sánh (như là đất rung), cường điệu (bước chân nát đá), biện pháp đối lập (Nghìn đêm … >< … mai lên), những động

từ (rầm rập, đất rung, lửa bay)

 diễn tả được khí thế hào hùng của cuộc kháng chiến chống Pháp: không khí sôi động với nhiều lựclượng tham gia, những hoạt động tấp nập…

+ Âm hưởng hùng ca, mang tính sử thi của đoạn thơ

 thể hiện được sức mạnh của cả một dân tộc đứng lên chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc

- Dân tộc ấy vượt qua bao khó khăn, thử thách, hi sinh để đem về những kì tích:

“Tin vui thắng trận trăm miền.

Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

 Liệt kê những chiến công gắn liền với những địa danh lịch sử

- Tố Hữu còn đi sâu lí giải những cội nguồn đã làm nên chiến thắng:

+ Đó là sức mạnh của lòng căm thù: “Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”

+ Đó là sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung: “Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi”

 Khối đại đoàn kết toàn dân (“Đất trời ta cả chiến khu một lòng”), sự hoà quyện gắn bó giữa con người

với thiên nhiên (Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây): tất cả tạo thành hình ảnh một đất nước đứng lên tiêu diệt kẻ

thù

* Vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến:

“Mình về, có nhớ núi non, Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh.

Mình đi mình có nhớ mình, Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.”

- Việt Bắc là quê hương của cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, là đầu não của cuộc kháng chiến, nơi hội

tụ tình cảm, suy nghĩ, niềm tin và hi vọng của mọi người Việt Nam yêu nước

- Việt Bắc là chiến khu kiên cường, nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu tranh, nơi khai sinh những địa danhmãi mãi đi vào lịch sử dân tộc

“Ở đâu u ám quân thù, Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi

Ở đâu đau đớn giống nòi, Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.

Mười lăm năm ấy, ai quên Quê hương Cách mạng dựng nên cộng hoà”

- Khẳng định Việt Bắc là nơi có “Cụ Hồ sáng soi”, có “Trung ương chính phủ luận bàn việc công”

Trang 17

- Khẳng định niềm tin yêu của cả nước với Việt Bắc bằng những vần thơ mộc mạc, giản dị mà thắm thiếtnghĩa tình.

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

- Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân ly Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

Từ đó nhận xét về màu sắc dân tộc được thể hiện qua hình thức nghệ thuật đoạn thơ?

Gợi ý trả lời

a Mở bài:

Tố Hữu được coi là tiếng thơ trữ tình chính trị lớn nhất trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại Thơ Tố Hữuhấp dẫn người đọc bởi giọng điệu tâm tình, tha thiết và tính dân tộc đậm đà “Việt Bắc” được xem là đỉnh cao củathơ Tố Hữu và là thành tựu xuất sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp Khám phá bài thơ này, có những câu thơ

đã để lại trong lòng người đọc những cảm xúc khó quên bởi màu sắc dân tộc đậm đà trong hình thức nghệ thuật :

“Mình về minh có nhớ ta

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”.

b Thân bài

b1 Hoàn cảnh sáng tác, kết cấu, cách xưng hô ta – mình, vị trí đoạn thơ.

Năm 1954, đó là thời điểm giao thời của lịch sử, giao thời của lòng người: Hiệp định Giơ-ne-vơ được kíkết, chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, miền Bắc được giải phóng, Đảng và Chính Phủ rời Việt Bắc về Hà Nội.Nhân những sự kiện mang tính thời sự ấy, Tố Hữu viết bài thơ “Việt Bắc” Để bộc lộ cảm xúc, Tố Hữu sáng tạo ramột kết cấu đặc biệt, đó là cuộc chia tay giữa hai nhân vật “mình” và “ta” Sự kiện chính trị trọng đại ảnh hưởng tớiđời sống toàn dân tộc được thể hiện dưới hình thức “tiễn dặn người yêu” của một đôi trai gái, Tố Hữu đã riêng tưhóa được những vấn đề chung khiến yếu tố chính trị mờ đi nhường chỗ cho cảm xúc Đây được xem là ma lựcriêng của thơ Tố Hữu Phù hợp với lối kết cấu ấy là cách xưng hô “ta mình”, là lời của lứa đôi, lời của vợ chồngkhiến lời thơ ngọt ngào, chao liệng như lời ru Đoạn thơ trên thuộc phần mở đầu, tái hiện khung cảnh chia tay giữangười đi và kẻ ở

b 2 Cảm nhận đoạn thơ

Mở đầu cuộc chia tay ấy, lạ lùng thay lại là lời của người ở lại:

“Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”

Tại sao người ở lại lên tiếng trước? Bởi vì mối băn khoăn quan tâm hàng đầu của Tố Hữu là vấn đề lẽ sốngcách mạng, đạo đức cách mạng thường đặt ra trong những giai đoạn bước ngoặt của lịch sử Bởi lẽ từ khổ sangsướng, người ta thường hay dễ quên Chính trong bài thơ “Việt Bắc”, Tố Hữu cũng dự cảm về vấn đề này:

“Mình về thành thị xa xôi Nhà cao còn nhớ núi đồi nữa chăng Phố đông còn nhớ bản làng Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng”.

Mặt khác, người ở lại nhìn vào đâu cũng thấy kỉ niệm, chạm vào đâu cũng thấy kỉ niệm nên sẽ cất lờitrước Mở đầu cho khúc tâm tình của người ở lại là cách xưng hô “ta - mình” Trong Tiếng Việt, “mình” đượcdùng ở ngôi thứ nhất, còn khi được sử dụng ở ngôi thứ hai, nó thể hiện sự gắn bó trong tình yêu lứa đôi, trong tìnhcảm vợ chồng Ca dao xưa từng viết:

“Mình về ta chẳng cho về

Trang 18

Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ”.

Như vậy, Tố Hữu sử dụng cách xưng hô “ta - mình” hàm ý cách mạng và nhân dân tuy hai mà là một, sonsắt, thủy chung

Bốn câu thơ tạo thành hai câu hỏi Giọng cất lên đã là giọng của yêu thương, trìu mến, nhung nhớ, chia xa.Tất cả nhắc gọi về kỉ niệm giống như vô vàn những cuộc chia tay muôn thuở xưa nay Có bao nhiêu điều cụ thểtừng sẻ chia, gắn bó đã trôi qua, giờ đây còn lại cảm nhận chung nhất:

“Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”.

Mười lăm năm tính từ thời kháng Nhật, từ thuở Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước, Người chọn Việt Bắc làm căn cứ cách mạng, Việt Bắc từ ngày ấy đã trở thành quê hương của kháng chiến Mười lăm năm là khoảng thời

gian đủ dài để con người ta sống ân tình, ân nghĩa, chia ngọt sẻ bùi Cái bổng trầm của điệu lục bát đọc lên tự nhiên

mà thành thăng trầm sóng gió nổi chìm để từ đó có nghĩa tình thiết tha không phai nhạt Câu thơ này mang dángdấp của một câu thơ Kiều bởi vì Thúy Kiều và Kim Trọng cũng xa cách nhau mười lăm năm Trong “TruyệnKiều”, Nguyễn Du viết:

“Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình”

Mười lăm năm là một mối ân tình cách mạng, học tập câu thơ trong “Truyện Kiều” khiến câu thơ của Tố

Hữu ngọt ngào, tha thiết

Người ở lại khơi dậy trong lòng người ra đi những kỉ niệm tràn ngập không gian:

“Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”.

Câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến bao hàm cả một lời dặn dò kín đáo: đừng bao giờ quên Việt Bắc, vì

Việt Bắc là cái nôi nuôi dưỡng cách mạng, trong cuộc kháng chiến ấy “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” Cách dùng hình ảnh núi , cây , sông , nguồn gợi nhớ trở nên sâu thẳm, da diết hơn Các cặp hình ảnh vừa mang nghĩa tả

thực, vừa mang nghĩa tượng trưng gợi tả không gian núi rừng Việt Bắc với những nét riêng đặc thù Ngoài ra, nócòn gợi lên tình cảm chung thủy trong mối quan hệ cội nguồn Cán bộ từ dân mà ra, dựa vào dân mà sống Nhândân là hậu phương vững chắc của cách mạng Nhớ về nhân dân như nhớ về cội nguồn Qua đây ta thấy được nét

đẹp trong đời sống tinh thần của một dân tộc luôn nhắc nhở nhau: uống nước nhớ nguồn

Với kẻ ở thương nhớ cất lên thành lời nhưng với người đi, tình thương nhớ đó lại là sự im lặng, một sự imlặng chất chứa bao nỗi niềm bởi vì im lặng cũng là một cách tri ân sâu sắc Câu hỏi của trái tim đã nhận được sựđồng vọng của trái tim:

“Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi”

“Áo chàm đưa buổi phân ly Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”.

“Tiếng ai” vừa là tiếng lòng của người ở lại nhưng cũng là tiếng vọng từ tâm tưởng, trong cảm nhận củangười ra đi Người ở lại nói “thiết tha” thì người ra đi nghe “tha thiết” Ở đây có sự hô ứng ngôn từ, sự đồng vọngngôn từ Người đi cảm nhận nỗi niềm của người ở lại bởi giữa họ là sự tri âm tri kỉ Những từ láy “bâng khuâng”,

“bồn chồn”, “tha thiết” không chỉ tạo nên nhạc điệu câu thơ mà còn cho thấy những xao động trong tâm tư củangười ra đi “Bâng khuâng” là từ láy gợi ra những trạng tái cảm xúc mơ hồ khó tả bởi sự đan xen buồn vui, luyếntiếc, nhớ nhung, con người như quên đi thực tại để đằm chìm trong kí ức “Bồn chồn” là tâm trạng thấp thỏm, nônnao khiến lòng người không yên Bồn chồn không chỉ dừng lại ở nỗi niềm tâm tưởng mà còn thể hiện ra cả ánhmắt, dáng vẻ, hành động Những bước chân đi bồn chồn, những nỗi lòng bâng khuâng xao xuyến cho thấy người

đi vẫn đang hướng về người ở lại, chẳng nỡ rời ra Các từ láy đứng cạnh nhau giống như những vòng sóng cảmxúc lan tỏa trong tâm hồn con người

Đọng lại trong tâm trí người về xuôi là hình ảnh “áo chàm”:

“Áo chàm đưa buổi phân ly”

Hình ảnh chiếc áo rất quen thuộc trong thơ ca truyền thống Trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du từng viết:

“Người lên ngựa, kẻ chia bào”.

Và bây giờ, trong cuộc chia tay mang tầm vóc lịch sử này, Tố Hữu đặt vào đây hình ảnh “áo chàm” đầy ýnghĩa “Áo chàm” là trang phục đặc trưng của đồng bào Việt Bắc Màu chàm là màu sắc bình dị, đơn sơ nhưng bềnchặt, khó phai như tấm lòng người Việt Bắc vừa chân thành, mộc mạc, vừa son sắc, thủy chung

Nhưng có lẽ, tình cảm của người ra đi ấn tượng nhất được biểu đạt qua câu thơ:

“Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Trang 19

Nhịp câu thơ lục bát đang trôi trong nhịp chẵn (2/2) bỗng chuyển sang nhịp lẻ (3/3/2) Nhịp thơ thay đổidiễn tả thần tình một thoáng ngập ngừng của bước chân, một chút bối rối của ánh mắt, tình cảm thật khó mà nói hếtđược, thật khó mà giãi bày được Tất cả dồn tụ trong hình ảnh đôi bàn tay

Đây là hình ảnh đôi bàn tay trong thơ Chính Hữu:

“Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”

Đây là hình ảnh bày tay trong thơ Lê Anh Xuân:

“Ta run run nắm lấy bàn tay Thương nhớ dồn trong tay ta nóng bỏng”.

