Trong đó hoạt động ngân hàng có thể được hiểu là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-🕮 -
LUẬT NGÂN HÀNG
CHỦ ĐỀ:
Pháp luật về qui chế thành lập, cấp giấy phép hoạt động, kiểm soát đặc biệt, giải
thể, phá sản, thanh lý tổ chức tín dụng
Sinh viên:
Mã sinh viên:
Ngày sinh:
Giảng viên hướng dẫn Thầy Nguyễn Vinh Hưng
Hà Nội – Tháng 11Năm 2021
Trang 2I KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1 Khái niệm:
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Trong đó hoạt động ngân hàng có thể được hiểu là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.[1]
Tại khoản 1, điều 4, Luật tổ chức Ngân hàng 2010 có quy định: Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vỉ
mô và quỹ tín dụng nhân dân.[2]
Một số quan điểm khác cũng cho rằng: Tổ chức tín dụng là tổ chức kinh tế kinh doanh tiền tệ, dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán
2 Các loại tổ chức tín dụng ở Việt Nam [2]
● Các tổ chức tín dụng nhà nước
● Các ngân hàng thương mại cổ phần đô thị
● Các ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn
● Các chi nhánh ngân hàng nước ngoài
● Các ngân hàng liên doanh
● Các công ty tài chính
Trang 3● Các công ty cho thuê tài chính
● Văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài
● Ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài
3 Hoạt động của tổ chức tín dụng [3]
● Huy động vốn
● Hoạt động tín dụng
● Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
● Các hoạt động khác (góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ)
II NỘI DUNG
1 Qui chế thành lập, cấp giấy pháp hoạt động đối với tổ chức tín dụng
a) Điều kiện thành lập tổ chức tín dụng
● Có vốn điều lệ, vốn được cấp tối thiểu bằng mức vốn pháp định, phải gửi vào tài khoản thanh toán trước 30 ngày Chi tiết về mức vốn pháp định của từng loại hình tổ chức tín dụng được quy định tại danh mục đính kèm Nghị định 10/2011/NĐ-CP
● Chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là pháp nhân đang hoạt động hợp pháp và có đủ năng lực tài chính để tham gia góp vốn; cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có đủ khả
Trang 4năng tài chính để góp vốn Điều kiện của cổ đông sáng lập là cá nhân được quy định tại điều 9 Thông tư 40/2011/TT-NHNN Đồng thời tổ chức tín dụng phải có tối thiểu 02 cổ đông là tổ chức Điều kiện đối với chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập do Ngân hàng Nhà nước quy định;
● Người quản lý, người điều hành, thành viên Ban kiểm soát có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định tại Điều 50 Luật các tổ chức tín dụng 2010;
● Có điều lệ phù hợp với quy định và các quy định khác của pháp luật có liên quan về doanh nghiệp
● Có đề án thành lập và phương án kinh doanh khả thi, và các đề án này không gây ảnh hưởng đến sự an toàn, ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng; không tạo ra sự độc quyền hoặc hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống tổ chức tín dụng
Trong trường hợp tổ chức tín dụng liên doanh hoặc tổ chức tín dụng đến từ nước ngoài thì ngoài việc phải đáp ứng các điều kiện trên còn phải thoã mãn thêm tất cả các điều kiện sau đây:
● Tổ chức tín dụng nước ngoài là pháp nhân được phép hoạt động ngân hàng ở nước ngoài
● Tổ cưhcs tín dụng nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho phép mở văn phòng đại diện tại Việt Nam
Trang 5● Tổ chức tín dụng nước ngoài có quan hệ hợp tác với các tổ chức kinh tế Việt Nam [3]
b) Thủ tục cấp giấy phép hoạt động đối với các tổ chức tín dụng
Căn cứ theo quy định tại chương II, Luật tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung
2017 có quy định về trình tự một tổ chức tín dụng được đưa vào hoạt động như sau:
Bước 1: Cấp giấy phép thành lập và hoạt động các tổ chức tín dụng (Điều 22, Luật
Tổ chức tín dụng 2010)
● Lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép gửi cho ngân hàng nhà nước
● Trong thời hạn 180 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ thì Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc cấp Giấy phép hoặc từ chối cấp Giấy phép cho tổ chức đề nghị cấp phép Đối với văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài,
tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng thì thời gian này là 60 ngày
Bước 2: Đăng ký kinh doanh, đăng ký hoạt động (Điều 24, Luật Tổ chức tín dụng
2010)
● Đăng ký kinh doanh, đăng ký hoạt động
● Sau khi tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác được cấp Giấy phép, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải đăng ký kinh doanh; văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước
Trang 6ngoài khác có hoạt động ngân hàng phải đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật
Bước 3: Công bố thông tin hoạt động (Điều 25 Luật Tổ chức tín dụng 2010)
● Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng phải công bố trên phương tiện thông tin của Ngân hàng Nhà nước và trên một
tờ báo viết hằng ngày trong 03 số liên tiếp hoặc báo điện tử của Việt Nam ít nhất 30 ngày trước ngày dự kiến khai trương hoạt động
Bước 4: Khai trương hoạt động (Điều 26 Luật Tổ chức tín dụng 2010)
● Các tổ chức tín dụng được cấp Giấy phép khi muốn được tiến hành hoạt động thì phải thực hiện khai trương thì tổ chức mới được hoạt động sau ngày khai trương hoạt động
● Khai trương hoạt động trong 12 tháng kể từ ngày cấp giấy phép, sẽ bị thu hồi nếu không làm hoạt động này [4]
c) Thẩm quyền thành lập, thu hồi giấp phép của Tổ chức tín dụng
Thẩm quyền thành lập Tổ chức tín dụng ở Việt Nam là do Ngân hàng nhà nước Việt Nam cấp và cho phép:
“Điều 18 Thẩm quyền cấp, thu hồi Giấy phép
Trang 7Ngân hàng Nhà nước có thẩm quyền cấp, sửa đổi, bổ sung và thu hồi Giấy phép theo quy định của Luật này.” [2]
2 Qui chế kiểm soát đặc biệt
a) Khái niệm
Căn cứ theo quy định tại điều 145, Luật tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung 2017 thì “Kiểm soát đặc biệt là biện pháp quản lí nhà nước do Ngân hàng nhà nước Việt Nam áp dụng đổi với tổ chức tín dụng có nguy cơ mất khả năng chỉ trả, mất khả năng thanh toán nhằm đảm bảo an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng
Nếu để tổ chức tín dụng bị phá sản thì hậu quả xấu sẽ xảy ra ảnh hưởng lớn đối với
hệ thống tổ chức tín dụng, đối với nền kinh tế và đời sống xã hội Chính vì vậy, ngoài các biện pháp bảo đảm an toàn, hạn chế rủi ro khác, nhà nước cần phải áp dụng cơ chế kiểm soát để hạn chế tới mức thấp nhất tình trạng phá sản tổ chức tín dụng
b) Đặc điểm
Kiểm soát đặc biệt chỉ được tiến hành khi tổ chức tín dụng có nguy cơ bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, mất khả năng chi trả: Khác với hoạt động giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ do cơ quan giám sát ngân hàng thực hiện đối với mọi
tổ chức tín dụng, kiểm soát đặc biệt chỉ áp dụng đối với các Tổ chức tín dụng có nguy cơ bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, mất khả năng chi trả
Trang 8Mục đích của kiểm soát đặc biệt trước hết là nhằm khôi phục khả năng tài chính của
tổ chức tín dụng đang có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán và đảm bảo sự an toàn cho hoạt động của tổ chức và cả hệ thống ngân hàng [3]
c) Đối tượng áp dụng:
Căn cứ điều 145, Luật các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung 2017 thì các tổ chức tín dụng sẽ bị kiểm soát đặc biệt nếu thoả mãn một trong số các điều kiện sau đây:
● Mất, có nguy cơ mất khả năng chi trả hoặc mất, có nguy cơ mất khả năng thanh toán theo quy định của Ngân hàng Nhà nước;
● Số lỗ lũy kế của tổ chức tín dụng lớn hơn 50% giá trị của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ ghi trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất;
● Không duy trì được tỷ lệ an toàn vốn quy định tại điểm b khoản 1 Điều 130 của Luật này trong thời gian 12 tháng liên tục hoặc tỷ lệ an toàn vốn thấp hơn 4% trong thời gian 06 tháng liên tục;
● Xếp hạng yếu kém trong 02 năm liên tục theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
3 Qui chế về phá sản, giải thể, thanh lý tổ chức tín dụng
a) Phá sản:
Trang 9“Tổ chức tín dụng không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ
có yêu cầu, sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có văn bản không áp dụng hoặc chấm dứt áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán hoặc chấm dứt
áp dụng kiểm soát đặc biệt thì được coi là lâm vào tình trạng phá sản.” [5]
Theo đó, Tổ chức tín dụng bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi:
● Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có văn bản không áp dụng hoặc chấm dứt
áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán hoặc chấm dứt áp dụng kiểm soát đặc biệt;
● Sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản trên mà tổ chức tín dụng vẫn không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu [6]
b) Giải thể
Giải thể tổ chức tín dụng lần đầu tiên được ghi nhận tại Luật các Tổ chức tín dụng
1997, qua đó, có thể hiểu giải thể tổ chức tín dụng là việc tổ chức tín dụng tiến hành các thủ tục pháp lý về giải thể, nhằm chấm dứt tư cách pháp nhân và các quyền, nghĩa vụ liên quan của tổ chức tín dụng Việc giải thể có thể do tổ chức tín dụng tự nguyện xin giải thể hoặc rơi vào trường hợp bắt buộc giải thể theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng
Trang 10Căn cứ điều 154, Luật các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung 2017 thì các tổ chức tín dụng được giải thể trong các trường hợp sau
● Tự nguyện xin giải thể nếu có khả năng thanh toán hết nợ và được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản
● Khi hết thời hạn hoạt động không xin gia hạn hoặc xin gia hạn nhưng không được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản;
● Bị thu hồi Giấy phép
c) Thanh lý
● Trong trường hợp tổ chức tín dụng bị tuyên bố phá sản, việc thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng được thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản
● Khi giải thể theo quy định tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải tiến hành thanh lý tài sản dưới sự giám sát của Ngân hàng Nhà nước và theo trình tự, thủ tục thanh lý tài sản do Ngân hàng Nhà nước quy định
● Trong quá trình giám sát thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng bị giải thể, nếu phát hiện tổ chức tín dụng không có khả năng thanh toán đầy đủ các khoản
nợ, Ngân hàng Nhà nước ra quyết định chấm dứt thanh lý và thực hiện phương
án phá sản tổ chức tín dụng theo quy định tại Mục 1e Chương VIII của Luật các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung 2017
Trang 11● Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị thanh lý có trách nhiệm thanh toán các chi phí liên quan đến việc thanh lý tài sản [2]
III BÌNH LUẬN
Về vấn đề phá sản, theo em, trên thực tiễn, Nhà nước còn quá nhân nhượng, chưa thật sự mạnh tay Với các tổ chức tín dụng yếu kém (dựa trên cơ sở đánh giá mức độ tác động của tổ chức tín dụng đó với hệ thống tài chính quốc gia) thì cần thẳng tay loại bỏ để cải thiện, phát triển nền kinh tế Đương nhiên, trừ trường hợp khi tổ chức
đó giải thể sẽ gây sự đổ vỡ khổng lồ cho nền kinh tế nước nhà
● Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền, đề cao pháp luật lên hàng đầu, không có một cá nhân, tổ chức nào được đứng trên pháp luật Vì vậy, việc một
tổ chức tín dụng đã được thoả mãn các điều kiện để được phá sản thì chúng phải buộc phá sản
● Tái cấu trúc và mua lại các tổ chức tín dụng yếu kém chỉ là một giải pháp tạm thời Theo em, đây chỉ là hành động giải quyết được phần nổi của tảng băng chìm Việc bắt một tổ chức tín dụng khác phải gánh chịu hậu quả, đồng thời tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của một tổ chức tín dụng yếu kém, nếu không thể tái cấu trúc được sẽ là một gánh nặng rất lớn Có thể gây ảnh hưởng đến nhiều
tổ chức tín dụng khác, thậm chí ảnh hưởng đến cả một nền kinh tế
Trang 12DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 13[1] Wikipedia tiếng Việt - Tổ chức tín dụng:
https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95_ch%E1%BB%A9c_t%C3%ADn_d
%E1%BB%A5ng
[2] Luật các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi, bổ sung 2017
[3] Giáo trình Luật ngân hàng 2005
[4] “Điều kiện, thủ tục và thẩm quyền thành lập tổ chức tín dụng”, Luật sư Nguyễn Văn Dương, 2021
[5] Nghị định 05/2010/NĐ-CP quy định việc áp dụng Luật phá sản đối với các tổ chức tín dụng
[6] “Pháp luật quy định như thế nào về phá sản tổ chức tín dụng?”, SB Law, 2018