1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Phân tích theo SWOT về ứng dụng telemedicine vào thực tế trong mùa covid (1)

11 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 127,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bài luận quản lý y tế y đhqg:Hiện nay tỷ lệ người mắc bệnh tim mạch và tăng huyết áp ở Việt Nam là 25%, tỷ lệ bệnh đái tháo đường ở độ tuổi từ 22 đến 79 là 5.8%, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ( COPD) ở độ tuổi từ 15 trở lên là 2.2% (1). Cho thấy số lượng bệnh nhân cần được theo dõi và điều trị rất cao, trong tình hình dịch covid 19 đang diễn ra hết sức phức tạp. Cách ly xã hội khiến cho việc tiếp cận với dịch vụ khám chữa bệnh trực tiếp gặp nhiều khó khăn. Để vừa đáp ứng tốt nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân nhưng phải vừa đảm bảo an toàn, giãn cách xã hội thì một số bệnh viện đang từng bước triển khai ứng dụng khám chữa bệnh từ xa telemedicine vào thực tế. Tuy nhiên trong bước đầu thực hiện còn nhiều mới mẻ. Chính vì vậy tôi chọn đề tài “phân tích theo mô hình SWOT về ứng dụng khám chữa bệnh từ xa telemedicine vào thực tế trong mùa dich COVID 19” để bàn luận về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức khi triển khai telemedicine vào thực tế từ đó có chiến lược phát triển hợp lí

Trang 1

Phân tích theo mô hình SWOT về ứng dụng khám chữa bệnh từ xa telemedicine vào thực tế trong mùa COVID 19 tại Việt Nam

Chương 1: Giới thiệu

Hiện nay tỷ lệ người mắc bệnh tim mạch và tăng huyết áp ở Việt Nam là 25%, tỷ lệ bệnh đái tháo đường ở độ tuổi từ 22 đến 79 là 5.8%, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ( COPD) ở độ tuổi từ 15 trở lên là 2.2% (1) Cho thấy số lượng bệnh nhân cần được theo dõi và điều trị rất cao, trong tình hình dịch covid 19 đang diễn ra hết sức phức tạp Cách ly xã hội khiến cho việc tiếp cận với dịch vụ khám chữa bệnh trực tiếp gặp nhiều khó khăn Để vừa đáp ứng tốt nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân nhưng phải vừa đảm bảo an toàn, giãn cách xã hội thì một số bệnh viện đang từng bước triển khai ứng dụng khám chữa bệnh từ xa telemedicine vào thực tế Tuy nhiên trong bước đầu thực hiện còn nhiều mới mẻ Chính vì vậy tôi chọn đề tài “phân tích theo mô hình SWOT về ứng dụng khám chữa bệnh từ xa telemedicine vào thực tế trong mùa dich COVID 19” để bàn luận về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức khi triển khai telemedicine vào thực tế từ đó có chiến lược phát triển hợp lí

Chương 2: tổng quan kiến thức

1 Mô hình swot là gì?

Mô hình SWOT là được phát triển tại Staford vào nhưng năm 1970, được sử dụng trong việc lâp kế hoạch chiến lược SWOT là từ viết tắt của từ điểm mạnh ( Strengths), điểm yếu( Weaknesses), cơ hội (Opportunities), và thách thức (Threats) Phân tích theo mô hình SWOT là phương pháp đơn giản nhưng hiệu quả trong việc lập kế hoạch và chiến lược nhằm phát triển được điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, tránh những rủi ro và nắm bắt tốt cơ hội để phát triển và ảnh 1 sẽ cho ta thấy rõ được chi tiết từng bước trong mô hình SWOT (2)

Trang 2

ảnh 1: mô hình SWOT

2 Telemedicnine là gì?

Telemedicine là một từ ghép bắt nguồn từ “tele” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là

“từ xa” và “medicine” trong tiếng Latin là “mederi” nghĩa là “điều trị” Năm

1970, lần đầu tiên khái niệm Telemedicine được dùng nhằm mô tả cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho các bệnh nhân từ xa thông qua việc sử dụng công nghệ thông tin Chưa có 1 định nghĩa chính xác nào về telemedicine và có

1 nghiên cứu năm 2007 đã đưa ra 1 định nghĩa về telemedicine trong 104 từ được WHO thông qua và mô tả tổng quan như sau:

Trang 3

“The delivery of health care services, where distance is a critical factor, by all health care professionals using information and communication technologies for the exchange of valid information for diagnosis, treatment and prevention

of disease and injuries, research and evaluation, and for

the continuing education of health care providers, all in the interests of advancing the health of individuals and their communities”(3)

Tạm dịch ra là dịch vụ chăm sóc sức khỏe từ xa là các cơ sở chăm sóc sức khỏe

sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để trao đổi những thông tin hợp lệ phục vụ cho việc chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa bệnh tật và thương tích, nghiên cứu và đánh giá, và đào tạo Tất cả vì lợi ích của việc nâng cao sức khỏe của cá nhân và cộng đồng

Ngoài ra còn có nhiều định nghĩa nê u bật lên rằng telemedicine là một ngành khoa học mở và không ngừng phát triển vì nó kết hợp được những tiến bộ mới trong công nghệ và thích ứng được với nhu cầu khám chữa bệnh, sự thay đổi của hoàn cảnh (3)

Một số định nghĩa phân biệt telemedicine và telehealth nhưng 2 từ này được cho là cùng ý nghĩa và được sử dụng thay thế cho nhau (3)

Telemedicine hay telehealth đều có liên quan đến 4 yếu tố sau

1 Cung cấp hỗ trợ lâm sàng(3)

2 Nhằm vượt qua các rào cản về địa lý kết nối những người có nhu cầu khám chữa bệnh ở xa với bác sĩ(3)

3 Liên quan đến việc sử dụng các loại công nghệ thông tin và truyền thông(3)

4 Mục tiêu là cải thiện sức khỏe (3)

3 nhóm ứng dụng khác nhau của telemedicnine:

Nhóm 1: Lưu trữ và chuyển tiếp (Store-and-Forward)

Với dữ liệu hình ảnh được lưu trữ và chuyển tải đến bác sĩ chuyên khoa để chẩn đoán, điều này làm giảm thời gian và chi phí cho người bệnh phải đến gặp trực tiếp các bác sĩ chuyên khoa, giảm thời gian và chi phí để hội chẩn trực tiếp với các bác sĩ chuyên khoa Thay vào đó, các dữ liệu chẩn đoán hình ảnh hoặc

dữ liệu sinh học có thể được gửi đến bác sĩ chuyên khoa khi cần thiết, thực hành này là phổ biến trong các lĩnh vực về chuyên khoa da liễu, X quang (hệ thống PACs) và giải phẫu bệnh (4)

Nhóm 2: Theo dõi từ xa (Remote Monitoring)

Với một loạt các thiết bị công nghệ gắn trên người để theo dõi sức khoẻ đã mở

ra một phương thức mới trong theo dõi, giám sát từ xa các dấu hiệu lâm sàng

Trang 4

của bệnh nhân Ứng dụng này đặc biệt có ích và được sử dụng rộng rãi trong quản lý các bệnh mạn tính không lây nhiễm như bệnh tim mạch, đái tháo đường và hen suyễn (4)

Nhóm 3:Các dịch vụ tương tác thời gian thực (Real-Time Interactive Services) Với ứng dụng tương tác thời gian thực giúp các bác sĩ có thể cung cấp lời khuyên ngay lập tức cho bệnh nhân cần chăm sóc y tế Có nhiều phương tiện khác nhau được sử dụng cho mục đích này, cổ điển nhất liên lạc trao đổi qua điện thoại, trực tuyến và thăm khám tại nhà Dịch vụ tương tác thời gian thực giúp người bệnh có thể trao đổi trực tiếp từ xa với bác sĩ, bác sĩ tổng quát trao đổi và được tư vấn chuyên môn từ xa với bác sĩ chuyên khoa (4)

3 Nguồn gốc và lịch sử telemedicine

Telemedicine lần đầu tiên được hình thành vào đầu năm 1879, khi những phát triển thô sơ của điện thoại và radio là tiền đề cho ý tưởng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe từ xa Một trong những người tiên phong của thời đại này

là Hugo Gernsback, người đã tạo ra cái gọi là thiết bị y tế viễn thông

Trong thế kỷ 20, NASA đã đóng góp một lượng lớn nguồn lực để phát triển y học từ xa, nhằm sử dụng công nghệ này để cung cấp dịch vụ y tế cho các phi hành gia(5)

Lịch sử của Telemedicine(5)

Lần đầu tiên đề cập đến việc chăm sóc sức khỏe đến tận nhà là một bài báo xuất bản năm 1879 trên tạp chí Lancet, nơi các nhà nghiên cứu nghĩ rằng chiếc điện thoại có thể giảm số lần đến phòng khám không cần thiết

Năm 1925, tạp chí Khoa học và Sáng tạo đã xuất bản một số báo trên trang bìa cho thấy một bác sĩ đưa ra chẩn đoán qua radio Bản thân bài báo đã tưởng tượng ra một thiết bị mà một ngày nào đó sẽ cho phép bác sĩ tiến hành thăm khám qua video

Y học từ xa nghe có vẻ như là một sự phát triển tương đối mới trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, nhưng một hình thức thô sơ của nó đã được thực hiện từ rất lâu trước đây vào những năm 1920, khi các bác sĩ sử dụng radio để tư vấn y tế cho các phòng khám trên tàu

Hugo Gernsback(5)

Một sự phát triển quan trọng khác trong viễn thông đã tạo động lực cho y học

từ xa là sự phát triển của điện thoại Ngay sau khi Alexander Graham Bell thực

Trang 5

hiện cuộc gọi điện thoại đầu tiên vào tháng 3 năm 1876, các nhà khoa học bắt đầu tự hỏi làm cách nào khác mà công nghệ mới mang tính cách mạng này có thể được áp dụng Nhưng tạp chí Smithsonian viết rằng phải đến năm 1925, khi Hugo Gernsback, một doanh nhân phát thanh và xuất bản, đưa ra giả thuyết rằng các bác sĩ trong tương lai sẽ vượt ra ngoài điện thoại, sang đài phát thanh

và truyền hình, để tiếp cận bệnh nhân của họ

Bản thân Gernsback là người tiên phong Ông đã thiết kế bộ đài phát thanh tại nhà đầu tiên, bắt đầu kinh doanh đài phát thanh đặt hàng qua thư đầu tiên trên thế giới và xuất bản tạp chí đài phát thanh đầu tiên trên thế giới Một tạp chí khác do Gernsback bắt đầu đã chứng kiến việc ông đưa ra giả thuyết về một thiết bị mà ông gọi là “teledactyl”, nơi các bác sĩ sẽ không chỉ nhìn thấy bệnh nhân của họ qua màn hình mà còn chạm vào họ bằng cánh tay robot Mặc dù

dự đoán sau vẫn chưa thành công, nhưng dự đoán trước là một trong những dự đoán có cơ sở nhất về cái mà ngày nay chúng ta gọi là y học từ xa

Bất chấp những dự đoán của Gernsback, y học từ xa vẫn là một giấc mơ xa vời vào đầu thế kỷ 20 Những tiến bộ khoa học trong Thế chiến II đã giúp các nhà nghiên cứu dân sự gửi hình ảnh X quang qua 24 dặm đường dây điện thoại ở Pennsylvania Trong những năm 1950, Đại học Nebraska đã thực hiện bước đột phá đầu tiên vào lĩnh vực mà chúng ta có thể gọi là y học từ xa về mặt kỹ thuật, gửi kết quả của các bài kiểm tra thần kinh qua dây cáp

Chẩn đoán từ xa (5)

Tạp chí chính thức của Hiệp hội Y học từ xa Hoa Kỳ đưa ra thêm một số lịch

sử Năm 1957, một bác sĩ người Canada đã xây dựng một hệ thống điện tín ở Montreal Ông gửi hình ảnh X quang từ bệnh viện này đến bệnh viện khác cách

xa năm dặm thông qua cáp đồng trục

Mười năm sau, các bác sĩ tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts ở Boston đã chứng minh một “hệ thống toàn diện để chẩn đoán từ xa,” mà họ gọi là

“telemedicine”

Một thập kỷ sau, Viện Tâm thần Nebraska và Bệnh viện Bang Norfolk kết nối với nhau qua truyền hình mạch kín để hợp tác tham vấn, được ca ngợi là một bước tiến lớn vào thời điểm đó

Trang 6

Tại thời điểm này, sử dụng y học từ xa được coi là xứng đáng cho nghiên cứu học thuật hợp pháp Tạp chí Anesthesiology đã thực hiện báo cáo đầu tiên được xuất bản về ý tưởng theo dõi từ xa các chỉ số của bệnh nhân

Vào cuối những năm 1970, NASA và Viện Tâm lý Nebraska đã làm việc cùng nhau để phát triển y học từ xa như một hình thức cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe

NASA và Telemedicine(5)

Vào những năm 1980, NASA là nhân tố quan trọng trong việc thúc đẩy thực hành, họ thường sử dụng các dự án của riêng họ để khám phá tầm cao của y học từ xa Ví dụ: Chương trình Ứng dụng Công nghệ Không gian cho Chương trình Chăm sóc Sức khỏe Nông thôn Papago, trong đó các đơn vị hỗ trợ di động nằm trong khu vực nông thôn được kết nối với các bác sĩ có trụ sở tại các bệnh viện Dịch vụ Y tế Ấn Độ Harvard Business Review giải thích cách nó mang lại cho NASA những hiểu biết quan trọng về cách các phi hành gia có thể nhận được sự chăm sóc y tế từ cách xa hàng nghìn dặm

Trong những năm 1980, telehealth một lần nữa được ghép nối với X quang khi hình ảnh được sử dụng để tham vấn

Vào những năm 1990, sự ra đời của internet đã thay đổi mọi thứ gần như chỉ sau một đêm

Những đổi mới hiện đại trong công nghệ tiêu dùng và kinh doanh có nghĩa là các thiết bị telehealth được sử dụng ngày nay có kích thước nhỏ hơn nhiều và

có phạm vi tính năng lớn hơn nhiều so với thiết bị được sử dụng trong những ngày đầu của thực tiễn

Chương 3: thực trạng

Trang 7

1 Tình hình ứng dụng telemedicine tại Việt Nam

Đề án Khám chữa bệnh từ xa đã được ban hành tại Quyết định số 2628/QĐ-BYT ngày 22/6/2020 với 2 mục tiêu căn bản, đó là tất cả các cơ sở y tế, nhất là tuyến huyện được hỗ trợ chuyên môn liên tục và mọi người dân đều được hỗ trợ y tế thường xuyên (6)

Trước đây hỗ trợ chuyên môn theo phương thức 1-1, tức là một tuyến trên hỗ trợ cho một tuyến dưới thì hiện nay sẽ mở rộng theo mô hình 1-N để đảm bảo hiệu ứng tốt hơn Theo đó tuyến trên hỗ trợ tuyến dưới nhưng tất cả bệnh viện tuyến dưới đều có thể tham gia vào hội chẩn, theo dõi, để qua đó được học tập, nâng cao chuyên môn Bên cạnh đó, Đề án khám chữa bệnh từ xa còn có nhiệm

vụ góp phần nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh theo phương thức kết hợp của bác sĩ tuyến trên và bác sĩ tuyến dưới theo mô hình 1-4-4-2 Tức là 1 bác sĩ tuyến trên hỗ trợ cho 4 bác sĩ tuyến tỉnh, 4 bác sĩ tuyến huyện và 2 bác sĩ tuyến xã Trong đó bác sĩ tuyến trên đóng vai trò như người bảo trợ, hỗ trợ cho tuyến dưới khi cần thiết (6)

Sau 2 tháng triển khai thí điểm Đề án Khám chữa bệnh từ xa, bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã thu được nhiều kết quả khả quan như: đảm bảo giãn cách xã hội trong phòng chống dịch; giảm chi phí và thời gian cho người bệnh; giảm quá tải, tạo cân bằng người bệnh giữa tuyến trên - tuyến dưới; tăng cường năng lực chuyên môn tuyến dưới và kết nối mạng lưới các bệnh viện Một tuần bệnh viện thực hiện 2 buổi, đến nay đã có 34 bệnh viện kết nối với bệnh viện Đại học Y Hà Nội và 89 bệnh viện đề xuất tham gia hội chẩn Bệnh viện đã hội chẩn được 144 cuộc, đề xuất chuyển viện 28 ca và có 8 ca chuyển đến bệnh viện Đại học Y Hà Nội (6)

Hiện nay có 1000 cơ sở khám chữa bệnh từ xa trên toàn bộ 63 tỉnh thành và một số bệnh viện của nước bạn Lào (2 bệnh viện) và Cam-Pu- Chia (1 bệnh viện) đã đăng ký tham gia làm bệnh viện tuyến dưới Nhiều bệnh viện/trung tâm y tế tại vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo cũng đã đăng ký tham gia (7)

2 Điểm mạnh

- Đảm bảo tốt cách ly xã hội trong tình hình dịch covid 19 diễn biến phức tạp

vì bệnh nhân không cần phải đến bệnh viện, hạn chế tiếp xúc

- Áp dụng tốt cho điều trị và theo dõi F0 tại nhà

- Giảm tỉ lệ nhiễm trùng bệnh viện

- Tiết kiệm chi phí cho cả bệnh nhân và cơ sở khám chữa bệnh vì bệnh nhân không cần phải đến tận nơi tiết kiệm được chi phí đi lại, các cơ sở y tế thì tiết kiệm được cho phí cho phòng ốc, lễ tân

Trang 8

- Bệnh nhân dễ dàng tiếp cận và kết nối với bác sĩ ví dụ những bệnh nhân lớn tuổi khó di chuyển hay những người khuyết tật, bệnh nhân có thể ở tại nhà

và được kết nối trực tiếp với bác sĩ

- Tiết kiệm được thời gian: không cần phải đi tới bệnh viện tiết kiệm được thời gian đi lại và thời gian chờ được khám, khi thăm khám online bệnh nhân có thể tận dụng thời gian di chuyển và chờ đợi để làm công việc của bản thân

- Đảm bảo riêng tư: những bệnh nhân mắc những bệnh mà bệnh nhân khó nói

ra, thay vì khi đi đến bệnh viện phải bước vào phòng khám mà ai cũng biết bệnh nhân mắc bệnh đó thì thăm khám từ xa đảm bảo thông tin chỉ có bác sĩ

và bệnh nhân biết

- Tăng doanh thu bổ sung: bởi vì chăm sóc sức khỏe từ xa cho phép bác sĩ chăm sóc được nhiều bệnh nhân hơn nên doanh thu cũng tăng lên

- Giảm được tình trạng hành hung nhân viên y tế: bởi vì thăm khám từ xa bệnh nhân và người nhà bệnh nhân không gặp trực nhân viên y tế và họ không phải chờ đợi lâu chính vì thế họ cũng hài lòng hơn với nhân viên y tế

- Tiện lợi cho chăm sóc y tế dự phòng: nếu như đến trực tiếp phòng khám thì bệnh nhân phải có triệu chứng rõ rệt khiến bệnh nhân lo lắng còn với telemedicine bệnh nhân có thể kết nối với nhân viên y tế để tư vấn về tình trạng sức khỏe bất cứ lúc nào mà không cần tốn thời gian đến bệnh viện từ

đó việc tư vấn và hướng dẫn cho bệnh nhân hạn chế các yếu tố nguy cơ của bệnh cũng hiệu quả hơn

3 Điểm yếu

- Bảo hiểm y tế: hiện nay bảo hiểm y tế chưa chi trả cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe từ xa

- Trang thiết bị: hiện nay không phải tất cả các cơ sở y tế đều đáp ứng đủ trang thiết bị cho telemedicine, hơn thế nữa trong bối cảnh nước ta nhiều người dân vùng sâu vùng xa còn khó khăn trong việc tiếp cận công nghệ

- Nhân lực: nguồn nhân lực am hiểu về công nghệ thông tin còn hạn chế

- Chuyên môn: chuyên môn còn hạn chế, chuyên môn mà tôi muốn đề cập ở đây là chuyên môn về công nghệ và dịch vụ tư vấn, vì hầu hết nhân viên y

tế được đào tạo rất kĩ về chuyên môn nhưng không được đào tạo kĩ lưỡng về dịch vụ chăm sóc khách hàng và cũng không được đào tạo kĩ về công nghệ thông tin

- Tính bảo mật: tính bảo mật bị hạn chế bởi vì việc thăm khám cần phải thông qua việc trao đổi trên điện thoại và các ứng dụng qua internet dễ bị đột nhập bởi các hacker

Trang 9

- Hạn chế tính chính xác: vì việc thăm khám từ xa bác sĩ và bệnh nhân không gặp trược tiếp nên chỉ chẩn đoán và tư vấn thông qua lời của bệnh nhân, bác

sĩ không trực tiếp thăm khám để xác định các triệu chứng thực thể

- Telemedicine chỉ đáp ứng được với các bệnh nhân có bệnh mạn tính hoặc những bệnh không nguy kịch còn hạn chế trong việc chăm sóc và điều trị các bệnh cấp tính vì những bệnh này cần trang thiết bị hỗ trợ đầy đủ hơn

4 Cơ hội

- Trong bối cảnh dịch COVID đang diễn biến phức tạp và xã hội ngày càng phát triển vấn đề sức khỏe được quan tâm nhiều hơn là một cơ hội lớn cho telemedicine phát triển

- Trong tình trạng quá tải bệnh viện do bệnh nhân không tin tưởng vào các bệnh viện tuyến dưới là cơ hội để telemedicine phát triển để các bệnh viện tuyến trên hỗ trợ chuyên môn qua hội chẩn từ xa cho cho các bệnh viện tuyến dưới

- Trong bối cảnh nhu cầu về đào tạo nâng cao tay nghề nhân viên y tế ngày càng tăng là cơ hội cho telemedicine phát triển nhằm giúp các bệnh viện tuyến trung ương dễ dàng hỗ trợ đào tạo cho các bệnh viện tuyến dưới

- Công nghệ thông tin và truyền thông đang ngày càng phát triển ở nước ta là một cơ hội để telemedicine phát triển mạnh mẽ hơn

5 Thách thức

- Vẫn chưa xây dựng được hệ thống quản lý thông tin người bệnh thống nhất trên toàn quốc nên việc theo dõi thông tin người bệnh trước đây còn gặp nhiều khó khăn

- Kiến thức của người dân về sức khỏe và công nghệ thông tin còn hạn chế nên việc tư vấn để bệnh nhân tự chăm sóc tại nhà còn gặp nhiều trở ngại

- Chưa xây dựng được hệ thống bảo mật thông tin y tế tuyệt đối

- Nhân lực am hiểu về công nghệ thông tin và dịch vụ chăm sóc khách hàng còn hạn chế

- Trang thiết bị về công nghệ thông tin tại các vùng sâu vùng xa vẫn còn chưa phát triển

- Bảo hiểm y tế vẫn chưa hỗ trợ cho dịch vụ telemedicine

Chương 4: kết luận và kiến nghị

Qua phân tích trên đã làm rõ được các điểm mạnh điểm yếu cơ hội và thách thức khi ứng dụng telemedicine vào thực tế từ đó cho ta một hướng đi đúng đắn Trong tình hình dich covid đang diễn ra phức tạp thì việc ứng dụng mô hình telemedicine là thực

Trang 10

sự cần thiết Nhưng để phát triển được một hệ thống telemedicine hoàn hảo cần sự hỗ trợ từ nhiều phía

Vấn đề lớn nhất để áp dụng telemedicine hiện nay là tìm nguồn kinh phí Chính phủ nên có chính sách hỗ trợ để kêu gọi các nguồn đầu tư tư nhân vào lĩnh vực này, các nguồn này có thể đến từ nguồn hộ trợ từ các tổ chức cá nhân, nguồn tài tiền chính phủ, bảo hiểm y tế, hay bệnh nhân tự trả tiền Về lâu dài, chúng ta cần tìm ta nguồn giải pháp kinh tế nếu muốn ứng dụng telemedicine cho toàn quốc, có thể sẽ phải kết hợp nhiều nguồn tài chính khác nhau

Ngoài ra chính phủ cần phải xây dựng được một hệ thống quản lý thông tin bệnh nhân thống nhất trên toàn quốc Làm tốt công tác giáo dục sức khỏe cho người dân để

họ có khả năng tự chăm sóc sức khỏe dưới sự hướng dẫn của telemedicine

Các bệnh viện cần tổ chức đào tạo nguồn nhân lực am hiểu về công nghệ thông tin và dịch vụ chăm sóc khách hàng

Quan trọng nhất là chính phủ cần nâng cao khả năng bảo mật thông tin y tế tránh rò rỉ thông tin người bệnh

Còn cần nhiều nỗ lực, thời gian và hỗ trợ của chính phủ để telemedicine trở thành 1 phần của hệ thống y tế Việt Nam Những vấn đề trên có thể sẽ được thay đổi trong vài năm tới Các bác sĩ trẻ đặc biệt là thế hệ sinh viên y nên được đào tạo sớm kiến thức

về telemedicine nhằm phát triển một hệ thống telemedicine toàn diện

Tham khảo

(1) http://www.tapchiyhocduphong.vn/tin-tuc/dien-dan-y-hoc-du-phong/benh-khong-lay-nhiem-ganh-nang-yeu-to-nguy-co-va-chien-luoc-phong-chong-o81E21074.html?

(3) telemedicine Opportunities and developments Report on the second global survey

on eHealth ( WHO)

(4) http://www.medinet.hochiminhcity.gov.vn/quan-ly-chat-luong-kham-chua-benh/

16/1/2019

Ngày đăng: 17/11/2021, 21:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w