Và ở đây, hình ảnh bàn tay trong thơ Tố Hữu, bàn tay của những con người vừa làm nên chiến thắng Vìthế, cuộc chia tay giữa người dân Việt Bắc ở lại và người cán bộ kháng chiến về xuôi cũng có bịn rịn, nhớ thươngnhưng không buồn thương, đẫm lệ mà lấp lánh một niềm tin, một niềm vui Có biết bao nhiêu áng thơ ca trở thànhkiệt tác khi viết về đề tài chia ly, những câu thơ trong “Việt Bắc” dù chưa xếp vào hàng kiệt tác nhưng vẫn đượcngười đọc ghi nhớ về sự chân thành, cảm xúc bởi giọng điệu thơ mang phong vị dân gian, bởi Tố Hữu đã nói đếnnhững vấn đề của đời sống cách mạng bằng cách nói ca dao trao duyên

b.3: Nhận xét

Tố Hữu là nhà thơ dân tộc trong cái ý nghĩa đầy đủ và tự hào của khái niệm này Kế tục truyền thống thơ

ca dân tộc, nhất là thơ ca dân gian và thơ cổ điển, thơ Tố Hữu nói chung và bài thơ Việt Bắc nói riêng đậm đà tínhdân tộc trong cả nội dung và hình thức biểu hiện.Tính dân tộc của thơ Tố Hữu được thể hiện xuyên thấm trongViệt Bắc: Về nội dung (phản ánh và thể hiện được đời sống tinh thần, đời sống tâm hồn, tâm tư, tình cảm, nguyệnvọng của dân tộc) Hình thức (có ngôn ngữ nghệ thuật, thể thơ và nhạc điệu mang đậm màu sắc dân tộc góp phầnvào sự phát triển ngôn ngữ Tiếng Việt) Tuy nhiên đề chỉ yêu cầu làm sáng tỏ tính dân tộc trong hình thức Cụ thể:

- Thể thơ: Tố Hữu đã sử dụng thể thơ truyền thống của dân tộc: lục bát Thi sĩ đã sử dụng rất nhuầnnhuyễn thể thơ này và có những biến hóa ,sáng tạo cho phù hợp với nội dung, tình ý câu thơ

- Kết cấu: Kết cấu theo lối đối đáp giao duyên của nam nữ trong ca dao dân ca là kết cấu mang đậm tínhdân tộc,và nhờ hình thức kết cấu này mà bài thơ có thể đi suốt 150 câu lục bát không bị nhàm chán

- Hình ảnh: Tố Hữu có tài sử dụng hình ảnh dân tộc một cách tự nhiên và sáng tạo trong bài thơ: Nhìn câynhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn; mưa nguồn suối lũ;

Ngôn ngữ và các biệp pháp tu từ: Tính dân tộc được thể hiện rõ nhất trong cặp đại từ nhân xưng'' ta mình, mình - ta'' quấn quýt với nhau và đại từ phiếm chỉ ''ai'' (dẫn chứng) Đây là một sáng tạo độc đáo và cũng làmột thành công trong ngôn ngữ thơ ca của Tố Hữu Các biện pháp tu tù quen thuộc: sử dụng từ láy, điệp từ, sosánh, nhân hoá

Nhạc điệu: Trong bài thơ là nhạc điệu dân tộc từ thể thơ lục bát: nhịp nhàng tha thiết, ngọt ngào, sâu lắngnhưng biến hóa, sáng tạo, không đơn điệu

Bởi thế, 8 câu thơ đầu đã diễn tả thật xúc động những quyến luyến thiết tha, những băn khoăn trăn trở củangười ở lại Trong cuộc chia tay đặc biệt này, họ chưa chia xa mà đã nhớ thương vời vợi, chưa cách biệt mà đãkhao khát mong chờ Tình nghĩa thủy chung, sự gắn bó giữa đồng bào Việt Bắc với người cán bộ kháng chiếnphản ánh truyền thống đạo lí từ ngàn đời của dân tộc Nói đến ân nghĩa thủy chung, Tố Hữu nói lên được niềm tựhào về truyền thống nhân ái của dân tộc Hiện thực Cách mạng được Tố Hữu phản ánh một cách chân thực, gợicảm phù hợp với tình cảm của dân tộc Đoạn thơ là nỗi nhớ thương, lưu luyến trong giây phút chia tay, là nghĩatình thắm thiết với Việt Bắc, quê hương Cách mạng, với đất nước và nhân dân, với cuộc kháng chiến nay đã thành

kỉ niệm khiến niềm vui hiện tại luôn gắn kết với nghĩa tình trong quá khứ và niềm tin ở tương lai Đoạn thơ là khúchát tâm tình chung của con người Việt Nam trong kháng chiến mà bề sâu của nó là truyền thống ân nghĩa, là đạo lýthủy chung của dân tộc Đó là biểu hiện của tính dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc”

c Kết bài:

Giọng thơ tâm tình ngọt ngào và nghệ thuật tiêu biểu giàu tính dân tộc của Tố Hữu đã góp phần quan trọngvào thành công của bài thơ Việt Bắc làm cho nó nhanh chóng đến với người đọc và sống lâu bền trong lòng nhândân ta từ khi ra đời cho đến hôm nay

2 Đề 2: Cảm nhận của anh chị về đoạn thơ sau trong bài thơ Việt Bắc

- Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?

Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

Trang 20

Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son Mình về, còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

Từ đó nhận xét về vẻ đẹp tâm hồn con người kháng chiến được thể hiện qua đoạn thơ?

GỢI Ý TRẢ LỜI

a Mở bài:

Tố Hữu được coi là tiếng thơ trữ tình chính trị lớn nhất trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại Thơ Tố Hữuhấp dẫn người đọc bởi giọng điệu tâm tình, tha thiết và tính dân tộc đậm đà “Việt Bắc” được xem là đỉnh cao củathơ Tố Hữu và là thành tựu xuất sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp Khám phá bài thơ này, có những câu thơ

đã để lại trong lòng người đọc đó là khúc tâm tình của người ở lại trong đoạn thơ sau:

- Mình đi, có nhớ những ngày

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

b Thân bài

b1 Hoàn cảnh sáng tác, kết cấu, cách xưng hô ta – mình, vị trí đoạn thơ.

Năm 1954, đó là thời điểm giao thời của lịch sử, giao thời của lòng người: Hiệp định Giơ-ne-vơ được kíkết, chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, miền Bắc được giải phóng, Đảng và Chính Phủ rời Việt Bắc về Hà Nội.Nhân những sự kiện mang tính thời sự ấy, Tố Hữu viết bài thơ “Việt Bắc” Để bộc lộ cảm xúc, Tố Hữu sáng tạo ramột kết cấu đặc biệt, đó là cuộc chia tay giữa hai nhân vật “mình” và “ta” Sự kiện chính trị trọng đại ảnh hưởng tớiđời sống toàn dân tộc được thể hiện dưới hình thức “tiễn dặn người yêu” của một đôi trai gái, Tố Hữu đã riêng tưhóa được những vấn đề chung khiến yếu tố chính trị mờ đi nhường chỗ cho cảm xúc Đây được xem là ma lựcriêng của thơ Tố Hữu Phù hợp với lối kết cấu ấy là cách xưng hô “ta mình”, là lời của lứa đôi, lời của vợ chồngkhiến lời thơ ngọt ngào, chao liệng như lời ru Đoạn thơ trên là khúc tâm tình của người ở lại

b 2 Cảm nhận đoạn thơ

Mở đầu cho khúc tâm tình của người ở lại là cách xưng hô “ta - mình” Kẻ ở người đi đã chọn cặp đại từxưng hô “ta - mình” vừa quen thuộc vừa thân thiết, gắn bó Quen thuộc vì nó gợi nhắc ta nhớ đến những khúc hátyêu thương, tình nghĩa của ca dao, dân ca Thân thiết, gắn bó vì lẽ người ta thường sử dụng cách xưng hô “ta -mình” trong tình yêu đôi lứa, tình vợ chồng keo sơn bền chặt Cặp đại từ “mình - ta” trong kết cấu đối đáp đã đem

lại màu sắc trữ tình cho tác phẩm Chuyện nghĩa tình Cách mạng, chuyện ăn quả nhớ kẻ trồng cây, chuyện ân tình kháng chiến, uống nước nhớ nguồn đã hóa thành chuyện riêng tư mình - ta, đôi lứa gửi trao khi tạm phải chia xa.

Cứ thế lời thơ hòa quyện ngọt ngào đi vào lòng người, nhắc nhở thấm thía bằng tiếng nói của tình thương mến

Có một điều thật lạ trong đoạn thơ này là cặp từ “đi-về” hoán đổi vị trí cho nhau, nghĩa là, “ta” ra đi tức là

“ta” ở lại, “mình” ở lại nghĩa là “mình” ra đi Trong “ta” có “mình”, trong “mình” có “ta” Đây không phải chia tay

mà chỉ là sự xa cách tạm thời về không gian địa lý Vì thế, có lưu luyến, nhớ thương, có bâng khuâng, bồn chồnnhưng vẫn hy vọng về một ngày mai tươi sáng

Mười hai câu thơ này là lời nhắn gửi của người ở lại đối với người ra đi Trước hết, người ở lại nhắn người

ra đi hãy nhớ về buổi đầu kháng chiến gian khổ nhưng nghĩa tình:

“Mình, đi có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù Mình, về có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai.”

Hình ảnh “Mưa nguồn suối lũ” kết hợp với cách nói tăng tiến “những”, “cùng” gợi một Việt Bắc dữ dội,hoang sơ, bí hiểm Mặt khác, từ hình ảnh thiên nhiên khắc nghiệt, Tố Hữu gợi ra những khó khăn dồn dập liên tụctrong buổi đầu Cách mạng Khi đó, người cán bộ cách mạng trèo đèo, lội suối đến với Việt Bắc, cùng nhân dân lậpcăn cứ cách mạng Như vậy, ngay từ buổi đầu, người đi-kẻ ở đã đồng cam cộng khổ, gắn bó nghĩa tình

Nhưng Việt Bắc không chỉ hoang sơ, dữ dội mà còn nghèo nàn, khó khăn, thiếu thốn:

“Mình về, có nhớ chiến khu

Trang 21

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai.”

Cuộc kháng chiến chống Pháp bước đầu với muôn vàn khó khăn, thiếu thốn Điều này ta từng gặp trongthơ Chính Hữu:

“Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá”

Ta cũng từng gặp trong thơ Quang Dũng:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm.”

Tố Hữu không né tránh hiện thực này Hình ảnh “miếng cơm chấm muối” là hình ảnh chân thực được rút

ra từ cuộc kháng chiến gian nan, thiếu thốn Ở đây, Tố Hữu dùng tiếu đối, tách câu thơ làm hai vế: Miếng cơm chấm muối/ Mối thù nặng vai, để làm nổi bật một bên là cuộc sống thiếu thốn, gian khổ, bên kia là lòng căm thù

giặc Cách nói của Tố Hữu thật giàu hình ảnh, mới mẻ, sâu xa Người đi kẻ ở đoàn kết một lòng vượt qua khókhăn, thiếu thốn Đây là phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam khi đất nước có chiến tranh Xưa trong “Bìnhngô đại cáo”, Nguyễn Trãi cũng đã từng viết:

“Nhân dân bốn cõi một nhà dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới Tướng sĩ một lòng phụ tử hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”.

Không chỉ nhắn gửi người ra đi hãy nhớ về cảnh sắc núi rừng Việt Bắc mà người ở lại còn nhắn gửi người

ra đi hãy nhớ về cuộc sống nơi đây nghèo khổ mà nghĩa tình:

“Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son.”

Ở đây, Tố Hữu đã sử dụng nghệ thuật nhân hóa và hoán dụ “Rừng núi” là cách nói hoán dụ chỉ đồng bàoViệt Bắc “Rừng núi nhớ ai” là muốn nói đồng bào Việt Bắc nhớ người cán bộ kháng chiến, một nỗi nhớ tràn ngậpkhông gian Vì thế “trám bùi để rụng, măng mai để già” Đây là ẩn dụ có tới hai nét nghĩa Ta có thể hiểu là đồngbào Việt Bắc muốn dành tặng những món ăn này cho người chiến sĩ, mong ước ngày gặp lại Nhưng người chiến

sĩ đã về xuôi, vì thế “trám bùi”, “măng mai” biết để cho ai, chắc là chỉ để “rụng”, để “già” mà thôi Ta cũng có thểhiểu theo nét nghĩa thứ hai: “Trám bùi” là một sản vật quý giá, “măng mai” thể hiện sự tươi non vậy mà đang ởtrạng thái "rụng”, “già” Phải chăng thể hiện sự trống trải, cô đơn trong lòng người ở lại

Lời thơ còn khắc họa hình ảnh một Việt Bắc xa xôi nhưng ấm áp nghĩa tình:

“Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son.”

Đây là một câu thơ tuyệt hay Cái hay của nó nằm ở sự chân thực và giản dị: Những mái nhà tranh váchđất, những ngọn lau xám hắt hiu trước gió, bữa ăn chỉ có sắn, khoai Việt Bắc nghèo nhưng “đậm đà lòng son”,thủy chung nghĩa tình Ở hai câu thơ này, tác giả sử dụng đảo ngữ, từ láy làm sáng lên tấm lòng cao quý, đùm bọcchở che của nhân dân kháng chiến với cán bộ cách mạng, đó chính là chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng củanhân dân Việt Bắc

Đoạn thơ khép lại bằng lời nhắn gửi của người ở lại tới người ra đi hãy coi Việt Bắc như quê hương củamình:

“Mình về, còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?”

