Các bên ý thức tình huống xung đột: Lãnh đạo Phòng Đào tạo báo cáo Ban giám hiệu nhà trường về tình huống xung đột có thể xảy ra căng thẳng dẫn đến kiện cáo nếu không giải quyết tình huố
Trang 11 Khái niệm nhu cầu:
Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu, hợp quy luật, đảm bảo cho sự tồn tại vàphát triển của cá nhân, nhóm, cộng đồng con người Con người không thể tồntại mà thiếu nhu cầu, trước hết là những nhu cầu vật chất tối thiểu như ăn, mặc,
ở, sinh hoạt, học tập, làm việc , nhu cầu tinh thần như công việc làm đảm bảo,được mọi người tôn trọng, đảm bảo an toàn cuộc sống, giao tiếp, hoạt động xãhội Sự thỏa mãn nhu cầu là động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân vàtập thể Nhu cầu quy định xu hướng lựa chọn ý nghĩa, tình cảm và ý chí của conngười
Theo A.G.Kôvaliôp: “Nhu cầu là sự đòi hỏi của các cá nhân và của các nhóm xã hội khác nhau muốn có những điều kiện nhất định để sống và phát triển”.
2 Vai trò và đặc điểm của nhu cầu:
2.1 Vai trò của nhu cầu: Nhu cầu là nguồn gốc, động lực thúc đẩy hoạtđộng
2.2 Đặc điểm của nhu cầu:
- Tính đối tượng: Được sản xuất ra trong hợp tác lao động
- Bản chất xã hội: Phương thức thỏa mãn
- Tính chu kỳ
- Tập hợp thành xu hướng nhân cách: Tính thứ bậc
Trang 23 Học thuyết về thứ bậc nhu cầu của A Maslow (1908 – 1966):
Học thuyết về thứ bậc của nhu cầu được A Maslow đưa ra năm 1943(Paul E Specter, 2000) Đây là một trong những học thuyết chính về nhu cầucủa con người A Maslow đã phân chia nhu cầu của con người thành 5 mức:
- Nhu cầu Sinh lý cơ bản;
- Nhu cầu An toàn;
- Nhu cầu Quan hệ xã hội;
- Nhu cầu Được kính trọng, ngưỡng mộ;
- Nhu cầu Thành đạt, phát huy bản ngã
Sơ đồ: Hệ thống thứ bậc của nhu cầu theo thuyết của A Maslow
a Mức thứ nhất - Nhu cầu Sinh lý cơ bản: Đây là những nhu cầu cơ bản
để con người duy trì sự tồn tại của mình Đó là các nhu cầu: ăn, uống, ở, ngủ,nghỉ, thỏa mãn tình dục, sức khỏe
b Mức thứ hai - Nhu cầu An toàn: Đó là nhu cầu được đảm bảo an toàn
về thân thể, tài sản, thức ăn, nhà ở, việc làm và môi trường làm việc
c Mức thứ ba - Nhu cầu Quan hệ xã hội: Đó là nhu cầu giao tiếp vớinhững người khác và mong muốn được người thừa nhận
Sinh lý cơ bản
An toànQuan hệ xã hội
Được kính trọng, ngưỡng mộ
Thành đạt, phát huy bản ngã
Trang 3d Mức thứ tư - Nhu cầu Được kính trọng, ngưỡng mộ: Khi cá nhân làthành viên của các nhóm xã hội, của tập thể, cá nhân muốn được những ngườikhác tôn trọng, được kính trọng, ngưỡng mộ, muốn có quyền lực, uy tín, vị thế,lòng tự tin trong tổ chức, trong tập thể.
g Mức thứ năm - Nhu cầu Thành đạt, phát huy bản ngã: Đó là những nhucầu muốn thể hiện khả năng cống hiến của mình cho tổ chức, cho tập thể Nhucầu này được xếp ở mức cao nhất
4 Hướng vận dụng tri thức về nhu cầu của con người vào công tác quản lý:
Với tư cách là nhà quản lý, chúng ta phải biết vận dụng tri thức về nhucầu của con người để tổ chức các hoạt động nhằm thõa mãn nhu cầu con ngườitrong tập thể như sau:
4.1 Phương diện nhu cầu:
Thực tiễn của hoạt động quản lý cho thấy, khi nhà quản lý nắm vững cácnội dung nhu cầu, độ rộng, cường độ, tính bền vững và tính hiện thực của nhucầu thì họ đã nắm được chìa khóa mở ra những tìm năng mới trong việc nângcao năng suất và chất lượng lao động Khi nhà quản lý coi nhẹ những hiểu biết
đó sẽ dẫn đến chổ thiếu tin tưởng vào khả năng sáng tạo của mọi người, việc tổchức triển khai công việc sinh động thay bằng những biện pháp mệnh lệnh hànhchính
4.2 Các mức độ nhu cầu của con người:
Khi tìm hiểu nhu cầu của những người thực hiện công việc, nhà quản lýcần phải biết được các mức độ của nhu cầu con người Ở mỗi cá nhân, mỗinhóm có những mức độ nhu cầu khác nhau và trong những thời điểm cụ thể thìnhà quản lý cần thỏa mãn những loại nhu cầu nhất định Nhà quản lý chỉ thúcđẩy được những người dưới quyền thực hiện hoàn thành nhiệm vụ được giaokhi nhà quản lý làm thỏa mãn được những nhu cầu mà người dưới quyền mongmuốn Công việc sẽ không hiệu quả cao khi nhà quản lý không đáp ứng đượcnhu cầu của người dưới quyền
Nhu cầu được phân loại thành: Những nhu cầu ở mức độ thấp – Nhu cầuvật chất và những nhu cầu ở mức độ cao – Nhu cầu tinh thần
Trang 4Các nhu cầu vật chất là những nhu cầu có trước và là nền tảng cho hoạtđộng sống của con người Các nhu cầu vật chất cơ bản nhất là ăn, mặc, ở
Các nhu cầu tinh thần cơ bản của con người bao gồm mong muốn cóđược công việc làm đảm bảo, có được địa vị trong xã hội, được mọi người chú
ý, tôn trọng, được đảm bảo an ninh, an toàn, có cơ hội thăng tiến, nhu cầu nhậnthức, giao tiếp, hoạt động xã hội v.v
Khi phân chia các thứ bậc của nhu cầu con người, A Maslow đã xem xétnhu cầu con người theo hình thái phân cấp và và sắp xếp chúng theo thứ tự tăngdần từ thấp đến cao: Nhu cầu Sinh lý cơ bản; Nhu cầu An toàn; Nhu cầu Quan
hệ xã hội; Nhu cầu Được kính trọng, ngưỡng mộ; Nhu cầu Thành đạt, phát huybản ngã
Những nhu cầu ở mức độ thấp như nhu cầu ăn, mặc, ở diễn ra trực tiếphơn, mạnh hơn các nhu cầu ở mức độ cao và các nhu cầu ở mức độ thấp diễn rasớm hơn các nhu cầu ở mức độ cao
Con người trước hết cần ăn, mặc, ở để tồn tại rồi sau mới đến khẳng địnhmình trong các quan hệ xã hội Đây là điều mà những nhà quản lý cần chú ý.Trong tổ chức tập thể, trước hết nhà quản lý cần quan tâm đến những nhu cầuthiết yếu nhất của những người thực thi công việc sau mới đến các nhu cầu khác
ở mức cao hơn Người Việt Nam có câu “Phú quý sinh lễ nghĩa”, điều đó cónghĩa là khi cuộc sống vật chất đã đầy đủ thì các nhu cầu tinh thần khác đượcphát triển Trước đây, đời sống kinh tế còn khó khăn do hậu quả chiến tranh đểlại, cán bộ công chức, thanh thiếu niên, các tầng lớp nhân dân không nghĩđến việc lựa chọn kiểu dáng, màu sắc, chất liệu của áo quần, không làm đầu tóc,sửa sang sắc đẹp, tập thể dục thẩm mỹ và khi đó nếu các dịch vụ này ra đờithì không tồn tại được Như vậy, khi đời sống vật chất và tinh thần của conngười được nâng cao thì những nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ có nhiều cơhội để đưa ra sản phẩm hàng hóa, các loại dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu củangười dân
4.3 Quá trình thỏa mãn nhu cầu là quá trình tạo cho nó một hình tháihoạt động:
Trang 5Tìm hiểu nhu cầu của cá nhân hay nhóm, tập thể thực hiện nhiệm vụcông việc, nhà quản lý cũng cần chú ý một khía cạnh khác nữa là nhu cầu phảnánh trạng thái chủ quan của con người, những mong muốn của con người trongthời điểm đó và nhu cầu có khả năng điều chỉnh suy nghĩ, tình cảm và hành vicủa các cá nhân hay nhóm Quá trình thỏa mãn các nhu cầu chính đáng của họ
sẽ thúc đẩy những người thực hiện nhiệm vụ làm việc tích cực hơn, hiệu quảhơn
4.4 Các quy luật cơ bản của nhu cầu:
Khi sự thõa mãn nhu cầu tồn tại được bão hòa, chúng sẽ bị hạ thấp tớimức chỉ còn là những điều kiện sống và điều kiện sống càng quen thuộc thì conngười càng ít chú ý tới
Khi tìm hiểu nhu cầu của người lao động, nhà quản lý cần nắm được quyluật tác động của nó Theo W.H Newman, quy luật tác động của nhu cầu là:
a Khi một nhu cầu nào đó được thỏa mãn thì nó không còn là động lực thúc đẩy hoạt động của con người nữa.
b Ở hầu hết mọi người đều có một hệ thống nhu cầu Khi nhu cầu này được thỏa mãn thì nhu cầu khác trở nên bức thiết hơn Con người không bao giờ thỏa mãn đầy đủ cả Sự mong muốn của con người là vô tận.
Nhà quản lý cần hiểu và nắm được quy luật vận động của nhu cầu để sửdụng chúng phục vụ cho hoạt động quản lý tổ chức của mình Điều này thể hiện
ở hai phạm vi:
- Ở phạm vi tổ chức do mình quản lý, nhà quản lý cần biết được ở mỗi cánhân và mỗi nhóm trong tổ chức, ở mỗi thời điểm có thể có nhiều nhu cầu cầnđược thỏa mãn Nhưng trong số các nhu cầu đó có một nhu cầu trở nên bứcthiết hơn mà chúng ta gọi là nhu cầu nỗi trội, việc thõa mãn nhu cầu này sẽ tạo
ra sự phấn khởi, an tâm và hứng thú trong hoạt động của những người dướiquyền Hiệu quả, chất lượng công việc của họ sẽ được nâng cao
Để hiểu được các nhu cầu của những người dưới quyền, đặc biệt là nhucầu nỗi trội của họ thì nhà quản lý cần phải sâu sát, lắng nghe ý kiến, tâm tưnguyện vọng của các thành viên trong tổ chức
Trang 6- Ở phạm vi xã hội, nhà quản lý nghiên cứu và nắm được nhu cầu củangười tiêu dùng sẽ biết được trong thời điểm hiện tại và trong thời gian đến cầnkinh doanh mặt hàng gì thì có thể tiêu thụ nhanh và có lãi trên thị trường tức làbiết được những nhu cầu nào đã và sắp bão hòa, nhu cầu nào mới xuất hiện vàchúng cần được thõa mãn.
Phần II: Mô tả một trường hợp xung đột trong đơn vị và nêu cách giải quyết trường hợp xung đột đó.
NỘI DUNG
1 Khái niệm xung đột:
Xung đột trong tập thể, nhóm xảy ra khi:
- Trong tập thể, nhóm có khác biệt ý kiến, lợi ích, quan điểm, ý tưởng bấtđồng, mâu thuẫn
- Khi các mâu thuẫn phá vỡ sự tác động qua lại bình thường, ảnh hưởngđến việc đạt mục đích chung
Ở đây cần xác định hai khái niệm cơ bản Đó là khái niệm mâu thuẫn vàkhái niệm xung đột Mâu thuẫn là ở mức độ thấp và xung đột ở mức độ caohơn
Phân tích về xung đột ta thấy có hai loại hình thức xung đột cơ bản:
- Xung đột thực: Hướng đến để đạt kết quả thực sự nào đó
- Xung đột ảo: Không hướng đến để đạt kết quả thực sự nào Đây là loạixung đột khó giải quyết; muốn giải quyết phải nâng cao văn hóa, tạo không khítâm lý ấm áp
2 Mô tả một trường hợp xung đột xảy ra trong đơn vị:
2.1 Diễn biến xung đột:
a Xuất hiện tình huống xung đột: “Sáng thứ hai đầu tuần, có một người đàn ông với vẻ mặt đằng đằng sát khí đến Phòng Đào tạo Trường Cao đẳng Điện lực miền Trung yêu cầu giải quyết vụ việc sinh viên của nhà trường đã dụ
Trang 7dỗ con gái chưa đến tuổi vị thành niên của ông ta đưa đi đâu mấy ngày nay chưa về Yêu cầu nhà trường can thiệp với sinh viên trả lại ngay con gái cho ông ta, nếu không ông ta sẽ kiện ra tòa án”.
b Các bên ý thức tình huống xung đột: Lãnh đạo Phòng Đào tạo báo cáo Ban giám hiệu nhà trường về tình huống xung đột có thể xảy ra căng thẳng dẫn đến kiện cáo nếu không giải quyết tình huống mâu thuẩn giữa người đàn ông là cha của cô gái đã bị sinh viên nhà trường dụ dỗ như lời người đàn ông yêu cầu giải quyết.
Lãnh đạo nhà trường, giáo viên, cán bộ công chức trong trường lo lắng, xôn xao.
c Phân tích về xung đột: Đây là loại xung đột có thể là thực, có hành viphi đạo đức, vi phạm pháp luật của sinh viên nếu sự thực đúng như yêu cầu củangười đàn ông nọ
3 Cách giải quyết trường hợp xung đột:
3.1 Nguyên tắc giải quyết:
Công tác giáo dục và quản lý học sinh sinh viên (HSSV) trong trường làchức năng, nhiệm vụ của Phòng Công tác HSSV Được thông báo của Bangiám hiệu, lãnh đạo Phòng Công tác HSSV đến Phòng Đào tạo mời người đànông đó về Phòng Công tác HSSV để giải quyết
3.2 Hướng giải quyết:
a Tìm hiểu nguyên nhân:
Để tìm hiểu nguyên nhân, trước hết lãnh đạo Phòng Công tác HSSV mờingười đàn ông đó về Phòng Công tác HSSV, tìm hiểu ông ta tên gì, ở đâu, congái ông ta tên gì, chưa đến tuổi vị thành niên nhưng còn đi học phổ thông haylàm gì, nếu còn học, học lớp mấy, trường nào, quen với thanh niên dẫn đi làmsao biết thanh niên đó là sinh viên nhà trường, nếu là sinh viên nhà trường thìtên gì, học lớp nào và đề nghị ông ta bình tĩnh trình bày cụ thể vấn đề, sự việcdiễn ra như thế nào, cung cấp đầy đủ thông tin theo yêu cầu của lãnh đạo PhòngCông tác HSSV (lãnh đạo Phòng Công tác HSSV ghi chép từng chi tiết của vấn
đề cụ thể)
Trang 8Người đàn ông đó trình bày với lãnh đạo Phòng Công tác HSSV như sau:
“Ông ta tên là Kiều Văn A, hiện ở tại số nhà 113 đường Cửa Đại, Phường Cẩm Châu, Thành phố Hội An, con gái tên là Kiều Thị B, hiện đang theo học lớp 11/3 Trường Trung học Phổ thông Bán công Nguyễn Trãi, Thành Phố Hội An Con gái ông ta có quen với một sinh viên của trường tên là Nguyễn Văn B, học lớp K21Cn1 Sáng thứ bảy vừa qua, sinh viên Nguyễn Văn C đã dụ dỗ con gái của ông ta đi qua đêm đến nay là thứ hai, đã hai đêm rồi chưa về, yêu cầu nhà trường giải quyết nếu không sẽ làm đơn kiện ra tòa án”.
a Giới hạn, phân tách những người tham gia vào xung đột:
Xung đột ở đây là mâu thuẩn giữa các đối tượng tham gia có thể phânnhóm như sau:
Nhóm 1: Người đàn ông (cha cô gái) đại diện gia đình và cô gái
Nhóm 2: Một em nam là sinh viên của nhà trường và đại diện nhà trường.Nếu giới hạn lại ở đây thì chỉ còn hai đối tượng: Người đàn ông (cha côgái) và đại diện nhà trường
b Phân tích xung đột:
Nếu tình huống vấn đề đúng như khiếu nại, yêu cầu của người đàn ôngthì em sinh viên của nhà trường có hành vi phi đạo đức, vi phạm pháp luật sẽphải truy tố trước pháp luật đồng thời cũng phản ảnh thực trạng công tác giáodục và quản lý HSSV còn hạn chế, bất cập, chưa sâu sát đến HSSV về vấn đềgiáo dục thường thức pháp luật nên để HSSV vi phạm như vậy, tuy nhiên vấn
đề ở đây còn một số nguyên nhân mà lãnh đạo Phòng Công tác HSSV cần phảitìm hiểu thêm một số chi tiết quan trọng như sau:
1 Kiểm tra lại thông tin cá nhân của sinh viên (tên, lớp) có đúng như ông
ta cung cấp không Nếu đúng, tìm hiểu thêm thông tin cá nhân của em về hộkhẩu, gia đình, kết quả học tập, rèn luyện trên Website nhà trường và kiểm tralại sinh viên đó ngày hôm nay có học không
2 Đặt vấn đề:
+ Vấn đề 1: Tại sao ông ta biết là em sinh viên Nguyễn Văn C dụ dỗ dẫncon gái ông ta đi ?; liệu ông ta có biết dẫn đi đâu không ?
Trang 9+ Vấn đề 2: Biết em sinh viên Nguyễn Văn C dẫn, tại sao để cho con gái
để chuẩn bị tuần sau thực tập sản xuất tại Điện lực Tam kỳ, Tỉnh Quảng Nam(khả năng về từ thứ bảy là đúng vì thi xong học kỳ là thứ năm); lãnh đạo PhòngCông tác HSSV thông báo ngay cho ông ta biết về kết quả học tập, rèn luyệncủa sinh viên Nguyễn Văn C như vậy và tạm đưa ra kết luận chủ quan theobệnh nghề nghiệp:
“Với kết quả học tập, rèn luyện của em sinh viên Nguyễn Văn C như vậy, khả năng dụ dỗ của em sinh viên này với con gái bác là khó có thể xảy ra”;
đồng thời Lãnh đạo Phòng Công tác HSSV cũng nêu ngay câu hỏi đặt từng vấn
đề như đã nêu trên:
+ Câu hỏi của vấn đề 1:
“Tại sao bác biết là em sinh viên Nguyễn Văn C dụ dỗ dẫn con gái bác đi?, liệu bác có biết dẫn đi đâu không ?”.
Người đàn ông đó trả lời ngay “Thầy không tin hả, không tin thì tôi điện thoại hỏi con gái tôi là biết ngay”.
Nói xong, người đàn ông đó rút điện thoại di động ra bấm
Lãnh đạo Phòng Công tác HSSV không nêu tiếp vấn đề 2, 3 nữa mà nhạybén chuyển sang yêu cầu khác theo tình huống thay đổi bất ngờ:
“Bác bảo con gái bác chuyển điện thoại cho em Nguyễn Văn C có thầy giáo cần gặp gấp”.
Người đàn ông thực hiện theo yêu cầu và Lãnh đạo Phòng Công tácHSSV giải quyết tình huống bằng biện pháp quyền lực hành chính của mình
Trang 10ngay sau khi người đàn ông giao điện thoại qua và bật loa điện thoại di động lêncho người cha cùng nghe:
“Thầy là đây, có phải Em là Nguyễn Văn C, sinh viên lớp K21Cn1 không?”
“Vâng, em chào thầy”
“Em đã về nhà chưa ?, hiện nay em đang làm gì và ở đâu cùng với em B”
“Dạ thưa thầy, em đã về nhà và có mời em gái kết nghĩa tên là Kiều Thị
B về nhà chơi và hiện đang dẫn em B lên Khu du lịch sinh thái Phú Ninh tham quan”.
“Em đã xin phép bố mẹ em B chưa, em có biết việc em dẫn em B đi như vậy là làm gia đình em B lo lắng, bố em B hiện nay đang đến trường khiếu nại
là em dụ dỗ con gái chưa đủ tuổi thành niên đi khỏi nhà 2 đêm rồi không ?, Việc làm của em nếu bị khiếu nại, tố cáo sẽ dẫn đến em bị đình chỉ thực tập để giải quyết vấn đề vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật của em không?”
Câu hỏi không được trả lời mà có giọng nữ:
“Thầy cho em gặp ba em”
Lãnh đạo Phòng Công tác HSSV chuyển ngay điện thoại cho người đànông và nghe cô gái nói với bố qua loa điện thoại vẫn được mở một điều hết sứcbất ngờ:
“Ba hả, ông có về đi không, ông mà không về, ông mà khiếu nại, kiện tụng là tui đi luôn không về đó, tui nhảy xuống hồ Phú Ninh chừ đây!”
Điện thoại bị cắt luôn
Người đàn ông từ trạng thái đằng đằng sát khí khi mới vào trường đếnbây giờ trông thật thảm hại, vô cùng tội cho một người cha
Lãnh đạo Phòng Công tác HSSV đề nghị người cha tiếp tục gọi lại chocon gái nhưng máy đầu kia tắt nguồn
Người lãnh đạo Phòng Công tác HSSV với kinh nghiệm sư phạm nhiềunăm trong công tác giảng dạy chuyên môn cũng như công tác giáo dục và quản
lý HSSV, đã phân tích cho người cha biết: Sự việc không đến nỗi trầm trọng,
Trang 11con gái ông ta chưa đến mức độ hư hỏng vì tin rằng em sinh viên C của nhàtrường có tình cảm trong sáng, anh khuyên người cha an tâm về nhà và hứa congái ông ta sẽ về nhà ngay trong chiều hôm nay đồng thời cũng yêu cầu ông tavới trách nhiệm, nghĩa vụ của một người cha trong gia đình cần phải giáo dụcđạo đức và lối sống, giáo dục nhân cách, thẩm mỹ, ý thức cộng đồng cho concái trong nhà một cách mềm dẽo nhưng nghiêm khắc, không nuông chiều tháiquá, không dễ dãi buông lỏng bằng tình bạn, tình anh em kết nghĩa để rồi dẫnđến hư hỏng, khổ cả đời con lẫn nỗi buồn không bao giờ vơi của người làm cha
mẹ khi con cái trót dại lầm lỡ; gia đình phải có trách nhiệm cùng với nhà trườnggiáo dục con cái, có trách nhiệm và tạo điều kiện cho con cái thực hiện ước mơlành mạnh, ước mơ học tập đến nơi đến chốn để xây dựng tương lai thoátnghèo, thoát khổ và có nhiều biện pháp ngăn ngừa những thói hư, tật xấu nhưhành động của con ông ta xảy ra vừa rồi
Thực hiện lời hứa với ông Kiều văn A, lãnh đạo Phòng Công tác HSSV
đã liên lạc với phụ huynh của em C qua số điện nhà (Thông tin trong hồ sơ sinhviên), trao đổi sự việc xảy ra cùng phụ huynh em C, yêu cầu phụ huynh em Cliên lạc với em C, B và bảo em C chở em B về gấp trong chiều hôm nay cũngnhư em C phải có mặt tại Phòng Công tác HSSV để tường thuật, kiểm điểm sựviệc xảy ra đã ảnh hưởng đến uy tín nhà trường, nếu không thực hiện nghiêmtúc, nhà trường tạm đình chỉ thực tập để làm rõ
Tiếp tục sau đó, lãnh đạo Phòng Công tác HSSV cũng kịp thời báo cáokết quả giải quyết sự việc với Ban giám hiệu và thông báo cho Phòng Đào tạo,giáo viên, cán bộ công chức biết để tránh dư luận xôn xao, tam sao thất bản xảy
ra, ảnh hưởng chung môi trường sư phạm nhà trường
Bằng các biện pháp giáo dục và bằng quyền lực hành chính, lãnh đạoPhòng Công tác HSSV đã giải quyết thỏa mãn mâu thuẩn, không để xung độtxảy ra
(Ghi chú: Câu chuyện về trường hợp xung đột trên là có thực tế tại trường, chỉ không ghi rõ họ tên thật của các đối tượng)
Trang 12NỘI DUNG
1 Thân thế Lê Quý Đôn:
Lê Quý Đôn (1726 – 1781) Nhà văn hóa lớn Việt Nam dưới thời Hậu Lê.Thuở nhỏ, ông có tên là Lê Danh Phương, đến năm 1743 sau khi đỗ giải nguyênTrường Sơn Nam thì đổi thành Lê Quý Đôn, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường,quê làng Duyên Hà, huyện Duyên Hà, phủ Tiên Hưng, trấn Sơn Nam (nay làhuyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình)
Lê Quý Đôn xuất thân trong một gia đình khoa bảng lâu đời, thân phụ là
Lê Phú Thứ làm quan Triều Lê Thuở nhỏ Lê Quý Đôn nỗi tiếng thông minh, cótrí nhớ phi thường, người đương thời xem ông là thần đồng Nhiều sách chéptiểu sử của ông có ghi: Năm tuổi đã đọc được nhiều bài Kinh Thi, mười tuổi đãhọc sử Năm 13 tuổi (1739), theo cha lên kinh đô học, đến năm 17 tuổi (1743),ông đỗ giải nguyên kỳ thi Hương trường thi Sơn Nam Năm 1752, Lê Quý Đônđược 27 tuổi, ông đỗ đầu thi Hội và khi vào thi Đình ông cũng đậu đầu BảngNhãn tức Tam Nguyên (Khoá này không lấy Trạng nguyên) Sau khi thi đỗ, LêQuý Đôn được bổ nhiệm chức Thị độc tòa Hàn lâm, rồi giữ chức tư nghiệpQuốc tử giám Tháng 6 năm Kỷ Mão niên hiệu Cảnh Hưng thứ 20 (1759) triềuvua Lê Hiển Tông, thái thượng hoàng Lê Ý Tông mất Sang tháng Giêng nămCanh Thìn (1760) triều đình cử một phái đoàn sứ bộ đi báo tang và dâng cống
lễ với nhà Thanh Lê Quý Đôn và Trịnh Xuân Chú được cử làm phó sứ Trongdịp này, khi sứ đoàn An Nam đi qua các phủ châu Trung Hoa đều bị họ gọi là
Di Quan Di Mục, nghĩa là quan lại mọi rợ Khi sứ đoàn đến Quế Lâm, Lê QuýĐôn viết thư cho quan tổng trấn Quảng Châu để phản đối sự kiện nầy Với uytín và học vấn của Lê Quý Đôn, triều đình Trung Hoa đành phải chấp nhận bỏnhững danh từ miệt thị khinh khi này và gọi sứ đoàn là An Nam Cống sứ.Năm 1762, Lê Quý Đôn về triều được thăng chức Hàn Lâm Viện Thừa Chỉ.Ông lập Bí Thư Các và dâng sớ xin thiết lập pháp chế để trị dân nhưng khôngđược triều đình chấp thuận và bổ ông làm Tham chính Hải Dương
Trang 13Năm 1765, ông từ quan xin cáo hưu về sống nơi quê nhà, viết sách.Năm 1767, Trịnh Doanh qua đời, Trịnh Sâm nối ngôi Chúa, Lê Quý Đôn đượcphục chức Thi Thư và tham gia biên soạn Quốc sử kiêm chức Tư nghiệp Quốc
Tử Giám Năm 1770, ông được thăng chức Công Bộ Hữu Thị Lang Mùa xuânnăm 1776, ông được bổ làm Hiệp Trấn, Tham Tán Quân Cơ ở xứ Đàng Trong.Năm 1778, ông được bổ nhiệm chức Hành Tham Tụng nhưng cố từ và xin đượcđổi sang võ ban Ông được trao chức Hữu Hiệu Điểm, quyền Phủ Sự, phongtước Nghĩa Phái Hầu Năm 1781, ông được sung chức Quốc sử Tổng tài.Năm 1783, ông đi hiệp trấn Nghệ An, không lâu sau thì mất
3 Tác phẩm:
Với tài trí thông minh và kiến thức uyên bác, Lê Quý Đôn đã để lại chohậu thế rất nhiều bộ sách có giá trị đủ các thể loại như lịch sử, địa lý, thơ, văn,chú giải kinh điển, triết học, lý số
Quan niệm về thơ của Lê Quý Đôn: “Làm thơ có 3 điểm chính: một làtình, hai là cảnh, ba là việc Tiếng sáo thiên nhiên kêu ở trong lòng mà độngvào máy tình; thị giác tiếp xúc với ngoài, cảnh động vào ý, dựa cổ mà chứngkim, chép việc thuật chuyện, thu lãm lấy tinh thần đại để không ngoài ba điểmấy”
Tác phẩm của Lê Quý Đôn thống kê có tới 40 bộ, bao gồm hàng trămquyển, nhưng một số bị thất lạc Những tác phẩm tiêu biểu của Lê Quý Đôn cóthể kể ra như sau: Lịch sử-địa lý: Đại Việt thông sử còn gọi là Lê triều thông sử(gồm 30 quyển), là bộ sử được viết theo thể ký truyện, chép sự việc theo từngloại, từng điều một cách hệ thống, bắt đầu từ Lê Thái Tổ đến Cung Hoàng, baoquát một thời gian hơn 100 năm của triều Lê, trong đó chứa đựng nhiều tài liệumới mà các bộ sử khác không có, đặc biệt là về cuộc kháng chiến chống Minh.Phủ biên tạp lục (6 quyển), viết xong năm 1776, ghi chép về tình hình xã hộiĐàng Trong từ thế kỷ thứ 18 trở về trước
Bắc sử thông lục (4 quyển) viết xong năm 1763 Kiến văn tiểu lục (12quyển), hoàn thành năm 1777, là tập bút ký nói về lịch sử và văn hóa Việt Nam
từ đời Trần đến đời Lê Ông còn đề cập tới nhiều lĩnh vực thuộc chế độ các
Trang 14vương triều Lý, Trần, từ thành quách núi sông, đường xá, thuế má, phong tụctập quán, sản vật, mỏ đồng, mỏ bạc và cách khai thác cho tới các lĩnh vực thơvăn, sách vở Bách khoa thư: Vân đài loại ngữ (9 quyển): Lê Quý Đôn làmxong vào năm 1773, lúc ông 47 tuổi Đây là một loại "bách khoa thư", đồ sộnhất thời Trung đại Việt Nam, trong đó tập hợp các tri thức về triết học, khoahọc, văn học sắp xếp theo thứ tự: Vũ trụ luận, địa lý, điển lệ, chế độ, vănnghệ, ngôn ngữ, văn tự, sản vật tự nhiên, xã hội Vân đài loại ngữ là bộ sáchđạt tới trình độ phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa khá cao, đánh dấu mộtbước tiến bộ vượt bậc đối với nền khoa học Việt Nam thời phong kiến.
Thơ, văn: Toàn Việt thi lục: hoàn thành năm 1768, ghi chép chọn lọckhoảng 2.000 bài thơ của 175 tác giả từ thời Lý-Trần đến đời Lê Quế Đườngthi tập; Quế Đường văn tập; Quế Đường di tập; Phú Lê Quý Đôn
Triết học, lý số: Thánh mô hiền phạm lục, Quần thư khảo biện: ghi chéplại những suy ngẫm khi ông khảo cứu Kinh truyện Trung Hoa.Kim Cang kinh chú giải; Thư kinh diễn nghĩa; Dịch kinh phu thuyết; Thái Ấtquái vận; Thái Ất dị giản lục
4 Giai thoại về Lê Quý Đôn: Chữ Đại (大) hay chữ Thái (太)?
Tương truyền thuở nhỏ, một hôm cậu bé cởi truồng đi tắm với các bạn
Có một vị quan Thượng thư đồng liêu với cha (là Lê Trọng Thứ) tới thăm, hỏiđường đến nhà Cậu liền đứng dạng chân và dang tay ra bảo quan Thượng:Nếu ông biết được cháu đang ra dấu chữ gì, cháu sẽ chỉ nhà cho ông.Quan Thượng cũng tha thứ cho sự nghịch ngợm của tuổi trẻ nên bỏ đi Cậu cười
ầm lên và bảo với các bạn:
Ông ấy làm quan to mà không biết chữ các bạn ơi! Quan Thượng bựcmình quay lại nói: Trẻ con đừng hỗn láo Mày mới học lỏm được chữ Đại (大)
mà đã dám đi trêu chọc người rồi
Cậu càng cười to hơn: Thế thì ông không biết chữ thật! Có cái chấm ởdưới nữa thì là chữ Thái (太) chứ sao lại chữ Đại!
Rắn đầu rắn cổ
Trang 15Khi quan Thượng vào nhà ông Lê Trọng Thứ, mới biết cậu bé ấy là concủa bạn mình Ông kể lại câu chuyện dọc đường Lê Trọng Thứ gọi con ra tráchmắng và đánh đòn Quan Thượng thấy ông thông minh nên đã xin tha cho ôngvới điều kiện phải ứng khẩu một bài thơ tạ tội Cậu xin quan Thượng ra đầu đề.Quan Thượng nói: Phụ thân cậu đã bảo cậu "rắn đầu rắn cổ", cậu cứ lấy đó làm
đề bài Cậu ngẫm nghĩ một chốc rồi đọc:
Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà!
Rắn đầu biếng học quyết không tha
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ,
Nay thét, mai gầm rát cổ cha.
Ráo mép chỉ quen tuồng lếu láo,
Lằn lưng chẳng khỏi vết roi da.
Từ nay Châu Lỗ xin siêng học,
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia!
Đề bài là do quan Thượng đặt ra, ý nói cậu bé cứng đầu, lười học Vậy
mà Lê Quý Đôn đã tài tình sử dụng từ “rắn” để ghép vào trong nội dung các câuthơ của mình: rắn liu điu, rắn đầu, rắn hổ lửa, rắn mai gầm, rắn ráo, rắn thằnlằn, rắn hổ trâu, rắn hổ mang và ví mình như Khổng Tử - Mạnh Tử (từ nay Trâu
Lỗ xin siêng học) Quan Thượng hết sức thán phục
Tam xuyên (三川) tứ mục (四目)
Nhà Lê Quý Đôn ở gần ngã ba sông Hồng và sông Trà Lý Một hôm, một
vị quan bên Liêu Xá đến thăm ông Lê Trọng Thứ Vị quan có nghe tiếng cậu bécon quan Thượng Lê rất hay chữ, muốn trực tiếp thử tài Nể tình, ông Lê TrọngThứ cho gọi Lê Quý Đôn tới Khoanh tay, kính cẩn chào khách xong, Lê QuýĐôn đứng nép bên cha, chờ đợi Ông khách nói:
Ta nghe cháu còn bé mà đã hay chữ Vây ta ra vế đối, cháu đối lại nhé!
Lê Quý Đôn lễ phép: Dạ, xin Bác ra đề ạ! Nhà cháu gần ngã ba sông, vậy ta ra
vế đối là tam xuyên (三川)! - Ông khách nói Vế đối giản dị mà hắc búa, chữtam (三) có ba nét sổ ngang nhưng dựng lên, thành ba nét sổ đứng và là chữxuyên (川) “Tam xuyên” (三川) có nghĩa “ba con sông” Lê Quý Đôn chưa
Trang 16đáp ngay mà cứ trân trân nhìn ông khách có mang cặp kính Ông khách rất vui
vì tìm được vế đối rất hiểm Thần đồng ư? khó thế này sức mấy mà đối nổi!Sao, có đối được không, cháu bé ? - Thấy Lê Quý Đôn chưa đối được, ôngkhách hỏi Lê Quý Đôn lễ phép thưa: Dạ, cháu xin đối là tứ mục (四目) “Tứmục” (四目) có nghĩa “bốn con mắt” Ông khách chỉ còn biết thốt lên: Tuyệtvời! Chữ đối lại thật chuẩn, chữ “tứ” (四) viết quay dọc lại, cũng là chữ “mục”
đồ sộ gồm nhiều bộ môn: lịch sử, địa lý, ngôn ngữ, triết học
Trên tầm nhà văn hóa, ông có những kiến giải sâu sắc về vấn đề liênquan giữa kinh tế - xã hội và giáo dục
Trong tác phẩm “Vân đài loại ngữ” và “Kiến văn tiểu lục”, ông nêu ra
“Tứ tôn” và “Ngũ Qui”, các mệnh đề trong Tứ tôn và Ngũ qui gắn kết vào nhau
có thể xem như một chiến lược kinh tế - xã hội - giáo dục
Tôn tộc đại quíTôn lộc đại suyTôn tài đại thịnhTôn nịnh đại suyDịch:
(Tôn trọng gia tộc, dân tộc thì được các giá trị cao quí
Tôn trọng tước lộc, bổng lộc, mầm mống tham nhũng thì tất yếu dẫn tớisuy vong
Tôn trọng hiền tài của đất nước thì đại thịnh
Thích kẻ xiển nịnh thì dẫn đến nguy cơ)
Trang 17Ý tưởng của Lê Quý Đôn trong bốn mệnh đề trên, đặc biệt là mệnh đề:
“Tôn trọng hiền tài của đất nước thì đại thịnh” là sự phát triển luận đề mà LêThánh Tôn – Thân nhân trung đã phát biểu cách ba thế kỷ trước đó:
“Hiền tài là nguyên khí của quốc giaNguyên khí mạnh thì thế nước cườngNguyên khí suy thì thế nước tàn”
Lê Quý Đôn viết về ngũ qui như sau:
Qui nông tất ổnQui công tất phúQui thương tất hoạtQui trí tất hưngQui pháp tất bìnhDịch:
Lo lắng trù tính cho nông nghiệp thì mang lại sự ổn định;
Lo lắng trù tính cho công nghiệp thì mang lại sự giàu có;
Lo lắng trù tính cho thương nghiệp thì mang lại sự năng động của nềnkinh tế;
Lo lắng trù tính cho việc giáo dục, phải coi trọng trí thức, coi trọng việcgiáo dục thì đất nước mới phát triển, mới hưng thịnh ;
Lo lắng trù tính cho công tác pháp luật thì đất nước mới thanh bình
Những mệnh đề mà Lê Quý Đôn nêu ra rất ngắn gọn mà sinh động.Chúng chứng tỏ một tầm nhìn rộng, một sự suy nghĩ sâu về chiến lược pháttriển đất nước khi gắn bó cả năm nhiệm vụ lớn về phát triển nông nghiệp, côngnghiệp, thương nghiệp, giáo dục, pháp luật Giáo dục theo quan điểm của LêQuý Đôn sẽ tạo ra sự hưng thịnh cho đất nước
Tứ tôn và ngũ qui kết hợp với nhau vẫn còn giữ nguyên giá trị thời sựcho đất nước ta đang cần hoạch định một chính sách giáo dục hiện thực và khảthi phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội nói chung
Phân tích mệnh đề “Qui trí tất hưng”:
Trang 18Đó là một nguyên lý đang mang tính hiện thực để định vị vai trò củangười trí thức trong sự phát triển của xã hội Nó là đoạn kết trong một chuỗiđánh giá các giai tầng xã hội tác động vào nền sản xuất tạo ra của cải xã hội(phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt ).
Nguyên lý này đang được nhắc tới nhiều vào thời điểm các nhà lãnh đạođang hoạch định chính sách đối với trí thức nhằm phù hợp với những phát triển
và chuyển biến của công cuộc đổi mới và hội nhập
Nhắc đến cái nguyên lý này nhưng ít ai tìm hiểu kỹ xem đó là quan điểmcủa ai và từ bao giờ Đã từng có người để nhấn mạnh tính “truyền thống” màkhẳng định rằng của cụ Lê Quý Đôn, nhưng chẳng hề nói rõ sách vở nào ghichép lại Lại có ý kiến cho rằng nó chính là sản phẩm của một thời mà nhữngluồng gió duy tân thổi từ các nước Đông Á đến với chúng ta và cụ thể hơn làcủa các nhà cải cách nổi tiếng Trung Hoa đương thời là Khang Hữu Vi vàLương Khải Siêu mới ở đầu thế kỷ trước Chỉ có điều chắc chắn rằng nó rấtthích hợp với thời đương đại mà ngay cả kinh tế phát triển cũng phải gắn thêmcái thuộc tính là nền “kinh tế tri thức”
Nguyên lý này đang mang tính thời đại không chỉ vì phong khí chính trị
mà còn vì những vấn đề của đời sống đang đặt ra đối với toàn xã hội Hiệntượng nhiều công chức có bằng cấp cao và dày kinh nghiệm bỏ việc không chỉ
do đãi ngộ mà do thiếu điều kiện hành nghề và thiếu triển vọng phát triển, hoặchiện tượng ngày càng nhiều người gửi con em ra nước ngoài để được đào tạocũng vì muốn chọn một môi trường thuận lợi cho tiền đồ phát triển lâu dài củatrí tuệ v.v cho thấy nhu cầu về môi trường cho sự phát triển trí tuệ ngày cànglớn và có xu thế thay thế dần môi trường mang tính quan liêu truyền thống
Vai trò của người trí thức đối với toàn xã hội không chỉ động chạm đếnmột tầng lớp xã hội nào đó có thể định lượng được, mà còn rộng hơn thế Điềunày thể hiện khá rõ trong cuộc trao đổi quanh định nghĩa “trí thức là ai ?” Đã
có nhiều quan niệm khác nhau để xác định ngay từ cách chọn lấy một thuật ngữcho thích hợp: là một giai tầng hay một đội ngũ; được phân định bởi những tiêuchí định lượng hay định tính ?
Trang 19Chắc chắn, nếu định lượng thì chưa bao giờ trí thức của ta nhiều như bâygiờ theo tiêu chí bằng cấp Dù nền giáo dục của đất nước còn nhiều bất cậpnhưng mỗi năm nó cũng tạo ra một lượng ngày càng lớn những con người đượcđịnh danh bởi những học hàm, học vị: cử nhân, tiến sĩ, tiến sĩ khoa học, phógiáo sư, giáo sư hay những danh vị nghề nghiệp khác như bác sĩ, kỹ sư,chuyên viên cộng thêm một số lượng không hạn chế những người hoạt độngtrên các lĩnh Mọi người đang chờ đợi một sự định vị đối với trí thức trong thangbậc giá trị của xã hội được thể hiện qua những chính sách đãi ngộ có thể địnhlượng được như lương bổng, nhà cửa, định mức đầu tư cho các hoạt động củatrí thức (như kinh phí hay điều kiện tác nghiệp ) Đó là điều đã được thể hiệntrong nhiều chính sách, đặc biệt của các địa phương nhằm “đào tạo và thu hútnhân tài”, nhưng phải thừa nhận rằng chưa mấy hiệu quả vực văn hoá, nghệthuật
Dường như định lượng luôn là tiêu chí dễ lựa chọn đối với người quản lýhơn là sự định tính Đây cũng là thời điểm diễn ra những diễn đàn trao đổiquanh câu hỏi “trí thức là ai ?”, hay “thế nào là trí trức ?” Đọc trên các phươngtiện truyền thông được biết đến nhiều tiêu chí khác nhau quy vào những phẩmchất thật khó định lượng như “có học vấn cao và có ý thức trách nhiệm sâu sắcđối với sự tiến bộ của xã hội mà mình đang sống” và ví trí thức như kẻ sĩ thờixưa tựa như cụ Nguyễn Công Trứ vừa mang khí tiết “có thể chết chứ khôngchịu nhục” (sĩ khả lục bất khả nhục) lại vừa “xem công việc của trời đất thiên
hạ như trách nhiệm của mình” (vũ trụ giai ngô phận sự) vì thế khó mà đào tạohay cấp bằng cho trí thức
Lại có người cắt nghĩa sự giống và khác trong các khái niệm hay thuậtngữ thường liên hệ với trí thức như “intelligentsia”, ”intellectuel” hay
“intelligent” của thiên hạ để vận vào những mẫu hình Việt Nam qua các thời,
từ xa xưa đến hiện đại, để nhấn mạnh rằng “trí thức là người có tri thức, biếtsuy nghĩ khác biệt và độc lập” v.v
Nhưng dễ hiểu nhất vẫn là một cách viết giản dị của một vị giáo sư nhânphân tích những mẫu hình người trí thức thời hiện đại tiêu biểu của thế giới
Trang 20luôn phải đối diện trước những nghịch lý của đời sống xã hội Ông định nghĩaràng “Ai đánh thức, không cho xã hội ngủ, người ấy là trí thức, bất kể họ làai ”.
Vẫn là một khái niệm khó định lượng, nhưng dường như ai cũng cảmnhận được nó trong đời sống xã hội, kể cả đời sống thường ngày Một ai và một
xã hội đang ngủ cũng có nghĩa là đang ngưng nghỉ hoặc vì sự mỏi mệt hoặc vì
sự thoả mãn đều đồng nghĩa với sự lạc hậu, trì trệ trong một thế giới khôngngừng vận động để tiến lên Và định nghĩa này ngẫu nhiên cũng trùng hợp vớimột cách bình luận dân gian khi đối lập hai tính cách : “trí thức” và “trí ngủ”
Như thế thì trí thức chính là một nhân cách hơn là một trình độ chỉ thuầntuý có được nhờ tích luỹ tri thức hay kinh nghiệm Và nhân cách ấy thực khóđào tạo ở trường lớp mà chỉ có thể nảy sinh trong một môi trường xã hội thíchhợp, nhất là môi trường dân chủ
Do thế, cũng thật khó mà tính được một chính sách sử dụng để đãi ngộđối với những đối tượng cụ thể được coi là trí thức, mà chỉ có thể tạo ra mộtmôi trường khích lệ những phẩm cách trí thức trong mọi con người Còn sự đãingộ thì do chính đời sống được quy luật của kinh tế thị trường điều chỉnh Ngay
cả sự đãi ngộ mà nhà nước thiện ý muốn tạo ra chỉ có thể là một môi trường chophẩm chất trí thức hưng khởi thúc đẩy sự phát triển xã hội mà không thể trở vềvới những phương cách của một thời bao cấp, trong mối quan hệ ban phát
Như thế cũng có thể mường tượng rằng trí thức là một phẩm chất, nó cóthể có ở mọi người; còn ý niệm về một “nhà trí thức” có thể chỉ là một số lượngrất nhỏ của những tinh hoa phát tiết trong những hoàn cảnh nhất định
NỘI DUNG
1 Ý nghĩa của giáo dục đạo đức đối với sinh viên:
Trang 21Công tác giáo dục đào tạo sinh viên, đội ngũ trí thức Xã hội chủ nghĩatương lai cần theo một phương hướng cơ bản là phải thực sự coi trọng giáo dụcđạo đức kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục lý luận với giáo dục lý tưởng, đạo đức
cho sinh viên Giáo dục đạo đức là yêu cầu khách quan của sự nghiệp “trồng người”, giáo dục đạo đức giúp đào tạo ra thế hệ vừa “hồng” vừa “chuyên” nhằm
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Xác định đạo đức là “gốc” của con người thì không chỉ là nền tảng nhân
cách trong sự thống nhất với tri thức mà còn là điều kiện tiên quyết để trau dồi trithức nói chung, nâng cao trình độ lý luận nói riêng Có thể thấy, đạo đức trongsáng của sinh viên là một trong những điều kiện, là tiền đề để trau dồi lý luận.Không những thế, lý luận ở đây cũng không chỉ là tri thức, là học vấn nói chung
mà là lý luận cách mạng, đó là lý luận không chỉ giải thích thế giới mà cốt lõi là
để cải tạo thế giới Vì vậy, nếu sinh viên học tập không nhằm mục đích thực tiễn,phục vụ nhân dân thì không thể lĩnh hội được tinh thần thực chất của lý luận
2 Vai trò, lý tưởng, nhiệm vụ của sinh viên:
Sinh viên có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển đất nước Họ cónhững phẩm chất quý báu như trẻ, khỏe, có học thức, ham học, năng động, dámnghĩ và dám làm theo cái mới Họ thật sự là đại biểu cho sức sống của thanhniên, sức mạnh của dân tộc Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, để những tiềmnăng đó trở thành hiện thực, trở thành động lực trong công cuộc xây dựng vàphát triển đất nước, họ cần phải được định hướng một cách toàn diện, đặc biệt
là lý tưởng đạo đức trong sáng
Lý tưởng là những khát khao, nguyện vọng, những tư tưởng về tương laitốt đẹp mà con người hằng mong ước vươn tới Lý tưởng có vai trò to lớn đốivới hoạt động của con người Người có lý tưởng cao đẹp, thì không những sẽ cóyêu cầu cao đối với chính bản thân mình mà còn thể hiện tinh thần trách nhiệmđối với những công việc của người khác Quá trình hiện thực hóa lý tưởng đượcbắt đầu từ việc xác định, củng cố niềm tin, rồi sau đó niềm tin sẽ trở thành mộtđộng lực quan trọng đối với hoạt động của con người
Trang 22Là một bộ phận của lý tưởng xã hội, lý tưởng đạo đức cũng mang nhữngnội dung, đặc điểm và ý nghĩa chung của lý tưởng xã hội Tuy nhiên, lý tưởngđạo đức cũng có đặc thù riêng do tính chất của các quan hệ đạo đức quy định.
Lý tưởng đạo đức phản ánh những hoài bão, những xu hướng, những nội dung
cơ bản của những giá trị và chuẩn mực đạo đức trong đời sống xã hội
Như vậy, lý tưởng đạo đức chẳng phải là cái gì cao xa, trừu tượng, hư vô
mà được xuất phát bởi đời sống kinh tế - xã hội, bởi thực trạng đạo đức trongthời gian nhất định
Lý tưởng đạo đức là một bộ phận của lý tưởng xã hội, thống nhất với lý
tưởng xã hội Lý tưởng xã hội của chúng ta hiện nay chính là “Độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội” mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn Vì vậy, lý tưởng đạo đức mà chúng ta lựa chọn cũng phản ánh nội dung lý tưởng “Độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội” Lý tưởng đó luôn luôn hướng tới mục tiêu cao cả: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Bởi vì, bản thân “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” đã bao hàm nội dung đó.
Với vai trò tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, thanh niên, đặc biệt là thanh niên trí thức mà hôm nay họ còn là sinhviên, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp Do đó,giáo dục nhân cách nói chung, giáo dục lý tưởng đạo đức cho sinh viên nóiriêng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của sự nghiệp đổi mới đất nước
3 Mục tiêu, phương pháp giáo dục đạo đức đối với sinh viên:
3.1 Trang bị cho sinh viên những tri thức cần thiết về lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đạo đức nhân văn, kiến thức pháp luật, văn hóa xã hội:
Tùy theo đặc điểm ngành nghề đào tạo theo bậc học Cao đẳng, Đại học,việc trang bị lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minhcho sinh viên chỉ thực sự có kết quả với động cơ học tập đúng đắn của sinhviên Tất nhiên, kết quả của học tập lý luận còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưtrình độ học vấn, vốn kinh nghiệm sống, phương pháp học tập Và không chỉphụ thuộc vào người học mà còn phụ thuộc vào người dạy, vào điều kiện học
Trang 23tập, việc tổ chức quản lý học tập Mặc dù vậy, phẩm chất đạo đức của sinhviên vẫn là điều kiện tiên quyết để học tập lý luận có kết quả Đó là động lực đểphát huy tính chủ động, tích cực trong những điều kiện lịch sử cụ thể để biếnquá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục nói chung, giáo dục lý luận nóiriêng Việc coi trọng giáo dục đạo đức, xây dựng đạo đức trong giáo dục lý luậncho sinh viên không chỉ là đòi hỏi cho nhiệm vụ xây dựng đất nước, mà còn làđòi hỏi bức thiết của bản thân công tác giáo dục lý luận đạo đức.
Công tác giáo dục lý luận coi giáo dục đạo đức không những là tiền đềcủa việc nâng cao trình độ lý luận, đồng thời là nhiệm vụ của mình Lê-nin đòihỏi phải làm cho toàn bộ nhiệm vụ giáo dục, đào tạo thanh niên trở thành nhiệm
vụ giáo dục đạo đức, cộng sản Nói về mục đích học tập lý luận của người cán
bộ, Bác Hồ đòi hỏi trước hết phải là “học để làm việc, làm người” rồi mới
“làm cán bộ” Do đó, nếu có tình trạng suy thoái, xuống cấp về phẩm chất đạo
đức của sinh viên trong Trường Cao đẳng, Đại học có ảnh hưởng tiêu cực đếngiáo dục lý luận thì không phải là giáo dục lý luận vô can đến tình trạng đó
Bên cạnh trang bị lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng đạo đức HồChí Minh cho sinh viên làm tiền đề cho việc giáo dục đạo đức, nhà trường cònphải trang bị cho người học những hiểu biết về các giá trị như: Hiểu biết vềpháp luật thường thức; hiểu biết về tình hình chính trị thế giới, những tổ chứcquốc tế và các dân tộc khác; tri thức về vốn sống trong giao tiếp ứng xử, tronghọc tập, lao động và các hoạt động xã hội là điều kiện để hoàn thiện nhân cáchnói chung, rèn luyện, trau dồi đạo đức nói riêng cho sinh viên
Quá trình giáo dục lý tưởng, đạo đức cho sinh viên có vai trò to lớn đốivới sự hình thành nhân cách của họ Nội dung lý tưởng đạo đức đặt ra nhữngđòi hỏi, những yêu cầu mà sinh viên phải phấn đấu rèn luyện trong quá trìnhhiện thực hóa lý tưởng đó Từ những nỗ lực phấn đấu vươn lên, sinh viên tựkhẳng định mình và góp phần vào sự phát triển xã hội
Ngày nay, khi mà những mặt trái của kinh tế thị trường đang tác độngmạnh cả vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo nói chung thì công tác giáo dục lý luậncàng phải quan tâm tới việc xây dựng, giáo dục đạo đức cho sinh viên Một
Trang 24mặt, giáo dục lý luận góp phần giải đáp những vấn đề về đạo đức của sinh viên,học sinh Mặt khác, phải phát huy vai trò của đạo đức với tính cách là tiền đề đểnâng cao chất lượng giáo dục lý luận, bao gồm cả việc giữ gìn sự trong sáng và
phẩm chất chính trị, đạo đức của chính mình, như Các Mác đã nói “nhà giáo dục cũng phải được giáo dục” Nhưng khi nói tới việc giáo dục lý tưởng, đạo
đức cho sinh viên trong điều kiện ngày nay ở nước ta, không thể không nói tớinhững tác động của cơ chế thị trường Về những tác động tích cực và tiêu cựccủa kinh tế thị trường đối với đời sống kinh tế - xã hội nói chung, với tư tưởng,lối sống đạo đức nói riêng đã tác động không nhỏ đến giáo dục đạo đức chosinh viên:
- Về ảnh hưởng tích cực: Với sự năng động trong toàn xã hội cùng vớinhững biện pháp kinh tế mà Đảng và nhân dân ta thực hiện đã nâng đời sốngvật chất và tinh thần của nhân dân lên một bước đáng kể Từ đó, niềm tin củatoàn dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ngày càng được củng cốvững chắc Đây chính là điều kiện khách quan thuận lợi đối với công tác giáodục lý tưởng, đạo đức cho sinh viên
- Về ảnh hưởng tiêu cực: Đảng ta đã khái quát “ về khách quan mà nói kinh tế thị trường với sức mạnh tự phát ghê gớm của nó đã khuyến khích chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, làm cho người ta chỉ chú ý tới lợi ích vật chất mà coi nhẹ giá trị tinh thần, chỉ chú ý đến lợi ích cá nhân mà coi nhẹ lợi ích cộng đồng, chỉ chú ý lợi ích trước mắt mà coi nhẹ lợi ích lâu dài, cơ bản” (Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr 29 – 30) Do vậy, “những năm gần đây tình trạng suy thoái về đạo đức và lối sống có chiều hướng tăng lên, rất đáng lo ngại” (Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr 27) và “Một bộ phận thanh niên còn
mơ hồ về lý tưởng, chưa nhận thức được tình hình, nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng mới, chưa xác định được trách nhiệm của thanh niên nói chung và của bản thân nói riêng” (Hữu Thọ - Đào Duy Khánh - chủ biên: Tiếp tục đổi
Trang 25mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng - văn hóa trong tình hình mới, Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương xuất bản, Hà Nội, 1999, tr 309).
Với vai trò quan trọng của đạo đức, từ thực trạng đạo đức xã hội nóichung, đạo đức thanh niên nói riêng, trong những năm gần đây, Đảng ta luôncoi trọng công tác xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống văn hóa lành mạnhtrong xã hội, đặc biệt quan tâm giáo dục lý tưởng, đạo đức cho thế hệ trẻ luônđược Đảng ta coi trọng
3.2 Giáo dục để hình thành ở sinh viên thái độ đứng đắn, tình cảm, niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và với mọi hiện tượng xảy ra xung quanh:
Đây là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục đạo đứcđối với sinh viên Bởi vì, thái độ, tình cảm, niềm tin đạo đức đối với bản thân vàcác hiện tượng xã hội sẽ tạo ra động lực bên trong điều chỉnh nhận thức và hành
vi của con người Để thực hiện mục tiêu, nhà trường cần phải:
- Nhà trường có trách nhiệm phải xây dựng tình cảm và củng cố niềm tincủa sinh viên vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ và hiện thực ngày càng tốtđẹp của công cuộc đổi mới đất nước Khi sinh viên đã có niềm tin vững chắc thì
sẽ quyết định khuynh hướng, mục đích và hiệu quả hoạt động của mình và sẽhoạt động hăng say, tích cực trong học tập, công tác, đóng góp thiết thực chođất nước, xã hội
- Nhà trường phải tăng cường giáo dục cho sinh viên tình cảm yêu nướcnồng nàn Yêu nước tức là yêu độc lập của đất nước; yêu chủ nghĩa xã hội; làphải làm giàu cho gia đình và đất nước, muốn làm giàu thì phải học tập; phảitrung với Đảng, với nước, hiếu với nhân dân Trong điều kiện phát triển kinh tế
thị trường và giao lưu quốc tế hiện nay thì “trung” và “hiếu” phải được coi là
giá trị nổi bật để sinh viên không dễ sa vào cạm bẫy của kẻ thù Nhà trườngphải giáo dục lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội giữ vai trò quyếtđịnh, là nền tảng điều chỉnh mọi hành vi của sinh viên, xác định thái độ lựachọn và ứng xử trước những biến động to lớn do cơ chế thị trường đặt ra Cóthể nói giáo dục tình cảm yêu nước là nội lực quan trọng để tạo cho sinh viên,