Trong phạm vi bài viết này, dưới góc độ quyền sở hữu trí tuệ tác giả sẽ làm rõ thực tiễn và những hạn chế trong quá trình thương mại hóa bài thuốc cổ truyền tại Việt Nam từ đó đề xuất các giải pháp để khai thác thương mại hóa bền vững loại hình tri thức truyền thống này. Mời các bạn tham khảo!
Trang 125 THƯƠNG MẠI HÓA BỀN VỮNG TRI THỨC TRUYỀN THỐNG ĐỐI VỚI BÀI
THUỐC CỔ TRUYỀN TẠI VIỆT NAM
THE SUSTAINABLE COMMERCIALIZATION OF TRADITIONAL KNOWLEDGE
FOR TRADITIONAL MEDICINE IN VIETNAM
Nguyễn Văn Phúc 1
TÓM TẮT: Xu hướng quay trở lại ứng dụng các bài thuốc cổ truyền cho việc chăm
sóc sức khỏe đang ngày càng được quan tâm trên phạm vi thế giới Tuy nhiên, tại Việt Nam nhiều bài thuốc cổ truyền là tri thức truyền thống của các dân tộc vẫn đang bị thất truyền và
chưa được khai thác tốt Bên cạnh đó, việc thương mại hóa thiếu “bền vững” đối với tri thức
truyền thống này đang đặt ra nhiều vấn đề pháp lý và chưa đảm bảo lợi ích cho cộng đồng nắm giữ tri thức và xã hội Trong phạm vi bài viết này, dưới góc độ quyền sở hữu trí tuệ tác giả sẽ làm rõ thực tiễn và những hạn chế trong quá trình thương mại hóa bài thuốc cổ truyền tại Việt Nam từ đó đề xuất các giải pháp để khai thác thương mại hóa bền vững loại hình tri
thức truyền thống này
Từ khóa: Tri thức truyền thống, bài thuốc cổ truyền, thương mại hóa bền vững, công
đồng
ABSTRACT: The globe is becoming increasingly interested in the trend of reverting to
the use of traditional medicines for health care However, in Vietnam, many traditional
medicines, which are ethnic groups' traditional knowledge, are still forgotten and
underutilized Furthermore, the unsustainable commercialization of traditional knowledge is causing a slew of legal issues and has yet to yield tangible advantages to the
knowledge-holding group and society Within the scope of this article, the author will clarify the practice and limitations in the commercialization of traditional remedies in Vietnam from the
standpoint of intellectual property rights, thereby proposing solutions for management and
long-term commercial exploitation of this type of traditional knowledge
Keywords: Traditional knowledge, traditional medicine, sustainable commercialization, community
1
ThS., Trường Kinh tế, Trường Đại học Duy Tân; Email: nguyenvanphuc11@duytan.edu.vn
Trang 21 Đặt vấn đề
Kiến thức truyền thống về y học cổ truyền đang nhận được sự quan tâm rất lớn từ các quốc gia trên thế giới trong việc ứng dụng và chăm sóc sức khỏe toàn cầu Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), có đến 80% dân số ở các nước đang phát triển vẫn dựa vào các bài thuốc thảo dược để chăm sóc sức khỏe cộng đồng và 1/4 số thuốc thống kê trong các toa thuốc đều có chứa hoạt chất thảo dược2 Với lợi thế về nguồn tri thức truyền thống đa dạng mang bản sắc của nhiều dân tộc, kết hợp với nguồn dược liệu tự nhiên phong phú, Việt Nam đang có thế mạnh rất lớn trong việc thương mại hóa những bài thuốc cổ truyền dân tộc
Tuy nhiên, việc thương mại hóa các tri thức truyền thống là bài thuốc cổ truyền dưới góc
độ quyền sở hữu trí tuệ đang phải đối mặt với nhiều hệ lụy từ việc mất cân bằng về lợi ích giữa chủ thể trực tiếp thương mại hóa bài thuốc cổ truyền với cộng đồng nắm giữ tri thức truyền thống; giữa khai thác thương mại các bài thuốc cổ truyền với việc bảo tồn và lưu giữ các bài thuốc quý Trong phạm vi bài viết này tác giả chỉ tập trung phân tích và làm rõ thực tiễn hoạt động thương mại hóa bài thuốc cổ truyền tại Việt Nam trên khía cạnh khai thác
“bền vững”, những vấn đề lý luận về “tri thức truyền thống” đối với bài thuốc cổ truyền tác giả đã đề cập đến trong một nghiên cứu khác3
2 Thực tiễn hoạt động thương mại hóa tri thức truyền thống đối với bài thuốc cổ truyền tại Việt Nam
Hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ đối với bài thuốc cổ truyền hiện nay
được hiểu đó là “việc khai thác giá trị của quyền sở hữu và quyền sử dụng các bài thuốc cổ truyền được bảo hộ trên cơ sở các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ nhằm tạo ra lợi nhuận”
Dưới góc độ tiếp cận của Luật sở hữu trí tuệ (Luật SHTT), các tri thức truyền thống là bài thuốc cổ truyền tại Việt Nam hiện nay được bảo hộ và khai thác thương mại hóa theo các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ như: sáng chế dược phẩm, nhãn hiệu các bài thuốc đông
y, giống cây trồng dược liệu hay thậm chí cả quyền tác giả, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh
2 WHO (2013) “WHO traditional medicine strategy: 2014-2023”.https://iris.wpro.who.int/handle/10665.1/11340 truy
cập ngày 10/06/2021
3
Nguyễn Văn Phúc, Đỗ Thị Diện (2020), Bàn về biện pháp bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với tri thức truyền thống bài thuốc cổ truyền tại Việt Nam, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn số 45, Tr 53
Trang 3doanh Trong mục này, để làm rõ thực tiễn bảo hộ và khai thác thương mại các bài thuốc
cổ truyền, tác giả tiếp cận thông qua ba đối tượng quyền sở hữu trí tuệ gồm: sáng chế, nhãn hiệu và giống cây trồng dược liệu
2.1 Thương mại hóa bài thuốc cổ truyền dưới dạng sáng chế
Đối với những sáng chế bài thuốc cổ truyền tại Việt Nam hiện nay, chủ yếu được cấp văn bằng bảo hộ theo phân loại sáng chế (IPC) thuộc phân lớp dược phẩm (A61K) tồn tại theo các nhóm: A61K35/70; A61K35/72; A61K35/78; A61K35/80; A61K35/82; A61K35/84; A61K36 có nguồn gốc y học cổ truyền Tuy nhiên, trên thực tế số lượng bằng sáng chế (Patent) được cấp cho đối tượng có nguồn gốc từ bài thuốc cổ truyền trong những năm trở lại đây còn khá khiêm tốn, cụ thể:
Bảng 2.1 Tổng số văn bằng bảo hộ bài thuốc cổ truyền được cấp theo nguồn gốc
người nộp đơn từ năm 2018 đến tháng 6 năm 2021 Năm
Số paten bài thuốc cổ truyền được cấp theo
nguồn gốc nộp đơn
(Nguồn: Tác giả thống kê từ danh mục bằng sáng chế của Cục SHTT công bố từ tháng 1
năm 2018 đến tháng 6 năm 2021)
Dựa trên cơ sở số liệu thống kê từ năm 2018 đến tháng 6 năm 2021, tại Việt Nam số lượng bằng sáng chế liên quan đến bài thuốc cổ truyền được cấp gồm 12 bằng sáng chế, trong đó hầu hết bằng sáng chế có nguồn gốc chủ đơn Việt Nam (10/12 patent) Ví dụ bằng
sáng chế số 1-0023239 ngày 25/2/2020 đối với “Hỗn hợp thảo dược, thuốc đông y chứa hỗn hợp thảo dược này và quy trình bào chế thuốc đông y này” của Công ty TNHH Trường
Minh Hoàng dùng để chữa bệnh về răng miệng và viêm xoang; hay bằng sáng chế số
1-0028503 cấp ngày 25/06/2021 đối với “Hợp chất vernoamyosit e và phương pháp chiết hợp chất này từ cây lá đắng vernonia amygdalina” của Viện Nghiên cứu khoa học Miền Trung
Trang 4(VN) được sử dụng trong các bài thuốc dân gian để điều trị bệnh đáo thái đường từ cây lá
đắng4
Tuy nhiên, số lượng bằng sáng chế so với tiềm năng thương mại hóa các bài thuốc cổ truyền tại Việt Nam vẫn còn chưa cân xứng xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: năng lực nghiên cứu và phát triển thuốc của chính cộng đồng năm giữ tri thức, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong nước còn khiêm tốn; các tập đoàn dược phẩm lớn trên thế giới lựa chọn đăng kí bảo hộ và khai thác thương mại bài thuốc cổ truyền dưới hình thức sáng chế dược phẩm (nhóm A61K9/00; A61K 9/20; A61K 31/565; A61K 31/56) trên cơ sở phát triển bài thuốc cổ truyền đến một giai đoạn nhất định trong phòng thí nghiệm rồi quay trở lại xin đăng ký mới dược phẩm tại Việt Nam5
Ngoài ra, lý do cản trở rất lớn cho việc đăng kí bảo hộ và thương mại hóa những sáng chế bài thuốc cổ truyền đó là những bài thuốc cổ truyền từ tri thức truyền thống không đảm bảo điều kiện về tính mới hoặc trình độ sáng tạo theo quy định tại Điều 60 và Điều 61 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2009 và 2019 Có thể lấy ví dụ đối với trường hợp đơn đăng kí
sáng chế số 1-2011-02872 cho các “Chế phẩm từ tinh nghệ” có tác dụng nâng cao khả năng
ngăn ngừa, hạn chế ung thư của tác giả Phạm Đình Tỵ, tuy nhiên sáng chế đã bị từ chối vào ngày 23/3/2015 vì qua thẩm định nội dung sáng chế không đảm bảo điều kiện về tính mới, cũng như trình độ sáng tạo bởi từ lâu nghệ vẫn được sử dụng trong các bài thuốc cổ truyền
để ngăn ngừa các bệnh ung thư đại tràng, hỗ trợ tiêu hóa; ngoài ra tinh chất nghệ curcumin
đã được đề cập trong các sáng chế ngừa ung thư trong nước và trên thế giới6
Để khắc phục những hạn chế về điều kiện cấp bằng độc quyền sáng chế, các chủ đơn thường lựa chọn hình thức đăng ký cấp bằng giải pháp hữu ích cho các sáng chế có nguồn gốc từ các bài thuốc cổ truyền, hay dược liệu truyền thống khi không đảm bảo điều kiện về trình độ sáng tạo theo quy định khoản 2 Điều 58 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2009 và
2019 Ví dụ như bằng độc quyền giải pháp hữu ích số 2-0001335-000 cấp ngày 29/12/2015
của Viện Dinh dưỡng (VN) đối với sáng chế “Hỗn hợp được chiết từ lá vối, lá ổi và lá sen
4 Cục sở hữu trí tuệ “Danh mục bằng sáng chế cấp trong tháng 02/2020 và tháng 6/2021”
https://www.ipvietnam.gov.vn/web/guest
5 Các sáng chế dược phẩm có nguồn gốc từ bài thuốc cổ truyền được phát triển đến giai đoạn nhất định và yêu cầu bảo
hộ tồn tại dưới các dạng sáng chế về dược điển hình sau: Các dấu hiệu thay thế nhau (bảo hộ dạng Markush); sáng chế lựa chọn; chất đa hình và chất đồng phân đối ảnh; muối, ete và este; chế phẩm, dược phẩm; liều dùng; tổ hợp; tiền dược chất; chất chuyển hóa; ứng dụng mới trong y tế
6
Cục sở hữu trí tuệ, Công báo sở hữu công nghiệp số 302 tập A (3/2015) và Thư viện số về sở hữu công nghiệp,
http://iplib.noip.gov.vn, truy cập ngày 10/8/2021
Trang 5dùng để hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường” những thảo dược được sử dụng phổ biến trong
các bài thuốc dân gian7
Việc bảo hộ sáng chế dược phẩm từ các bài thuốc cổ truyền có nguồn gốc từ tri thức truyền thống có ý nghĩa rất lớn không chỉ dưới góc độ bảo tồn mà còn có giá trị kinh tế từ việc chuyển giao sáng chế và kinh doanh các sản phẩm y học cổ truyền Tuy nhiên, vấn đề san sẻ quyền lợi sáng chế cho cộng đồng nắm giữ tri thức và khả năng nghiên cứu phát triển các sáng chế từ bài thuốc cổ truyền vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi
2.2 Thương mại hóa bài thuốc cổ truyền thông qua đối tượng nhãn hiệu
Hiện nay, việc thương mại hóa các bài thuốc cổ truyền tại Việt Nam dưới hình thức bảo
hộ nhãn hiệu thông qua việc đăng ký cho các sản phẩm thuộc nhóm 05 các chế phẩm dược,
y tế và thú y như các chế phẩm trị liệu dùng để tắm; chế phẩm để tắm dùng cho mục đích y tế; thuốc sắc dùng cho dược phẩm; nhóm 42 dịch vụ khám và chữa bệnh liên quan đến thuốc y học cổ truyền (Theo bản phân loại nhãn hiệu Ni-xơ) Một số nhãn hiệu thuốc cổ truyền rất nổi tiếng và thương mại hóa thành công trên thị trường hiện nay Ví dụ như: nhãn
hiệu số 4-0062270-000 cấp năm 2005 “Phuc Hung P/H PH Thuốc Ho , hình” cho sản phẩm
nhóm 5 thuốc y học cổ truyền của công ty Công ty TNHH Đông dược Phúc Hưng; Nhãn
hiệu số 4-0258631-000 cho sản phẩm thuốc đông y, rượu thuốc “Vua voi Ama Kông hình”
do con trai ông Ama Kông là Khăm Phết Lào đăng kí bảo hộ8
Tuy nhiên, bởi sự nổi tiếng và công dụng của những bài thuốc cổ truyền này nên trong quá trình thương mại hóa trên thị trường xuất hiện một số nhãn hiệu sử dụng những dấu hiệu gây nhầm lẫn hoặc tương tự về nguồn gốc xuất xứ nhằm thương mại hóa trái phép Tác giả xin được viện dẫn trường hợp đối với nhãn hiệu “Dao`Spa” liên quan đến bài thuốc tắm của người Dao Đỏ tại Sa Pa, đây là bài thuốc tắm nổi tiếng của đồng bào người Dao tại Sa
Pa, sản phẩm là sự phối kết hợp từ 10 đến 120 loại dược liệu khác nhau có tác dụng rất tốt cho phụ nữ sau sinh và chữa các bệnh xương khớp Bài thuốc tắm cổ truyền này đã được Công ty cổ phần kinh doanh các sản phẩm bản địa Sapa là doanh nghiệp cộng đồng của người Dao Đỏ tại xã Tả Phìn nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu vào ngày 16/05/2007 cho nhãn hiệu “Dao`Spa” thuộc nhóm 05 Chế phẩm dùng để tắm trị liệu y học và ngày
7Cục sở hữu trí tuệ, Công báo sở hữu công nghiệp số 272 (11/2010) và số 311 (02/2014), http://iplib.noip.gov.vn, truy
cập ngày 10/8/2021
8
Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam - Thư viện số về sở hữu công nghiệp http://iplib.noip.gov.vn, truy cập ngày 11/08/2021
Trang 617/11/2008 Cục SHTT cấp văn bằng bảo hộ số 4-0114012-000 Nhưng sau đó trên thị trường Công Ty TNHH Nông Dược Bản H Mông – SAPA đã nộp các đơn số 4-2010-03476 vào năm 2010 và 4-2011-27402 vào năm 2011 cho nhóm 05 các loại dược phẩm liên quan đến thuốc tắm của người Dao Đỏ Cụ thể:
Bảng 2.2 Các đơn đăng ký nhãn hiệu nộp tại Cục sở hữu trí tuệ liên quan đển bài
thuốc tắm của người Dao Đỏ, Sa Pa
Giấy chứng nhận nhãn
hiệu số 4-0114012-000
“DAO' SPA”
Cấp ngày 17/11/2008
cho Công ty cổ phần kinh
doanh các sản phẩm bản
địa Sapa
Đơn đăng ký nhãn hiệu số
4-2010-03476“SAPA GROUP Tắm Thuốc Dao Đỏ SAPA, hình” nộp đơn 25/02/2010 của
Công ty TNHH nông dược bản H'mong – Sapa
Đơn đăng ký nhãn hiệu số 4-2011-27402
“DAO' SPA” nộp đơn 21/12/2011 của Công ty TNHH nông dược bản H'mong – Sapa
Nguồn: Thư viện số về sở hữu công nghiệp – Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam
Cục sở hữu trí tuệ đã xem xét và ra các quyết định từ chối đối với 2 nhãn hiệu do Công
ty TNHH nông dược bản H'mong – Sapa đăng ký trên cơ sở viện dẫn các quy định tại Điều
74 khoản 2 điểm e Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2009 Bởi 2 nhãn hiệu này có dấu hiệu
bị trùng, tương tự và có thể gây nhầm lẫn cho cùng sản phẩm về nguồn gốc với nhãn hiệu
“Dao‟Spa” đã được đại diện cộng đồng nắm giữ tri thức là Công ty cổ phần kinh doanh các sản phẩm bản địa Sapa đăng ký bảo hộ
Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng ngay cả việc đã đăng kí bảo hộ đối tượng “nhãn hiệu” cũng không thể chống lại việc thương mại hóa bất hợp pháp đối với các bài thuốc cổ truyền trên thị trường, bởi bản chất của việc bảo hộ nhãn hiệu chỉ ngăn cấm các đối tượng khác sử dụng hình ảnh, từ ngữ hay biểu tưởng lên các sản phẩm Trên thực tế vẫn có rất nhiều sản phẩm thuốc cổ truyền của người Dao hay thuốc đông y AMAKONG bị lợi dụng danh tiếng, nhãn hiệu để trục lợi trên thị trường dược phẩm
2.3.Thương mại hóa bài thuốc cổ truyền đối tượng giống cây trồng dược liệu
Trang 7Với lợi thế về nguồn gen dược liệu phong phú, tại Việt Nam đã xác định được 3.830 loài cây dược liệu dùng làm thuốc, so với 35.000 loài cây làm thuốc trên toàn thế giới, số loài cây thuốc Việt Nam được biết đến chiếm khoảng 11%9 Đây là những nguồn nguyên liệu quý và thành phần chính của các bài thuốc cổ truyền do người dân bản địa sáng tạo trên
cơ sở kết hợp tri thức truyền thống bản địa để tạo nên Tuy nhiên, việc khai thác và thương mại hóa quá mức các nguồn dược liệu quý và sự đe dọa do nạn phá rừng, suy thoái môi trường đang làm số lượng cũng như chất lượng các dược liệu đang giảm sút nghiêm trọng, nhiều cây thuốc quý đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng ở tự nhiên như: cây kim tuyến, hoàng liên, sâm ngọc linh, sâm vũ diệp, bảy lá một hoa… Điều này đòi hỏi một cơ chế và giải pháp để bảo tồn và phát triển bền vững giống dược liệu quý
Hiện nay, việc bảo hộ các giống dược liệu tại Việt Nam được bảo hộ trên cơ sở nguồn
gen và cấp văn bằng bảo hộ đối với giống cây trồng theo quy định Luật SHTT Để đánh giá
được thực tiễn hoạt động bảo hộ giống cây trồng dược liệu tại Việt Nam, tác giả đã tham khảo số liệu thống kê tại Văn phòng bảo hộ giống cây trồng Việt Nam từ năm 2015 đến
2019, thể hiện qua biểu đồ cụ thể sau:
Biểu đồ 2.1 Tổng số bằng bảo hộ giống cây trồng dược liệu được cấp tại Việt Nam
giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019
Nguồn: Văn phòng bảo hộ giống cây trồng mới - Cục trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn
9 Báo điện tử tài nguyên và môi trường (2018), Bảo tồn phát triển nguồn gen dược liệu: Cần sự phối hợp liên Bộ,
https://baotainguyenmoitruong.vn/bao-ton-phat-trien-nguon-gen-duoc-lieu-can-su-phoi-hop-lien-bo248661.html, truy cập ngày 10/8/2021
Trang 8Trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019, tổng số văn bằng giống cây trồng dược liệu được cấp chỉ 22 văn bằng, tính trung bình mỗi năm có 4,4 bằng bảo hộ được cấp đây là một con số rất thấp và chênh lệch khá lớn so với các loài cây trồng được bảo hộ khác (với danh mục 107 loài được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông ban hành) Một số giống cây trồng dược liệu được đăng ký như: sâm tai trâu (Panax vietnamensis var fuscidiscus); thạch châu (Huperzia squarrosa); hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflora); sâm Ngọc Linh (Panax vietnamense Ha & Grushv)…
Từ hiện trạng thương mại hóa các dược liệu tự nhiên và số lượng giống cây trồng dược liệu được bảo hộ có thể nhận thấy tốc độ “chảy máu” nguồn dược liệu đang diễn ra nhanh hơn so với năng lực nghiên cứu và bảo tồn cây dược liệu Nhiều bài thuốc cổ truyền đang thất truyền vì không còn nguồn dược liệu, bên cạnh đó việc chia sẻ lợi ích, đền bù vật chất cho những cộng đồng nắm giữ tri thức truyền thống bảo tồn, phát hiện nguồn gen hoặc cung cấp nguồn dược liệu chưa được chú trọng hiệu quả
3 Một số rào cản trong thương mại hóa bền vững tri thức truyền thống đối với bài thuốc cổ truyền tại Việt Nam
Trên thực tiễn hoạt động bảo hộ và thương mại hóa bài thuốc cổ truyền tại Việt Nam có thể nhận thấy rằng, để thương mại hóa một cách “bền vững” vừa khai thác kinh tế, vừa bảo tồn và chia sẻ công bằng lợi ích cho chủ thể nắm giữ tri thức hiện nay đang vấp phải một số rào cản hạn chế sau đây:
Thứ nhất, thiếu những cơ chế đặc thù trong việc bảo hộ các đối tượng tri thức truyền
thống nói chung và bài thuốc cổ truyền nói riêng Có thể lấy ví dụ như đối với trường hợp đăng kí sáng chế, rõ ràng các quy định về điều kiện về tính mới, trình độ sáng tạo10 của sáng chế hầu như rất khó để một bài thuốc cổ truyền có thể đảm bảo vì đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng trong cộng đồng Hiện nay, chưa có một định nghĩa thống nhất về đối tượng và phạm vi bảo hộ của tri thức truyền thống trong Luật SHTT ngoài hướng dẫn tiếp cận ban đầu tại Điều 23 Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN về việc bổ sung nội dung đối với đơn đăng ký sáng chế liên quan đến tri thức truyền thống
Thứ hai, thiếu cơ sở dữ liệu để lưu trữ đồng bộ đối tượng tri thức truyền thống Điều
này có thể gây khó khăn rất lớn để xác định việc sử dụng một công thức, quy trình sản xuất
10
Điều 60 và Điều 61 Luật SHTT năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 và 2019
Trang 9dược phẩm được thương mại trên thị trường có được xem là xuất phát từ nguồn gốc tri thức truyền thống hay không? Bên cạnh đó, do thiếu dữ liệu lưu trữ và quản lý nên không có cơ
sở đề yêu cầu từ chối cấp bằng độc quyền các sáng chế và thương mại hóa trái phép dược phẩm tại các quốc gia phát triển trên thế giới (Hoa Kỳ, Châu Âu…) khi sử dụng các bài thuốc cổ truyền có nguồn gốc tại Việt Nam
Thứ ba, năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) tri thức truyền thống đối với bài thuốc
cổ truyền tại Việt Nam còn hạn chế Điều này tác giả đã phân tích rõ qua các số liệu đăng kí bảo hộ đối với sáng chế và giống cây trồng dược liệu tại Việt Nam, nguyên nhân chính xuất phát từ việc thiếu đầu tư về kinh phí và mối quan hệ giữa cộng đồng nắm giữ tri thức - nhà nghiên cứu – doanh nghiệp khi thương mại hóa ra thị trường
Thứ tư, thiếu công bằng trong việc chia sẻ lợi ích cộng đồng nắm giữ tri thức với chủ
thể trực tiếp thương mại hóa bài thuốc cổ truyền Hiện nay, việc chia sẻ quyền lợi với cộng đồng nắm giữ tri thức đang dựa trên sự thỏa thuận giữa đại diện cộng đồng với chủ thể đứng
ra thương mại hóa bài thuốc Tuy nhiên, cần xác định rõ cộng đồng nắm giữ tri thức truyền thống đóng vai trò gì trong quá trình thương mại hóa sản phẩm ra thị trường, tác giả của sáng chế, công trình nghiên cứu hay chủ sở hữu kết quả nghiên cứu
Thứ năm, cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ chưa phát huy hiệu quả Như đã trình bày
ở mục 2, mặc dù đã được bảo hộ dưới các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, nhưng trên thực
tế, rất nhiều bài thuốc tắm của người Dao Đỏ được bán không nhãn mác tại Sa Pa hay các bài thuốc cổ truyền chưa kiểm chứng về chất lượng nhưng vẫn được quảng cáo tràn lang trên mạng xã hội có nguồn gốc từ các bài thuốc cổ truyền của các dân tộc Vì vậy, đòi hỏi cần phải có những chế tài xử lý tăng sức răng đe và phải có biện pháp ở khâu thực thi quyền
sở hữu trí tuệ hiệu quả hơn
4 Một số giải pháp thúc đẩy thương mại hóa bền vững tri thức truyền thống đối với bài thuốc cổ truyền tại Việt Nam
Trên cơ sở những rào cản, hạn chế đặt ra từ việc thương mại hóa “bền vững” những giá trị tri thức truyền thống đối với bài thuốc cổ truyền, tác giả xin đưa ra một số khuyến nghị sau:
Thứ nhất, nghiên cứu và xây dựng một hệ thống bảo hộ riêng (sui generis) cho các
đối tượng đặc thù của tri thức truyền thống Hệ thống “sui generic” được áp dụng song song
Trang 10với các quy định Luật Sở hữu trí tuệ nhằm việc thiết lập một hệ thống bảo hộ riêng đối với tri thức truyền thống (bao gồm bài thuốc cổ truyền) trên cơ sở kết hợp của sở hữu trí tuệ, luật tục, sự chia sẻ lợi ích, điều khoản và thỏa thuận hợp đồng Dưới góc độ pháp lý quốc tế
hệ thống “sui generic” đã được đề cập trong Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) tại Điều 27 cũng như Hiệp định CPTPP Ngoài ra, Việt Nam có thể tham khảo mô hình đã được áp dụng thành công trong pháp luật một số quốc gia như Nam Phi, Peru, Panama, Ấn Độ11
Thứ hai, xây dựng cơ sở dữ liệu số về tri thức truyền thống, bao gồm cả bài thuốc cổ
truyền Xin được viện dẫn tham khảo mô hình của Ấn Độ, khi đã thành công trong việc xây dựng và áp dụng hệ thống Thư viện số tri thức truyền thống (Traditional Knowledge Digital Library - TKDL) từ năm 2001, đây là nơi lưu trữ của hơn 34 triệu trang thông tin định dạng trên 2.260.000 công thức các bài thuốc cổ truyền bằng tiếng Phạn (Sanskrit), tiếng Ả Rập, tiếng Ba Tư (Persian), tiếng Urdu và tiếng Tamil12 Ấn Độ đã ứng dụng TKDL để lưu trữ và làm căn cứ để phản đối các sáng chế dược phẩm được cấp trái phép tại các quốc gia trên thế giới có nguồn gốc từ các bài thuốc cổ truyền của mình13 Đây là một hình mẫu tham khảo cho Việt Nam trong việc áp dụng một nền tảng công nghệ có thể song hành với khuôn khổ pháp
lý để bảo hộ và thương mại hóa hiệu quả các tri thức truyền thống
Thứ ba, cần phân cấp quản lý tài sản tri thức truyền thống hiệu quả Để quản lý có hiệu
quả và đảm bảo việc cân bằng lợi ích giữa các chủ thể nắm giữ tri thức truyền thống, tác giả xin
đề xuất cụ thể mô hình phân cấp quản lí tri thức truyền thống sau: (i) Cấp quốc gia, áp dụng với các tri thức giao thoa giữa các cộng đồng dân tộc trong cả nước không có dấu hiệu đặc thù; (ii) Cấp cộng đồng, nhóm tri thức truyền thống này do các cộng đồng bản địa và các dân tộc phát triển (ví dụ: thuốc tắm người Dao đỏ…); (iii) Cấp cá nhân, gia đình, dòng họ, nhóm tri thức này được sáng tạo và lưu truyền trong gia đình, dòng họ và được xem như một tài sản được xác lập
và quản lý riêng (Ví dụ: bài thuốc AMAKONG)
Thứ tư, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) đảm bảo thương mại hóa
bài thuốc cổ truyền bền vững Cần có sự hợp tác giữa cộng đồng, tổ chức nắm giữ tri thức cùng
11
J Janewa OseiTutu (2011), Emerging Scholars Series: A Sui Generis Regime for Traditional Knowledge: The Cultural Divide in Intellectual Property Law, 15 MARQ I NTELLECTUAL P ROPERTY L R EV 147
12 WIPO (2011), About the Traditional Knowledge Digital Library, https://www.wipo.int/meetings/en /2011/wipo_tkdl_del_11/about_tkdl.html, truy cập ngày 20/7/2021
13
Ramesh Menon, Traditional knowledge receives a boost, http://indiatogether.org, truy cập ngày 05/08/2021