“Núi non” là hình ảnh hoán dụ để chỉ đồng bào Việt Bắc, đó là vẻ đẹp của thiên nhiên, của con người biếtbao ân tình, người ra đi làm sao có thể nguôi quên Người ở lại mong người ra đi hãy tự hào về những trang sử hàohùng, những địa danh, tên đất, tên làng đã trở thành dấu son chói lọi của Việt Bắc: Việt Bắc là nơi thành lập mặttrận Việt Minh (1941) để lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống Pháp “cây đa Tân Trào”, “mái đình Hồng Thái” lànơi họp quốc dân đại hội, nơi làm lễ xuất quân của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân Từ “mình” trong câuthơ “mình đi, mình có nhớ mình” xuất hiện ba lần có tính đa nghĩa, nó vừa chỉ đồng bào Việt Bắc, vừa chỉ ngườicán bộ kháng chiến về xuôi Đồng bào Việt Bắc muốn nhắc nhở người ra đi đừng đánh mất mình trong một hoàncảnh mới Câu thơ cuối có một sự đổi chỗ thật thú vị, lẽ ra phải viết “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào” thì ở

Trang 22

đây Tố Hữu lại viết “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa” Nghĩa là Việt Bắc chính là quê hương yêu dấu, làmột phần đời, một phần kí ức không thể phai nhòa Giống như Đỗ Trung Quân đã từng viết:

“Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nổi thành người.”

b3 Nhận xét

Mười hai câu thơ đã diễn tả thật xúc động những quyến luyến, thiết tha, những băn khoăn trăn trở củangười ở lại Trong cuộc chia tay đặc biệt này, họ chưa chia xa mà đã nhớ thương vời vợi, chưa cách biệt mà đãkhao khát mong chờ Tình nghĩa thủy chung, sự gắn bó giữa đồng bào Việt Bắc với người cán bộ kháng chiếnphản ánh truyền thống đạo lý từ ngàn đời của dân tộc Nói đến ân nghĩa, thủy chung, Tố Hữu nói lên được niềm tựhào về truyền thống nhân ái của dân tộc Hiện thực Cách mạng được Tố Hữu phản ánh một cách chân thực, gợicảm phù hợp với tính chất của dân tộc Đó là biểu hiện của tính dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc” Đoạn thơ là nỗinhớ thương, lưu luyến trong giây phút chia tay, là nghĩa tình thắm thiết với Việt Bắc, quan hệ cách mạng, với đấtnước và nhân dân, với cuộc kháng chiến nay đã thành kỉ niệm khiến niềm vui hiện tại luôn gắn kết với nghĩa tìnhtrong quá khứ và niềm tin ở tương lai Đoạn thơ là khúc hát tâm tình của đồng bào Việt Bắc mà bề sâu của nó làtruyền thống ân nghĩa, là đạo lý thủy chung của dân tộc Đoạn thơ trên tuy ngắn nhưng cũng giúp người đọc nhận

ra ưu thế riêng của thơ Tố Hữu, đậm đà tính dân tộc, chất trữ tình và chính trị kết hợp hài hòa Tố Hữu đã sử dụngthể thơ lục bát - một thể thơ truyền thống của dân tộc, sử dụng những hình ảnh quen thuộc (mái đình, cây đa.), cáchxưng hô “ta - mình” đem lại màu sắc trữ tình cho tác phẩm Cách liên tưởng so sánh trong bài thơ đã có tác dụng

mở rộng về không gian của nỗi nhớ, làm cho kỉ niệm cứ tuôn trào ra tầng tầng, lớp lớp Tình cảm như thấm đượm,trải rộng ra cảnh vật

c Kết bài:

Lịch sử dân tộc đã bước sang một trang mới đất nước độc lập tự do Nhưng trong trái tim mỗi con ngườiđất Việt vẫn vang vọng mãi những khúc ân tình với Việt Bắc bởi một lẽ thật giản dị:

“Ở đâu u ám quân thù Nhìn lên Việt Bắc Cụ Hồ sáng soi

Ở đâu đau đớn giống nòi Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.”

Trang 23

THƠ CA KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ GỒM 2 VĂN BẢN: SÓNG VÀ ĐẤT NƯỚC

SÓNG Xuân Quỳnh

A HỆ THỐNG KIẾN THỨC

I Kiến thức cơ bản về tác giả, tác phẩm:

1 Tác giả Xuân Quỳnh:

a Vài nét tiểu sử:

- Nhà thơ Xuân Quỳnh tên đầy đủ là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh (1942-1988), xuất thân trong một gia đìnhcông chức tại La Khê, Hoài Đức, Hà Tây Xuân Quỳnh được thừa hưởng nhan sắc, phẩm hạnh của người mẹ vàtình yêu văn chương của người cha nhưng cuộc đời sớm chịu nhiều thiệt thòi vất vả

- Tuổi thơ côi cút và nghèo khó để lại trong Xuân Quỳnh cảm giác buồn tủi và nhiều âu lo phấp phỏng

Những trải nghiệm này in dấu đậm nét lên các trang viết của Xuân Quỳnh như Tiếng gà trưa, Lời ru trên mặt đất…

- Năm 1955, Xuân Quỳnh trở thành diễn viên múa Nhưng say mê thơ, nhà thơ quyết định từ bỏ ánh đènsân khấu để chuyên tâm sáng tác Với nữ sĩ, thơ trở thành lẽ sống:

Nếu ngày mai em không làm thơ nữa

Không nỗi khổ, không niềm vui kinh ngạc

Trận mưa xuân dẫu làm ướt áo

Nhưng lòng em còn cảm xúc chi đâu

(Nếu ngày mai em không làm thơ nữa)

- Theo đuổi văn chương khi chỉ có vốn văn hóa lớp 6, Xuân Quỳnh đã cần mẫn học tập trong suốt cuộc đờicầm bút Nữ sĩ trải qua nhiều công việc khác nhau, cuối cùng về làm biên tập thơ ở báo Văn nghệ

- Xuân Quỳnh yêu rồi làm vợ, làm mẹ giữa những ngày cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đang diễn

ra ác liệt Nhà thơ đã gửi con trai nhỏ cho mẹ chồng, khoác ba lô vào tuyến lửa Quảng Trị

- Thành công với văn chương nhưng cuộc sống riêng tư không suôn sẻ Xuân Quỳnh sớm phải chịu nỗiđau gia đình tan vỡ Năm 1973, nữ sĩ tái hôn với Lưu Quang Vũ Họ đã cùng nhau chia sẻ cuộc sống khó khăn,thiếu thốn trăm bề Là người phụ nữ tần tảo, giàu đức hi sinh, Xuân Quỳnh có vai trò không nhỏ trong sự nghiệpcủa Lưu Quang Vũ Người bạn đời ấy đã nói về nhà thơ bằng những lời thật trân trọng:

“… Biết ơn em, em từ miền cát gió

Về với anh, bông cúc nhỏ hoa vàng

Anh thành người có ích cũng nhờ em”

(Và anh tồn tại- Lưu Quang Vũ)

- Ngày 29 tháng 8 năm 1988, Xuân Quỳnh cùng chồng và con trai Lưu Quỳnh Thơ mất vì một tai nạn giaothông ở Hải Dương

b Sự nghiệp sáng tác:

- Xuân Quỳnh có thơ từ năm 1962 Các tập thơ của Xuân Quỳnh phải kể đến: Tơ tằm- chồi biếc, Hoa dọc chiến hào, Gió lào cát trắng, Lời ru trên mặt đất…

- Nội dung cảm hứng chủ đạo trong thơ Xuân Quỳnh:

+ Viết về tình yêu đằm thắm chân thành, những khao khát ước mơ làm vợ, làm mẹ giản dị đời thường.+ Cảm hứng về nhà thơ- chiến sĩ trong những vần thơ kháng chiến sôi nổi, tự hào

+ Thơ viết về mẹ, con, trẻ em với những tình cảm nâng niu, trìu mến…

- Ngoài thơ, Xuân Quỳnh còn sáng tác văn xuôi viết về những gì gần gũi nhất trong cuộc sống hàng ngày

nhưng thấm thía dư vị như: Mẹ con nhà mối, Bà tôi, ông nội và ông ngoại, Thầy giáo dạy vẽ…

c Phong cách nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh:

- Thơ Xuân Quỳnh giàu vẻ đẹp nữ tính: Thiên chức làm vợ, làm mẹ đã cho người phụ nữ một tâm hồn

mẫn cảm, tinh tế, một bản năng chăm lo, vun vén, tạo dựng đời sống bình yên, khả năng hòa hợp với tự nhiên, đứctính nhẫn nại, chu đáo Thơ Xuân Quỳnh là thơ của lòng trắc ẩn, của niềm trìu mến với tất cả những gì bé nhỏ,mỏng manh, dễ bị tổn thương Đó cũng là tiếng thơ của nhiều khao khát tự bộc bạch, giãi bày, mong được nươngtựa, chở che, gắn bó

Trang 24

- Thường trực khát vọng thiết tha về hạnh phúc đời thường Cuộc đời nhiều vất vả và trái tim đa cảm của

người phụ nữ để lại trong thơ Xuân Quỳnh một dấu ấn sâu sắc: khát vọng sống, khát vọng yêu mãnh liệt luôn điliền với cảm thức lo âu về sự suy biến, phai bạc, bất trắc nên bà luôn khao khát những điều giản dị của hạnh phúcđời thường

- Xuân Quỳnh được xem như là người viết thơ tình hay nhất trong nền thơ ca Việt Namtừ sau cách mạng.

Không bạo liệt và chua chát, đáo để như Hồ Xuân Hương, không e ấp như Phan Thị Thanh Nhàn…trái tim yêucủa Xuân Quỳnh vừa nồng nhiệt, táo bạo vừa tha thiết, dịu dàng; vừa giàu trực cảm, vừa lắng sâu trải nghiệm, suytư

- Hình ảnh, giọng điệu và ngôn ngữ thơ: Thế giới hình ảnh thơ Xuân Quỳnh không hấp dẫn bởi nét tân kì

độc đáo, không chói lọi hoành tráng hoặc lung linh huyền ảo mà giàu tính trực cảm Giọng điệu thơ khi dịu dàng,khi ngọt ngào thủ thỉ, khi ráo riết kiếm tìm, khi hồn nhiên dí dỏm, lúc trầm tĩnh khoan hòa…nhưng bao trùm lên làgiọng điệu giãi bày, bộc bạch, bàng bạc lo âu, day dứt Ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh giản dị, gần gũi, giàu tính biểucảm

2 Tác phẩm Sóng:

a Hoàn cảnh sáng tác: Sóng được sáng tác năm 1967 trong một chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), in trong tập Hoa dọc chiến hào (1968).

b Nội dung chính: Qua hình tượng sóng, trên cơ sở khám phá sự tương đồng, hòa hợp giữa “sóng” và

“em” Bài thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thờigian và sự hữu hạn của đời người Từ đó thấy được tình yêu là một tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao củacon người

- Khổ 1: Những trạng thái đối lập của sóng, quy luật vươn ra biển lớn cũng như cảm xúc phong phú phứctạp, khao khát khám phá của người phụ nữ trong tình yêu

- Khổ 2: Quy luật tồn tại muôn đời của sóng biển giống như trái tim rạo rực, bồi hồi trong tình yêu của tuổitrẻ

- Khổ 3- 4: Nguồn gốc bí ẩn của tự nhiên và những băn khoăn lí giải về cội nguồn của tình yêu

- Khổ 5: Sóng trong mối quan hệ với bờ và cảm xúc về nỗi nhớ cồn cào, da diết, mãnh liệt trong tình yêucủa người phụ nữ

- Khổ 6-7: Khát vọng thủy chung, gắn bó thiết tha, chân thành với người mình yêu như quy luật tồn tại củasóng biển

- Khổ 8: Những suy tư, trăn trở, âu lo về thời gian, về cuộc đời của nhân vật trữ tình

- Khổ 9: Khát vọng được vĩnh hằng, hòa tan, dâng hiến giữa cuộc đời, giữa biển lớn của tình yêu

- Giọng điệu thơ trữ tình tha thiết, bàng bạc một chút lo âu, trăn trở

- Ngôn ngữ gần gũi, trong sáng, dung dị, tinh tế

II Kiến thức mở rộng, nâng cao:

1 Đề tài tình yêu trong thơ ca:

- Tình yêu luôn là đề tài muôn thuở trong thi ca và là nguồn cảm hứng bất tận của thi sĩ Con người sinh

ra là để yêu thương và được yêu thương Bởi thế, từ những lời ca dân gian Việt Nam trong chủ đề Ca dao yêuthương, tình nghĩa ta đã biết đến thế giới cảm xúc ngọt ngào đó của tầng lớp bình dân Cho đến bây giờ, các thinhân cũng thế, họ cũng có tình yêu như bao người khác Họ không vay mượn cảm xúc để họa nên thơ, mà ngượclại, họ đã vắt cạn máu tim mình để sáng tạo ra những vần thơ ấy

- Tình yêu luôn tồn tại với bao cung bậc cảm xúc phong phú đa dạng Cuộc sống có bao nhiêu sắc màu,

thì tình yêu cũng có bấy nhiêu màu sắc Sự biến hóa khôn lường của tình yêu khiến cho ta có khi nhớ nhung, đaukhổ, lúc tuyệt vọng, chán chường nhưng lại có lúc sướng vui và hạnh phúc vô cùng tận Có cái tình e ấp kín đáotrong ca dao, cái trường tình phiêu lưu của Lưu Trọng Lư, cái đắm say mãnh liệt của Xuân Diệu, cái tình yêu giàu

vẻ đẹp nữ tính của Xuân Quỳnh, cái nồng nàn say đắm, cao thượng của Puskin,…

- Thơ ca Việt Nam viết về tình yêu trong thời kì kháng chiến không tách mình khỏi bầu không khí thời cuộc Bên cạnh những bài thơ cổ vũ đấu tranh, vẫn có những vần thơ tình đi sâu vào trái tim người đọc với cái e

Trang 25

ấp, ngại ngần đến cái nồng nhiệt đắm say như Hương thầm của Phan Thị Thanh Nhàn, Sóng của Xuân Quỳnh,

- Tình yêu - tình cảm thiêng liêng cao quý trong thơ ca để lại nhiều giá trị nhân văn cao đẹp Tình yêu

giúp “thanh lọc tâm hồn”, giáo dục con người hướng đến cái đẹp, lối sống cao thượng, hiểu được giá trị của mộtcuộc sống có ý nghĩa Tình yêu còn là động lực cho con người có bản lĩnh, sự tự tin vượt qua mọi rào cản, khókhăn của cuộc sống để được sống là chính mình Tình yêu là cội nguồn của sự sống, giúp cho con người rút ngắnmọi khoảng cách để cùng yêu thương, chia sẻ,…

2 Một số kiến thức lí luận:

- Phong cách nghệ thuật chính là diện mạo thẩm mĩ độc đáo, riêng biệt của nhà văn trong cách sáng tác,

được tạo thành bởi sự thống nhất của các phương tiện biểu hiện, phù hợp với cái nhìn riêng biệt của nhà văn về đờisống Phong cách nghệ thuật được hình thành nhờ sự lặp đi lặp lại một số yếu tố thuộc phạm trù nội dung và hìnhthức một cách có thẩm mĩ, xuyên suốt sự nghiệp sáng tác của tác giả Đặc trưng nhất quán đầu tiên của phong cáchnghệ thuật là tính thống nhất, ổn định, bền vững

- Nhân vật trữ tình là hình tượng nhà thơ trong thơ trữ tình, phương thức bộc lộ ý thức tác giả Nhân vật

trữ tình là con người “đồng dạng” của tác giả nhưng không đồng nhất nhân vật trữ tình với tác giả, bởi trong thơ

trữ tình nhà thơ xuất hiện như “người đại diện cho xã hội, thời đại và nhân loại” (Bê-lin-xki),

- Cái tôi trong thơ ca được hiểu như là cái tôi xúc cảm, là cá tính sáng tạo của nhà thơ Thơ ca là hoạt

động sáng tạo tinh thần của con người Thơ là sự tự thể hiện mình một cách trực tiếp và chân thực nhất Nói như

Diệp Tiếp, thơ “là tiếng lòng” của nhà thơ vậy Khi có những xúc cảm trào dâng mãnh liệt “không nói ra không được”, thậm chí có “thể chết” như cách nói của Rinkle, nhà thơ lại tìm đến thơ để giãi bày, sẻ chia Bởi lẽ có những điều “chỉ có thể nói được bằng thơ” Chính vì thơ là sự thể hiện nên thơ in đậm dấu ấn cái tôi cá nhân của

nhà thơ Xúc cảm trong thơ không phải của ai khác mà chính là những băn khoăn, trăn trở, những tình cảm, suynghĩ của chính nhà thơ Cho nên “làm thơ thì không thể không có cái tôi”( Viên Mai)

- Những đặc trưng cơ bản của thơ: Là một thể loại văn học có phạm vi phổ biến rộng và sâu.Thơ tác động

đến người đọc bằng sự nhận thức cuộc sống, những liên tưởng, tưởng tượng phong phú Thơ ca là tấm gương phảnchiếu tâm hồn, là tiếng nói của tình cảm con người, những rung động của trái tim trước cuộc đời Thơ chú trọngđến cái đẹp, phần thi vị của tâm hồn con người và cuộc sốn khách quan Cốt lõi cơ bản của thơ là trữ tình Ngônngữ thơ cô đọng, hàm xúc, giàu nhịp điệu, hình ảnh sinh động, được tổ chức đặc biệt theo thể thơ

Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau

Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Từ những điều “em” đã “nghĩ”, “nhớ” nhận xét về vẻ đẹp nhân vật trữ tình được thể hiện trong đoạn thơ

Hướng dẫn trả lời:

1 Mở bài: giới thiệu tác giả, tác phẩm, vị trí đoạn thơ

- Tác giả: Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ lớp đầu tiên của thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng thànhtrong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một người phụ nữ có nhiều trắc

ẩn, luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường

Trang 26

- Tác phẩm: Bài thơ Sóng được tác giả sáng tác vào năm 1967 trong một chuyến đi thăm biển Diêm Điền ( Thái Bình ) Sóng là một bài thơ rất đặc sắc viết về tình yêu và cũng là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân

Quỳnh

- Vị trí đoạn thơ: Đây là hai khổ thơ 3, 4 của bài thơ Sóng Tiếp nối hai khổ đầu, hình tượng “sóng” và

“em” ở đây tiếp tục phát triển với nhiều suy nghĩ liên tưởng và cảm xúc sâu sắc, mới lạ

2 Thân bài:

a Khái quát chung:

- Đề tài tình yêu trong thơ ca: Tình yêu, đề tài muôn thủa với nhiều cảm hứng phong phú, đa dạng trong

nền văn học Việt Nam và trên thế giới Một tình yêu chân thành cao thượng của Mặt trời thi ca Nga Puskin, vườn

thơ tình say đắm ngọt ngào của Tagore, ông hoàng thơ tình Xuân Diệu mãnh liệt, cuồng nhiệt cùng với cái tình kínđáo đậm duyên quê của Nguyễn Bính…

- Nội dung chính của bài thơ: Qua hình tượng sóng, trên cơ sở khám phá sự tương đồng, hòa hợp giữasóng và em, bài thơ diễn tả nhu cầu tự nhận thức và khát vọng của người phụ nữ về tình yêu thiết tha, nồng nàn,chung thủy, bất diệt

b Đoạn thơ là những lí giải đầy nữ tính về cội nguồn của những con sóng cũng như nguồn gốc của tình yêu

- Khởi đầu cho những băn khoăn lí giải của “em” chính là khi “em” đứng trước mênh mông vô cùng củabiển lớn Biển và những con sóng đầy bí ẩn của đại dương làm dậy lên những điều suy tư trong sâu thẳm trái timcủa người phụ nữ đang yêu

- Những lí giải đầy cảm xúc nữ tính về cội nguồn của con sóng biển dựa theo quy luật của tự nhiên vĩnh

hằng, bí ẩn bằng một loạt các câu hỏi tu từ “Từ nơi nào sóng lên?/ Sóng bắt đầu từ gió/Gió bắt đầu từ đâu?”

- Mượn hình tượng sóng biển, nhà thơ bộc bạch nhẹ nhàng suy tư sâu kín về những cảm xúc của tình yêuđôi lứa:

+ Trước muôn trùng sóng bể, trước biển lớn, tại sao nữ sĩ lại nghĩ về anh, về em, tức là nghĩ về tình yêu củađôi mình? Phải chăng tình yêu đôi ta cũng sâu thẳm, mênh mông như biển lớn, như đại đương

+ Lẽ thường, nhà thơ phải viết “sóng nghĩ về” nhưng nhà thơ lại viết “em nghĩ về” nhằm tạo nên sự đồng nhất giữa sóng và em Hành trình của sóng cũng là hành trình của em Trong điệp khúc “Em nghĩ về anh, em – Em nghĩ về biển lớn” ẩn giấu niềm khát khao của một phụ nữ về tình yêu, về bản thân, về môi trường sống mới.

+ Sóng, biển, gió trời từ nơi nào mà có? “Em cũng không biết nữa” và tình yêu cũng vậy Nào có ai biết

điểm đầu, điểm cuối, nào ai biết nơi khởi phát và điểm kết thúc của tình yêu Tình yêu muôn đời vẫn khó hiểu nhưchính thế giới tự nhiên Tình yêu luôn có quy luật riêng mà lí trí thì không thể nào hiểu nổi

* Liên hệ mở rộng: ( Tham khảo vận dụng hợp lí trong quá trình phân tích) Liên hệ thơ Xuân Diệu cắt

nghĩa về tình yêu “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!/Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều/Nó chiếm hồn ta bằng

nắng nhạt/Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu”- (Vì sao?)… để thấy họ cùng nói về những điều xưa cũ nhưng mỗi

người lại có những lí giải theo cách riêng của mình Đóng góp của Xuân Quỳnh là tạo ra tiếng nói rất riêng đằmthắm mang nét duyên của người con gái về những điều xưa cũ ấy Không nghiêng về tư duy logic như ông hoàngthơ tình Xuân Diệu, nữ sĩ Xuân Quỳnh nói bằng tiếng nói của cảm xúc trái tim Không cắt nghĩa rõ ràng cụ thể,Xuân Quỳnh chỉ khơi gợi để người đọc tự chiêm nghiệm suy ngẫm

c Nhà thơ mượn hình tượng sóng để diễn tả sâu sắc cung bậc nỗi nhớ trong tình yêu của người phụ nữ:

- Hình tượng con sóng biển được cụ thể hóa mà sinh động với nghệ thuật đối lập, điệp cấu trúc, phối thanh,cách dùng từ, hình ảnh liên tưởng phong phú:

+ Con sóng tồn tại nơi đại dương không hề tĩnh lặng mà với nhiều dạng thức khác nhau ở mọi chiều kích

không gian “dưới lòng sâu” “trên mặt nước”, mọi thời gian “ngày đêm”, mọi cường độ lặn chìm dưới đại đương

hay tung bọt trắng xóa trên mặt nước mênh mông

+ Con sóng muôn đời vẫn thế với quy luật tồn tại của nó Có bao giờ sóng thôi vỗ, có bao giờ sóng thôicồn cào và không bao giờ sóng rời xa bến bờ của nó Sóng chẳng còn là sóng nếu tĩnh yên, lặng lẽ Xuân Quỳnh đã

diễn tả quy luật vĩnh hằng đó bằng một từ ngữ rất sáng tạo “không ngủ được”.

- Mượn hình tượng sóng, thi sĩ giãi bày thổ lộ đằm thắm, tha thiết nỗi nhớ của người phụ nữ khi yêu:

+ Chọn hình tượng động bên ngoài của tự nhiên để diễn tả bao cảm xúc sâu kín bên trong của mình Bởichỉ có sóng mới diễn tả được hết sự nồng nàn, băn khoăn, tha thiết, cồn cào, bồn chồn, thao thức của người phụ nữđang sống trong biển rộng của tình yêu

Trang 27

+ Nỗi nhớ trong tình yêu cũng như nỗi nhớ của con sóng Nó bao trùm không gian và thời gian, đi vàotrong giấc mơ, trong tâm thức của người phụ nữ.

* Liên hệ mở rộng: (Tham khảo vận dụng hợp lí trong quá trình phân tích)

Nhiều cách diễn tả nỗi nhớ trong tình yêu từ ca dao dân gian “Gió sao gió mát sau lưng/ Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này”, đến nỗi nhớ chồng của người chinh phụ “Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời”, đến

thơ trữ tình hiện đại của Nguyễn Bính, Xuân Diệu…So sánh để thấy được cách thể hiện nỗi nhớ của nữ sĩ giàu vẻđẹp nữ tính, vừa truyền thống vừa hiện đại

d Nghệ thuật: Ẩn dụ, nhân hóa, đối lập, lặp cấu trúc… kết hợp với thể thơ năm chữ đã làm nên những

con sóng nhiều trạng thái tình cảm Cách xây dựng hai hình tượng song hành: sóng và em độc đáo Sóng vừa là

sóng biển vừa là ẩn dụ sóng lòng của người phụ nữ đang yêu

e Nhận xét:

- Những điều “em” đã “nghĩ” cho thấy người phụ nữ trong đoạn thơ vừa có khát vọng thấu hiểu và khám

phá nguồn gốc của tình yêu nói chung, vừa có mong muốn cháy bỏng được hiểu mình và bộc lộ mình trong tìnhyêu

- Điều “em” “ nhớ” mang vẻ đẹp của người phụ nữ hiện đại mạnh dạn bày tỏ cảm xúc về nỗi nhớ khi yêu

vừa âm thầm, tha thiết lại vừa cồn cào, nồng nàn, mãnh liệt

3 Kết bài: Tổng kết, đánh giá

- Những khổ thơ nói riêng và bài thơ Sóng nói chung không chỉ là vần thơ thuộc loại hay nhất của Xuân

Quỳnh mà còn là thi phẩm xuất sắc của thơ Việt Nam hiện đại

- Từ bài thơ, người đọc không chỉ hiểu về con người tác giả mà còn để cho mình những bài học sâu sắc vềtình yêu chân chính, bài học sáng tạo và tiếp nhận

2 Đề 2 Phân tích đoạn thơ sau trong Sóng của Xuân Quỳnh:

Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức Dẫu xuôi về phương bắc Dẫu ngược về phương nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh - một phương

Ở ngoài kia đại dương Trăm nghìn con sóng đó Con nào chẳng tới bờ

Dù muôn vời cách trở

Từ đó nhận xét ngắn gọn về đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh

Hướng dẫn trả lời

1 Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vị trí đoạn thơ

- Tác giả: Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ lớp đầu tiên của thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng thànhtrong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một người phụ nữ có nhiều trắc

ẩn, luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường

- Tác phẩm: Bài thơ Sóng được tác giả sáng tác vào năm 1967 trong một chuyến đi thăm biển Diêm Điền ( Thái Bình ) Sóng là một bài thơ rất đặc sắc viết về tình yêu và cũng là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân

Trang 28

- Đề tài tình yêu trong thơ ca: Tình yêu, đề tài muôn thủa với nhiều cảm hứng phong phú, đa dạng trong

nền văn học Việt Nam và trên thế giới Một tình yêu chân thành cao thượng của Mặt trời thi ca Nga Puskin, vườn

thơ tình say đắm ngọt ngào của Tagore, ông hoàng thơ tình Xuân Diệu mãnh liệt, cuồng nhiệt cùng với cái tình kínđáo đậm duyên quê của Nguyễn Bính…

- Nội dung chính của bài thơ: Qua hình tượng sóng, trên cơ sở khám phá sự tương đồng, hòa hợp giữasóng và em, bài thơ diễn tả nhu cầu tự nhận thức và khát vọng của người phụ nữ về tình yêu thiết tha, nồng nàn,chung thủy, bất diệt

b Nhà thơ mượn hình tượng sóng để diễn tả sâu sắc cung bậc nỗi nhớ trong tình yêu của người phụ

+ Con sóng muôn đời vẫn thế với quy luật tồn tại của nó Có bao giờ sóng thôi vỗ, có bao giờ sóng thôicồn cào và không bao giờ sóng rời xa bến bờ của nó Sóng chẳng còn là sóng nếu tĩnh yên, lặng lẽ Xuân Quỳnh đãdiễn tả quy luật vĩnh hằng đó bằng một từ ngữ rất sáng tạo “không ngủ được”

- Mượn hình tượng sóng, thi sĩ giãi bày thổ lộ đằm thắm, tha thiết nỗi nhớ của người phụ nữ khi yêu:+ Chọn hình tượng động bên ngoài của tự nhiên để diễn tả bao cảm xúc sâu kín bên trong của mình Bởichỉ có sóng mới diễn tả được hết sự nồng nàn, băn khoăn, tha thiết, cồn cào, bồn chồn, thao thức của người phụ nữđang sống trong biển rộng của tình yêu

+ Nỗi nhớ trong tình yêu cũng như nỗi nhớ của con sóng Nó bao trùm không gian và thời gian, đi vàotrong giấc mơ, trong tâm thức của người phụ nữ

c Nếu nỗi nhớ là chất men say đánh thức tình yêu thì sự thuỷ chung lại là thước đo của tình yêu, của lòng người:

- Với cặp từ trái nghĩa “ dẫu xuôi, dẫu ngược” tác giả đã diễn tả thật sâu sắc cảnh ngộ của người phụ nữ, của chính mình Đây là cách nói ngược với dân gian hay nói: “ xuôi nam ngược bắc” Xuân Quỳnh đã diễn đạt

ngược lại để khẳng định: dù cuộc đời, trời đất có thay đổi, có quay cuồng, đảo lộn, thay phương đổi hướng thì tìnhyêu của em cũng chỉ dành cho một người là anh mà thôi Đến đây trong lời thơ không còn em và sóng, chỉ còn em

và anh - với tình yêu (Chỉ còn em và anh/ cùng tình yêu ở lại- Thơ tình cuối mùa thu)

- Từ “một phương” như lời khẳng định sắt đá về tấm lòng thủy chung của người phụ nữ khi yêu Phương

đó có anh cũng là phương trời của hạnh phúc hôn nhân giản dị, bình yên mà người phụ nữ luôn khao khát hướngtới Đây cũng là những lời tự thuật sâu kín trong tâm hồn nhà thơ bởi từ chính cuộc đời đầy đau thương, mất mát,

đa đoan của nữ sĩ

- Tác giả lại mượn hình tượng sóng nơi đại dương với quy luật muôn đời của nó để tiếp tục khẳng định tấm

lòng và nỗi khát khao của mình: Con nào chẳng tới bờ/ Dù muôn vời cách trở Tình yêu em dành cho anh cũng

vậy, không chỉ hướng về anh một phương mà lòng chung thủy còn là sự sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn trở ngại

để có một tình yêu bền vững Tình yêu vượt lên trên mọi không gian, thời gian, mọi cách trở, mất còn để đi đến

đích Đúng như có một lần Xuân Quỳnh đã khẳng định: “ Sau sông, sau biển, sau thuyền/ Sau những chân trời bát

ngát/ Sau bao điều cay cực nhất/ Anh là hạnh phúc đời em” ( Không bao giờ là cuối

 Đoạn thơ toát lên vẻ đẹp của tình yêu đầy nữ tính kín đáo, dịu dàng, táo bạo, mãnh liệt bởi nhiều khátkhao và đam mê nhưng vẫn giữ được nét đẹp truyền thống của người phụ nữ phương Đông và người phụ nữ ViệtNam yêu tha thiết, chân thành và luôn hướng tới hôn nhân bền vững

- Giọng điệu thơ tha thiết ngọt ngào

e Nhận xét về đặc điểm nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh:

Trang 29

- Thơ Xuân Quỳnh giàu vẻ đẹp nữ tính: Thơ Xuân Quỳnh là thơ của lòng trắc ẩn, của niềm trìu mến với tất

cả những gì bé nhỏ, mỏng manh, dễ bị tổn thương Đó cũng là tiếng thơ của nhiều khao khát tự bộc bạch, giãi bày,mong được nương tựa, chở che, gắn bó

- Thường trực khát vọng thiết tha về hạnh phúc đời thường Cuộc đời nhiều vất vả và trái tim đa cảm của

người phụ nữ để lại trong thơ Xuân Quỳnh một dấu ấn sâu sắc: khát vọng sống, khát vọng yêu mãnh liệt luôn điliền với cảm thức lo âu về sự suy biến, phai bạc, bất trắc nên bà luôn khao khát những điều giản dị của hạnh phúcđời thường

- Xuân Quỳnh được xem như là người viết thơ tình hay nhất trong nền thơ ca Việt Nam từ sau cách mạng.

Trái tim yêu của Xuân Quỳnh vừa nồng nhiệt, táo bạo vừa tha thiết, dịu dàng; vừa giàu trực cảm vừa lắng sâu trảinghiệm, suy tư

- Hình ảnh, giọng điệu và ngôn ngữ thơ: Thế giới hình ảnh thơ Xuân Quỳnh giàu tính trực cảm Giọng

điệu thơ khi dịu dàng, khi ngọt ngào thủ thỉ, khi ráo riết kiếm tìm, khi hồn nhiên dí dỏm, lúc trầm tĩnh khoan hòa…nhưng bao trùm lên là giọng điệu giãi bày, bộc bạch, bàng bạc lo âu, day dứt Ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh giản dị,gần gũi, giàu tính biểu cảm

3 Kết bài: Tổng kết, đánh giá

- Những khổ thơ nói riêng và bài thơ Sóng nói chung không chỉ là vần thơ thuộc loại hay nhất của Xuân

Quỳnh mà còn là thi phẩm xuất sắc của thơ Việt Nam hiện đại

- Từ bài thơ, người đọc không chỉ hiểu về con người tác giả mà còn để cho mình những bài học sâu sắc vềtình yêu chân chính, bài học sáng tạo và tiếp nhận

Trang 30

ĐẤT NƯỚC Nguyễn Khoa Điềm

I HỆ THỐNG KIẾN THỨC

1 Tác giả Nguyễn Khoa Điềm:

- Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho thế hệ thơ trẻ những năm chống Mĩ Thơgiàu chất suy tư, xúc cảm dồn nén, thể hiện tâm tư của người trí thức tham gia tích cực vào cuộc chiến đấu củanhân dân

- Nguyễn Khoa Điềm được tặng giải thưởng Nhà nước về văn học và nghệ thuật năm 2000

- Tác phẩm chính: Đất ngoại ô ( 1972); Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974); Ngôi nhà có ngọn lửaấm

2 Hoàn cảnh và mục đích sáng tác bản trường ca “Mặt đường khát vọng”:

- Hoàn cảnh sáng tác : Trường ca “ Mặt đường khát vọng” viết năm 1971, tại chiến khu Trị- Thiên, giữa

không khí sục sôi chống Mĩ của cả dân tộc

- Mục đích: Bản trường ca ra đời nhằm thức tỉnh tuổi trẻ thành thị ở các vùng tạm chiếm ở miền Nam

nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mĩ, hướng về nhân dân,đất nước Từ đó, kêu gọi, khích lệ mọi người đứnglên, xuống đường đấu tranh hoà nhịp với cuộc chiến đấu của toàn dân tộc

3 Vị trí và chủ đề đoạn trích “Đất Nước” :

- Đoạn trích “Đất Nước” được trích ở phần đầu chương V của trường ca “Mặt đường khát vọng”

- Đoạn thơ làm nổi bật những cảm nhận mới mẻ của nhà thơ về Đất Nước trên nhiều bình diện ( chiều dàicủa lịch sử,chiều rộng của địa lý, bề dày của văn hoá, phong tục…).Qua đó, nhà thơ khẳng định tư tưởng lớn :Đất Nước là của Nhân dân và Nhân dân chính là người đã làm ra Đất Nước

II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐOẠN TRÍCH

1 Khái niệm Đất nước

1.1 Nguồn gốc ra đời của Đất Nước

- Đất nước ra đời từ rất lâu: Khi ta vừa lớn lên đã thấy dáng hình của đất nước Đất nước đã có từ thời xa

xưa, từ thuở mới “khai thiên lập địa”

- Đất nước hình thành cùng với sự ra đời của văn học dân gian: Thuở còn thơ bé, mẹ thường hay kể

cho ta nghe những câu chuyện cổ tích đời xưa và thường được bắt đầu bằng câu “ngày xửa, ngày xưa…”.

- Đất nước ra đời cùng với phong tục tập quán của dân tộc: Miếng trầu bà vẫn hay ăn gợi một nếp sống

đẹp của ông bà ta từ xưa đến nay-> tục ăn trầu

- Đất nước lớn lên cùng truyền thống yêu nước từ ngàn xưa: Người anh hùng làng Gióng từng nhổ tre

phá tan giặc Ân Từ đó, tre trở thành vũ khí chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, tre là biểu tượng cho tinh thần kiêncường, bất khuất của con người Việt Nam

- Đất nước hiện hữu trong tình nghĩa vợ chồng:

+ “Tóc mẹ thì bới sau đầu”: Vẻ đẹp dịu dàng, đôn hậu của chân dung người phụ nữ Việt Nam.

+ Thành ngữ “gừng cay muối mặn”: Cha mẹ thương nhau bằng tình yêu thủy chung son sắt, bền vững

như gừng mãi mãi cay, như muối muôn đời mặn

- Đất nước là hình ảnh văn hóa truyền thống của dân tộc:

+ Những cái kèo, cái cột làm bằng tre, gỗ là những bộ phận không thể thiếu để chống đỡ mái nhà Tuy đơn

sơ, mộc mạc nhưng đó là tổ ấm vững chãi che nắng, che mưa cho biết bao đời người dân lam lũ -> tục đặt tên con

từ những vật thân quen, gần gũi, mộc mạc; cơ sở hình thành ngôn ngữ Việt

+ Hạt gạo là lương thực chính của người dân Việt gắn liền với nền văn hóa lúa nước lâu đời.

✔ Thành ngữ “một nắng hai sương”: Người nông dân tảo tần, dầm sương dãi nắng để cấy cày, chăm

bón cây lúa trên đồng ruộng

✔ Liệt kê những công việc “xay, giã, giần, sàng…”: Những công đoạn phức tạp đòi hỏi sự kiên trì,

khéo léo để làm ra hạt gạo trắng ngần

 Truyền thống lao động cần cù của dân tộc; thái độ quí trọng hạt gạo.

- “Đất nước ra đời từ ngày đó”: Vậy đất nước ra đời từ ngày cuộc sống con người bắt đầu phôi thai hình

thành và hoàn thiện dần theo năm tháng

 Đất nước Việt Nam ra đời từ thăm thẳm chiều sâu của một nền văn hóa dân gian, của phong tục tập quán lâu đời.

1.2 Đất Nước được cảm nhận qua không gian và thời gian lịch sử

Trang 31

- Nhà thơ tách Đất Nước ra thành hai khái niệm, Đất và Nước, để có cái nhìn thật rõ ràng, cụ thể về chiềurộng của không gian:

“Đất là nơi anh đến trường”

“Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”

+ Đất: Là con đường đưa anh đến lớp học, nơi nuôi dưỡng tâm hồn anh, nơi cho anh những kiến thức để

trở thành một con người tốt đẹp trong một đất nước Là nơi đất liền khô ráo bình yên, để chim muông bay về làm

tổ, để con người dựng lên mái nhà cư trú

“Nước là nơi em tắm

“Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”

+ Nước: Là nơi những dòng sông tắm mát kỉ niệm hồn nhiên, trong sáng của tuổi thơ em Là nơi những

đàn cá bơi lội Là nơi khởi nguồn của mọi sự sống

- Sau đó, nhà thơ lại kết hợp Đất Nước trong một thể thống nhất không thể tách rời đầy ý nghĩa sâu sắc:

“Đất Nước là nơi ta hò hẹn Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”

+ Đất Nướclà nơi biết bao đôi lứa yêu nhau hò hẹn, nơi đong đầy những kỉ niệm dịu ngọt của tình yêu.Đất Nướccũng là nơi chứa chan những nỗi nhớ thương người yêu khắc khoải của người con gái thầm trao gửi bằng

chiếc khăn tay

“Thời gian đằng đẳng Không gian mênh mông Đất nước là nơi dân mình đoàn tụ”

+ Từ láy: “đằng đẳng”, “mênh mông”thể hiện ĐN đã trãi qua thời gian rất dài với biết bao thăng trầm,

biến cố mới có một lãnh thổ rộng lớn với núi sông, đồng bằng, biển cả; để dân ta đoàn tụ làm ăn, sinh sống

“Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ

Đẻ đồng bào ta trong bọc trứng”

+ Dân tộc ta ra đời từ truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” trên ĐN đậm chất huyền thoại: Chim là nàng

Âu Cơ ở chốn non cao, Rồng là Lạc Long Quân ở vùng nươc thẳm Họ kết thành vợ chồng và sinh ra bọc trămtrứng, nở ra thành trăm con Dân tộc ta mang dòng máu Rồng Tiên vô cùng cao quý

- Điệp ngữ “những ai”: Nhấn mạnh ĐN không chỉ là của thế hệ hiện tại mà còn là của bao thế hệ đã đi

qua Những con người sống trên một ĐN đều có ý thức duy trì nòi giống bằng tình yêu đôi lứa Người đi sau gánhvác phần việc để lại của người đi trước và truyền đạt lại cho thế hệ mai sau

- Giỗ tổ: Ngày mùng mười tháng ba là ngày giỗ các vị vua Hùng đã có công dựng nước Người Việt Nam

hàng năm dù ở bất cứ nơi đâu cũng nhớ đến ngày quốc lễ này

 Đất Nước ra đời với thời gian lịch sử lâu đời vô cùng thiêng liêng, với không gian vô cùng hùng vĩ, tươi đẹp.

