Vì để giải đáp những thắc mắc trên nhóm đã chọn đề tài “ Cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả của phép biện chứng duy vật, vận dụng cặp phạm trù này trong việc tìm hiểu vấn đề: tình trạng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH
BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
ĐỀ TÀI:
CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN – KẾT QUẢ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ NÀY TRONG VIỆC TÌM HIỂU VẤN ĐỀ: THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM HIÊ ̣N NAY
LỚP L15 - NHÓM 14 - HK 211 NGÀY NỘP ………
Giảng viên hướng dẫn: An Thị Ngọc Trinh
Sinh viên thực hiện Mã số sinh viên Điểm số
LÊ MINH TUẤN(nhóm trưởng) 2012337
Trang 2ĐỀ TÀI: CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN – KẾT QUẢ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ NÀY TRONG VIỆC TÌM HIỂU VẤN ĐỀ: THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM HIÊ ̣N NAY
MỤC LỤC
I PHẦN MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Tính cấp thiết 3
3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài với thực tiễn 3
II PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1 CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN – KẾT QUẢ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 3
1.1 Khái niê ̣m 3
1.2 Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ nhân quả có: 4
1.3 Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả 5
1.4 Ý nghĩa phương pháp luâ ̣n că ̣p phạm trù nguyên nhân – kết quả 7
CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ NÀY TRONG VIỆC TÌM HIỂU TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 7
2.1 Khái quát về tình trạng thất nghiệp của sinh viên hiện nay 7
2.2 Nguyên nhân của tình trạng thất nghiệp của sinh viên hiện nay 8
2.3 Hệ quả của tình trạng thất nghiệp của sinh viên hiện nay 11
2.4 Giải pháp khắc phục tình trạng thất nghiê ̣p của sinh viên hiê ̣n nay 12 III KẾT LUẬN 14
IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phép biện chứng duy vật là một bộ phận lý luận cơ bản hợp thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin, là “khoa học về mối liên hệ phổ biến”, là “khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” và cũng là lý luận nhận thức khoa học Trong phép biện chứng duy vật thì các cặp phạm trù cơ bản là một trong những nội dung cơ bản quan trọng giúp con người định hướng, nhận thức đúng đắn về các hành
vi trong xã hội Và trong đó phép biện nguyên nhân - kết quả đóng vai trò quan trọng
để giải thích các vấn đề trong xã hội Chẳng hạn dùng cặp phạm trù nguyên nhân - kết quả để giải thích hiện tượng thất nghiệp của sinh viên Việt Nam hiện nay Như vậy nguyên nhân gì dẫn đến tình trạng thất nghiệp của sinh viên? Và tình trạng ấy sẽ ảnh hưởng thế nào đến kinh tế, đời sống con người và xã hội? Vì để giải đáp những thắc mắc trên nhóm đã chọn đề tài “ Cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả của phép biện chứng duy vật, vận dụng cặp phạm trù này trong việc tìm hiểu vấn đề: tình trạng thất nghiệp của sinh viên Việt Nam hiện nay”
2 Tính cấp thiết
Tình trạng thất nghiệp của sinh viên Việt Nam hiện nay là một vấn đề cấp bách Điều
đó làm ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế của bản thân người thất nghiệp, làm cho thu nhập của họ giảm sút ,kỹ năng chuyên môn bị xói mòn, niềm tin đối với cuộc sống suy giảm và tâm trạng u uất Còn đối với xã hội ,tình trạng thất nghiệp cũng là một chi phí mà xã hội phải gánh chịu.Thất nghiệp càng nhiều, giá phải trả càng lớn Những khoản chi phí như: Chính phủ phải có khoản chi về trợ cấp người thất nghiệp, khoản thu từ thuế thu nhập cho ngân sách giảm sút, nguồn lực lao động bị lãng phí dẫn đến sản lượng giảm sút Ngoài ra, thất nghiệp còn làm cho các tệ nạn xã hội gia tăng ,gây tổn thương về mặt tâm lý và niềm tin của của sinh viên
3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài với thực tiễn
Trang 4Giúp chúng ta đưa ra cái nhìn đúng nhất về nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp của sinh viên hiện nay Từ đó định hướng chúng ta khắc phục và điều chỉnh để trình trạng thất nghiệp giảm xuống Đặc biệt là giúp cho sinh viên biết mình cần những hành trang nào để thuận lợi trong việc tìm kiếm việc làm Thông qua đó thì kinh tế và
xã hội nước nhà sẽ càng ngày phát triển hơn
II PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN – KẾT QUẢ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1.1 Khái niê ̣m
Phạm trù nguyên nhân và kết quả phản ánh mối quan hệ hình thành của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan
1.1.1 Phạm trù nguyên nhân
Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó
1.1.2 Phạm trù kết quả
Kết quả là phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra
Ví dụ: không phải nguồn điện là nguyên nhân làm bóng đèn phát sáng mà chỉ là tương tác của dòng điện với dây dẫn (trong trường hợp này, với dây tóc của bóng đèn) mới thực sự là nguyên nhân làm cho bóng đèn phát sáng Cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản là nguyên nhân đưa đến kết quả là cuộc cách mạng vô sản nổ ra Cần phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ và nguyên nhân với điều kiện Nguyên cớ
và điều kiện không sinh ra kết quả, mặc dù nó xuất hiện cùng với nguyên nhân Thí dụ chất xúc tác chỉ là điều kiện để các chất hoá học tác động lẫn nhau tạo nên phản ứng hoá học
1.2 Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ nhân quả có:
Trang 5- Tính khách quan thể hiện ở chỗ: mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý thức của con người Dù con người biết hay không biết, thì các sự vật vẫn tác động lẫn nhau và sự tác động đó tất yếu gây nên biến đổi nhất định Con người chỉ phản ánh vào trong đầu óc mình những tác động và những biến đổi, tức
là mối liên hệ nhân quả của hiện thực, chứ không sáng tạo ra mối liên hệ nhân quả của hiện thực từ trong đầu mình Quan điểm duy tâm không thừa nhận mối liên hệ nhân quả tồn tại khách quan trong bản thân sự vật Họ cho rằng, mối liên hệ nhân quả là do Thượng đế sinh ra hoặc do cảm giác con người quy định
- Tính phổ biến thể hiện ở chỗ: mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội đều có nguyên nhân nhất định gây ra Không có hiện tượng nào không có nguyên nhân, chỉ có điều là nguyên nhân đó đã được nhận thức hay chưa mà thôi Không nên đồng nhất vấn đề nhận thức của con người về mối liên hệ nhân quả với vấn đề tồn tại của mối liên hệ đó trong hiện thực
- Tính tất yếu thể hiện ở chỗ: cùng một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện giống nhau sẽ gây ra kết quả như nhau Tuy nhiên trong thực tế không thể có sự vật nào tồn tại trong những điều kiện, hoàn cảnh hoàn toàn giống nhau Do vậy tính tất yếu của mối liên hệ nhân quả trên thực tế phải được hiểu là: Nguyên nhân tác động trong những điều kiện và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì kết quả do chúng gây ra càng giống nhau bấy nhiêu
Thí dụ: Để có kết quả của những lần bắn tên trúng đích thì các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình bắn tên của xạ thủ phải giống nhau
1.3 Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
1.3.1 Nguyên nhân sinh ra kết quả, xuất hiện trước kết quả
Tuy nhiên không phải hai hiện tượng nào nối tiếp nhau về mặt thời gian cũng là quan
hệ nhân quả Thí dụ, ngày kế tiếp đêm, mùa hè kế tiếp mùa xuân, sấm kế tiếp chớp, v.v., nhưng không phải đêm là nguyên nhân của ngày, mùa xuân là nguyên nhân của mùa hè, chớp là nguyên nhân của sấm, v.v Cái phân biệt quan hệ nhân quả với quan
hệ kế tiếp về mặt thời gian là ở chỗ nguyên nhân và kết quả có quan hệ sản sinh ra nhau Nguyên nhân của ngày và đêm là do sự quay của trái đất quanh trục Bắc - Nam của nó, nên ánh sáng mặt trời chỉ chiếu sáng được phần bề mặt trái đất hướng về phía
