1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nêu hiểu biết về chi Ngân sách Nhà nước. Đánh giá tình hình chi Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020 và các biện pháp được Chính phủ thực hiện để giải quyết tình trạng Bội chi Ngân sách Nhà nước

19 117 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 248,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể phân loại chi NSNN theo các tiêu thức chủ yếu sau: 1.2.1 Theo nội dung của các khoản chi Theo tiêu thức này, các khoản chi NSNN bao gồm: - Chi đầu tư phát triển kinh tế: Đây là kh

Trang 1

BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN NHẬP MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

ĐỀ TÀI

NHÓM: 6

Lớp HP: 21209EFIN2811 Giảng viên: Lê Thanh Huyền

Nêu hiểu biết về chi Ngân sách Nhà nước Đánh giá tình hình chi Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020 và các biện pháp được Chính phủ thực hiện để giải quyết tình trạng Bội

chi Ngân sách Nhà nước

Trang 2

Hà Nội, tháng 10/2021

giá

Đỗ Phương Anh Nêu hiểu biết về chi Ngân sách Nhà nước C

Trần Nhật Anh Đánh giá các biện pháp được Chính phủ thực hiện đểgiải quyết tình trạng Bội chi Ngân sách Nhà nước C Nguyễn Thị Ngọc Ánh Đánh giá các biện pháp được Chính phủ thực hiện để

giải quyết tình trạng Bội chi Ngân sách Nhà nước A Lưu Gia Bình Đánh giá tình hình chi Ngân sách Nhà nước ở Việt Namgiai đoạn 2016 – 2020 B Nguyễn Kim Chi

(Bảo lưu) Đánh giá các biện pháp được Chính phủ thực hiện đểgiải quyết tình trạng Bội chi Ngân sách Nhà nước

Trịnh Linh Chi (NT) Tổng hợp, bổ sung, hoàn thiện bản word + power point;Thuyết trình. A Hoàng Văn Chỉnh

(Bảo lưu)

Đánh giá tình hình chi Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

giai đoạn 2016 – 2020

Nguyễn Thị Thu Cúc Đánh giá tình hình chi Ngân sách Nhà nước ở Việt Namgiai đoạn 2016 – 2020; Thuyết trình. A

Bùi Hồng Đăng Đánh giá các biện pháp được Chính phủ thực hiện để

giải quyết tình trạng Bội chi Ngân sách Nhà nước B Nguyễn Hoàng Đức Đánh giá tình hình chi Ngân sách Nhà nước ở Việt Namgiai đoạn 2016 – 2020 B

BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ

Danh mục từ viết tắt:

STT Ký hiệu chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Trang 3

Mục lục

Lời mở đầu 4

I: KHÁI QUÁT VỀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 4

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM: 4

1.2 PHÂN LOẠI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC: 5

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC: 7

1.4 CÁC NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC: 8

II: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 VÀ CÁC BIỆN PHÁP ĐƯỢC CHÍNH PHỦ THỰC HIỆN ĐỂ GIẢI QUYẾT TÌNH TRẠNG BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 9

2.1 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016 – 2020: 9

2.2 ĐÁNH GIÁ CÁC BIỆN PHÁP ĐƯỢC CHÍNH PHỦ THỰC HIỆN ĐỂ GIẢI QUYẾT TÌNH TRẠNG BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC: 11

2.2.1 Khái quát về bội chi Ngân sách Nhà nước: 11

2.2.2 Đánh giá các biện pháp được Chính phủ thực hiện để giải quyết tình trạng bội chi Ngân sách Nhà nước: 12

Trang 4

Lời mở đầu

Lịch sử phát triển kinh tế - xã hội cho thấy tài chính và tiền tệ ngày càng giữ vị trí và vai trò

quan trọng trong trật tự kinh tế của các quốc gia và của toàn thế giới, Tài chính và tiền tệ trở thành những dòng huyết mạch gắn kết, làm lưu hoạt và thúc đẩy sự phát triển mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Tuy nhiên, nếu sử dụng chúng không hợp lý thì cũng có thể trở thành tác nhân gây trì trệ và khủng hoảng kinh tế Do đó, việc nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - tài chính - tiền tệ để đúc rút thành những nền tảng lý thuyết nhằm soi tỏ thực tiễn và làm căn cứ định hưởng sử dụng hợp lý các công cụ tài chính, tiền tệ đã trở thành nhu cầu cần thiết và không

có giới hạn đối với các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và đổi với mọi chủ thể trong xã hội.

Trong bài thảo luận này, nhóm 6 thảo luận về đề tài: “Nêu hiểu biết về chi Ngân sách Nhà nước Đánh giá tình hình chi Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020 và các biện pháp được Chính phủ thực hiện để giải quyết tình trạng Bội chi Ngân sách Nhà nước”.

Trong quá trình thảo luận song song với việc học bộ môn Nhập môn tài chính tiền tệ, thời lượng học hạn hẹp cùng với việc học online đã ảnh hưởng không ít tới chất lượng làm việc nhóm

do đó bài thảo luận còn nhiều điều thiếu sót Nhóm 6 mong cô và các bạn xem xét, đóng góp ý kiến để bài thảo luận hoàn thiện hơn nữa.

I: KHÁI QUÁT VỀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.

1.1 Khái niệm, đặc điểm:

Chi Ngân sách Nhà nước là quá trình phân phối và sử dụng quỹ Ngân sách Nhà nước nhằm trang trải các chi phí cho bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng của Nhà nước về mọi mặt

Chi Ngân sách Nhà nước là sự phối hợp giữa hai quá trình phân phối và sử dụng quỹ Ngân sách Nhà nước Quá trình phân phối là quá trình cấp phát tiền từ NSNN để hình thành các loại quỹ gắn với các mục đích cụ thể trước khi đưa vào sử dụng Quá trình sử dụng là quá trình trực tiếp

chi dùng khoản tiền cấp phát từ Ngân sách không trải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng Chẳng hạn, việc chi dùng quỹ Ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản, hoặc các chương trình kinh tế mục tiêu cụ thể

Việc phân biệt hai quá trình này trong chi tiêu Ngân sách Nhà nước có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong nghiên cứu theo dõi sự vận động đặc thù của quỹ NSNN mà còn có ý nghĩa quan trọng trong quản lý Ngân sách Nhà nước

Trong mỗi chế độ xã hội, mỗi giai đoạn lịch sử, chi Ngân sách Nhà nước mang những nội dung kinh tế và cơ cấu khác nhau, song chúng đều có những đặc điểm chung như sau:

- Chi Ngân sách Nhà nước gắn với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước phải đảm đương trong thời kỳ Nhà nước với bộ máy càng lớn, đảm đương nhiều nhiệm vụ thì mức độ và phạm vi chi của Ngân sách Nhà nước càng lớn Tuy nhiên,

nguồn thu NSNN có thể huy động được trong từng thời kỳ là có hạn, điều này buộc Nhà nước

Trang 5

phải lựa chọn để xác định rõ phạm vi chi NSNN Nhà nước không thể bao cấp tràn lan mà phải tập trung nguồn tài chính vào những phạm vi nhất định và thực hiện những nhiệm vụ cụ thể của Nhà nước trong từng thời kỳ

- Chi NSNN gắn liền với quyền lực của Nhà nước Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước và là chủ thể duy nhất quyết định nội dung, cơ cấu và mức độ các khoản chi của Ngân sách Nhà nước trong từng thời kỳ Bởi vì cơ quan đó quyết định các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia, cơ quan đó thể hiện ý chí, nguyện vọng của toàn dân tộc Chính phủ là

cơ quan hành pháp, có nhiệm vụ tổ chức, quản lý, điều hành các khoản thu chi NSNN đã được Quốc hội phê chuẩn

- Hiệu quả chi của Ngân sách Nhà nước được xem xét trên tầm vĩ mô Điều đó có nghĩa là hiệu quả các khoản chi của Ngân sách Nhà nước phải được xem xét một cách toàn diện dựa trên cơ sở của việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, mà Nhà nước đã đề ra

- Các khoản chi của Ngân sách Nhà nước mang tính chất không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu Tính không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở chỗ là các ngành, các cấp, các tổ chức, cá nhân nhận được vốn, kinh phí, khoản hỗ trợ, từ Ngân sách Nhà nước cấp thì không phải ghi nợ và không phải hoàn trả lại một cách trực tiếp cho Ngân sách Mặt khác, không phải mọi khoản thu với mức độ, số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới các khoản chi của Ngân sách Nhà nước Đây là điểm khác biệt của chi NSNN với các việc cấp tín dụng, đóng bảo

hiểm, Tuy vậy, Nhà nước cũng có những khoản chi mang tính chất hoàn trả như việc cho vay

ưu đãi có hoàn trả gốc và lãi để giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo,

- Các khoản chi của Ngân sách Nhà nước là một bộ phận cấu thành luồng vận động tiền tệ trong nền kinh tế nên nó thường có những tác động đến sự vận động của các phạm trù giá trị khác như giá cả, tiền lương, lãi suất, tỷ giá hối đoái, Do đó, việc nhận thức rõ mối quan hệ này sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc kết hợp chặt chẽ giữa chính sách Ngân sách với chính sách tiền tệ, chính sách thu nhập, chính sách lãi suất, để thực hiện các mục tiêu của kinh tế vĩ mô (như tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát, tạo công ăn việc làm, ổn định giá cả, cân bằng cán cân thanh toán, )

1.2 Phân loại chi Ngân sách Nhà nước:

Phân loại chi NSNN được hiểu là việc sắp xếp các khoản chi NSNN thành các nhóm, loại nhất định theo những tiêu thức phù hợp nhằm phục vụ cho các mục đích quản lý Có thể phân loại chi NSNN theo các tiêu thức chủ yếu sau:

1.2.1 Theo nội dung của các khoản chi

Theo tiêu thức này, các khoản chi NSNN bao gồm:

- Chi đầu tư phát triển kinh tế: Đây là khoản chi quan trọng và thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi của Ngân sách Nhà nước Khoản chi này có tác dụng tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, làm tăng tổng sản phẩm quốc nội và tạo tiền đề để tái tạo và tăng nguồn thu NSNN Mặt khác, khoản chi này biểu hiện rõ vai trò của Nhà nước trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Khoản chi này được thực hiện dưới hình thức NSNN cấp vốn cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, dự án Nhà nước, chi cho các chương trình phát triển kinh tế mục tiêu, chi đầu tư vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, chi góp vốn vào các công ty, chi bổ sung quỹ dự trữ Nhà nước về vật tư, hàng hóa thiết yếu, tiền tệ,

- Chi phát triển sự nghiệp: Đây là khoản chi của NSNN nhằm phát triển các lĩnh vực sự nghiệp trong xã hội Khoản chi này thuộc lĩnh vực phi sản xuất vật chất, song nó đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của nền kinh tế - xã hội Bởi vì việc phát triển các sự nghiệp thực chất là phát triển về trí tuệ, thể chất, tinh thần, chăm sóc sức khỏe cho con người, Điều này sẽ

có tác dụng to lớn trong phát triển kinh tế và góp phần quan trọng tạo ra sự toàn diện và bền vững của xã hội Do vậy, các khoản chi này gián tiếp tác động đến quá trình tái sản xuất xã hội trong tương lai Xu hướng chung là khi nền kinh tế càng phát triển, xã hội càng văn minh thì tỷ trọng của khoản chi này sẽ ngày càng gia tăng trong cơ cấu chi của Ngân sách Nhà nước Các khoản chi NSNN cho phát triển sự nghiệp bao gồm chi cho sự nghiệp kinh tế; chi cho y tế, chăm

Trang 6

sóc sức khỏe cộng đồng; chi cho giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học; chi phát triển văn hóa, thể dục, thể thao Các khoản chi này thường được thực hiện dưới hình thức NSNN cấp kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản, trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật và cấp phát kinh phí hoạt động hàng năm cho các tổ chức sự nghiệp công lập

- Chi cho quản lý Nhà nước: Đây là khoản chi nhằm đảm bảo duy trì và cải tiến sự hoạt động của của bộ máy Nhà nước Khoản chi này được thực hiện dưới hình thức NSNN cấp kinh phí đầu tư

cơ sở vật chất (xây dựng trụ sở, văn phòng làm việc, ), trang bị phương tiện kỹ thuật (máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, phần mềm máy tính, ) và cấp kinh phí hoạt động hàng năm (chi lương cho cán bộ quản lý hành chính Nhà nước, chi hàng hóa thường xuyên của cơ quan quản lý Nhà nước, ) cho các cơ quan quản lý Nhà nước ở tất cả các cấp, các ngành, các khu vực Quy mô khoản chi này phụ thuộc vào quy mô bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ bộ máy đảm nhận trong từng thời kỳ Nhìn chung, khi xã hội càng phát triển, quy mô bộ máy Nhà nước sẽ càng gọn nhẹ thì tỷ trọng khoản chi này trong cơ cấu chi NSNN sẽ càng giảm

- Chi cho an ninh, quốc phòng: Là khoản chi cho xây dựng, duy trì và cải tiến sự hoạt động của các lực lượng an ninh, quốc phòng nhằm đảm bảo sức mạnh chuyên chính của Nhà nước, bảo vệ

tổ quốc và duy trì trật tự trị an cho xã hội Khoản chi này được thực hiện dưới hình thức NSNN cấp phát kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, trang bị phương tiện kỹ thuật và cấp kinh phí hoạt động hàng năm cho các đơn vị lực lượng cảnh sát, quân đội, trật tự an toàn xã hội Mức độ khoản chi này phụ thuộc vào tình hình chính trị, xã hội của đất nước trong từng thời kỳ

- Chi bảo đảm và phúc lợi xã hội: Là khoản chi nhằm đảm bảo và nâng cao đời sống về vật chất

và tinh thần cho dân cư, đặc biệt là tầng lớp người nghèo trong xã hội Khoản chi này được thực hiện dưới hình thức NSNN chi cho bảo hiểm xã hội (khi quỹ bảo hiểm xã hội bị mất cân đối), chi bảo đảm xã hội (trợ cấp NSNN cho các đối tượng chính sách xã hội như trợ cấp cho người già yếu, tàn tật, trẻ em mồ côi, thương bệnh binh, ) và chi cho cứu tế xã hội (trợ cấp NSNN cho người dân bị thiệt hại do hỏa hoạn, động đất, bão lụt, ) Chi NSNN cho phúc lợi và bảo đảm xã hội phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của từng nước và bản chất của chế độ xã hội Xu hướng chung là nền kinh tế càng phát triển, xã hội càng văn minh thì tỷ trọng khoản chi này ngày càng tăng

1.2.2 Theo mục đích chi

Theo tiêu thức trên, các khoản chi NSNN bao gồm:

- Chi cho tích lũy: Đây là các khoản chi NSNN nhằm mục đích làm tăng cơ sở vật chất và tiềm lực cho nền kinh tế, góp phần tăng trưởng kinh tế Thuộc loại hình chi tiêu này bao gồm các khoản chi NSNN cho đầu tư phát triển và một số khoản chi tích lũy khác

- Chi cho tiêu dùng: Là các khoản chi NSNN không nhằm mục đích trực tiếp tạo ra sản phẩm vật chất để tiêu dùng trong tương lai mà chỉ là tiêu dùng ở hiện tại Khoản chi này thường bao gồm chi cho hoạt động sự nghiệp, chi quản lý hành chính Nhà nước, chi quốc phòng, an ninh và một số khoản chi cho tiêu dùng khác

1.2.3 Theo thời hạn tác động của các khoản chi và phương thức quản lý:

Theo tiêu thức trên, chi NSNN bao gồm:

- Chi thường xuyên: Bao gồm các khoản chi nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của Nhà nước, khoản chi này thường mang tính chất chi cho tiêu dùng Về nguyên tắc, Nhà nước không được sử dụng toàn bộ số thu từ thuế, phí và lệ phí để chi thường xuyên, bởi lẽ NSNN phải dành một phần nguồn thu chủ yếu này cho đầu tư phát triển Các khoản chi thường xuyên của NSNN thông thường là chi tiền lương, tiền công cho cán bộ công chức Nhà nước, chi mua sắm hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho hoạt động của Nhà nước, chi chuyển giao thường xuyên

- Chi đầu tư phát triển: Bao gồm các khoản chi có tác dụng làm tăng cơ sở vật chất kỹ thuật của đất nước và góp phần tăng trưởng kinh tế Các khoản chi thường là chi cho đầu tư cơ sở hạ tầng, chi đầu tư vốn và hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp Nhà nước và chi NSNN cho các dự án, chương trình quốc gia

Trang 7

- Chi trả nợ và viện trợ: Chi trả nợ là các khoản chi nhằm thực hiện nghĩa vụ của Nhà nước trong việc trả nợ các khoản đã vay trong nước và nước ngoài dưới các hình thức khác nhau như phát hành công trái, trái phiếu Nhà nước, vay theo các hiệp định ký kết với nước ngoài, Chi viện trợ

là khoản chi của NSNN để viện trợ cho nước ngoài nhằm thực hiện nghĩa vụ quốc tế của Nhà nước

- Chi dự trữ: Là những khoản chi NSNN để hình thành và bổ sung các quỹ dự trữ vật tư, hàng hóa thiết yếu, ngoại tệ,

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chi Ngân sách Nhà nước:

Để đánh giá sự tích cực, tiến bộ Ngân sách của một quốc gia, người ta thường xem xét cơ cấu và nội dung thu chi của nó Nội dung, cơ cấu các khoản chi NSNN là sự phản ánh những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước đảm đương trong từng giai đoạn lịch sử

Cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước được hiểu là hệ thống các khoản chi Ngân sách bao gồm các khoản chi và tỷ trọng của nó Hệ thống này rất đa dạng phong phú và luôn biến động theo tình hình kinh tế, xã hội, chính trị Nội dung, cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước trong từng thời kỳ chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm:

- Bản chất chế độ xã hội: Chế độ xã hội quyết định đến bản chất, định hướng phát triển kinh tế - xã hội cũng như những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước, cho nên lẽ đương nhiên nội dung, cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước chịu sự ràng buộc của chế độ xã hội Các quốc gia có chế độ xã hội khác nhau thì nội dung, cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước cũng khác nhau Ở các nước phát triển, xã hội văn minh thì tỷ trọng chi Ngân sách cho các mục tiêu phúc lợi xã hội như giáo dục, đào tạo, y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, phúc lợi xã hội cao hơn các nước khác

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước Việt Nam trong những năm gần đây có sự chuyển biến theo xu hướng chung trên thế giới, tỷ trọng chi cho giáo dục và y tế ngày càng được nâng cao

- Sự phát triển của lực lượng sản xuất: Lực lượng sản xuất phát triển sẽ kéo theo đó là nhu cầu vốn để phát triển kinh tế tăng lên, khi đó, Nhà nước với vai trò là cơ quan quản lý vĩ mô nền kinh tế phải có trách nhiệm đáp ứng nhu cầu này, từ đó ảnh hưởng đến nội dung và cơ cấu chi NSNN Lực lượng sản xuất phát triển sẽ tác động làm tăng thu cho Ngân sách Nhà nước, tạo khả năng và điều kiện cho việc hình thành nội dung, cơ cấu chi phù hợp với nhu cầu phát triển Bên cạnh đó, sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội cũng đặt ra những yêu cầu thay đổi nội dung, cơ cấu chi NSNN trong từng thời kỳ

- Khả năng tích luỹ của nền kinh tế: Thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội thường được phân chia và sử dụng vào các mục đích tích lũy và tiêu dùng Khi khả năng tích luỹ trong nền kinh tế càng lớn thì khả năng chi đầu tư phát triển kinh tế càng cao Tuy nhiên, tỷ trọng đầu tư của Ngân sách Nhà nước cho phát triển kinh tế còn tuỳ thuộc ở khả năng tập trung nguồn tích luỹ vào Ngân sách Nhà nước và chính sách chi NSNN trong từng thời kỳ nhất

định.85

- Mô hình tổ chức bộ máy của Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ:

Với mỗi mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước khác nhau thì nhu cầu chi tiêu nhằm duy trì quyền lực chính trị của bộ máy đó cũng khác nhau Nhìn chung, bộ máy quản lý Nhà nước càng gọn nhẹ thì càng tiết kiệm được các khoản chi NSNN nhằm duy trì bộ máy đó

Trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, gắn với những nhiệm vụ cụ thể của Nhà nước về phát triển kinh tế, ổn định chính trị, giải quyết các vấn đề xã hội mà Nhà nước quyết định nội dung và cơ cấu chi cho phù hợp Nói cách khác, những nhiệm vụ cụ thể của Nhà nước trong mỗi thời kỳ sẽ quyết định đến nội dung chi và định hướng phân bổ chi tiêu NSNN

Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nội dung, cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước có

ý nghĩa quan trọng trong việc bố trí các khoản chi của Ngân sách Nhà nước một cách khách quan, phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong từng giai đoạn lịch sử của đất nước

Trang 8

1.4 Các nguyên tác tổ chức chi Ngân sách Nhà nước:

Chi Ngân sách Nhà nước là một mặt hoạt động cơ bản của Ngân sách Nhà nước, nó có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia Trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, nếu bố trí các khoản chi Ngân sách một cách tuỳ tiện, ngẫu hứng, thiếu sự phân tích hoàn cảnh cụ thể sẽ có những ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Do đó, việc tổ chức chi Ngân sách Nhà nước phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định, đó là:

 Dựa trên khả năng các nguồn thu có thể huy động được để bổ tri các khoản chi:

Nguyên tắc này đòi hỏi việc quyết định các khoản chi Ngân sách Nhà nước phải trên cơ

sở gắn chặt với nguồn thu thực tế có thể huy động được trong nền kinh tế Nói cách khác, mức

độ chi và cơ cấu các khoản chi Ngân sách phải được hoạch định dựa trên cơ sở các nguồn thu Ngân sách và khả năng tăng trưởng GDP của quốc gia Nếu vi phạm nguyên tắc này thì sẽ dẫn đến tình trạng bội chi Ngân sách quá lớn và để bù đắp bội chi, Nhà nước có thể phải gia tăng nợ Chính phủ hoặc phải tăng chi số phát hành tiền, từ đó ảnh hưởng xấu đến hệ số an toàn tài chính quốc gia hoặc đưa đến khả năng bùng nổ lạm phát, gây mất ổn định kinh tế vĩ mô

 Tiết kiệm và hiệu quả:

Các khoản chi Ngân sách Nhà nước thường mang tính bao cấp với khối lượng chi khá lớn nên để dẫn đến tình trạng buông lỏng quản lý, lâng phí, kém hiệu quả Do vậy, nguyên tắc này đòi hỏi các tổ chức, các đơn vị sử dụng nguồn kinh phí hay nguồn vốn của Ngân sách cấp phát cần phải nâng cao tinh thần trách nhiệm và đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả Để quán triệt nguyên tắc này trong việc sắp xếp, bố trí các khoản chi của Ngân sách Nhà nước thi cần phải xây dựng và hoàn thiện các định mức chi, tiêu chuẩn chi có căn cứ khoa học và thực tiễn, tổ chức các khoản chi theo các chương trình có mục tiêu Khi phê duyệt các khoản chi Ngân sách Nhà nước, cần phải xem xét kỹ chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức, đơn vị sử dụng vốn và kinh phí Ngân sách Nhà nước

 Tập trung có trọng điểm:

Nguyên tắc này đòi hỏi việc phân bổ các khoản chi Ngân sách phải căn cứ vào và ưu tiên cho các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trọng điểm của Nhà nước, tránh tình trạng đầu tư tràn lan, dàn trải, thiếu hiệu quả Điều này sẽ góp phần quan trọng để thực hiện thành công các chương trình, dự án lớn, trọng tâm của quốc gia, từ đỏ có tác động dây chuyền, thúc đẩy các ngành, các lĩnh vực phát triển Mặt khác, việc thực hiện đúng nguyên tắc này còn đảm bảo tính mục đích và khả năng tiết kiệm các khoản chi của Ngân sách

 Nhà nước và nhân dân cùng làm trong việc bố trí các khoản chi của Ngân sách Nhà nước, đặc biệt là các khoản chi mang tính chất phúc lợi xã hội:

Nguyên tắc này đòi hỏi khi quyết định các khoản chi Ngân sách cho một lĩnh vực nhất định cần phải cân nhắc khả năng huy động các nguồn lực khác để giảm nhẹ gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước, quán triệt nguyên tắc này không những giảm nhẹ các khoản chi tiêu của NSNN

mà còn nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi công dân trong xã hội, tăng cường sự giám sát của dân chúng đối với chỉ tiêu của Ngân sách Nhà nước

 Phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của các cấp chính quyền theo quy định của pháp luật để bố trí các khoản chi cho thích hợp:

Nguyên tắc này đòi hỏi phải căn cứ vào những nhiệm vụ cụ thể của các cấp chính quyền theo luật định để phân giao nhiệm vụ chi Ngân sách Nhà nước nhằm tránh việc bố trí các khoản chi chồng chéo, khó kiểm tra giám sát, đồng thời nâng cao trách nhiệm và tính chủ động của các cấp

 Kết hợp chặt chẽ các khoản chi Ngân sách Nhà nước với việc điều hành khối lượng tiền

tệ, lãi suất, tỷ giá hối đoái để tạo nên công cụ tổng hợp cùng tác động, thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô:

Trang 9

Chi Ngân sách Nhà nước thường được thực hiện với khối lượng lớn nên có tác động mạnh mẽ đến khối lượng tiền tệ trong lưu thông Do vậy, khi bố trí các khoản chi Ngân sách Nhà nước, cần phải phân tích những tác động của nó đến khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế, cũng như những ảnh hưởng đến diễn biến lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái, từ đó tạo nên công cụ tổng hợp nhằm điều tiết nền kinh tế và thực hiện thành công các mục tiêu kinh tế vĩ mô

II: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 VÀ CÁC BIỆN PHÁP ĐƯỢC CHÍNH PHỦ THỰC HIỆN ĐỂ GIẢI QUYẾT TÌNH TRẠNG BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.

2.1 Đánh giá tình hình chi Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020:

Trong giai 2016-2020, hoạt động chi NSNN tiếp tục hoàn thiện thể chế tăng cường hiệu quả phân bổ, quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính gắn với các mục tiêu kinh tế - xã hội và mục tiêu cơ cấu lại chi ngân sách, chi đầu tư công

Trong giai đoạn này, Quốc hội đã thông qua một số luật quan trọng như: Luật NSNN, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công; Luật Quản lý nợ công; Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Luật Đầu tư công Nhờ đó, công tác phân bổ, sử dụng nguồn lực công đã có nhiều đổi mới về phạm vi, thẩm quyền, phương thức thực hiện, tiêu chuẩn, chế độ, định mức, vấn đề công khai, minh bạch và nâng cao trách nhiệm giải trình

Đặc biệt, việc áp dụng các kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia, kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 và kế hoạch tài chính - NSNN 03 năm cuốn chiếu đã góp phần quản lý phân bổ nguồn lực trong phạm vi khả năng của nền kinh tế, gắn với các mục tiêu kinh tế - xã hội trung hạn, thực hiện các mục tiêu cơ cấu lại chi ngân sách, chi đầu tư công, cải thiện tính dự báo, tạo sự chủ động cho các đơn vị dự toán ngân sách, đơn vị sử dụng ngân sách; đẩy mạnh việc quản lý, sử dụng kinh phí NSNN theo phương thức khoán, đấu thầu, đặt hàng; tăng cường phân cấp, trao quyền tự chủ khuyến khích sử dụng nguồn lực phù hợp với đặc thù của các ngành, các cấp, đơn vị

Trong giai đoạn này, quy mô chi NSNN được kiểm soát trong phạm vi thu ngân sách và giảm dần mức bội chi; tỷ trọng chi NSNN bình quân khoảng 28% GDP (giai đoạn 2011-2015 là 29,5% GDP); ưu tiên thực hiện các chủ trương, định hướng lớn của Đảng và Nhà nước Đã cơ cấu lại một bước chi NSNN, tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triên ngay từ khâu dự toán từ mức 25,7% năm 2017 lên 26,9% năm 2020 (mục tiêu đề ra là 25-26%)

Cùng với đó, giảm dần tỷ trọng dự toán chi thường xuyên từ mức 64,9% tổng chi NSNN năm 2017 xuống dưới 64% năm 2020 theo đúng mục tiêu tại Nghị quyết số 25/2016/QH14 của Quốc hội, trong điều kiện hàng năm vẫn bố trí nguồn tăng lương cơ sở, lương hưu (đối tượng do NSNN bảo đảm) và trợ cấp người có công khoảng 7%, thực hiện các chính sách an sinh xã hội gắn với lương cơ sở tăng tương ứng, tăng chi an ninh, quốc phòng… Cụ thể:

Năm 2016:

Chi NSNN năm 2016 được thực hiện điều hành chặt chẽ, mặc dù có những thời điểm nguồn thu ngân sách tập trung chậm, nhưng vẫn đảm bảo theo đúng dự toán, đáp ứng yêu cầu triển khai thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị của các đơn vị sử dụng ngân sách Điều hành quản lý chặt chẽ nguồn dự phòng các cấp; tạm giữ lại 50% dự toán chi dự phòng ngân sách trung ương và ngân sách địa phương (đối với những địa phương dự kiến giảm thu) để chủ động xử lý khi nguồn thu NSNN giảm lớn

Trong năm 2016, KBNN đã phát hành được 281,75 nghìn tỷ đồng trái phiếu chính phủ trên thị trường, huy động 55 nghìn tỷ đồng từ bảo hiểm xã hội, giải ngân vốn vay ODA và vay

Trang 10

ưu đãi khoảng 1,9 tỷ USD, đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ chi ngân sách theo dự toán và đầu tư các chương trình, dự án

Năm 2017:

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2017 ước tính đạt 1.219,5 nghìn tỷ đồng, bằng 87,7% dự toán năm Trong đó, chi thường xuyên đạt 862,6 nghìn tỷ đồng, bằng 96,2%; chi trả nợ lãi 91 nghìn tỷ đồng, bằng 92% Riêng chi đầu tư phát triển đạt 259,5 nghìn tỷ đồng, bằng 72,6%dự toán năm (trong đó chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 254,5 nghìn tỷ đồng, bằng 72,3%) Chi trả nợ gốc từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2017 ước tính đạt 147,6 nghìn tỷ đồng, bằng 90,1% dự toán năm Trong bối cảnh cân đối ngân sách còn khó khăn, Uỷ ban Tài chính ngân sách đề nghị Chính phủ rà soát, cơ cấu lại một số khoản chi bảo đảm hợp lý, tiết kiệm Vốn đầu tư phải được bố trí theo đúng Luật Đầu tư công, Ngân sách Nhà nước, kế hoạch đầu tư công trung hạn và nguyên tắc định mức phân bổ theo Nghị quyết của Quốc hội

Năm 2018:

Chi NSNN, quyết toán 1.435.435.263 triệu đồng, bằng 94,2% (giảm 87.764.737 triệu đồng) so với dự toán, chủ yếu do một số khoản chi triển khai chậm nên bị hủy dự toán, hoặc chuyển nguồn sang năm sau theo quy định của Luật NSNN

Trong đó, chi đầu tư phát triển quyết toán 393.303.617 triệu đồng, bằng 97,9% so với dự toán, chủ yếu do chi từ nguồn vốn ngoài nước không đạt dự toán, và một số nội dung được chuyển nguồn sang năm sau giải ngân tiếp theo quy định của Luật Đầu tư công Số chi đầu tư phát triển chiếm 27,4% tổng chi NSNN, bằng 7,1% GDP

Chi phát triển sự nghiệp giáo dục, văn hóa, xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh; quản lý hành chính quyết toán 931.858.604 triệu đồng, bằng 95,6% so với dự toán, chiếm 64,9% tổng chi NSNN, tỷ trọng giảm so với mức 65,5% của năm 2017 Chi trả nợ lãi quyết toán 106.583.600 triệu đồng, giảm 5.934.400 triệu đồng so với dự toán

Nhiệm vụ chi NSNN năm 2018 đã được thực hiện theo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, HĐND các cấp, cơ bản đảm bảo kinh phí đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ chính trị, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ, xói lở bờ sông, bờ biển, hỗ trợ giống khôi phục sản xuất sau thiên tai, bảo đảm an sinh xã hội, chương trình hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng, công tác quốc phòng, an ninh quốc gia, an toàn xã hội Công tác quản lý, kiểm soát NSNN chặt chẽ theo quy định của Luật NSNN và nghị quyết của Quốc hội Các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp, điều hành dự toán NSNN từng bước có hiệu quả và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo nghị quyết của Quốc hội

Tuy nhiên, Bộ trưởng Bộ Tài chính cũng cho biết, tình trạng chi tiêu sai chế độ vẫn còn ở một số đơn vị Kiểm toán Nhà nước đã kiến nghị thu hồi khoản chi sai chế độ hàng trăm tỷ đồng Kho bạc Nhà nước phát hiện nhiều khoản chi không đúng định mức quy định, từ chối thanh toán

96 tỷ đồng Việc triển khai nhiệm vụ chi ngân sách ở một số bộ, cơ quan trung ương, địa phương còn chậm so với quy định, đặc biệt là mua sắm hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật về đấu thầu, nên chuyển nguồn sang năm sau thực hiện tiếp theo chế độ quy định

Về bội chi, quyết toán số bội chi NSNN là 153.110.403 triệu đồng, bằng 2,8% GDP (năm

2018 GDP thực hiện năm là 5.542.300 tỷ đồng), giảm 50.889.597 triệu đồng, tương đương 0,9% GDP, so với dự toán Quốc hội quyết định là 3,7% GDP

Năm 2019:

Chi NSNN, theo quy định của Luật NSNN, một số nhiệm vụ chi đang thực hiện dở dang

sẽ tiếp tục được thanh toán đến hết ngày 31/1/2020 (hết thời gian chỉnh lý quyết toán), có những nhiệm vụ được xem xét chuyển nguồn tiếp tục thực hiện trong năm 2020 Chi NSNN năm 2019 được quản lý chặt chẽ theo đúng dự toán và tiến độ thực hiện; tiếp tục cơ cấu lại chi NSNN, tăng

tỷ trọng chi đầu tư phát triển, giảm tỷ trọng chi thường xuyên, đồng thời cơ cấu lại chi trong từng

Ngày đăng: 17/11/2021, 08:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w