1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và vận dụng nó trong sự nghiệp đổi mới việt nam hiện nay

20 169 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 441,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí do chọn đề tài Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích ,nhiệm vụ 1

3 Phương pháp nghiên cứu 1

4 Kết cấu của tiểu luận 2

CHƯƠNG 1 3

NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN 3

1.1 Khái niệm thực tiễn và lý luận của triết học 3

1.1.1 Phạm trù thực tiễn của Triết học 3

1.1.2 Phạm trù lý luận của Triết học 3

1.2 Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 4

1.2.1 Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận, lý luận hình thành, phát triển sản xuất từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn 4

1.2.2 Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận; ngược lại, lý luận phải được vân dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn 5

CHƯƠNG 2: ÁP DỤNG LÝ LUẬN THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 6

2.1 Hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam sau chiến tranh đặt ra yêu cầu đổi mới 6

2.1.1.Tình hình thực tiễn của Việt Nam sau chiến tranh: 6

2.1.2 Tư tưởng chỉ đạo đối với tình hình kinh tế của Việt Nam sau chiến tranh 7

2.1.3 Biện pháp giải quyết tình hình để phát triển kinh tế của Việt Nam sau chiến tranh 7

2.2 Quá trình đổi mới kinh tế của Việt Nam 8

2.3 Tác động của quá trình đổi mới đến kinh tế xã hội Việt Nam 10

2.3.1 Thành tự đạt được 10

2.3.2 Một số tồn tại chủ yếu và những vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới đất nước 12

Trang 2

CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG TÍNH THỐNG NHẤT CỦA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KINH TẾ VIỆT NAM 15 3.1 Ý nghĩa của việc vận dụng tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình đổi mới kinh tế của Việt Nam 15 3.2 Một số đề xuất cho việc vận dụng tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhắm phát triển kinh tế Việt Nam trong tương lai 15 KẾT LUẬN 17 TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, lý luận nhận thức, vấn đề cải tạo thực tiễn nền kinh tế luôn thu hút

sự quan tâm của nhiều đối tượng

Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển của bất

cứ hình thái kinh tế nào Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và thực tiễn, phương pháp biện chứng luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội Nếu xuất phát từ một lập trường triết học đúng đắn, con người có thể có được những cách giải quyết phù hợp với các vấn dề do cuộc sống đặt ra Việc chấp nhận hay không chấp nhận một lập trường triết học nào đó

sẽ không chỉ đơn thuần là sự chấp nhận một thế giới quan nhất định, một cách lý giải nhất định về thế giới, mà còn là sự chấp nhận một cơ sở phương pháp luận nhất định chỉ đạo cho hoạt động

Chúng ta biết rằng, triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác Lênin đã chỉ rõ rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng đó chính là triết học của chủ nghĩa Mác Cho đến nay, chỉ có triết học Mác là mang tính ưu việt hơn cả Trên cơ sở nền tảng triết học Mác - Lênin, Đảng và Nhà nước ta đã học tập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướng chỉ đạo chính xác, đúng đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp với hoàn cảnh đất nước Mặc dù có những khiếm khuyết không thể tránh khỏi song chúng ta luôn đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ các nước trong khu vực

và thế giới về mọi mặt Hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với sự nắm bắt các quy luật khách quan trong vận hành nền kinh tế ở nước ta là một vấn đề còn nhiều xem xét và tranh cãi, nhất là trong quá trình đổi mới hiện nay Vì vậy, em quyết định

chọn đề tài “Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và vận dụng nó trong

sự nghiệp đổi mới Việt Nam hiện nay”

2 Mục đích ,nhiệm vụ

Mục đích: Làm rõ được nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và sự vận dụng thực tiễn của Đảng cộng sản Việt Nam trong thời kì đổi mới”

Nhiệm vụ : Nêu ra các khái niệm, các lí luận có liên quan đến nguyên tắc thống nhát và áp dụng lí luận đó để làn rõ nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn

và sự vận dụng của đảng cộng sản việt nam trong thời kì đổi mới

3 Phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp luận, tiểu luận sử dụng những phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài này bao

Trang 4

gồm phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp và đối chiếu

4 Kết cấu của tiểu luận

Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận, cũng như các phần phụ lục khác, kết cấu

đề tài gồm 3 chương Do kiến thức và kinh nghiệm chưa nhiều, lại bị hạn chế về thời gian nên bài tiểu luận không tránh khái những khiếm khuyết Với tinh thần thực sự

muốn hiểu biết thêm về đề tài “Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và

vận dụng nó trong sự nghiệp đổi mới Việt Nam hiện nay” và muốn có nhiều kiến

thức thực tế, em rất mong nhận được sự quan tâm, trao đổi và góp ý của các thầy cô giáo và các bạn để hoàn hiện hơn nữa bài tiểu luận cũng như kiến thức của mình

Trang 5

CHƯƠNG 1 NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄNCỦA TRIẾT

HỌC MÁC-LÊNIN 1.1 Khái niệm thực tiễn và lý luận của triết học

1.1.1 Phạm trù thực tiễn của Triết học

 Các quan điểm về thực tiễn

Một trong những khuyết điểm chủ yếu của lý luận nhận thức duy vật trước Mác

là chưa thấy hết vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

Một số nhà triết học như Ph Bêcơn, Đ Diđơrô …đề cao vai trò của thực nghiệm khoa học, chưa đề cập đến vai trò của các hình thức khác của thực tiễn đối với nhận thức

G Hêghen tuy có đề cập đến thực tiễn, nhưng ông không coi thực tiễn là hoạt động vật chất mà là hoạt động tinh thần

L Phoiơbăc chỉ coi lý luận mới là hoạt động đích thực, còn thực tiễn chỉ được ông xem xét ở khía cạnh biểu hiện bẩn thỉu mà thôi

C Mác và Ph Ăngghen đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nhận thức bằng cách đưa phạm trù thực tiễn vào trong lý luận nhận thức

Lênin nhấn mạnh: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức” (Toàn tập, tập 18, tr 167)

 Thực tiễn là gì

Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có tính xã hội - lịch sử của con

người nhằm biến đổi tự nhiên, xã hội và bản thân con người

 Các hình thức cơ bản của thực tiễn

Hoạt động thực tiễn có 3 hình thức cơ bản:

Lao động sản xuất vật chất là hình thức thực tiễn cơ bản nhất, là hoạt động trực

tiếp tác động vào tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển của

xã hội

Hoạt động biến đổi xã hội là hình thức thực tiễn cao nhất, Là hoạt dộng của con người trong các lĩnh vực chính trị xã hội nhằm phát triển và hoàn thiện các thiết chế xã hội, các quan hệ xã hội làm địa bàn rộng rãi cho hoạt động sản xuất và tạo ra những môi trường xã hội xứng đáng với bản chất con người bằng cách đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội

Thực nghiệm khoa học là hình thức thực tiễn đặc biệt, nhằm mục đích phục vụ nghiên cứu khoa học và kiểm tra lý thuyết khoa học

1.1.2 Phạm trù lý luận của Triết học

Lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn phản ánh những mối liên hệ bản chất, những quy luật của sự vật, hiện tượng

Trang 6

Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tụ nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”

Để hình thành lí luận, con người phải thông qua quá trình nhận thức kinh nghiệm Nhận thức kinh nghiệm là quá trình quan sát sự lặp đi lặp lại diễn biến của các

sự vật hiện tượng Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là tri thức kinh nghiệm Tri thức kinh nghiệm bao gồm tri thức kinh nghiệm thong thường và tri thức kinh nghiệm khoa học.Tri thức kinh nghiệm tuy là thành tố của tri thức ở trình độ thấp nhưng nó là cơ sở

để hình thành lý luận

Lý luận có nghững cấp độ khác nhau tùy phạm vi phản ánh và vai trò của nó, cps thể phân chia lý luận thành lí luận ngành và lí luận triết học

Lý luận ngành là ly luận khái quát những quy luật hình thành và phát triển của một ngành Nó là cơ sở để sáng tạo tri thức cũng như phương pháp luận hoạt động của ngành đó, như lý luận văn học, lý luận nghệ thuật…

Lý luận triết học là hệ thống những quan niệm chung nhất về thế giới và con người, là thế giới quan và phương pháp luận nhận thức và hoạt động của con người

1.2 Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 1.2.1 Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận, lý luận hình thành, phát triển sản xuất từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

1.2.1.1 Thực tiễn là cơ sở cuả lý luận

Xét một cách trực tiếp những tri thức được khái quát thành lý luận là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn cuả con người Thông qua kết quả của hoạt động thực tiễn, kể cả thành công cũng như thất bại, con người phân tích cấu trúc, tích chất

và các mối quan hệ của các yếu tố, các điều kiện trong các hình thức thực tiễn để hình thành lý luận Quá trình hoạt động thực tiễn là cơ sở để bổ sung và điều chỉnh các lý luận đã được khái quát Mặt khác, hoạt động thực tiễn của con người làm nảy sinh những vấn đề mơi đòi hỏi quá trình nhận thức phải tiếp tục giải quyết Thông qua đó,

lý luận được bổ sung mở rộng Chính vì vậy, V.I.Lênin nói: “Nhận thức lý luận phải trình bày khách thể trong tính tất yếu của nó, trong những quan hệ toàn diện cuả nó, trong sự vận động mâu thuẫn cuả nó tự nó và vì nó”

1.2.1.2 Thực tiễn là động lực của lý luận

Hoạt động của con người không chỉ là nguông gốc để hoàn thiện các cá nhân

mà còn góp phần hoàn thiện các mối quan hệ của con người với tự nhiên, với xã hội

Lý luận được vận dụng làm phương pháp cho hoạt động thực tiễn,mang lại lợi ích cho con người càng kích thích cho con người bám sát thực tiễn khái quát lý luận Quá trình

đó diễn ra không ngừng trong sự tồn tại của con người, làm cho lý luận ngày càng đầy

đủ, phong phú và sâu sắc hơn Nhờ vậy hoạt động của con người không bị hạn chế

Trang 7

trong không gian và thời gian Thông qua đó, thực tiễn đã thúc đẩy một ngành khoa

học mới ra đời – khoa học lý luận

1.2.1.3 Thực tiễn là mục đích của lý luận

Mặc dù lý luận cung cấp những tri thức khái quát về thế giới để làm thỏa mãn những nhu cầu hiểu biết của con người nhưng mục đích chủ yếu của lý luận là nâng cao những hoạt động của con người trước hiện thực khách quan để đưa lại lợi ích cao hơn, thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân và xã hội Tự thân lý luận không thể tạo lên những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người Nhu cầu đó chỉ được thực hiện trong hoạt động thực tiễn Hoạt động thực tiễn sẽ biến đổi tự nhiên và xã hội theo mục đích của con người Đó thực chất là mục đích của lý luận Tức lý luận phải đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người

1.2.1.4 Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận

Tính chân lý của lý luận chính là sự phù hợp của lý luận với thực tiễn khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm, là giá trị phương pháp của lý luận với hoạt động thực tiễn của con người Do đó mọi lý luận phải thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm

Tuy thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận, nhưng không phải mọi thực tiễn đều là tiêu chuẩn của chân lý Thực tiễn là tiêu chuẩn chấn lý của lý luận khi thực tiễn đạt đến mức toàn vẹn của nó Tính toàn vẹn của thực tiễn là thực tiễn đã trải qua quá trình tồn tại, hoạt động, phát triển và chuyển hóa Đó là chu kỳ tất yếu của thực tiễn Thực tiễn có nhiều giai cấp phát triển khác nhau Nếu lý luận chỉ khái quát một giai đoạn nào đó của thực tiễn thì lý luận có thể xa rời thực tiễn

1.2.2 Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận; ngược lại, lý luận phải được vân dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn

Lý luận đóng vai trò soi đường cho thực tiễn vì lý luận có khả năng định hướng mục tiêu, xác định lực lượng, phương pháp, biện pháp thực hiện Lý luận còn dự báo được khả năng phát triển cũng như các mối quan hệ của thực tiễn, dự báo được những rủi ro đã xảy ra, những hạn chế những thất bại có thể có trong quá trình hoạt động

Lý luận hình thành là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài và khó khăn của con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn Mục đích của lý luận không chỉ là phương pháp mà còn định hướng cho hoạt động thực tiễn Đó là định hướng mục tiêu, biện pháp sử dụng lực lượng, định hướng giải quyết các mối quan hệ trong hoạt động thực tiễn

Lý luận tuy là logic của thực tiễn, song lý luận có thể lạc hậu với thực tiễn Vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải bám sát diễn biến của thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những khiếm khuyết của lý luận, hoặc có thể thay đổi lý luận

cho phù hợp với thực tiễn

Trang 8

CHƯƠNG 2: ÁP DỤNG LÝ LUẬN THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI

MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam sau chiến tranh đặt ra yêu cầu đổi mới

2.1.1.Tình hình thực tiễn của Việt Nam sau chiến tranh:

 Tình hình thực tế

Sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, dựa vào kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa lúc đó, nước ta bắt đầu xây dựng một mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất

Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, phân tán và manh mún, bằng công cụ

kế hoạch hóa, ta đã tập trung được vào trong tay một lực lượng vật chất quan trọng về

cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng thành thị và nông thôn, đất đai, máy móc, tiền vốn để ổn định và phát triển kinh tế

Năm 1975, sau ngày giải phóng miền Nam, một bức tranh mới về hiện trạng kinh tế Việt Nam đã thay đổi Đó là sự duy trì một nền kinh tế tồn tại cả ba loại hình:

 Kinh tế cổ truyền (tự cung tự cấp)

 Kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp (ở miền Bắc)

 Kinh tế thị trường (đặc trưng ở miền Nam)

Mặc dù đây là một tồn tại khách quan sau năm 1975 nhưng chúng ta vẫn tiếp tục xây dựng nền kinh tế tập trung theo cơ chế kế hoạch hoá trên phạm vi cả nước Đó

là sự áp đặt rất bất lợi

 Hậu quả:

Do chủ quan nóng vội, cứng nhắc, chúng ta đã không quản lý được hiệu quả các nguồn lực dẫn tới việc sử dụng lãng phí nghiêm trọng các nguồn lực của đất nước

Từ năm 1975 đến năm 1985, các thành phần kinh tế tư bản tư nhân, cá thể bị tiêu diệt hoặc không còn điều kiện phát triển dẫn đến thực trạng tiềm năng to lớn của các thành phần kinh tế này không được khai thác và phục vụ cho mục tiêu chung của nền kinh tế

Do phát triển tràn lan lại quản lý theo cơ chế bao cấp, kế hoạch hoá tập trung nên nhà nước gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý, điều hành các doanh nghiệp quốc doanh, nhiều doanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ, lực lượng sản xuất không được giải phóng, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng và tụt hậu

 Nguyên nhân

Trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần còn tồn tại trong thời gian tương đối dài, chưa nắm vững

và vận dụng đúng lý luận và thực tiễn vào tinh hình nước ta

Trang 9

Việc đổi mới cơ chế và bộ máy quản lý, việc điều hành không nhạy bén, là những nguyên nhân quan trọng dẫn tới hành động không thống nhất từ trên xuống dưới

Chúng ta mới nêu ra được phương hướng chủ yếu của cơ chế mới, hình thức, bước đi, cách làm cụ thể thì còn nhiều vấn đề chưa giải quyết được thoả đáng cả về lý luận và thực tiễn

2.1.2 Tư tưởng chỉ đạo đối với tình hình kinh tế của Việt Nam sau chiến tranh

Ta đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận trong thời kỳ quá độ:”Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy,đặc biệt là những chính sách kinh tế là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan” (Đảng công sản Việt nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI-1986) Chúng ta đã có những thành kiến không đúng, trên thực tế, chưa thừa nhận thật sự những quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan

Chúng ta đã ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách quá mức mà hiệu quả kinh tế phát triển chậm Hơn thế nữa, ta chưa chú ý đúng mức tới sản xuất nông nghiệp và sản xuất hàng tiêu dùng nên đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn

2.1.3 Biện pháp giải quyết tình hình để phát triển kinh tế của Việt Nam sau chiến tranh

Để khắc phục khuyết điểm, chuyển biến được tình hình, Đảng ta trước hết phải thay đổi nhận thức, đổi mới tư duy Phải nhận thức và hành động đúng đắn, đề ra những chủ trương, chính sách phù hợp với hệ thống quy luật khách quan, trong đó các quy luật đặc thù của chủ nghĩa xã hội ngày càng chi phối mạnh mẽ phương hướng phát triển chung của xã hội Mọi chủ trương, chính sách, biện pháp kinh tế gây tác động ngược lại đều biểu hiện sự vận dụng không đúng quy luật khách quan, phải được sửa đổi hoặc huỷ bỏ

Trên cơ sở đó, chúng ta phải vận dụng tổng hợp hệ thống các quy luật đang tác động lên nền kinh tế Trong hệ thống các quy luật đó, quy luật kinh tế cơ bản cùng với các quy luật đặc thù khác của chủ nghĩa xã hội ngày càng phát huy vai trò chủ đạo, được vận dụng trong một thể thống nhất với các quy luật của sản xuất hàng hoá, đặc biệt là quy luật giá trị, quy luật cùng cầu, quy luật cạnh tranh Kế hoạch hoá phải luôn luôn gắn liền với việc sử dụng các đòn bảy kinh tế

Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất Để làm đủ

ăn và có tích luỹ, phải ra sức phát triển sản xuất, xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý, trước hết là cơ cấu các ngành kinh tế phù hợp với tính quy luật về sự phát triển các ngành sản xuất vật chất, phù hợp với sự phân công lao động và hợp tác quốc tế Cơ cấu kinh tế đó đảm bảo cho nền kinh tế phát triển cân đối với nhịp độ tăng trưởng ổn

Trang 10

định Phải thông qua việc sắp xếp lại sản xuất, đi đôi với việc xây dựng thêm cơ cấu kinh tế hợp lý

Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất

và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Củng cố thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm cả khu vực quốc doanh, tập thể Bằng các biện pháp thích hợp, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa giải pháp đó xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ Thực chất của cơ chế mới về quản lý kinh tế

là cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ

2.2 Quá trình đổi mới kinh tế của Việt Nam

Sự nghiệp đổi mới ở nước ta cung cấp một bài học to lớn về nhận thức Đó là bài học về quán triệt quan điểm thực tiễn - nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm cơ bản và hàng đầu của triết học Mác xít Sự nghiệp đổi mới với tính chất mới mẻ và khó khăn của nó đòi hỏi phải có lý luận khoa học soi sáng Sự khám phá về lý luận phải trở thành tiền đề và điều kiện cơ bản làm cơ sở cho sự đổi mới trong hoạt động thức tiễn Tuy nhiên, lý luận không bỗng nhiên mà có và cũng không thể chờ chuẩn bị xong xuôi về lý luận rồi mới tiến hành đổi mới Hơn nữa, thực tiễn lại

là cơ sở để nhận thức, của lý luận Phải qua thực tiễn rồi mới có kinh nghiệm, mới có

cơ sở đề khái quát thành lý luận

Vì vậy, quá trình đổi mới ở nước ta chính là quá trình vừa học vừa làm, vừa làm vừa tổng kết lý luận, đúc rút thành quan điểm, thành đường lối để rồi quay trở lại quá trình đổi mới Có những điều chúng ta phải mò mẫm trong thực tiễn, phải trải qua thể nghiệm, phải làm rồi mới biết, thậm chí có nhiều điều phải chờ thực tiễn Ví dụ như vấn đè chống lạm phát, vấn đề khoán trong nông nghiệp, vấn đề phân phối sản phẩm Trong quá trình đó, tất nhiên sẽ không tránh khỏi việc phải trả giá cho những khuyết điểm, lệch lạc nhất định

Ở đây, việc bám sát thực tiễn, phát huy óc sáng tạo của cán bộ và nhân dân là rất quan trọng Trên cơ sở, phương hướng chiến lược đúng, hãy làm rồi thực tiễn sẽ cho ta hiểu rõ sự vật hơn nữa - đó là bài học không chỉ của sự nghiệp kháng chiến chống ngoại xâm mà còn là bài học của sự nghiệp đổi mới vừa qua và hiện nay

Trong khi đề cao vai trò của thực tiễn, Đảng ta không hề hạ thấp, không hề coi nhẹ lý luận Quá trình đổi mới là quá trình Đảng ta không ngừng nâng cao trình độ lý luận của mình, cố gắng phát triển lý luận, đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội

và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Nó được thể hiện qua năm bước

Ngày đăng: 17/11/2021, 05:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w