1.3 Đất Nước được cảm nhận qua trách nhiệm của chúng ta

- Bản thân mỗi chúng ta là một phần của ĐN, là hình ảnh của ĐN Mỗi một con người góp phần tạo hìnhnên ĐN Vì vậy số phận của mỗi con người cũng là vận mệnh chung của ĐN

- “Khi hai đứa cầm tay”, “Khi chúng ta cầm tay”: Ẩn dụ cho tinh thần đoàn kết của mọi người dân trong

nước Đoàn kết sẽ đem lại sức mạnh xây dựng ĐN giàu đẹp, bảo vệ ĐN mãi mãi trường tồn

- Chúng ta phải kì vọng, đặt niềm tin vào thế hệ con cháu Chúng sẽ lớn lên, sẽ kế thừa và phát huy truyềnthống tốt đẹp của dân tộc Thế hệ tương lai sẽ đưa ĐN lên những tầm cao mới

- “ Em ơi em”: Lời kêu gọi vô cùng thiết tha đến thế hệ trẻ, phải ý thức ĐN chính là máu xương của mình.

- Điệp ngữ “phải biết”: Nhấn mạnh, để ĐN tồn tại muôn đời, chúng ta phải:

+ “gắn bó và san sẻ”: Yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ nhau khi khó khăn hoạn nạn.

+ “hóa thân cho dáng hình xứ sở”: Giữ gìn hình ảnh đẹp cho ĐN Khi ĐN lâm nguy thì sẳn sàng hi sinh

vì ĐN

 Đất Nước tồn tại thiêng liêng trong bổn phận, trách nhiệm và trong trái tim của mỗi chúng ta Đất Nước là những gì hết sức giản dị, đơn sơ; rất gần gũi và thân thuộc với cuộc sống của mỗi con người Đất Nước hiện hữu ngay trong chính bản thân chúng ta.

2 Tư tưởng Đất nước của Nhân dân

Trang 32

2.1 Nhân dân làm nên hình ảnh Đất Nước

- Núi Vọng Phu ở Lạng Sơn mang dáng hình của nàng Tô Thị ngày ngày bồng con ngóng đợi chồng về

trong nỗi niềm khắc khoải, sầu muộn mà hóa đá

- Hòn Trống Mái là hai tảng đá giống hình trống, mái nằm ven biển Sầm Sơn Dáng hình của đá được gắn

với truyền thuyết về một mốt tình đẹp của một đôi trai gái, nghịch cảnh khiến họ không đến được với nhau nên đãchết cùng nhau

- Những ao, đầm ngày nay, gợi cho ta nhớ đến truyền thuyết Thánh Gióng Khi người anh hùng làng

Gióng cưỡi ngựa sắt xông ra trận đánh giặc Ân thì những gót chân ngựa in hằn trên mặt đất tạo thành những ao,đầm

- Đền thờ các vua Hùng tọa lạc uy nghiêm ở núi Hi Cương Những đồi núi trập trùng bao quanh là đàn voi chín mươi chín conquay quần chầu phục đất Tổ

- Trên khắp đất nước ta, đâu đâu cũng có những dòng sông xanh thẳm chở nặng phù sa tướt mát ruộng

vườn Dân gian quan niệm rồng phun nước nên đã lấy tên rồng đặt cho nhiều dòng sông, như: sông Cửu Long, sông Long Bình, sông Long Hồ…

- Ở Quảng Ngãi có ngọn núi mang hình cây bút và nghiên mực Người học trò nghèo ngày xưa mài mực

trong nghiên đá và dùng bút lông ngỗng chấm mực viết chữ Núi Bút non Nghiênthể hiện truyền thống hiếu học

với khát vọng tạo lập công danh của người xưa

- Vịnh Hạ Long là kì quan thiên nhiên ở Quảng Ninh Vẻ đẹp tuyệt diệu này là sự kết hợp độc đáo giữa

một vịnh biển lặng sóng, nước trong xanh với hơn hai ngàn núi đá vôi nằm rải rác Những khối núi xinh xắn ấy

mang dáng hình những con cóc, con gàrất đỗi thân quen trong cuộc sống.

- Liệt kê:Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm… là tên những người đãcó công khai phá, xây dựng và

bảo vệ những vùng đất Thế hệ con cháu đã dùng tên của họ đặt tên cho đất để ghi khắc công ơn

- Còn rất nhiều vùng miền trên đất nước mà dấu ấn của nhân dân đều in đậm Tên của những vùng đất đógắn với dáng hình, ao ước, lối sống của ông cha ta

- Thán từ“ôi” thốt lên mang đầy cảm xúc tự hào của nhà thơ về ĐN Trãi qua 4000 năm lịch sử dựng nước

và giữ nước để rồi đi đâu ta cũng thấy hình ảnh của nhân dân

 Đất Nước mang đậm dấu ấn của nhân dân Nhân dân chính là người nghệ nhân tinh xảo chạm trỗ nên

hình hài Đất Nước.

2.2 Nhân Dân giữ gìn và bảo vệ đất nước

- Câu cảm thán “Em ơi em”: Lời kêu gọi đầy thiết tha của nhà thơ hướng đến thế hệ thanh niên Hãy nhìn

lại lịch sử bốn nghìn năm của đất nước, hãy tự hào về một đất nước cótruyền thống yêu nước nồng nàn

- Điệp ngữ “người người”, “lớp lớp”: Sở dĩ ĐN vững bền bao đời nay đều nhờ vào công sức của những

người con gái, con trai Họ là nguồn nhân lực chính để xây dựng ĐN, cần cù làm lụng, lao động sản xuất làm giàucho đất nước

- Khi đất nước lâm nguy, thanh niên ra sức cống hiến bản thân mình cho tổ quốc Người con trai cầm súng

ra trận, người con gái ở hậu phương vừa nuôi con vừa đánh giặc

- Điệp từ “nhiều”:khẳng định lịch sử đánh giặc cứu nước của dân tộc đã để lại những trang sử vẻ vang với

rất nhiều tên tuổi anh hùng làm rạng danh đất nước Như: Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, HồChí Minh, Võ Nguyên Giáp, …

- Bên cạnh những anh hùng mà chúng ta biết và nhớ đến tên thì còn có rất nhiều người con gái, con trai

ngã xuống vì đất nước này mà chúng ta không thể “nhớ mặt đặt tên” Họ đã sống giản dị (hiền lành, lặng lẽ), đón

nhận cái chết bình tâm (tự nguyện, chấp nhận hi sinh ) Vì vậy mà đất nước có rất nhiều anh hùng vô danh

 Đất Nước sẽ không tồn tại nếu không có nhân dân Nhân dân chính là chủ nhân của ĐN, họ luôn đề

cao ý thức bảo vệ ĐN trước kẻ thù xâm lược.

2.3 Nhân Dân xây dựng đất nước

- Điệp từ “họ”: Nhấn mạnh vai trò vô cùng quan trọng của nhân dân trong việc dựng xây ĐN.

- Nền văn hóa lúa nước ra đời từ thuở xa xưa, được nhân dân giữ gìn và lưu truyền đến tận hôm nay Hạtlúa là nguồn lương thực chính của dân tộc ta

-Ngọn lửa dùng để sưởi ấm, nấu chín thức ăn, phương tiện lao động… được nhân dân phát hiện và gìn giữ

từ hòn than vùi trong tro nóng đến con cúi bện rơm

- Nhân dân tập cho con nói ngôn ngữ tiếng Việt, giọng điệu của từng vùng miền được truyền từ đời nàysang đời khác như một bản sắc văn hóa được tôn trọng một cách thiêng liêng

Trang 33

- Họ đặt tên làng, tên xã ở những nơi cư ngụ như là một cách khẳng định sự hiện hữu cố định để đánh dấulãnh thổ.

- Ẩn dụ trong câu “Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái”: Họ đã tạo dựng một nền tảng ĐN

vô cùng vững chắc để thế hệ con cháu kế thừa và phát triển ĐN

- Nhân dân bảo vệ ĐN trong bất cứ hoàn cảnh nào

+ Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm Từ khi dựng nước cho đến nay, nhân dân ta đã đánh đuổi rất nhiều

kẻ thù xâm lược: Giặc Tống, giặc Nguyên Mông, giặc Minh, giặc Thanh, thực dân Pháp, đế quốc Mĩ …

+ ĐN có nội thù thì nhân dân cũng tự mình đứng lên đánh bại các phe phái, đảng nhóm để thống nhất đấtnước

- Vì vậy ĐN này là của nhân dân Một ĐN ra đời từ ca dao, thần thoại Nhân dân ta đã viết nên trang sửhuyền thoại về công cuộc xây dựng và bảo vệ ĐN

 Hạt gạo, ngọn lửa, giọng nói, tên làng xã, bảo vệ ĐN là những yếu tố căn bản làm nên cuộc sống để

từ đó dựng xây ĐN Nhân dân đã tạo ra, giữ gìn và lưu truyền những giá trị văn hóa quý giá đó từ đời này sang đời khác.

2.4 Nhân dân truyền tải truyền thống đạo đức của dân tộc

* Nhờ có ĐN mà chúng ta trưởng thành, lớn lên một cách tốt đẹp:

- Chúng ta biết sống để yêu thương mọi người Lòng nhân ái là phẩm chất vô cùng tốt đẹp của con người,

nó là sợi dây thắt chặt tình đoàn kết dân tộc

- Chúng ta biết trân trọng công sức lao động Siêng năng lao động sẽ giúp ta khẳng định giá trị bản thân vàgóp phần xây dựng ĐN giàu đẹp

- Chúng ta biết kiên trì, nhẫn nại trong công việc Thất bại hôm nay không khiến ta nản lòng Ngược lại,thất bại sẽ thôi thúc ta tìm mọi cách để vươn đến thành công

- Thán từ “ôi”: Tràn ngập niềm tự hào của nhà thơ khi nhận ra, ĐN là một dòng sông văn hóa, lịch sử vô

cùng đặc sắc.Và nhân dân chính là những người chèo đò tài ba, dũng cảm trên dòng sông ấy.Nhân dân sẽ làm chodòng sông- ĐN luôn cuộn chảy mạnh mẽ và đẹp mãi ngàn đời

 Tác giả vận dụng ca dao một cách nhuần nhị, hình ảnh ẩn dụ độc đáo để ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn con

người Việt Nam

 Đất Nước là kết tinh của bao công sức và khát vọng của Nhân Dân, của những con người bình thường,

vô danh.

3 Đặc sắc nghệ thuật và nội dung

a Nghệ thuật

- Thể thơ tự do vận dụng linh hoạt phù hợp với mạch cảm xúc tuôn trào

- Sử dụng sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian: những phong tục tập quán, những huyền thoại, huyền sử,những câu thành ngữ, tục ngữ… gợi lên một không gian nghệ thuật gần gũi, đầy cảm xúc và những liên tưởngmới về Đất Nước

- Hình thức thơ trữ tình chính luận rất độc đáo, lối tư duy hiện đại

- Hình ảnh, ngôn ngữ chân thực, giản dị mà giàu sức gợi

- Giọng thơ thủ thỉ tâm tình

- Sử dụng thành công nhiều biện pháp tu từ nghệ thuật : Liệt kê, điệp từ, điệp ngữ

b Nội dung

Đoạn thơ là những cảm nhận mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước trên nhiều bình diện (chiều dàicủa lịch sử, chiều rộng của không gian lãnh thổ địa lý và chiều sâu của văn hoá, phong tục…) Qua đó, nhàthơ khẳng định tư tưởng lớn: Đất nước là của Nhân dân, Nhân dân chính là người đã làm ra Đất nước

Trang 34

* Phân tích đề:

- Vấn đề nghị luận:

+ Nội dung, nghệ thuật đoạn thơ đầu

+ Trả lời cho câu hỏi: Đất Nước có từ bao giờ, bắt nguồn từ đâu?

+ Chỉ ra chất liệu văn học văn hóa dân gian vận dụng trong đoạn thơ

- Kiểu bài: Nghị luận về một đoạn trích

- Thao tác lập luận: Phân tích, chứng minh, bình luận…

- Phạm vi dẫn chứng: 9 câu đầu đoạn trích Đất Nước

* Gợi ý

I Mở bài:

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm

- Nêu vấn đề cần nghị luận:

+ Vị trí: 9 câu thơ thuộc phần 1 của đoạn trích

+ Nội dung: Nhà thơ lý giải nguồn cội của Đất nước Trả lời cho câu hỏi Đất Nước có từ bao giờ và bắt đầu từ đâu?

+ Lý Thường Kiệt phải mượn đến thiên thư

+ Nguyễn Trãi phải dựng nghìn năm văn hiến

+ Nguyễn Đình Thi cảm nhận về Đất Nước qua những trang sử hào hùng:

Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn Cánh cò bay lả rập rờn

Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều.

(Quê hương Việt Nam- Nguyễn Đình Thi)

Tất cả tạo ra một khoảng cách để ta ngưỡng vọng về giang sơn Tổ quốc

- Nguyễn Khoa Điềm cũng viết về đề tài Đất Nước Nhưng ông chọn cho mình một lối đi riêng Đất Nướccủa nhà thơ lại bắt nguồn từ những gì bình dị, gần gũi, thân quen nhất trong đời sống hằng ngày của mỗi người dânViệt Nam chúng ta: câu chuyện cổ tích mẹ kể, miếng trầu bà ăn, những dãy tre làng, bới tóc của mẹ, gừng caymuối mặn, cái kèo cái cột, hạt gạo

- Ngay từ những câu thơ đầu nhà thơ đã trả lời cho câu hỏi Đất Nước có từ bao giờ? một cách giản dị màthấm thía nhất:

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể.

+Với giọng điệu tâm tình, thủ thỉ, nhà thơ gợi lên không khí trầm lắng, dẫn người đọc ngược dòng thời

gian trở về với cội nguồn của Đất Nước Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa nghĩa là Đất Nước gắn

với những câu chuyện truyền thuyết, cổ tích xưa

+ Nguyễn Khoa Điềm đã vận dụng một cách tài hoa, sáng tạo từ cái nhịp điệu đò đưa ngàn đời của lời ca,lời kể bên cánh võng, vừa gợi lên cái xa xăm của chiều dài lịch sử, vừa gần gũi thân quen trong kí ức và đời sốngmỗi người Bởi ai cũng lớn lên từ một vành nôi với lời ru, lời kể trầm bổng, ngân nga của bà, của mẹ

- Đất Nước bắt đầu từ những phong tục tập quán, nét đẹp trong đời sống văn hóa Việt:

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Miếng trầu gợi đến phong tục, tập quán ngàn đời của dân tộc (Miếng trầu là đầu câu chuyện, Miếng trầu

nên dâu nhà người); miếng trầu trong cổ tích Trầu cau thắm đượm tình anh em, nghĩa vợ chồng Đất Nước thật

lớn lao lại bắt đầu từ những điều nhỏ bé, bình dị

- Đất Nước lớn lên cùng truyền thống đấu tranh chống giặc giữ nước:

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Trang 35

Tre là hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam Câu thơ gợi nhắc truyền thuyết Thánh Gióng- hình ảnhcậu bé vươn vai thành tráng sĩ nhổ tre đánh đuổi giặc Ân ra khỏi bờ cõi là biểu tượng sức mạnh quật khởi của dântộc trong suốt hơn bốn ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước.

- Đất Nước có trong những tập tục, thói quen của người Việt: Tóc mẹ thì bới sau đầu Đây là một thói quen

truyền từ đời này sang đời khác, gợi vẻ đẹp hồn hậu của người phụ nữ Việt Nam, là nét đẹp văn hóa không bao giờ

bị ngoại lai dù phải trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc từng được nhắc đến trong ca dao xưa:

Tóc ngang lưng vừa chừng em búi

Để chi dài bối rối lòng anh.

- Đất Nước không chỉ hiện thân qua những thuần phong mĩ tục mà còn thể hiện ở lối sống nghĩa tình, thủychung của cha mẹ:

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

- Đó là nghĩa tình của mẹ cha, của người Việt sắt son chung thủy mà ca dao đã nhắn nhủ:

Tay nâng chén muối đĩa gừng Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau

- Những vật dụng quen thuộc thành tên của con cái, thể hiện nếp sống hồn nhiên, giản dị của người dân

quê Việt Nam: Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng

- Để làm ra hạt gạo, người nông dân phải một nắng hai sương, Bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, phải

lam lũ, tảo tần, trải qua nhiều công đoạn mới cho ra thành quả Hình ảnh thơ của Nguyễn Khoa Điềm khiến ta nhớđến bài ca dao:

Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.

Đằng sau hình ảnh hạt gạo là nền văn minh lúa nước, đánh dấu lịch sử văn hiến lâu đời của dân tộc

- Lặng lẽ, khiêm nhường, Nguyễn Khoa Điềm kết lại đoạn thơ: Đất Nước có từ ngày đó…

Như vậy, nhà thơ đã để Đất Nước hóa thân vào cổ tích, ca dao và những hình ảnh bình dị trong đời sốnghằng ngày Đất Nước không ở trên ta, mà ở quanh ta

- Nguyễn Khoa Điềm nhìn Đất Nước như một sinh thể có quá trình hình thành và phát triển: đã có- có trong- bắt đầu- lớn lên Đất Nước viết hoa, được lặp lại 5 lần thể hiện niềm tự hào, trân trọng sâu sắc của tác giả.

2 Đánh giá cách vận dụng chất liệu dân gian qua đoạn thơ.

- Sử dụng đậm đặc chất liệu văn hóa, văn học dân gian: ca dao, cổ tích, truyền thuyết, hay phong tục tậpquán, những truyền thống mà nhân dân đã tạo ra, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Cách vận dụng của tácgiả: trích lời, ý, hình ảnh…

- Giọng điệu tâm tình, thủ thỉ, khiến đoạn trích tuy viết dưới dạng những câu thơ tự do mà tràn ngập khôngkhí dân gian

- Chất liệu văn hóa dân gian được sử dụng đậm đặc đã tạo nên một không gian nghệ thuật riêng cho đoạntrích: vừa bình dị gần gũi lại vừa giàu trí tưởng tượng bay bổng Chất dân gian thấm sâu vào tư tưởng, cảm xúc, tạonên một dấu ấn trong tư duy nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm

III Kết bài:

- Đoạn thơ bồi dưỡng tình cảm yêu nước đối với mỗi người dân Việt Nam

- Liên hệ về trách nhiệm bản thân với Đất Nước

2 Đề 2:

Phân tích đoạn thơ sau để thấy được cách định nghĩa độc đáo về Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm:

Đất là nơi anh đến trường

… Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ.

(Trích Trường ca: Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm)

* Phân tích đề:

- Vấn đề nghị luận:

+ Nội dung, nghệ thuật đoạn thơ thứ hai

Trang 36

+ Trả lời cho câu hỏi: Đất Nướclà gì?

- Kiểu bài: Nghị luận về một đoạn trích

- Thao tác lập luận: Phân tích, chứng minh, bình luận…

- Phạm vi dẫn chứng: 20 câu thơ tiếp theo của đoạn trích Đất Nước

* Gợi ý:

I Mở bài:

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm

- Nêu vấn đề cần nghị luận:

+ Vị trí: 20 câu thơ thuộc phần 1 của đoạn trích

+ Nội dung: Đoạn thơ cho thấy cách định nghĩa độc đáo về Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm Trả lời cho

câu hỏi Đất Nước là gì?

- Đất Nước được cấu tạo bởi những từ gốc mang nghĩa là nơi ở của ông bà, tổ tiên, là miền đất cội nguồn,

là nơi sinh, là quê hương; còn trong tâm thức văn hóa Việt, Đất Nước được tạo thành bởi hai yếu tố Đất và Nước.

- Với tư duy nghệ thuật sắc sảo, sáng tạo, nhà thơ đã tách từ Đất Nước thành hai thành tố Đất và Nước để tạo nên nhiều liên tưởng bất ngờ, thú vị Đất gắn với anh, Nước gắn với em, khi anh và em yêu nhau thì Đất Nước gắn bó, hòa quyện vẹn tròn, to lớn Sự hòa hợp của Đất và Nước để tạo thành Đất Nước không chỉ là ngôn ngữ, là văn hóa, mà còn là Thời gian đằng đẵng/ Không gian mênh mông.

- Đất Nước với không gian mênh mông:

+ Đất Nước là không gian sinh tồn hết sức gần gũi, thân quen: con đường anh đến trường, bến nước emtắm, mảnh đất ta sinh ra và lớn lên

+ Không gian riêng tư, hò hẹn của tình yêu đôi lứa, là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm, gợi nhớ đến bài ca dao Khăn thương nhớ ai

+ Đất Nước là không gian rộng lớn của núi rừng, trời biển nơi cộng đồng sinh sống: nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc, nơi con cá ngư ông móng nước biển khơi, nơi dân mình đoàn tụ Trong cách nhìn về

không gian Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm nghiêng hơn về không gian riêng tư, đời thường, khiến Đất Nước gầngũi, thân quen nhưng cũng rấtt thiêng liêng

- Đất Nước với chiều dài lịch sử:

+ Cảm nhận của nhà thơ đưa ta ngược dòng lịch sử trở về với huyền thoại đất tổ Chim về, Rồng ở, Lạc Long Quân và Âu Cơ, Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng cho đến hôm nay vẫn thăm thẳm trong nỗi nhớ của mỗi người dân đất Việt Những ai đã khuất và trách nhiệm của Những ai bây giờ sinh con đẻ cái, gánh vác phần người đi trước để lại, dạy dỗ con cháu chuyện mai sau phải biết uống nước nhớ nguồn Cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ,

tiếp nối truyền thống con Lạc, cháu Hồng, gìn giữ non sông Đất Nước

Tóm lại, Đất Nước trường tồn ở trong con người, truyền qua các thế hệ, trên chiều rộng của không gian,chiều dài của lịch sử, trong tâm hồn truyền thống của dân tộc; trong đời sống hằng ngày và trong những biến cốlịch sử; hiện tại và quá khứ Đây chính là cái nhìn toàn diện, tổng hợp nhiều chiều của nhà thơ về Đất Nước

Trang 37

- Đây là đoạn thơ hay, thể hiện cách cảm nhận mới mẻ và những khám phá độc đáo của nhà thơ về ĐấtNước, thể hiện đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Nguyễn Khoa Điềm, góp phần làm phong phú thêm cho một

đề tài quen thuộc của thơ ca

- Đoạn thơ đã đặt ra cho người nghệ sĩ bài học về sự sáng tạo (nâng cao)

III Kết bài

Đoạn thơ bồi dưỡng tình cảm yêu nước đối với mỗi người dân Việt Nam Liên hệ bản thân

Trang 38

HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT Lưu Quang Vũ

I HỆ THỐNG KIẾN THỨC

1 Tác giả

- Lưu Quang Vũ (1948- 1988)

- Quê gốc: thành phố Đà Nẵng, sinh tại Hạ Hòa - Phú Thọ

- Gia đình: trí thức (cha là nhà viết kịch Lưu Quang Thuận, nên thiên hướng và năng khiếu nghệ thuật củaông đã sớm bộc lộ từ nhỏ)

- Lưu Quang Vũ không chỉ là một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch trường những năm tám mươi củathế kỉ XX mà còn được coi là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Namhiện đại Với khả năng sáng tạo phi thường, chỉ trong bảy, tám năm, ông đã sáng tác khoảng 50 kịch bản và hầu hết

trong số đó đều đã được trình diễn, đạt giải (Sống mãi tuổi 17; Nàng Xi-ta; Nếu anh không đốt lửa; Lời thề thứ 9; Khoảnh khắc và vô tận; Tôi và chúng ta; Hồn Trương Ba, da hàng thịt…).

- Đặc điểm kịch Lưu Quang Vũ:

+ Thể hiện cuộc sống đầy ắp suy tư, mang nặng triết lí về lẽ sống và giá trị cuộc sống của con người trướcnhững biến động và hoàn cảnh xã hội phức tạp

+ Hấp dẫn chủ yếu bằng xung đột trong cách sống và quan niệm sống, qua đó khẳng định khát vọng hoànthiện nhân cách con người

 Lưu Quang Vũ xứng đáng là một trong những nghệ sĩ tiên phong, tài năng trong công cuộc đổi mớicủa văn học Việt Nam sau năm 1975

2 Tác phẩm

2.1 Hoàn cảnh ra đời

- Hồn Trương Ba, da hàng thịt được Lưu Quang Vũ sáng tác năm 1981, ra mắt công chúng năm 1984.

- Vở kịch ra đời trong hoàn cảnh xã hội có nhiều biến động mạnh mẽ:

+ Ngọn gió của không khí đổi mới tư duy, ý thức dân chủ trong đời sống xã hội đã ùa vào văn học Hiệnthực được phản ánh giờ đây phải có tính đa diện, đa chiều Số phận con người, vấn đề cá nhân được khám phá đầy

đủ hơn, sâu sắc hơn

+ Văn học tham gia vào cuộc đối thoại trực tiếp trong bầu không khí dân chủ với công chúng về nhữngvấn đề nóng bỏng của đời sống hôm nay Đấu tranh tiêu cực trở thành cảm hứng nhiệt thành của nhiều cây bút

→ Nguồn cảm hứng để Lưu Quang Vũ sáng tác vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt.

2.2 Nguồn gốc của vở kịch và sự sáng tạo của tác giả Lưu Quang Vũ

- Nguồn gốc: Vở kịch được sáng tác dựa trên một cốt truyện dân gian:

Ngày xưa, có một người tên là Trương Ba, còn trẻ tuổi nhưng đánh cờ tướng rất giỏi Nước cờ của anh dễthường thiên hạ không có người nào địch nổi Tiếng đồn vang khắp nước, sang đến tận Giang Nam Buổi ấy, ởTrung Quốc, có ông Kỵ Như cũng nổi tiếng cao cờ Khi nghe tiếng Trương Ba, Kỵ Như liền khăn gói sang Namtìm đến nhà địch thủ Hai người đọ tài nhau Đến ván thứ ba, Trương Ba dồn Kỵ Như vào thế bí Thấy đối phương

vò đầu suy nghĩ, Trương Ba kiêu hãnh bảo: Nước cờ này dù có Đế Thích xuống đây cũng không thể gỡ nổi Đế

Thích là thần cờ ở thiên đình, bỗng nghe câu nói hỗn xược của Trương Ba xúc phạm đến mình, liền cưỡi mâyxuống trần, mách cho Kỵ Như mấy nước, Kỵ Như thắng Đế Thích yêu mến Trương Ba Thấy anh khẩn khoản

muốn học nước cờ của mình, Đế Thích bảo anh: “Ta thấy nhà ngươi có bụng chân thành, vậy ta cho một bó hương này, mỗi lần cần đến ta thì thắp lên một cây, ta sẽ xuống” Nói đoạn, cưỡi mây bay lên trời.

Từ đó, Trương Ba thỉnh thoảng lại dọn cờ mời Đế Thích xuống chơi Hai bên rất tương đắc Nhưng mộthôm, Trương Ba bị chết đột ngột Sau khi chôn cất chồng, người vợ dọn dẹp nhà cửa, thấy có nén hương giắt ở mái

nhà, chị ta lấy xuống đốt lên cắm trước bàn thờ chồng Đế Thích liền xuống, hỏi thăm thì Trương Ba đã chết rồi.

Thương tiếc Trương Ba, Đế Thích làm cho hồn Trương Ba sống lại trong xác anh hàng thịt vừa mới chết

Nói chuyện trong nhà người hàng thịt lúc đó, mọi người đang xúm quanh linh sàng khóc lóc kể lể thì tựnhiên thấy người chết ngồi nhỏm dậy, đi thẳng một mạch về nhà Trương Ba Vợ Trương Ba thấy người hàng thịt,biết là thần Đế Thích đã làm cho chồng mình sống lại, mừng rỡ đón vào Vợ người hàng thịt cũng chạy theo níulấy chồng Đôi bên cãi cọ nhau, cuối cùng biến thành cuộc đấu khẩu rất kịch liệt Xóm làng không biết phân xử rasao, đành đem việc đó lên quan

Quan sai đem một con lợn vào công đường cho anh hàng thịt mổ, nhưng anh ta lúng túng không biết làmthế nào cả Quan lại sai mấy người giỏi cờ vào tỉ thí với người hàng thịt thì không ngờ, người đó đi những nước cờ

Trang 39

rất cao không ai địch nổi Quan bèn phán cho về nhà Trương Ba Vì thế mới có câu “ Hồn Trương Ba, da hàng thịt” (Theo Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam).

- Sáng tạo: Trong truyện dân gian, nhân vật Trương Ba được sống yên ổn trong thân xác anh hàng thịt.

Truyện dân gian đề cao linh hồn, tuyệt đối hóa linh hồn, không để ý đến mối quan hệ giữa thể xác và linh hồn Còn

trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ thì nhân vật Trương Ba phải sống trong nỗi đau khổ, giày vò khi bị rơi vào nghịch cảnh “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo” Điểm kết thúc của truyện dân

gian lại là khởi đầu của những mâu thuẫn cơ bản trong vở kịch của Lưu Quang Vũ Từ đó, tác giả gửi tới ngườiđọc thông điệp: thể xác và linh hồn có quan hệ hữu cơ với nhau; con người không thể chỉ sống bằng thể xác, màphải luôn luôn đấu tranh với bản thân để có sự thống nhất hài hòa giữa linh hồn và thể xác, hướng tới một lối sốngcao thượng, vươn tới một nhân cách hoàn thiện

2.3 Tóm tắt

Vở kịch gồm 7 cảnh:

Cảnh I: Nam Tào, Bắc Đẩu và Đế Thích trên thiên đình

Nam Tào, Bắc Đẩu ngồi làm công việc điểm tên những người phải chết trong một ngày Đế Thích, tiên cờmuốn tỏ ý muốn xuống hạ giới tìm người đánh cờ cho vui Vì vội đi dự tiệc ở dinh Thái Thượng Lão Quân, NamTào vội gạch bừa một người có tên là Trương Ba

Cảnh II: Trương Ba (vốn là một người rất cao cờ) đang chăm vườn và trò chuyện cùng vợ và cháu gái,

con trai, con dâu thì Trưởng Hoạt đến chơi cờ Lúc Trưởng Hoạt rơi vào thế bí, Trương Ba rung đùi phán: “Thế cờ này họa có Đế Thích mới gỡ nổi” Đế Thích nghe có người nhắc đến tên mình liền xuất hiện, giúp Trưởng Hoạt gỡ

thế cờ Trước khi về trời, Đế Thích đưa cho Trương ba mấy nén hương và dạy cách sử dụng khi cần gặp mình Sau

đó, Trương Ba đột ngột qua đời

Cảnh III: Cảnh Thiên đình

Nam Tào, Bắc Đẩu và Đế Thích đang trò chuyện thì vợ Trương Ba lên (Bà vô tình thắp ba nén hương của

Đế Thích) Khi biết chuyện Nam Tào gạch ẩu tên chồng, vợ Trương Ba đòi trả mạng sống cho chồng mình ĐếThích khuyên Nam Tào, Bắc Đẩu sửa sai bằng cách cho hồn Trương Ba nhập vào xác anh hàng thịt mới chết đểsống lại

Cảnh IV: Nhà người hàng thịt

Xác anh hàng thịt đã nằm trong quan tài bỗng đội nắp quan tài lên, đòi về nhà Trương Ba, không chịu ở lạinhà hàng thịt Mọi người lúc đầu ngỡ ngàng, sau đó đành chấp nhận để anh hàng thịt về theo vợ Trương Ba vì sựthật trong thể xác anh hàng thịt đúng là có hồn Trương Ba

Cảnh V: Mọi rắc rối cho hồn Trương Ba phải mượn xác hàng thịt bắt đầu xảy ra: Lí trưởng nhân cơ hội

sách nhiễu khiến con trai Trương Ba phải hối lộ mới được lí trưởng cho phép: Trương Ba phải ở nhà hàng thịt đếnnửa đêm mới được về nhà mình

Cảnh VI: Nhà người hàng thịt

Đêm đã khuya, Hồn Trương Ba giúp chị hàng thịt mổ lợn, pha thịt xong, chuẩn bị về thì vợ hàng thịt mờicơm rượu và định giữ lại Hồn Trương Ba bị thể xác xui khiến, lúc đầu định xuôi theo, nhưng rồi vượt qua phútlưỡng lự, gỡ tay chị ta, trở về nhà

Cảnh VII: Nhà Trương Ba

Trưởng Hoạt sang phê phán Trương ba bắt đầu đổi tính: uống rượu, thích ăn ngon, nước cờ đi cũng khác

Lí Trưởng lại đến gây khó dễ Con trai Trương Ba hư hỏng, chỉ nghĩ đến tiền và trục lợi Vợ Trương Ba buồn khổđịnh bỏ đi Cháu gái không nhận ộng nội Con dâu xót xa vì bố chồng không còn như xưa Bản thân Trương Bacũng bất lực với chính mình

Một cuộc đối thoại giữa Hồn Trương Ba và xác hàng thịt diễn ra, trong đó, xác hàng thịt khẳng định sứcmạnh và thế lấn tới của hắn đối với hồn Trương Ba

Hồn Trương Ba đốt một nén hương gọi Đế Thích xuống giải thoát cho mình Cùng lúc, cu Tị, con chị Lụahàng xóm, bạn thân cháu nội Trương Ba ốm nặng, sắp chết Đế Thích định cho hồn Trương Ba nhập vào xác cu Tịnhưng Trương Ba kiên quyết chối từ, xin cho cu Tị được sống, trả lại xác cho hàng thịt, chấp nhận cái chết

Phần kết: Hồn Trương Ba nhập vào màu xanh cây cỏ trong vườn, trò chuyện với vợ Cu Tị và cái Gái ăn

na và gieo hạt cho nó mọc thành cây mới.

→ Hồn Trương Ba, da hàng thịt là một trong những vở kịch đặc sắc nhất của Lưu Quang Vũ, đã công diễn

nhiều lần trên sân khấu trong và ngoài nước

2.4 Nhan đề

Trang 40

- Nguồn gốc: Đây là nhan đề của truyện dân gian, được Lưu Quang Vũ giữ nguyên khi chuyển thể thành

vở kịch

- Ý nghĩa:

+ Hồn: Thế giới bên trong con người, bao gồm cảm xúc, suy nghĩ, khát vọng… -> Đó là ẩn dụ cho phần

thanh cao, trong sạch, nhân hậu, xứng đáng với danh nghĩa con người

+ Xác: Cái bên ngoài-> Đó là ẩn dụ cho sự tầm thường, dung tục.

→ Hồn Trương Ba, da hàng thịt gợi cảm giác về sự vênh lệch giữa linh hồn và thể xác, giữa hình thức và

nội dung, giữa bên ngoài và bên trong Nhan đề hé mở những mâu thuẫn, xung đột cơ bản, xuyên suốt vở kịch

3 Văn bản

3.1 Vị trí

Thuộc cảnh VII và đoạn kết của vở kịch → Phần cao trào và mở nút.

3.2 Tình huống kịch

- Hồn Trương Ba phải sống nhờ trong Xác hàng thịt Mâu thuẫn giữa Hồn và Xác lên đến đỉnh điểm

- Tình huống kịch trong đoạn trích diễn biến qua các bước:

+ Hồn Trương Ba cảm thấy không thể sống trong xác hàng thịt Hồn muốn tách khỏi thân xác kềnh càng,thô lỗ ấy

+ Cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác với sự đắc thắng của Xác khiến Hồn càng khổ đau và cảm thấy bế tắc.+ Thái độ cư xử của những người thân trong gia đình: không tin, không thừa nhận Trương Ba, khiến HồnTrương Ba càng đau khổ, tuyệt vọng, từ đó đi đến quyết định giải thoát

+ Cuộc gặp gỡ, đối thoại cuối cùng của Hồn Trương Ba với Đế Thích và quyết định dứt khoát chấm dứtnghịch cảnh đau khổ của Hồn Trương Ba

- Tình huống kịch nói trên thể hiện những mâu thuẫn, xung đột ở nhân vật Hồn Trương Ba và cách giảiquyết của nhân vật này Qua đó toát lên ý nghĩa tư tưởng sâu sắc của đoạn trích và cũng là ý nghĩa chung của vởkịch

3.3 Nội dung

Đoạn trích tập trung thể hiện những bi kịch éo le của nhân vật Hồn Trương Ba Qua đó, Lưu Quang Vũmuốn gửi tới người đọc một thông điệp: Được sống làm người quý giá thật, nhưng được sống đúng là mình, sốngtrọn vẹn những giá trị mình vốn có và theo đuổi còn quý giá hơn Sự sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con ngườiđược sống tự nhiên với sự hài hòa giữa thể xác và tâm hồn Con người phải luôn biết đấu tranh với nghịch cảnh,với chính bản thân, chống lại sự dung tục để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý

3.4 Nghệ thuật

- Tình huống kịch phát triển tự nhiên, hợp lí Các hành động kịch nối tiếp nhau, đẩy mâu thuẫn kịch lênđến cao trào, tạo nên kịch tính vô cùng căng thẳng, hấp dẫn

- Kết hợp giữa việc miêu tả diễn biến tâm lý và hành động của nhân vật

- Ngôn ngữ kịch: sinh động, gắn liền với tình cảnh, tâm trạng cụ thể; giàu tính triết lý

- Giọng điệu: biến hóa, lôi cuốn Đặc biệt, có những lời thoại của Trương Ba với Đế Thích vừa hướngngoại lại mang tính chất hướng nội (độc thoại nội tâm)

Ngày đăng: 17/11/2021, 23:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Nhà thơ cũng thấu hiểu được đằng sau thế giới kì diệu thiêng liêng mà những ngôi sao hình - TÀI LIỆU ÔN TẬP NGỮ VĂN 2022 ĐẦY ĐỦ
h à thơ cũng thấu hiểu được đằng sau thế giới kì diệu thiêng liêng mà những ngôi sao hình (Trang 79)
về tư tưởng, đạo lí; có sáng tạo trong viết câu, dựng đoạn làm cho lời văn có giọng điệu, hình ảnh. - TÀI LIỆU ÔN TẬP NGỮ VĂN 2022 ĐẦY ĐỦ
v ề tư tưởng, đạo lí; có sáng tạo trong viết câu, dựng đoạn làm cho lời văn có giọng điệu, hình ảnh (Trang 84)
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn - TÀI LIỆU ÔN TẬP NGỮ VĂN 2022 ĐẦY ĐỦ
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn (Trang 89)
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn - TÀI LIỆU ÔN TẬP NGỮ VĂN 2022 ĐẦY ĐỦ
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn (Trang 91)
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn - TÀI LIỆU ÔN TẬP NGỮ VĂN 2022 ĐẦY ĐỦ
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn (Trang 93)
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn - TÀI LIỆU ÔN TẬP NGỮ VĂN 2022 ĐẦY ĐỦ
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn (Trang 96)
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn - TÀI LIỆU ÔN TẬP NGỮ VĂN 2022 ĐẦY ĐỦ
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn (Trang 99)
1 Thể thơ: tự do. - TÀI LIỆU ÔN TẬP NGỮ VĂN 2022 ĐẦY ĐỦ
1 Thể thơ: tự do (Trang 99)
2 Cảm nhậnvề hình tượng nhân vật bà cụ Tứ trong đoạn trích. Từ đó, nhận xét chiều sâu nhân đạo trong ngòi bút Kim Lân khi viết về số phận người nông dân trước Cách mạng tháng 8/1945. - TÀI LIỆU ÔN TẬP NGỮ VĂN 2022 ĐẦY ĐỦ
2 Cảm nhậnvề hình tượng nhân vật bà cụ Tứ trong đoạn trích. Từ đó, nhận xét chiều sâu nhân đạo trong ngòi bút Kim Lân khi viết về số phận người nông dân trước Cách mạng tháng 8/1945 (Trang 100)
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn - TÀI LIỆU ÔN TẬP NGỮ VĂN 2022 ĐẦY ĐỦ
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn (Trang 101)
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn - TÀI LIỆU ÔN TẬP NGỮ VĂN 2022 ĐẦY ĐỦ
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w