Trang 6mặt trời Nguyên nhân của các mùa trong năm là do trái đất, khi chuyển động trên quỹ đạo, trục của nó bao giờ cũng có độ nghiêng không đổi và hướng về một phía, nên hai nửa cầu Bắc và Nam luân phiên chúc ngả về phía mặt trời, sinh ra các mùa Sấm và chớp đều do sự phóng điện giữa hai đám mây tích điện trái dấu sinh ra Nhưng vì vận tốc ánh sáng truyền trong không gian nhanh hơn vận tốc tiếng động, do vậy chúng ta thấy chớp trước khi nghe thấy tiếng sấm Như vậy không phải chớp sinh ra sấm Nguyên nhân sinh ra kết quả rất phức tạp, bởi vì nó còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện
và hoàn cảnh khác nhau Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra Thí dụ, nguyên nhân của mất mùa có thể do hạn hán, có thể do lũ lụt, có thể do sâu bệnh, có thể do chăm bón không đúng kỹ thuật, v.v Mặt khác, một nguyên nhân trong những điều kiện khác nhau cũng có thể sinh ra những kết quả khác nhau Thí dụ, chặt phá rừng có thể sẽ gây ra nhiều hậu quả như lũ lụt, hạn hán, thay đổi khí hậu của cả một vùng, tiêu diệt một số loài sinh vật, v.v., nếu nhiều nguyên nhân cùng tồn tại và tác động cùng chiều trong một sự vật thì chúng sẽ gây ảnh hưởng cùng chiều đến sự hình thành kết quả, làm cho kết quả xuất hiện nhanh hơn Ngược lại nếu những nguyên nhân tác động đồng thời theo các hướng khác nhau, thì sẽ cản trở tác dụng của nhau, thậm chí triệt tiêu tác dụng của nhau Điều đó sẽ ngăn cản sự xuất hiện của kết quả Do vậy trong hoạt động thực tiễn cần phải phân tích vai trò của từng loại nguyên nhân, để
có thể chủ động tạo ra điều kiện thuận lợi cho những nguyên nhân quy định sự xuất hiện của kết quả (mà con người mong muốn) phát huy tác dụng Thí dụ, trong nền kinh
tế nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, mỗi thành phần kinh tế đều có vị trí nhất định đối với việc phát triển nền kinh tế chung Các thành phần kinh tế vừa tác động hỗ trợ nhau, vừa mâu thuẫn nhau, thậm chí còn cản trở nhau phát triển Muốn phát huy được tác dụng của các thành phần kinh tế để phát triển sản xuất, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, thì phải tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế đều có điều kiện phát triển, trong đó thành phần kinh tế nhà nước phải đủ sức giữ vai trò chủ đạo, hướng các thành phần kinh tế khác hoạt động theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phải tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế bằng luật pháp, chính sách, v.v thích hợp Nếu không như vậy, nền kinh tế sẽ trở nên hỗn loạn và năng lực
Trang 7sản xuất của các thành phần kinh tế có thể triệt tiêu lẫn nhau Do vậy phải tìm hiểu kỹ
vị trí, vai trò của từng nguyên nhân
1.3.2 Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau
Điều này có nghĩa là một sự vật, hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này là nguyên nhân, nhưng trong mối quan hệ khác lại là kết quả và ngược lại Vì vậy, Ph.Ăngghen nhận xét rằng: Nguyên nhân và kết quả là những khái niệm chỉ có ý nghĩa là nguyên nhân và kết quả khi được áp dụng vào một trường hợp riêng biệt nhất định Nhưng một khi chúng ta nghiên cứu trường hợp riêng biệt ấy trong mối liên hệ chung của nó với toàn bộ thế giới, thì những khái niệm ấy lại gắn với nhau trong một khái niệm về sự tác động qua lại một cách phổ biến, trong đó nguyên nhân và kết quả luôn thay đổi vị trí cho nhau Chuỗi nhân quả là vô cùng, không có bắt đầu và không có kết thúc Một hiện tượng nào đấy được coi là nguyên nhân hay kết quả bao giờ cũng ở trong một quan hệ xác định cụ thể Trong những quan hệ xác định, kết quả do nguyên nhân sinh
ra, nhưng sau khi xuất hiện, kết quả lại có ảnh hưởng trở lại đối với nguyên nhân Sự ảnh hưởng đó có thể diễn ra theo hai hướng: Thúc đẩy sự hoạt động của nguyên nhân (hướng tích cực), hoặc cản trở sự hoạt động của nguyên nhân (hướng tiêu cực) Thí dụ, trình độ dân trí thấp do kinh tế kém phát triển, ít đầu tư cho giáo dục Nhưng dân trí thấp lại là nhân tố cản trở việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, vì vậy lại kìm hãm sản xuất phát triển Ngược lại, trình độ dân trí cao là kết quả của chính sách phát triển kinh tế và giáo dục đúng đắn Đến lượt nó, dân trí cao lại tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế và giáo dục
1.4 Ý nghĩa phương pháp luâ ̣n că ̣p phạm trù nguyên nhân – kết quả
-Thứ nhất, nếu bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có nguyên nhân của nó và do nguyên nhân quyết định, thì để nhận thức được sự vật, hiện tượng ấy nhất thiết phải tìm ra nguyên nhân xuất hiện của nó; muốn loại bỏ một sự vật, hiện tượng nào đó không cần thiết, thì phải loại bỏ nguyên nhân sinh ra nó
-Thứ hai, xét về mặt thời gian, nguyên nhân có trước kết quả nên khi tìm nguyên nhân của một sự vật, hiện tượng cần tìm ở các sự vật, sự kiện, mối liên hệ đã xảy ra trước khi sự vật, hiện tượng xuất hiện Trong thời gian hoặc trong mối quan hệ nào đó, vì nguyên nhân và kết quả có thể đổi chổ cho nhau, chuyển hóa lẫn nhau nên để nhận
Trang 8thức được tác dụng của một sự vật, hiện tượng và để xác định phương hướng đúng cho hoạt động thực tiễn, cần nghiên cứu sự vật, hiện tượng đó trong mối quan hệ mà nó giữ vai trò là kết quả, cũng như trong mối quan hệ mà nó giữ vai trò là nguyên nhân, sản sinh ra những kết quả nhất định
-Thứ ba, một sự vật, hiện tượng có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra và quyết định, nên khi nghiên cứu sự vật, hiện tượng đó không vội kết luận về nguyên nhân nào đã sinh ra nó; khi muốn gây ra một sự vật, hiện tượng có ích trong thực tiễn cần phải lựa chọn phương pháp thích hợp nhất với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể chứu không nên rập khuôn theo phương pháp cũ Trong số các nguyên nhân sinh ra một sự vật, hiện tượng
có nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu, nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài, nên trong nhận thức và hành động cần dựa vào nguyên nhân chủ yếu
và nguyên nhân bên trong
CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ NÀY TRONG VIỆC TÌM HIỂU TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
2.1 Khái quát về tình trạng thất nghiệp của sinh viên hiện nay
Việt Nam đang ở thời kỳ cơ cấu dân số vàng với hơn 63 triệu người (chiếm 69,5% dân số) trong độ tuổi lao động, mang lại nhiều lợi thế về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội Đất nước ta có chính sách mở cửa giao lưu hợp tác với các nước khu vực cũng như các nước trên thế giới kinh tế chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần
tự do cạnh tranh phát triển đã phát huy rất nhiều mặt tích cực Mặt tích cực đáng chú ý
là sự cố gắng vươn lên của các thanh niên mới để có thể đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi của công việc sự mở rộng và phát triển kinh tế thị trường thực sự đã mang lại những cơ hội việc làm cho sinh viên có khả năng năng lực linh hoạt Ngân không phải mọi sinh viên in ra trường đều có việc làm và đây là là một vấn đề đề được quan tâm của xã hội
Hiện nay, trên cả nước có 412 trường Đại học, Cao đẳng, trung bình mỗi tỉnh, thành phố có khoảng 6,6 trường Đại học, Cao đẳng Cả nước có khoảng 2,2 triệu sinh viên trong tổng dân số 95 triệu dân, cao hơn cả các quốc gia phát triển Nhưng bên cạnh đó con số mới nhất theo kết quả từ nguồn tin internet cho thấy tỉ lệ thất nghiệp và làm trái ngành của sinh viên ra trường hiên nay là 80% năm 2019
Trang 9Bên cạnh những sinh viên có đủ những những yêu cầu mà nhà tuyển dụng đòi hỏi hoặc những người có người thân ăn xin hộ , bộ thì còn lại pahir chật vật chạy đi chạy lại lại với các trung tâm tìm việc làm Cũng phải nói thêm rằng chính dựa vào sự khan hiếm của việc làm này trung tâm giới thiệu việc làm “ma” đã mọc lên vài bữa để thu tiền lệ phí tiền mua giới việc làm rồi biến mất hoặc một số sinh viên in ra trường chấp nhận việc làm trái ngành
2.2 Nguyên nhân của tình trạng thất nghiệp của sinh viên hiện nay
2.2.1 Không có định hướng nghề nghiệp trước khi học :
Ở Việt Nam, việc chọn nghề phụ thuộc phần lớn vào quyết định của cha mẹ Với tâm
lý luôn muốn che chở cho con cái, các bậc phụ huynh thường hướng đến những ngành nghề “an toàn”, mang lại danh tiếng như kỹ sư, bác sĩ… và con cái cũng bị động không biết phụ huynh chọn học ngành gì? Mặt khác, xu hướng thị trường cũng là điều đáng nói Một số bạn trẻ cũng có xu hướng theo kịp vòng bạn bè với nghề “truyền lửa”, nhưng đó không phải là do tâm huyết và chuyên môn của họ Định vị bản thân, không biết mình thích gì, có thể làm gì trong tương lai, thuận lợi và khó khăn là gì? Nếu không biết định hướng và lựa chọn đúng chuyên ngành, học sinh sẽ dẫn đến chán nản, học kém, thiếu hứng thú và nhiệt huyết,
2.2.2 Sinh viên ra trường thiếu kỹ năng làm việc :
Nhiều công ty lớn cho biết: “Các kỹ năng của sinh viên mới ra trường vẫn chưa được hình thành, nếu không muốn nói là không tồn tại” Sinh viên tốt nghiệp ngày nay có kiến thức nhưng thiếu kỹ năng, đặc biệt là những kỹ năng cần thiết cho công việc Cũng có bạn trẻ cho rằng nhà tuyển dụng chỉ cần tuyển những người có năng lực chuyên môn, thành thạo vi tính, ngoại ngữ A, B, C Vì vậy, các bạn đều tranh nhau học lấy bằng này, khóa nọ, Nhưng bạn không biết, các chủ doanh nghiệp, công ty, đặc biệt là các công ty nước ngoài luôn chú trọng đến khả năng làm việc, khả năng giao tiếp, khả năng ứng xử, khả năng làm việc nhóm, khả năng hoạch định mục tiêu và xử
lý nhanh các khó khăn trong trường hợp khẩn cấp
Tuy nhiên, quá trình tìm kiếm việc làm không hề dễ dàng Ngoại trừ một số bạn nổi tiếng hơn hoặc được bố mẹ tin tưởng giao phó, thì hầu hết các bạn vẫn còn quá thụ động trong quá trình tìm việc Bạn không tự tin vào bản thân, thiếu nghị lực và dũng
Trang 10khí để đối mặt với khó khăn, thậm chí không biết mình thích làm gì và thích làm công việc này như thế nào Bạn không biết rằng trong một môi trường làm việc năng động
và cạnh tranh cao thì việc có kỹ năng giao tiếp, đàm phán, ăn nói và quản lý thời gian tốt quả thực là yếu tố quyết định giúp bạn Bạn khác biệt và hiệu quả
2.2.3 Chất lượng đào tạo chưa thực sự gắn với nhu cầu xã hội :
Trước đây, mặc dù chính phủ đầu tư rất nhiều tiền cho các trường đại học quốc gia nhưng kết quả không khả quan khi số sinh viên ra trường vẫn thất nghiệp Ngoài ra, việc xã hội hóa giáo dục cho phép nhiều trường đại học tư thục được mở ra để kích thích sự cạnh tranh giữa trường công và trường tư Tuy nhiên, cũng không đặt nhiều
hy vọng vào kết quả này, vì các trường đại học tư nhân vì lợi nhuận chỉ cấp bằng chứ không hề canh cánh “đúng sai” Hai cải tiến này đã dẫn đến một số lượng lớn sinh viên tốt nghiệp không có đủ kỹ năng để tham gia vào công việc công nghiệp Ngoài ra, thành tích giáo dục ở cấp học thấp hơn đang được nâng lên cấp học cao hơn khiến các nhà giáo dục tạo ra những sản phẩm không đủ chất lượng mà không quan tâm đến hậu quả mà người học và xã hội phải gánh chịu, dẫn đến hậu quả đầu ra của nguồn nhân lực nước ta yếu Hệ thống giáo dục của Việt Nam ngày càng lạc hậu
Một nguyên nhân khác là do các trường đại học, cao đẳng còn xem nhẹ phần thực hành mà quá đặt nặng lý thuyết Ngoài ra, còn do chương trình đào tạo ở các trường vẫn theo lối tư duy cũ, thiếu thực tế, cơ sở vật chất nghèo nàn…
2.2.4 Trình độ ngoại ngữ vẫn còn nhiều hạn chế:
Chúng ta đều biết tiếng Anh được xem như là tấm vé thông hành trong tất cả mọi ngành nghề trong thời kỳ hiện đại Thực ra, hầu hết sinh viên ở các trường đại học đều được học tiếng Anh, nhưng chính thái độ học thụ động, không áp dụng thực tế thì khi
ra trường, phương thức dạy và học tiếng Anh tại nhiều trường ĐH chưa hiệu quả, còn nhiều hạn chế như thiếu môi trường rèn luyện tiếng Anh thường xuyên cho sinh viên, phương pháp giảng dạy mang tính một chiều, giáo trình và tài liệu giảng dạy kém hấp dẫn Chưa có được động lực học, cách học phù hợp, khoa học, áp dụng vào môi trường thực tế mới có thể nâng cao trình độ tiếng Anh, để đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng