Tại nghiên cứu này, trên cơ sở phân tích nhận diện thực trạng, bài viết đề xuất giải pháp nhằm thiết kế một HTTT trên nền tảng số phục vụ cho hoạt động quản lý và khai thác sản phẩm OCOP gắn với phát triển du lịch (nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Quảng Ngãi). Mời các bạn tham khảo!
Trang 116 XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN HỖ TRỢ QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC SẢN PHẨM OCOP GẮN VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Ở VIỆT NAM (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI)
BUILDING AN INFORMATION SYSTEM TO SUPPORT THE MANAGEMENT
AND EXPLOITATION OF OCOP PRODUCTS ASSOCIATED
WITH TOURISM DEVELOPMENT
(CASE STUDY IN QUANG NGÃI PROVINCE)
Lê Tùng Sơn1
TÓM TẮT: Quản lý và khai thác sản phẩm OCOP nhằm phát huy tài sản trí tuệ
mang yếu tố địa danh ở địa phương có ý nghĩa quan trọng đối với thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nói chung và trong phát triển du lịch nói riêng Để đạt được mục tiêu này, việc xây dựng Hệ thống thông tin (HTTT) hỗ trợ công tác quản lý và khai thác sản phẩm OCOP gắn với phát triển du lịch là hết sức cần thiết Tại nghiên cứu này, trên cơ sở phân tích nhận diện thực trạng, bài viết đề xuất giải pháp nhằm thiết kế một HTTT trên nền tảng số phục vụ cho hoạt động quản lý và khai thác sản phẩm OCOP
gắn với phát triển du lịch (nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Quảng Ngãi)
Từ khóa: Hệ thống thông tin, Sở hữu trí tuệ, Quản lý, khai thác, Sản phẩm OCOP, phát
triển Du lịch
ABSTRACT : Managing and exploiting OCOP products in order to promote
intellectual property bearing local elements is important for promoting socio-economic development in general and in tourism development in particular To achieve this goal,
it is necessary to build an Information System to support the management and
exploitation of OCOP products associated with tourism development In this study, on the basis of analysis and identification of the current situation, the article proposes solutions to design an information system on a digital basis for the management and exploitation of OCOP products associated with tourism development case study in
Quang Ngai province)
Keyword: Information system, Intellectual property, Management,
exploitation, OCOP products, Tourism development
1 ThS., Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn; Email: tungson.ussh@gmail.com
Trang 21 Đặt vấn đề
Chương trình mỗi xã một sản phẩm (One commune one product) (sau đây gọi chung là Chương trình OCOP) được triển khai trong phạm vi cả nước kể từ năm 2018
2 Đến nay đã có 63/63 tỉnh/thành phố triển khai thực hiện chương trình, trong đó, 60/63 tỉnh/thành tổ chức đánh giá, xếp hạng sản phẩm, 4.733 /6.210 sản phẩm tham gia chương trình đạt 3 sao trở lên (chiếm 62.16%), hơn 2.596 chủ thể có sản phẩm được công nhận OCOP 3 Tại nhiều nơi, mô hình du lịch nông thôn, du lịch cộng đồng không chỉ góp phần thúc đẩy quảng bá du lịch thông qua các địa danh nổi tiếng, sản vật có thiên nhiên ưu đãi, mà còn giúp cho việc phát huy giá trị của tài sản trí tuệ mang yếu
tố địa danh địa phương
Chương trình OCOP được triển khai tại tỉnh Quảng Ngãi từ năm 20194
, với phạm
vi thực hiện 184 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, Sau gần 02 năm triển khai, đến nay, tại Quảng Ngãi có 31 sản phẩm OCOP, trong đó nấm linh chi và hàng thủ công mỹ nghệ từ vỏ quế được công nhận sản phẩm OCOP 4 sao, 29 sản phẩm đạt 03 sao trong đó phải kể đến như: gà kiến, gà đen, mắm cá niên của huyện Sơn Hà, nước mắm Mười Quý, nén Bình Phú của huyện Bình Sơn; Rau đền 3 màu, rau cải của huyện Tư Nghĩa; gạo sạch Ấn Trà, mạch nha Kim Hồng, tỏi đen Volnaco … Thông qua triển khai Chương trình OCOP, nhiều nông sản đặc trưng, chủ lực cốt lõi của các xã trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đến với thị trường
Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 5 đã xác định giải pháp về phát triển các sản phẩm du lịch trong đó tập trung nâng cao chất lượng thương hiệu các sản phẩm làng nghề, sản phẩm đặc trưng của tỉnh như: quế Trà Bồng, hành, tỏi Lý Sơn, don, cá bống Sơn Trà, đường phèn, đường phổi, kẹo gương…Để phát huy những thế mạnh hiện có nhằm phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn tại tỉnh Quảng Ngãi, vấn đề đặt ra đó là cần có sự liên kết giữa các tiềm năng, thế mạnh của địa phương Để có được sự liên kết này, đặt
ra yêu cầu cần thiết lập một HTTT hỗ trợ quản lý và khai thác các sản phẩm OCOP
2 Theo Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 07 tháng 5 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ
3 Nguyễn Minh Tiến (2021), Phát triển sản phẩm OCOP gắn với vai trò của Sở hữu trí tuệ và thúc đẩy chuyển đổi số, Kỷ yếu Hội thảo “Thúc đẩy chuyển đổi số và khai thác quyền sở hữu trí tuệ trong phát triển du lịch gắn với sản phẩm OCOP”, Bộ Khoa học và công nghệ, tr11
4 Theo Quyết định số 116/QĐ-UBND ngày 18 tháng 02 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về việc phê duyệt Đề án “mỗi xã một sản phẩm” tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2018-2020, định hướng đến năm 2030
5 Phê duyệt theo Quyết định số 20/QĐ-UBND ngày 21 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
Trang 3gắn với việc tuyên truyền, xúc tiến quảng bá phát triển du lịch đến với cộng đồng trong nước và quốc tế, qua đó thúc đẩy kinh tế du lịch trên nền tảng chuyển đổi số
Tại nghiên cứu này, trên cơ sở nhận diện hiện trạng HTTT hỗ trợ cho hoạt động quản lý và khai thác sản phẩm OCOP hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Quảng Ngãi), tác giả đề xuất các giải pháp nhằm thiết kế một mô hình HTTT phục vụ cho hoạt động quản lý và khai thác sản phẩm OCOP trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi gắn với phát triển du lịch, trên nền tảng chuyển đổi số
Nghiên cứu này trả lời cho câu hỏi: Hiện nay HTTT hỗ trợ cho hoạt động quản lý khai thác sản phẩm OCOP tại Việt Nam và tại tỉnh Quảng Ngãi như thế nào ? cần xây dựng Hệ thống này như thế nào để phát huy hiệu quả quản lý và khai thác sản phẩm OCOP gắn với phát triển du lịch?
2 Thực trạng hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý và khai thác sản phẩm OCOP gắn với phát triển du lịch ở Việt Nam (nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Quảng Ngãi)
2.1 Những nội dung cơ bản về hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý và khai thác sản phẩm OCOP gắn với phát triển du lịch
Hệ thống thông tin (information system) là một tập hợp những phần tử có mối liên
hệ tương tác thực hiện các nhiệm vụ thu thập, xử lý, tổ chức, lưu giữ, kết nối, phổ biến thông tin, dữ liệu và cung cấp cơ chế phản hồi nhằm đạt được một mục tiêu nhất định67
Trong nghiên cứu này, HTTT hỗ trợ quản lý khai thác sản phẩm OCOP gắn với phát triển du lịch được nhận diện: Đó là một hệ thống với phần tử là các cơ quan, tổ chức hay những thực thể thực hiện nhiệm vụ thu thập, xử lý, tổ chức, lưu giữ, kết nối, phổ biến thông tin, dữ liệu và cung cấp cơ chế phản hồi thông tin hướng đến mục tiêu quản lý và khai thác sản phẩm OCOP gắn với phát triển du lịch
Hệ thống này được cấu thành bởi các yếu tố cơ bản:
- Đầu vào (input): đó là các thông tin, dữ liệu dữ kiện liên quan đến các nội dung
(i) thông tin về các chương trình, định hướng phát triển sản phẩm OCOP toàn quốc, của từng tỉnh/thành, hệ thống các văn bản pháp quy, các thông tin hướng dẫn, các tài
6 Vũ Cao Đàm (2015), Lý thuyết Hệ thống, Viện Chính sách và quản lý, Hà Nội, tr14
7 Trần Thị Song Minh (2019), Giáo trình Hệ hống thông tin quản lý, NXB đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội,
tr28
Trang 4liệu có liên quan đến triển khai Chương trình gắn với những định hướng phát triển du lịch của Nhà nước; (ii) thông tin tổng quát về việc tổ chức triển khai Chương trình tại các tỉnh/thành về số lượng sản phẩm OCOP, số lượng chủ thể OCOP phân theo cả nước và từng tỉnh/thành; (iii) thông tin về chủ thể OCOP, sản phẩm OCOP cụ thể như:
cơ sở sản xuất, năng lực sản xuất, nguyên liệu, chất lượng sản phẩm, giá thành của sản phẩm…; (iv) thông tin về việc xác lập bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến các sản phẩm OCOP; (v) thông tin liên quan đến các địa danh, điểm du lịch, đặc điểm tình hình tự nhiên, xã hội, các di tích lịch sử, các di sản văn hóa gắn với nơi phát triển sản phẩm OCOP
- Xử lý (Processing) là quá trình chuyển đổi các thông tin, dữ liệu đầu vào thành
những thông tin đầu ra hữu ích phục vụ cho hoạt động quản lý và khai thác sản phẩm OCOP gắn với phát triển du lịch Quá trình này có thể bao gồm: các thao tác tính toán,
so sánh, lưu giữ dữ liệu, thông tin… Quá trình xử lý có thể được thực hiện thủ công hay sự trợ giúp của máy tính Kết quả của xử lý sẽ tạo ra các sản phẩm thông tin phục
vụ cho từng nhu cầu của từng nhóm đối tượng
- Đầu ra (output) là các thông tin, sản phẩm thông tin được tạo ra từ quá trình xử lý
thông tin phục vụ cho các nhóm đối tượng chuyên biệt với 02 mục tiêu: quản lý và khai thác sản phẩm OCOP gắn với phát triển du lịch Các loại thông tin đầu ra bao gồm: (i) thông tin phục vụ cho việc hoạch định chiến lược, chính sách, quy hoạch phát triển sản phẩm OCOP gắn với phát triển du lịch của từng địa phương; (ii) thông tin hỗ trợ cho việc tổ chức các hoạt động phát triển sản phẩm OCOP, thanh tra, kiểm tra, xử
lý những tồn tại khó khăn vướng mắc đối với sản phẩm OCOP, (iii) thông tin phục vụ cho việc đánh giá chất lượng sản phẩm, xếp hạng sản phẩm, xác lập và bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ liên quan đến các sản phẩm OCOP; (iv) khai thác sản phẩm OCOP bao gồm: thương mại hóa sản phẩm, xúc tiến quảng bá du lịch gắn với sản phẩm và gắn với các địa danh địa phương, điểm du lịch để cộng đồng biết đến
- Thông tin phản hồi (feedback): là những thông tin phát sinh từ đầu ra (output)
mang tính chất đánh giá chất lượng thông tin và quá trình xử lý của Hệ thống thông tin Thông tin phản hồi có thể xuất phát từ các nhà quản lý, các chủ thể OCOP đặc biệt
là khách hàng sử dụng sản phẩm OCOP, du khách sử dụng các sản phẩm du lịch…
Trang 5Như vậy, hệ thống thông tin cần được hình thành dựa trên nền tảng vận hành thống nhất, có tính liên kết cao từ trung ương đến địa phương và giữa các ngành, lĩnh vực: Nông nghiệp và phát triển nông thôn (liên quan trực tiếp đến việc quản lý và định hướng phát triển sản phẩm OCOP), khoa học và công nghệ (liên quan đến vấn đề xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với những sản phẩm OCOP), văn hóa, du lịch (liên quan đến việc phát triển sản phẩm gắn với xúc tiến quảng bá du lịch và phổ biến các giá trị văn hóa của địa phương), công thương (liên quan đến xúc tiến thương mại hóa sản phẩm)… Chính vì vậy, vấn đề đặt ra cần có sự liên kết thống nhất giữa các nhóm thông tin để tạo thành một Hệ thống hoàn chỉnh Mặt khác, Hệ thống này cần được xây dựng dựa trên cơ sở dữ liệu lớn, khả năng liên kết về thông tin giữa các lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, văn hóa, du lịch, sở hữu công nghiệp trên nền tảng chuyển đổi số
2.2 Thực trạng và đánh giá hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý và khai thác sản phẩm OCOP gắn với phát triển du lịch ở Việt Nam (nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Quảng Ngãi)
2.2.1 Thực trạng của hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý và khai thác sản phẩm OCOP gắn với Du lịch tại Việt Nam và phân tích trường hợp tại Quảng Ngãi
Cho đến nay, sau 03 năm triển khai Chương trình, nhằm thông tin, tuyên truyền về Chương trình, HTTT hỗ trợ quản lý và khai thác sản phẩm OCOP gắn với phát triển
du lịch bước đầu được hình thành từ Trung ương đến địa phương Trong nghiên cứu này, dưới tiếp cận từ góc độ người dụng, tác giả sử dụng phương pháp khảo sát phân tích tổng hợp nội dung thông tin hiện có trên internet để nhận diện thực trạng và đánh giá hoạt động của Hệ thống
Tiếp cận từ hệ thống thông tin đầu vào, với những nội dung thông tin liên quan đến quản lý và khai thác sản phẩm OCOP gắn với phát triển du lịch có thể nhận diện những yếu tố trong HTTT hỗ trợ quản lý và khai thác sản phẩm OCOP ở các khía cạnh như sau:
a) Trong phạm vi cả nước
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã xây dựng Hệ thống quản lý và giám sát sản phẩm OCOP quốc gia hệ thống được vận hành theo địa chỉ: ocopvietnam.gov.vn Đây là hệ thống quản lý dữ liệu thống nhất chương trình OCOP từ trung ương đến địa
Trang 6phương phục vụ cho công tác quản lý nhà nước, giám sát các sản phẩm sau khi được công nhận, hỗ trợ công tác xúc tiến thương mại và tra cứu thông tin sản phẩm OCOP đối với người tiêu dùng Các nội dung được đề cập trong Hệ thống này bao gồm sản phẩm và các số liệu thống kê Trong đó: (i) nội dung về sản phẩm được đề cập bao gồm các loại hình sản phẩm phân theo 06 lĩnh vực của OCOP, có sự phân hạng và phân theo tỉnh/thành, (ii) các số liệu thống kê về: số tỉnh/thành triển khai, sản phẩm đạt chuẩn, số lượng chủ thể OCOP và các sản phẩm 05 sao
Liên quan đến việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm OCOP, Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và công nghệ) đã xây dựng và đưa vào vận hành thư viện số
về sở hữu công nghiệp, phục vụ việc tra cứu các đơn yêu cầu bảo hộ và các đối tượng
đã được cấp văn bằng bảo hộ tại Việt Nam trong các lĩnh vực: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu, truy cập tại trang web: http://iplib.noip.gov.vn/WebUI/Wlogin.php Thông qua trang thông tin này, người sử dụng có thể nắm được tình trạng xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm OCOP Cùng với đó, vấn đề xúc tiến thương mại hóa sản phẩm cũng được chú trọng, trong
03 năm triển khai Chương trình OCOP, một số đơn vị đã ký kết hợp tác để đưa các sản phẩm OCOP lên các sàn thương mại điện tử như Postmart (đường dẫn: https://postmart.vn/) và Vỏ sò (đường dẫn: https://voso.vn/) Kết thúc năm 2020, tổng sản lượng các sản phẩm đặc sản nói chung chiếm 2/3 sản lượng đơn hàng phát sinh trên sàn Postmart trong đó có đến 65% là các đơn hàng sản phẩm OCOP8
HTTT hỗ trợ việc xúc tiến quảng bá du lịch cũng đã được Tổng cục Du lịch (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) nghiên cứu, đưa vào vận hành, cung cấp các thông tin liên quan đến đến chiến lược chính sách, hệ thống văn bản, thủ tục hành chính,; tin tức
về hoạt động du lịch ở Việt Nam, các địa danh, di tích,danh thắng, văn hóa, lễ hội, làng cổ, ẩm thực, kinh nghiệm phát triển du lịch tại các địa phương và các quốc gia trên thế giới; các cơ sở dữ liệu về về hoạt động xúc tiến du lịch, nhà hàng, các điểm mua sắm, hướng dẫn viên, cơ sở lưu trú, điểm đến, sản vật Việt Nam… Các thông tin này có thể truy cập tại các trang thông tin như: https://vietnamtourism.gov.vn/, https://dulichvn.org.vn: http://csdl.vietnamtourism.gov.vn/ , http://thongke.tourism.vn/ https://sanvatvietnam.vn/
8 https://ictnews.vietnamnet.vn/cuoc-song-so/dua-vao-hoat-dong-he-thong-quan-ly-giam-sat-san-pham-ocop-quoc-gia-281621.html, truy cập ngày 28/8/2021
Trang 7Ngoài ra, ngành du lịch còn phát triển các kênh thông tin thông qua mạng xã hội như Youtube, zalo, facebook và các ứng dụng trong thiết bị thông minh như App hướng dẫn du lịch Việt Nam, App Du lịch Việt Nam an toàn, Thẻ Việt-Một thẻ quốc gia… hỗ trợ trong việc xúc tiến phát triển du lịch Nhiều trang thông tin điện tử được các tổ chức tư nhân xây dựng nhằm xúc tiến quảng bá du lịch
b) Nghiên cứu trường hợp tại Quảng Ngãi
Việc thiết lập Hệ thống quản lý và khai thác sản phẩm OCOP gắn với phát triển du lịch bước đầu được thực hiện Tỉnh Quảng Ngãi đã thiết lập cổng thông tin điện tử Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới ở Quảng Ngãi: Nongthonmoi.quangngai.gov.vn, Cổng thông tin này cung cấp cho người dùng các thông tin có liên quan đến tiến độ thực hiện chương trình nông thôn mới, các mô hình điển hình… trong đó chuyên mục về Chương trình OCOP Việc thiết lập một trang thông tin chuyên biệt về Chương trình OCOP của tỉnh được thực hiện bởi một doanh nghiệp đó là do công ty TNHH thương mại và dịch vụ OCOP Quảng Ngãi phát triển với mục tiêu cung ứng các dịch vụ hỗ trợ cộng đồng về chuỗi sản phẩm truyền thống
có giá trị địa phương, thiết lập một mạng lưới các chủ thể OCOP trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, mang lại giá trị bền vững cho cộng đồng Thông qua trang thông tin ocopquangngai.com, các thông tin liên quan đến sản phẩm OCOP của tỉnh Quảng Ngãi phân theo 06 nhóm lĩnh vực được cung cấp, đi kèm với đó là thông tin về nơi sản xuất, giá thành, các mô tả sản phẩm và liên hệ với chủ thể OCOP
Hệ thống thông tin liên quan đến xúc tiến quảng bá du lịch tại Quảng Ngãi còn tương đối khiêm tốn, các thông tin liên quan đến các điểm du lịch, sản phẩm du lịch… được cung cấp thông qua các trang thông tin điện tử của các doanh nghiệp lữ hành như: công ty Cổ phần du lịch Quảng Ngãi theo đường dẫn: https://quangngaitourist.com.vn
Ngoài ra, cộng đồng có thể tiếp cận thông tin thông qua hệ thống thông tin khoa học và công nghệ, đặc biệt là thư viện khoa học tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi, với nguồn tài nguyên thông tin dồi dào khoảng 169.000 bản sách, 1,5 triệu tài nguyên thông tin dạng số9 là một trong những kênh thông tin quan trọng thúc đẩy hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch của tỉnh/thành
9 Nguồn số liệu: số liệu thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (lĩnh vực thư viện) năm 2020
Trang 82.2.2 Đánh giá HTTT hỗ trợ quản lý và khai thác sản phẩm OCOP gắn với Du lịch tại Việt Nam và phân tích trường hợp tại Quảng Ngãi
HTTT đã bước đầu được hình thành và là kênh thông tin hữu hiệu phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến việc triển khai thực hiện Chương trình, cũng như định hướng trong phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Thông qua HTTT này, đã tạo ra sự liên kết giữa Nhà nước, các chủ thể OCOP, người tiêu dùng trong việc thực hiện các mục tiêu mà Chương trình tạo ra, gắn với việc xúc tiến, quảng bá du lịch, đưa những tài sản trí tuệ gắn với địa danh đến với cộng đồng góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam đến với cộng đồng quốc tế
Tuy vậy, do bước đầu hình thành, vì vậy, Hệ thống này còn có nhiều hạn chế cần được khắc phục, có thể điểm qua:
(1) HTTT chưa mang tính liên kết, thống nhất
Như đã phân tích, Hệ thống này được vận hành dựa trên hoạt động của nhiều lĩnh vực khác nhau, tuy vậy cho đến nay còn manh mún, nhỏ lẻ, chưa có sự liên kết, tích hợp và bảo đảm sự thống nhất, được thể hiện ở các điểm:
- Thứ nhất, chưa có sự liên kết, kết nối thống nhất giữa Trung ương và địa phương
Nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Quảng Ngãi có thể thấy được, mặc dù,Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn đã xây dựng một hệ thống quản lý và giám sát sản phẩm OCOP quốc gia, tuy vậy, tại Quảng Ngãi, chưa hình thành một Hệ thống giám sát sản phẩm OCOP ở cấp tỉnh nhằm kết nối và cung cấp cơ sở dữ liệu cho Hệ thống này
- Thứ hai, chưa có sự liên kết giữa các HTTT của các ngành, lĩnh vực có liên quan,
qua nghiên cứu, tác giả nhận diện, cho đến nay chưa có sự liên kết kết nối giữa địa danh sản sinh ra sản phẩm OCOP gắn với việc thông tin xúc tiến, quảng bá du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng; chưa có sự liên kết giữa các thông tin về sản phẩm OCOP với các thông tin liên quan đến việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ gắn với địa danh (đối với các chủ thể OCOP đã đăng ký), chưa có sự liên kết giữa các sàn giao dịch, thương mại các sản phẩm OCOP với hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch…
(2) Cơ sở dữ liệu còn sơ sài, chưa bảo đảm cho việc hỗ trợ quản lý và khai thác sản phẩm OCOP gắn với phát triển du lịch
Trang 9Qua khảo sát nội dung đề cập tại các trang thông tin điện tử cung cấp các thông tin
về Chương trình OCOP gắn với phát triển du lịch, tác giả nhận diện nhiều nội dung thông tin chưa được cung cấp đầy đủ, trong đó phải kể đến các thông tin về sản phẩm OCOP của các tỉnh/thành như: văn bằng chứng nhận, hình ảnh sản xuất, nguồn gốc, sản phẩm, chủ thể OCOP; các thông tin hướng dẫn các chủ thể phát triển sản phẩm OCOP, các trang thông tin xúc tiến sản phẩm du lịch gắn với các sản vật của địa phương có hàm lượng thông tin sơ sài chưa có sự kết nối với việc quảng bá các sản phẩm OCOP gắn với các địa danh của các điểm du lịch10…nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Quảng Ngãi, cho đến nay, trong Cổng thông tin điện tử nông thôn mới của tỉnh Quảng Ngãi chưa có nội dung thông tin về Chương trình OCOP11, các nội dung thông tin liên quan đến Chương trình này chủ yếu được cung cấp thông qua trang thông tin của một doanh nghiệp xúc tiến hoạt động thương mại sản phẩm OCOP trên địa bàn
(3) Chưa có sự tương tác trong đánh giá chất lượng sản phẩm của người sử dụng
Xét cho cùng, người sử dụng sản phẩm OCOP mới là đối tượng quan trọng nhất cần hướng đến trong các hoạt động xúc tiến thương mại, phát triển thương hiệu cho các sản phẩm OCOP, chính vì vậy, hoạt động tương tác, đánh giá sản phẩm của người
sử dụng cũng là một trong những thước đo để đánh giá chất lượng và năng lực phát triển sản phẩm OCOP Tuy vậy, qua khảo sát, hệ thống đánh giá các sản phẩm này bước đầu được hình thành tại một số trang thông tin, tuy vậy, qua khảo sát hầu hết đều chưa có những phản hồi của người sử dụng, vì vậy chưa tạo ra cơ chế phản hồi thông tin trong Hệ thống do đó chưa hỗ trợ cho hoạt động quản lý và khai thác sản phẩm
3 Đề xuất mô hình thiết lập HTTT hỗ trợ quản lý và khai thác sản phẩm OCOP
gắn với phát triển du lịch tại Việt Nam
3.1 Quan điểm
Việc thiết lập HTTT hỗ trợ quản lý và khai thác sản phẩm OCOP được xây dựng hướng đến sự kết nối giữa Nhà nước-chủ thể OCOP các doanh nghiệp và người sử dụng trong đó: Nhà nước giữ vai trò là chủ thể kiến tạo, các chủ thể OCOP, tổ chức, cá nhân có liên quan, doanh nghiệp có vai trò trung tâm trong việc cung cấp nội dung thông tin, tham gia, hỗ trợ duy trì và phát triển hệ thống, người sử dụng sản phẩm
10 Tác giả thực hiện khảo sát tại trang: https://sanvatvietnam.vn/ truy cập ngày 28/8/2021
11 http://nongthonmoi.quangngai.gov.vn/g38-moi-xa-mot-san-pham.aspx truy cập ngày 28/8/2021
Trang 10OCOP, du khách trong và ngoài nước là nhóm mục tiêu, đối tượng hưởng thụ từ Hệ thống này
Hệ thống này cần được xây dựng dựa trên sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực, có tham gia thống nhất và phân cấp giữa Trung ương và địa phương trong việc thu thập, tạo lập, liên kết, chia sẻ cơ sở dữ liệu, từng bước hình thành dữ liệu lớn phục vụ cho các hoạt động quản lý và khai thác sản phẩm OCOP của các đối tượng có liên quan
Hệ thống này cần được xây dựng trên cơ sở kết nối và tích hợp những HTTT hiện
có trong các lĩnh vực từ đó hình thành một cổng thông tin điện tử hỗ trợ cho hoạt động quản lý và khai thác sản phẩm OCOP với dữ liệu lớn (bigdata) toàn diện trên nền tảng chuyển đổi số, bảo đảm khả năng truy cập và tự do tiếp cận, truy xuất nguồn gốc, giám sát, chứng thực của công tác quản lý nhà nước gắn với phát triển hệ thống thương mại điện tử và xúc tiến quảng bá du lịch
Ứng dụng các thành tựu của khoa học và công nghệ và chuyển đổi số như công nghệ QR Code (Quick Response Code) trong việc truy xuất nguồn gốc và gắn với giám sát chứng thực phục vụ quản lý sản phẩm OCOP, phát triển các app trên các thiết
bị thông minh, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử, thanh toán điện tử, hỗ trợ quảng
bá tiếp thị trên môi trường mạng gắn với các kênh trực tuyến như Zalo, tiki, sendo, voso, amazon…
3.2 Mô hình Hê thống thông tin hỗ trợ quản lý và khai thác sản phẩm OCOP