Nguyễn Vinh Hưng MSSV:... 3 Khái quát chung về hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng ..... Đây được xem như là bước quan trọng nhất trong giai đoạn này
Trang 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Tiểu luận
Môn học: Luật Ngân hàng
Đề tài: Pháp luật về hoạt động cho vay theo hợp đồng tín
dụng của tổ chức tín dụng
Năm,2021
Giảng viên:
Sinh viên:
TS Nguyễn Vinh Hưng
MSSV:
Trang 2Mục lục
Lí do chọn đề tài: 3
Khái quát chung về hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng 3
Pháp luật về hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng 4
Khái niệm hợp đồng tín dụng: 4
Đặc điểm hợp đồng tín dụng 4
Giao kết hợp đồng tín dụng 4
Hình thức của hợp đồng tổ chức tín dụng 5
Nội dung của hợp đồng tín dụng 6
Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng tín dụng 6
Hiệu lực của hợp đồng tín dụng 7
Thực tiễn pháp lý về hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng 7
Một số đề xuất, kiến nghị nhằm giải quyết hạn chế của pháp luật về hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng 8
Kết luận 8
Trang 3I Lí do chọn đề tài:
Trong tình hình những năm vừa qua, nền kinh thế thị trường đã và vẫn đang tiếp tục phát triển theo đường lối của Đảng, nhà nước Việt Nam, hoạt động tín dụng ngân hàng được sử dụng như một sự tương trợ, động lực to lớn, đóng vai tò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế nước nhà Tuy nhiên cùng với sự phát triển thì theo tình hình dịch bệnh covid-19 cũng đã ảnh hưởng phần nào tới nền kinh tế thế giới nói chung và Việt nam cũng không ngoại lệ Bên cạnh những mặt đạt được vẫn nảy sinh một số rủi ro đến từ các khoản nợ cho vay dẫn đến thất thoát vốn Quan hệ trong lĩnh vực tín dụng chính là mối quan hệ vay mượn vốn giữa tổ chức tín dụng với cá nhân hoặc tổ chức Và hình thức pháp lý của quan hệ này chính là hợp đồng tín dụng
Cần phát huy những mặt lợi thế và cũng nên khắc phục những hạn chế, muốn có một nền kinh tế ổn định, song hành cùng đó cần thiết lập các hệ thống tổ chức tín dụng chuyên nghiệp, hoàn thiện về tổ chức lẫn mặt pháp lý, cụ thể ở đây em xin phép được làm rõ về tầm quan trọng của hoạt động cho vay theo hợp đồng của tổ chức tín dụng
II Khái quát chung về hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng
Có thể nói từ xa xưa đến nay cứ có cầu thì sẽ có cung, cho vay chính là một hiện tượng đối với nhu cầu thiếu vốn của người này được bên thừa vốn đáp ứng và thỏa thuận với điều kiện hoàn trả Ngày nay hoạt động cho vay thể hiện rõ nhất là qua tổ chức tín dụng đối với cá nhân hoặc tổ chức được giao kết bằng hợp đồng tín dụng
Áp dụng quy định Điều 17, Quyết định 20 VBHN-NHNN cũng đã nhắc đến khái niệm hợp đồng tín dụng là: “Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng phải có nội dụng về điều kiện vay, mục đich sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận.”1
1 Điều 17, Quyết định 20 VBHN-NHNN
Trang 4III Pháp luật về hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng
1 Khái niệm hợp đồng tín dụng:
Hợp đồng tín dụng về bản chất chính là hợp đồng cho vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 Tuy nhiên, hợp đồng tín dụng có đặc điểm riêng khác với những hợp đồng cho vay tài sản khác là hợp đồng giữa các tổ chức tín dụng (cho vay) và bên vay Hợp đồng tín dụng chính là sự thỏa thuận về mặt pháp lý giữa tổ chức tín dụng và khách hàng là cá nhân hay tổ chức bằng văn bản Mục đích: nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ các bên đảm bảo theo quy định pháp luật
2 Đặc điểm hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng có một số đặc điểm sau:
+ Về hình thức:
Hợp đồng tín dụng bắt buộc được lập bằng văn bản (đa phần là theo mẫu) Với nhiều tên gọi khác nhau (hợp đồng tín dụng, hợp đồng vay, )
+ Về chủ thể:
Bên cho vay bắt buộc là các tổ chức tín dụng, đáp ứng đủ điều kiện pháp luật quy định hiện hành như: có giấy phép thành lập và hpjat động do ngân hàng nhà nước cấp, có điều lệ, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp,
Bên có thể là các cá nhân, tổ chức, có đủ điều kiện vay vốn do luật định Cần có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, mục đích vay vốn cần hợp pháp
+ Về đối tượng:
Đối tượng của hợp đồng tín dụng là những khoản vốn được thể hiện dưới hình thức tiền tệ
3 Giao kết hợp đồng tín dụng
Giao kết hợp đồng tín dụng là quá trình mang tính kỹ thuật nghiệp vụ ( ngân hàng) – pháp lý do các bên thực hiện theo một trình tự luật định Đề nghị giao kết: là hành vi pháp lý – biểu hiện ý chí.Hình thức là văn bản chính thức mà một bên gửi cho bên còn lại với nội dung nhằm giao kết hợp đồng Thông thường là nhu cầu vay vốn của một tổ chức, cá nhân đề nghị vay (chính là đơn vay), đính kèm giấy tờ đủ nhằm chứng minh đủ điều kiện vay theo luật định gửi cho tổ chức tín dụng thẩm định, coi như là một đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng
Trang 5Tuy nhiên, thực thế hiện nay ngoài việc bên có nhu cầu vay vốn đề nghị giao kết thì bên cho vay cũng đã chủ động tìm đến khách hàng của mình Hình thức ở đây được thể hiện qua thư mời chào, ở đây nhằm mục đích chính là mở rộng thị trường, tìm kiếm khách hàng tiềm năng để đẩy mạnh khả năng cạnh tranh là sức mạnh của tổ chức (thư mời chào không phải là một văn bản hợp đồng cụ thể nên bên khách hàng tiếp nhận nó không có nghĩa là hợp đồng tín dụng được hình thành).2
Sau bước đề nghị giao kết hợp đồng sẽ tới thẩm định hồ sơ tín dụng: Áp dụng Điều 17: Thẩm định và quyết định cho vay theo thông tư 39/2016/TT-NHNN
Đây là hành vi mang tính pháp lí và nghiệp vụ của tổ chức tín dụng đối với bên vay nhằm xác định bên vay có đủ điều kiện mà pháp luật cũng nhưng tổ chức tín dụng quy định hay không.Trên cơ sở thẩm định để quyết định có giao kết hay không
Đây được xem như là bước quan trọng nhất trong giai đoạn này nên cần tuân thủ pháp luật chặt chẽ Đảm bảo nguyên tắc độc lập, phân định giữa trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm liên đới.3
Sau khi thẩm định tổ chức tín dụng hoàn toàn có quyền từ chối hoặc chấp nhận (từ chối cần có lí do rõ ràng, thông báo bằng văn bản cho khách hàng)
+ Chấp nhận giao kết hợp đồng: chính là hành vi mà bên nhận đề nghị sẽ gửi văn bản chính thức nhằm đồng ý giao kết hợp đồng tín dụng Tuy nhiên, đây không thể thay thế cho việc giao kết hơp đồng giữa các bên mà chỉ xem như một lời đồng ý
+ Giao kết hợp đồng chính thức hoàn thiện khi và chỉ khi các bên đàm phán và đồng ý ký kết về các điều khoản mà hợp đồng tín dụng có nhắc đến phù hợp với quy định pháp luật
4 Hình thức của hợp đồng tổ chức tín dụng
Hình thức của hợp đồng chỉ có thể là văn bản
Đây cũng chính là ưu điểm của loại hình thức hợp đồng này Vì tạo ra một bằng chứng cụ thể cho việc thực hiện giao kết hợp đồng và dựa vào đây để giải quyết tranh chấp phát sinh
2 Điều kiện và thủ tục giao kết hợp đồng tín dụng – Lawkey.vn
3 Điều 17, thông tư 39/2016/TT-NHNN
Trang 6Ngoài ra, việc có văn bản, chứng cớ sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho các cơ quan có trách nhiệm thi hành công vụ Việc giao kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản chính là hình thức công khai minh bạch giữa các bên để bên thư ba biết rõ về việc lập ước
5 Nội dung của hợp đồng tín dụng
Căn cứ theo Thông tư 39/2016/TT-NHHH, nội dung hợp đồng tín dụng bao gồm các điều khoản như:
- Điều khoản về chủ thể cho vay-khách hàng
- Điều khoản về đối tượng hợp đồng
- Điều khoản về thời hạn sử dụng vay vốn
- Điều khoản về mục đích sử dụng vay vốn
- Điều khoản phương thức cho vay, trả nợ gốc, lãi tiền vay và thứ tự thu hồi nợ gốc, lãi, trả nợ trước hạn
- Điều khoản về lãi suất cho vay, chuyển nợ quá hạn và một số nội dung khác như quyền và trách nhiệm của các bên, hiệu lực của hợp đồng, 4
6 Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng tín dụng
Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay:
_ Nghĩa vụ:
+ Chuyển giao tiền đầy đủ cho bên vay, đúng thời gian đã giao kết trong hợp đồng cho khách hàng vay sử dụng (có nghĩa vụ giải ngân)
+ Có nghĩa vụ kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền vay và trả nợ của bên vay
_ Quyền:
Có quyền yêu cầu bên vay hoàn trả tiền đúng giao kết hợp đồng (tiền bồi thường nếu có)
Quyền và nghĩa vụ của bên vay:
_ Nghĩa vụ:
+ Sử dụng tiền vay vào đúng mục đích trong hợp đồng
+ Hoàn trả tiền vay cả gốc, lãi cho bên cho vay, ( nghĩa vụ trả tiền phạt, bồi thường cho bên cho vay nếu có)
4 Thông tư 39/2016/TT-NHHH
Trang 77 Hiệu lực của hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng có hiệu lực khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:
+ Mục đích hợp đồng phù hợp với luật định
+ Chủ thể tham gia hợp đồng tín dụng có đủ năng lực hành vi dân sự
Một hợp đồng tín dụng bị coi là vô hiệu khi không thỏa mãn một trong các điều kiện về hợp đồng tín dụng theo quy định pháp luật
Dẫn tới hậu quả pháp lý ở đây: hợp đồng tín dụng sẽ không phát sinh hiệu lực từ thời điểm ký kết
8 Thực tiễn pháp lý về hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng
Có thể nói hoạt động về kinh tế, tài chính, ngân hàng luôn vận động và không ngừng thay đổi Từ đó phát sinh ra nhiều mối quan hệ, hình thái, phương thức giao dịch phong phú Chính vì vậy việc nhà nước ngày càng chú trọng, quan tâm để hoàn thiện pháp luật về ngân hàng nói chung và về hợp đồng tín dụng ngân hàng nói riêng là rất cần thiết Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực mà hệ thống pháp luật về ngân hàng và hợp đồng tín dụng ngân hàng mang lại cho các tổ chức tín dụng và người tham gia Tạo dựng một khuôn khổ pháp lý để vừa thúc đẩy, vừa phòng ngừa rủi ro cho các hoạt động của tổ chức tín dụng, cũng như bình đẳng giữa các tổ chức Song song với đó vẫn còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế Cụ thể có thể kể đến những hạn chế sau:
+ Thứ nhất: Hợp đồng tín dụng ngân hàng giữ vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh với các tổ chức tín dụng Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một khái niệm cụ thể về pháp luật nào đối với hợp đồng tín dụng , để giúp người tham gia hiểu rõ,đồng thời giúp cơ quan quản lý dễ thực hiện chức năng quản lý mà chỉ có những nội dung chủ yếu của hợp đồng ngân hàng
+ Thứ hai: một số trường hợp về quy định cho vay còn hạn chế
Áp dụng Điều 126 Luật Tổ chức tín dụng và Điều 19 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng kèm Quyết định 1627/2011/QĐ – NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 quy định về những trường hợp không được cấp tín dụng và cho vay Nhìn chung quy định này về phạm vi còn hơi hạn hẹp, bởi nếu họ có tài sản thuộc quyền sở hữu có nhu cầu cầm cố, thế chấp tại ngân hàng hay nơi ngân hàng người thân họ làm việc thì không có gì là thiếu an toàn ( bởi ngân hàng cho khách hàng vay nếu có tài sản đảm bảo, có tiềm năng) Miễn
Trang 8những đối tượng trong quy định sử dụng vốn một cách đúng đắn, không trái đạo đức, pháp luật Quy định trên đã vô tình mất đi lượng khách hàng tiềm năng lớn
+ Thứ ba: Một số quy định về cơ chế bảo đảm tiền vay và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay còn chưa thích hợp
Ví dụ: Pháp luật hiện hành cho phép được sử dụng tài sản hình thành trong tương lai để bảo đảm Nhưng khó mà xác minh hay chắc chắn được rằng tương lai tài sản đó có hình thành hay không Không những vậy còn thiếu sự đồng nhất giữa các pháp luật khác nhau có liên quan dẫn tới vướng mắc trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm tiền vay Đây vừa là khó khăn đối với khách hàng khi thực hiện thế chấp, cầm cố, bảo lãnh tài sản để vay vốn vừa khó khăn cho các tổ chức tín dụng mà khách hàng thwujc hiện vay vốn, bởi bước thẩm định và phê duyệt khoản vay là không chắc chắn và dễ gặp rủi ro cho các bên dẫn tới tranh chấp
9 Một số đề xuất, kiến nghị nhằm giải quyết hạn chế của pháp luật về hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng
+ Thứ nhất: Cần quy định một khái niệm chính thức, cụ thể về hợp đồng tín dụng ngân hàng Để cho khách hàng cùng các tổ chức tín dụng có sự hiểu biết thống nhất khi áp dụng và thực hiện
+ Thứ hai: Luật nên bớt cứng rắn trong việc quy định những trường hợp không được cấp tín dụng hay cho vay Để mở rộng thêm đối tượng khách hàng tiềm năng và đáp ứng nhu cầu chính đáng của những đối tượng đủ điều kiện tham gia Cũng như nhằm nâng cao trách nhiệm, tính tự chủ cho các tổ chức tín dụng
+ Thứ ba: Cần tăng cường biện pháp bảo đảm an toàn, hoàn thiện hệ thống pháp luật về ngân hàng và hợp đồng tín dụng ngân hàng để có sự thống nhất giữa các luật liên quan và đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ cho khách hàng và các tổ chức tín dụng
IV Kết luận
Từ những khái quát chung về hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức
tín dụng nói trên cùng nhưng bình luận phân tích, đánh giá Tổng quan chung, bên cạnh
những quy định cụ thể, rõ ràng về pháp luật của hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, cùng với sự ảnh hưởng tích cực mà pháp luật về ngân hàng và tổ chức tín dụng mang lại cho hoạt động tài chính, ngân hàng, thì vẫn còn những nhược điểm cần khắc phục để
Trang 9tránh những rủi ro cho khách hàng cũng như tổ chức tín dụng, rộng hơn nữa là cho nền tài chính nước nhà Nhà nước cần cấp thiết, nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật một cách chặt chẽ hơn nữa để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ cho khách hàng và các tổ chức tín dụng, cũng như sự an toàn cho hệ thống tài chính nước nhà Hiện nay, với tình hình chung của thế giới, dịch bệnh vẫn còn khá căng thẳng, kéo theo sự thay đổi, biến động của nền tài chính toàn thế giới Và chính sự thay đổi này sẽ ảnh hưởng kép đến mức lãn suất xuất cơ bản của ngân hàng kéo theo là ảnh hưởng đến chính chính sách cho vay của ngân hàng đó Vậy nên việc hoàn thiện hệ thống pháp luật để củng cố là càng sớm càng tốt, hết sức cần thiết
Tài liệu tham khảo
1 Quyết định 20 VBHN-NHNN
2 Thông tư 39/2016/TT-NHNN
3 Quyết định 1627/2011/QĐ – NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001
4 https://lawkey.vn/dieu-kien-va-thu-tuc-giao-ket-hop-dong-tin-dung/
5 Luật Tổ chức tín dụng 2010
6 Bộ luật Dân sự 2015
7 Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội