Bài viết phân tích thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm cháy nổ bắt buộc và thực tiễn thực hiện. Trên cơ sở đó kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm cháy nổ bắt buộc. Mời các bạn tham khảo!
Trang 1THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM CHÁY NỔ BẮT BUỘC
VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
THE LEGAL STATUS OF COMPULSORY FIRE AND EXPLOSION INSURANCE
AND SOME RECOMMENDATIONS
TÓM TẮT: Bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc là thực sự cần thiết trong cuộc sống Để đảm bảo lợi ích công cộng và an toàn xã hội trước những thiệt hại do cháy, nổ gây ra đối với tài sản, Nhà nước đã quy định bảo hiểm cháy, nổ là một trong những loại hình bảo hiểm bắt buộc Bài viết phân tích thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm cháy nổ bắt buộc và thực tiễn thực hiện Trên cơ sở đó kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm cháy nổ bắt buộc
Từ khóa: Kinh doanh bảo hiểm, bảo hiểm cháy nổ, nguy hiểm về cháy nổ
ABSTRACT: Compulsory fire and explosion insurance is really necessary in life
In order to ensure public interests and social safety against damage caused by fire and explosion to property, the State has stipulated that fire and explosion insurance is one
of the compulsory types of insurance The article analyzes the current state of Vietnam's regulations on compulsory fire and explosion insurance and practical implementation On that basis, some solutions are proposed to improve the law on
compulsory fire and explosion insurance
Keywords: Insurance business, fire and explosion insurance, fire and explosion
danger
1 Đặt vấn đề
Bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc là một loại hình bảo hiểm tài sản về những thiệt hại hoặc tổn thất đối với tài sản do nguyên nhân cháy, nổ gây ra Có thể khẳng định rằng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc ra đời xuất phát từ mục đích bảo hiểm lợi ích công cộng và
an toàn xã hội trước những rủi ro, thiệt hại về tài sản do sự kiện cháy, nổ gây ra Do
đó, việc thực hiện bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc sẽ mang đến rất nhiều lợi ích cho nhà nước và xã hội, bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm Chính vì vậy, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 23/2018/NĐ-CP quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt
Đoàn luật sư tỉnh Bình Dương; Email: mydunglsbd@gmail.com
Trang 2buộc có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/04/2018; có thể nói việc ban hành Nghị định
số 23/2018/NĐ-CP trong thời điểm hiện nay là vô cùng quan trọng, tạo hành lang pháp
lý thuận lợi nhằm mở rộng diện tham gia bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc, đồng thời bổ sung nguồn lực góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy trên thực tiễn
2 Thực trạng và thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về bảo hiểm cháy nổ bắt buộc
2.1 Quy định về đối tượng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc
Dưới góc độ luật thực định thì pháp luật yêu cầu bên mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc là các cơ quan, tổ chức và cá nhân có cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 79/2014/NĐ-CP1 Đây là điểm khác biệt giữa bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc với các loại hình bảo hiểm tài sản khác khi mà bên mua bảo hiểm có phải là chủ sở hữu của cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ Với các loại hình bảo hiểm tài sản khác như bảo hiểm xe ô tô, bảo hiểm hàng hóa, bảo hiểm tài sản
kỹ thuật, bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt; bên mua bảo hiểm là những người
có quyền đối với đối tượng bảo hiểm nghĩa là chỉ cần có quyền chiếm hữu, quyền sử dụng hoặc quyền định đoạt đối với tài sản thì người đó cũng có thể mua bảo hiểm đối với tài sản đó Ví dụ: Anh A là chủ sở hữu một căn nhà cấp 4 (không thuộc đối tượng bắt buộc phải mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc), do không có nhu cầu sử dụng nên anh
A để cho gia đình em trai mình là anh B sống tại căn nhà đó Như vậy, anh B dù không phải là chủ sở hữu của căn nhà nhưng anh B có quyền sử dụng căn nhà nên để đảm bảo quyền lợi cho mình khi không may rủi ro xảy ra thì anh B vẫn được quyền mua bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt cho căn nhà
Sự khác biệt này xuất phát từ việc bảo hiểm cháy, nổ là loại hình bảo hiểm tài sản bắt buộc đối với các cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ Theo đó, bên mua bảo hiểm
là chủ sở hữu của đối tượng bảo hiểm (người có quyền đầy đủ nhất và cao nhất đối với tài sản) mặc nhiên phát sinh trách nhiệm phải mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc, trường hợp không tham gia sẽ bị coi là vi phạm pháp luật
1
Khoản 2, Điều 1 Nghị định số 23/2018/NĐ-CP ngày 23/2/2018 của Chính phủ quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc
Trang 3Tính bắt buộc của bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc xuất phát từ tính đặc thù của đối tượng bảo hiểm Cụ thể:
Thứ nhất, Đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc là những địa điểm
mà hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ gây ra cháy, nổ nếu như không tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật về phóng cháy và chữa cháy như: Cơ sở hạt nhân, cơ sở bức
xạ, cơ sở sản xuất vật liệu nổ, kho vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; kho dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ, kho khí đốt; cửa hàng kinh doanh xăng dầu có từ 01 cột bơm trở lên; cửa hàng kinh doanh khí đốt có tổng lượng khí tồn chứa từ 70 kg trở lên (được xác định là đặc tính sẵn có) hoặc các cơ sở có chứa các vật liệu, thiết bị, tài sản có nguy cơ cao gây
ra cháy nổ như nhà máy đóng tàu, sửa chữa tàu; nhà máy sửa chữa, bảo dưỡng máy bay
; nhà máy điện; trạm biến áp từ 110 KV trở lên2
Thứ hai, Nếu sự kiện cháy nổ xảy ra với các đối tượng này sẽ gây thiệt hại “đặc biệt nghiêm trọng” về người và tài sản không chỉ cho bên mua bảo hiểm mà còn ảnh hưởng đến cộng đồng, xã hội Hậu quả mà nó gây ra có thể vượt quá khả năng khắc phục về mặt tài chính của bên mua hiểm, đồng thời gây ảnh hưởng đến tâm lý xã hội
Do đó pháp luật xác định các cơ quan đơn vị có đặc điểm là địa điểm tập trung đông người và khối lượng tài sản lớn như: Học viện, trường đại học, trường cao đẳng, trường trung cấp, trường dạy nghề, trường phổ thông và trung tâm giáo dục có khối lớp học có khối tích từ 5.000 m3 trở lên; nhà trẻ, trường mẫu giáo có từ 100 cháu trở lên; Bệnh viện tỉnh, Bộ, ngành; nhà điều dưỡng và các cơ sở y tế khám bệnh, chữa bệnh khác có quy
mô từ 21 giường trở lên; Trung tâm hội nghị, nhà hát, nhà văn hóa, rạp chiếu phim, rạp xiếc có sức chứa từ 300 chỗ ngồi trở lên; nhà thi đấu thể thao trong nhà có thiết kế từ
200 chỗ ngồi trở lên; sân vận động có sức chứa từ 5.000 chỗ ngồi trở lên; vũ trường, cơ
sở dịch vụ vui chơi giải trí đông người có khối tích từ 1.500 trở lên; công trình công cộng khác có khối tích từ 1.000 m3 trở lên là cơ sở có nguy hiểm cháy nổ và phải mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc3
Từ quy định riêng biệt về đối tượng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc phải là các cơ sở
có nguy hiểm về cháy, nổ do đó đối tượng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc có sự khác biệt
2 Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 23/2018/NĐ-CP ngày 23/2/2018 của Chính phủ quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc
3 Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng cháy và chữa cháy
Trang 4so với đối tượng của các loại hình bảo hiểm tài sản khác Đối tượng của bảo hiểm tài sản bao gồm vật hữu hình như tàu biển, xe máy, ô tô, nhà, công trình xây dựng ; tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ ) Tuy nhiên đối với bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc thì pháp luật quy định đối tượng bảo hiểm là các tài sản hữu hình (bởi chỉ có vật hữu hình thì mới có nguy cơ xảy ra thiệt hại do sự kiện cháy nổ) và gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở có nguy hiểm cháy,
nổ
Như đã đề cập, Nghị định số 23/2018/NĐ-CP quy định đối tượng bảo hiểm cháy,
nổ bắt buộc là toàn bộ tài sản của các cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ bao gồm: nhà, công trình và các tài sản gắn liền với nhà, công trình; máy móc, thiết bị; các loại hàng hóa, vật tư (bao gồm cả nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm) Ví dụ, theo nội dung bản án số số 1081/2016/KDTM-PT Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh của xác định: “Ngày 16/6/2010 Công ty Cổ phần Bibica ký hợp đồng bảo hiểm rủi ro mọi tài sản số C21/TSKT/15/15/10 với Tổng công ty bảo hiểm PVI thông qua đơn vị trực thuộc PVI là Công ty bảo hiểm PVI TP Hồ Chí Minh với nội dung bảo hiểm rủi ro cháy nổ bắt buộc cho văn phòng, nhà xưởng, kho máy móc thiết bị nguyên vật liệu, vật
tư, hàng hóa tại Nhà máy Bibica Bình Dương với thời hạn 01 năm với số tiển bảo hiểm
là 220 tỷ đồng4”.Từ quy định này có thể hiểu đối tượng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc là toàn bộ tài sản của cơ sở mà giá trị của nó tính được thành tiền Thực tiễn giao kết hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc thì giấy chứng nhận bảo hiểm cháy, nổ thường quy định số tiền bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc tối thiểu là giá trị tính thành tiền theo giá thị trường của toàn bộ tài sản của cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ tại thời điểm giao kết hợp đồng Trường hợp không xác định được giá thị trường của tài sản thì số tiền bảo hiểm do các bên thỏa thuận5
Tuy nhiên, pháp luật hiện hành cho phép ngoài việc tham gia bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc theo điều kiện, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu quy định thì bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) có thể thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm về mở rộng điều kiện bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tăng thêm và mức phí bảo hiểm
bổ sung tương ứng Trong trường hợp này, DNBH có trách nhiệm tách riêng phần bảo
4 Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh (2016), Bản án số 1081/2016/KDTM-PT ngày 16 tháng 9 năm 2016 về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
5 Tham khảo giấy chứng nhận bảo hiểm cháy nổ bắt buộc của Tổng công ty bảo hiểm PVI, PJICO Sài Gòn
Trang 5hiểm cháy, nổ bắt buộc trong hợp đồng bảo hiểm6 Do đó, trong thực tiễn các bên đã thỏa thuận về việc gia tăng số tiền bảo hiểm vượt quá mức tối thiểu theo quy định Ví
dụ, theo Bản án số 22/2017/KDTM-PT ngày 18/08/2017 về tranh chấp hợp đồng bảo
hiểm cháy nổ của Tòa án nhân dân Tỉnh Đồng Nai xác định: “Ngày 05 tháng 12 năm
2011, Công ty TNHH HB (gọi tắt là Công ty HB) và Công ty bảo hiểm ĐNB (gọi tắt là ĐNB) ký kết hợp đồng bảo hiểm cháy nổ, bắt buộc số C078/CHBB/20/08/2011 toàn
bộ nhà xưởng vật kiến trúc, máy móc và hàng hóa theo Quy tắc bảo hiểm cháy nổ, bắt buộc ban hành kèm theo Thông tư 220/2010/TT-BTC ngày 30/12/2010 của Bộ trưởng
Bộ tài chính và mở rộng rủi ro đặc biệt
- Giá trị tài sản được bảo hiểm: 16.697.640.538 đồng
- Số tiền bảo hiểm: 269.477.427.000 đồng
- Thời hạn bảo hiểm: 12 tháng kể từ 16 giờ 00 ngày 05 tháng 12 năm 2011 đến
16 giờ 00 ngày 05 tháng 12 năm 2012
- Phí bảo hiểm: 584.550.435 đồng7”
Thực tiễn hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã có trường hợp việc tham gia bảo hiểm cháy, nổ không chỉ là nghĩa vụ bắt buộc theo quy định của pháp luật mà đó là yêu cầu đơn phương của bên thứ ba trong giao dịch bảo đảm Ví dụ như bên nhận thế chấp yêu cầu bên thế chấp phải mua bảo hiểm cháy nổ đối với tài sản thế chấp thì mới chấp nhận giao kết hợp đồng Điều này xuất phát từ thực tiễn mặc dù bên thế chấp không phải là cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ (đối tượng phải tham gia bảo hiểm cháy
nổ bắt buộc theo quy định pháp luật), tuy nhiên để bảo đảm cho sự an toàn của tài sản thế chấp (bởi tài sản có giá trị lớn) trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng (điều này xuất phát từ việc nếu tài sản bị tổn thất, hư hỏng thì bên thế chấp không còn khả năng thu giữ tài sản để xử lý) do đó bên nhận thế chấp yêu cầu bên thế chấp phải mua bảo hiểm cháy, nổ đối với tài sản
Ví dụ, tại bản án số 70/2019/KDTM-PT ngày 10/07/2019 về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm của Tòa án nhân dân TP Hà Nội xác định: “Ngày 25/01/2017, Công ty
TNHH MTV M (Gọi là Công ty M) ký kết 01 Hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị số
6 Khoản 2, Điều 3 Nghị định số 23/2018/NĐ-CP ngày 23/2/2018 của Chính phủ quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc
7
Tòa án nhân dân Tỉnh Đồng Nai (2017), “Bản án số 22/2017/KDTM-PT ngày 18/08/2017 về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm cháy nổ “
Trang 623012.17.029.376650.BĐ với Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh B (Gọi là Ngân hàng Q) Các tài sản thế chấp bao gồm: 02 máy cắt giấy vệ sinh tự động, model DJ-III điều khiển bằng PLC mới 100%; 01 máy đóng gói quả giấy vệ sinh từ động, model
DCY-501 điều khiển bằng PLC mới 100%; 01 máy cắt giấy rút tự động bằng lưỡi cưa đĩa model DQ-100 điều khiển bằng PLC mới 100%; 01 máy đóng gói giấy rút tự động model RC-300B điều khiển bằng PLC mới 100%; 01 máy cuốn lõi giấy vệ sinh model CW160 mới 100% Các tài sản đảm bảo là lô máy móc thiết bị trong Hợp đồng thế chấp tại địa chỉ Khu phố T, phường Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh đã được Công ty Cổ phần Thẩm định giá M tiến hành thẩm định giá Tổng giá trị tài sản thế chấp được hai bên xác định là 4.456.373.000đ Ngân hàng Q đội yêu cầu Công ty M phải mua bảo hiểm cho tài sản thế chấp Đơn vị cung cấp dịch vụ bảo hiểm, loại hình bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm được Ngân hàng Q chấp thuận là Công ty Bảo hiểm M - Chi nhánh của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Q (Gọi là M BN) Ngày 24/01/2017, Công ty M ký kết Hợp đồng bảo hiểm cháy nổ bắt buộc và hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt số 619/17/HĐ-TS.1.1/020-KDTS với M BN và đã được M BN đã cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm cho Công ty M với tài sản được bảo hiểm theo danh mục đính kèm Hợp đồng Địa điểm tài sản được bảo hiểm theo Hợp đồng bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm là Cụm Công nghiệp P, phường P, TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh8”
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ đây không được gọi là bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc vì việc bên mua bảo hiểm tham gia bảo hiểm suy cho cùng cũng xuất phát từ mục đích cá nhân, không mang tính bảo vệ lợi ích công cộng Việc bên mua bảo hiểm không tham gia cũng không bị coi là hành vi vi phạm pháp luật, có hay không chỉ là sự vi phạm hoặc sự không đáp ứng được yêu cầu thỏa thuận của hai bên theo một giao dịch dân sự nào đó
2.2 Quy định về phí bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc
Khác với các loại hình bảo hiểm tài sản thông thường khi mà ở đó tùy thuộc vào từng đối tượng tài sản được bảo hiểm và khả năng tài chính của mình thì người mua bảo hiểm sẽ thỏa thuận với DNBH cung cấp các sản phẩm bảo hiểm tài sản, tương ứng với các
8
Tòa án nhân dân TP Hà Nội (2019), Bản án số 70/2019/KDTM-PT ngày 10/07/2019 về tranh chấp hợp đồng
bảo hiểm
Trang 7mức biểu phí khác nhau9 Phí bảo hiểm trong bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc do pháp luật quy định, theo đó pháp luật yêu cầu các bên thỏa thuận áp dụng mức phí tối thiểu tại Mục
I Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 23/2018/NĐ-CP ngày 23/2/2018 của Chính phủ quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc Tuy nhiên mức phí này chỉ là phí bảo hiểm tối thiểu (có nghĩa rằng các bên không được phép thỏa thuận áp dụng mức phí thấp hơn mức phí này), bởi pháp luật cho phép: Trên cơ sở mức phí bảo hiểm quy định tại điểm này, DNBH và bên mua bảo hiểm có thể thỏa thuận tăng mức phí bảo hiểm áp dụng đối với từng cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ căn cứ vào mức độ rủi ro của từng cơ sở và theo quy định pháp luật10
Như vậy, các bên trong bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc được phép thỏa thuận “tăng” mức phí bảo hiểm cao hơn mức phí tối thiểu theo quy định tại Mục I Phụ lục
II ban hành kèm theo Nghị định số 23/2018/NĐ-CP căn cứ vào mức độ rủi ro của từng cơ
sở có nguy hiểm cháy nổ
Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản, phí bảo hiểm thường tính theo tỉ lệ phần trăm trên giá trị tài sản bảo hiểm Tùy thuộc vào mức độ rủi ro của đối tượng bảo hiểm (tài sản bảo hiểm) mà tỉ lệ phần trăm này có thể cao hoặc thấp khác nhau Đồng thời, các bên có thể thỏa thuận về phương thức đóng khoản phí bảo hiểm hàng tháng, hàng quý (03 tháng); nửa năm (06 tháng), nộp phí bảo hiểm hàng năm, nộp phí bảo hiểm một lần Vì phí bảo hiểm được tính vào mức độ rủi ro của tài sản bảo hiểm nên khi có sự thay đổi những yêu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu DNBH giảm phí cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến tăng các rủi ro được bảo hiểm thì DNBH có quyền tính lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm11 Tuy nhiên, trong bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc khi có sự gia tăng rủi ro của cơ
sở cháy, nổ thì các bên có thể thỏa thuận tăng mức phí bảo hiểm cao hơn so với mức phí đã thỏa thuận trước đây Ngược lại, khi có yếu tố làm giảm rủi ro đối với đối tượng được bảo hiểm, thì các bên có thể thỏa thuận giảm mức phí bảo hiểm đã xác lập trước
đó, tuy nhiên các bên không được thỏa thuận thấp hơn mức phí bảo hiểm tối thiểu theo
9
Võ Thị Thu Thảo (2017), “Thực tiễn giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ từ tòa án”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh,
10 Khoản 1, Điều 7 Nghị định số 23/2018/NĐ-CP ngày 23/2/2018 của Chính phủ quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc
11
Bùi Thị Hằng Nga, Bạch Thị Nhã Nam (2018), Pháp luật kinh doanh bảo hiểm - Lý luận và thực tiễn, Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh,
Trang 8quy định của pháp luật Đây là điểm khác biệt về thỏa thuận “giảm phí bảo hiểm” giữa bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc và các loại hình bảo hiểm tài sản khác Đối với các loại bảo hiểm tài sản khác thì khi tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm tài sản vì nhiều lý do khác nhau mà DNBH tăng phí bảo hiểm, trong quá trình thực hiện hợp đồng những lý
do đó không còn mà bên mua vẫn phải đóng phí với mức giá cao thì bên mua bảo hiểm
có quyền yêu cầu doanh nghiệp giảm mức phí bảo hiểm tương ứng với mức độ rủi ro của tài sản được bảo hiểm12 Nghĩa là các bên được quyền thỏa thuận giảm mức phí đến khi phù hợp với đúng mức độ rủi ro của tài sản mà không phải chịu một mức tối thiểu nào
Như đã đề cập, phí bảo hiểm là căn cứ xác định thời điểm trách nhiệm bảo hiểm của DNBH trong hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc Theo quy định của Luật KDBH, trách nhiệm bảo hiểm của DNBH bắt đầu kể từ khi hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và bên mua bảo hiểm đã nộp phí bảo hiểm (trừ trường hợp DNBH chấp nhận cho bên mua bảo hiểm nợ phí bảo hiểm)13 Đây là yếu tố quyết định đến thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của DNBH14 Trên thực tiễn, trong quan hệ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc các bên thường thỏa thuận việc bên mua bảo hiểm hoàn thành việc đóng phí là cơ sở để phát sinh trách nhiệm bồi thường của DNBH
Ví dụ theo Bản án 154/2019/DSPT ngày 20/06/2019 của TAND TP Hà Nội về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm xác định: “Ngày 10/6/2016, bà Nguyễn Thị P đã ký Hợp đồng bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt (gọi tắt là Hợp đồng bảo hiểm) số: 00000159/HD/016- PKD6/TS.3.2/2016 với Công ty Bảo hiểm B Thăng Long thuộc Tổng
Công ty Cổ phần Bảo hiểm B, đối tượng bảo hiểm bao gồm: hàng hóa, nguyên vật liệu, nội thất, ghế sofa, nhà xưởng, máy móc thiết bị…(theo Danh mục tài sản đính kèm với Hợp đồng bảo hiểm) thuộc cơ sở sản xuất kinh doanh đồ gỗ nội thất Phúc Sinh (do bà P
làm chủ hộ kinh doanh) Theo Hợp đồng, điều kiện được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện cháy, nổ, số tiền được bảo hiểm là 15.000.000.000đồng, tổng phí bảo hiểm là 37.500.000đồng; thời hạn bảo hiểm từ 16h00‟ ngày 23/06/2016 đến 16h00‟ ngày 23/06/2017 Căn cứ vào các điều khoản trong Hợp đồng bảo hiểm mà Công ty Bảo hiểm
12 Ngô Bách (2020), “Quy định pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh
13 Điều 15 Luật KDBH năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010
14
Bạch Thị Nhã Nam (2019), “Rủi ro trong việc đóng phí của bên mua bảo hiểm và điều khoản miễn đóng phí trong hợp đồng bảo hiểm “, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, Số chuyên đề tháng 5, tr 16-21
Trang 9B Thăng Long và bà P thỏa thuận Tại Điều 3 của Hợp đồng các bên thỏa thuận về trách
nhiệm bồi thường: “Trách nhiệm bồi thường của bên B sẽ chỉ phát sinh với điều kiện bên
A thanh toán phí đầy đủ và đúng theo thời hạn quy định nêu trên15”
Dưới góc độ pháp lý, việc bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm (không thực hiện và/hoặc thực hiện không đầy đủ) trong hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc là căn cứ để chấm dứt hợp đồng Cụ thể, Khoản 2 và 3 Điều 23 Luật KDBH năm 2000 (sửa đổi bổ sung năm 2019) quy định: “Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
(i) Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm hoặc không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
(ii) Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm trong thời gian gia hạn đóng phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm”
Như vậy, từ quy định này có thể thấy việc bên mua bảo hiểm không đóng hoặc đóng không đủ khoản tiền phí bảo hiểm trong thời gian thỏa thuận kể cả khoảng thời gian được gia hạn thì hợp đồng bảo hiểm sẽ chấm dứt hiệu lực Vấn đề chấm dứt hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc trong trường hợp bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm có thể căn cứ trên thỏa thuận của các bên trong hợp đồng bảo hiểm hoặc theo quy định của pháp luật, nếu các bên không có thỏa thuận trong hợp đồng Tuy nhiên, cần lưu ý, các bên chỉ được phép sử dụng các căn cứ chấm dứt theo quy định của Luật KDBH năm 2000 (sửa đổi bổ sung năm 2019) để thỏa thuận về việc chấm dứt hợp đồng trong trường hợp bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm Thực tiễn thực hiện hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ cho thấy điều này16 Ví dụ, Bản án 154/2019/DSPT ngày 20/06/2019 về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm của TAND TP Hà Nội xác định: “Căn
cứ vào các điều, khoản trong Hợp đồng bảo hiểm mà Công ty Bảo hiểm B Thăng Long và
bà P thỏa thuận Tại Điều 3 của Hợp đồng các bên thỏa thuận: Trong trường hợp bất kỳ khoản phí bảo hiểm nào không được thanh toán đầy đủ cho bên B theo thời hạn thanh toán nêu trên thì hợp đồng bảo hiểm sẽ tự động chấm dứt trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”
15
Tòa án nhân dân TP Hà Nội (2019), Bản án 154/2019/DSPT ngày 20/06/2019 về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
16 Tham khảo Hợp đồng bảo hiểm cháy nổ bắt buộc của Tổng công ty bảo hiểm PJICO Sài Gòn
Trang 10Từ nội dung của Luật KDBH năm 2000 (sửa đổi bổ sung năm 2019) quy định về hậu quả pháp lý do chấm dứt hợp đồng bảo hiểm có thể rút ra những hậu quả pháp lý tương ứng khi chấm dứt hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc mà nguyên nhân phát sinh từ việc bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm Cụ thể như sau: Thứ nhất, Trong trường hợp chấm dứt hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc do bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm hoặc không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng đủ phí bảo hiểm đến thời điểm chấm dứt hợp đồng bảo hiểm17 Như vậy, mặc dù hợp đồng bảo hiểm đã chấm dứt nhưng bên mua bảo hiểm vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ số tiền phí bảo hiểm đã “nợ” cho DNBH được tính cho đến thời điểm chấm dứt hợp đồng
Thực tiễn hoạt động kinh doanh bảo hiểm cho thấy việc mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ thanh toán phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc có thể là căn cứ để DNBH từ chối thực hiện trách nhiệm bảo hiểm khi phát sinh sự kiện bảo hiểm Ví dụ theo Bản án số 22/2017/KDTM-PT ngày 18/08/2017 của Tòa án nhân dân Tỉnh Đồng Nai nhận định: “Theo mục 4.2 Điều 4.Thời hạn và phương thức thanh toán của hợp đồng số C078/CHBB/20/08/2011 ký ngày 05/12/2011, phí bảo hiểm được chia làm 4 kỳ thanh toán Theo thông báo thu phí bảo hiểm số TBTP 11/20/08/CBHH/PC00078 ngày 17/09/2012 thì thời hạn thanh toán phí bảo hiểm kỳ 4
là ngày 05/10/2012 Tuy nhiên, đến ngày 16/10/2012 quý Công ty mới thanh toán phí bảo hiểm kỳ 4, vi phạm nghĩa vụ nộp phí như quy định trong hợp đồng Do đó, căn cứ khoản 2 điều 23 LKDBH, hợp đồng bảo hiểm nói trên đã chấm dứt từ ngày 05/10/2012 và công ty bảo hiểm ĐNB không chịu trách nhiệm đối với vụ tổn thất xảy
ra ngày 17/10/2012 của quý Công ty, tuyên bố không thanh toán tiền bảo hiểm cho công ty HB18”
Thứ hai, Trong trường hợp chấm dứt hợp đồng bảo hiểm do bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm trong thời gian gia hạn đóng phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm thì DNBH vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trong thời gian gia hạn đóng phí,
17 Khoản 2, Điều 24 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi bổ sung năm 2010)
18
Tòa án nhân dân Tỉnh Đồng Nai (2017), “Bản án số 22/2017/KDTM-PT ngày 18/08/2017 về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ “