Các giáo lý của Đức Thích Ca Mâu Ni được lưu giữ trong các tông phái, trong đó nhiều giáo lý quan trọng được được lưu giữ ở Duy thức tông.. Duy thức tông là một trong những tông phái qua
Trang 1TÌM HIỂU VỀ NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA DUY THỨC TÔNG?
I DẪN NHẬP
Đức Thích Ca Mâu Ni trải qua nhiều năm khổ tu, cuối cùng đã thành bậc Đẳng Chánh Giác, thành Đức Thế Tôn, tự mình đạt tới cảnh giới giác ngộ thực sự Để thích ứng căn cơ của chúng sinh, Đức Thích
Ca Mâu Ni đem chân lý hoàn mỹ do mình chứng ngộ biểu thị ra, Ngài
đã dùng các loại phương pháp khác nhau để giác ngộ chúng sinh Có khi Ngài giảng cho một người nghe, có khi Ngài giảng cho đông đảo đại chúng nghe, cũng có khi Ngài giảng cho chư Thiên trên trời nghe nữa Bằng phương pháp hiệu nghiệm như thế, Đức Thích Ca Mâu Ni
đã thuyết pháp trong vòng gần 49 năm Những gì Ngài thuyết giảng sau này được các môn đệ tập hợp lại thành các bản kinh và truyền lại cho đến ngày hôm nay
Các giáo lý của Đức Thích Ca Mâu Ni được lưu giữ trong các tông phái, trong đó nhiều giáo lý quan trọng được được lưu giữ ở Duy thức tông Duy thức tông là một trong những tông phái quan trọng của Phật giáo Theo dong thời gian và căn cơ của chúng sanh mà giáo lý tông duy thức bị phai mờ Đây là một hệ thống giáo lý bác học của Phật giáo, nếu nền tảng phật học của người tìm hiểu phật giáo không vững chắc thì không thể hiểu rõ được giáo thuyết của tông này.Người học phật muốn tìm hiểu và tu tập theo duy thức thì cần phải hiểu rõ những thuật ngữ và quán xét được các hành tướng của Pháp, nhân và ngã đều không có thực mà chỉ là do thức biến, mà không còn phiền não Do vậy, nghiên cứu về nguồn gốc và sự phát triển của Duy thức
Trang 2tông có ý nghĩa quan trọng đối với các chư tăng phất tử để hiểu rõ hơn
về các giáo lý Phật giáo
II NỘI DUNG
1 Duy thức tông
Duy thức tông là tên gọi tại Đông Nam Á của một trường phái Phật giáo Tại Ấn Độ và Tây Tạng, tông này được gọi là Thức tông, Thức học, hoặc Du-già hành tông; tại Tây Tạng, người ta cũng gọi là Duy tâm tông Đây là một trong hai trường phái chính của Phật giáo Đại Thừa do hai Đại sư Vô Trước và người em là Thế Thân sáng lập Tương truyền rằng, chính Ứng thân (Tam thân) của Bồ Tát Di lặc khởi xướng trường phái này ở thế kỉ thứ 4 Công nguyên Các đại
biểu khác của phái này là Bandhusri (Thân Thắng), Citrabhana (Hỏa
Biện), Gunamati (Ðức Tuệ), Dignaga (Trần Na), Sthiramati (An Tuệ),
Dharmkirtri (Pháp Xứng, học trò của Dignàga), Silabhadra (Giới
Hiền, học trò của Dharmapàla) Silabhadra tuyên bố rằng giáo nghĩa
của Vô Trước và Thế Thân là “trung đạo giáo”, là cao hơn giáo nghĩa nguyên thủy (Phật giáo Nguyên thủy) và “không giáo” của Long Thọ
Khi sư Huyền Trang từ Ấn Độ trở về và phiên dịch các bộ luận chính của Duy thức tông ra tiếng Hán, phái Pháp tướng tông (phái tìm hiểu bản tính và hình dạng của các pháp) hình thành ở Trung Quốc và lan tỏa ra một số nước Đông Á
2 Nguồn gốc ra đời
Vào những thế kỷ đầu tiên của công nguyên một tông phái mới, được biết dưới danh từ Duy-thức, bắt đầu phát triển Sau năm 500 càng ngày càng chế ngự tư tưởng của Đại Thừa, những lý thuyết của tông phái này rất phức tạp khó trình bầy một cách khái quát Chúng
Trang 3giả thuyết một mối liên hệ với những phương pháp và hiệu quả của thiền-định chặt chẽ hơn đã ứ chúng ta biết ngày nay
Khuynh hướng đầu tiên hướng về Duy Thức tông bắt đầu vào khoảng năm 150 với kinh Sandhininnocana Giữa năm 150 và 400,
chúng ta có vài tài liệu kinh giảng thuyết ”Duy Thức” Kinh Lăng già, Hoa Nghiêm (Avatamsaka) và Abhisamayàlankàra giữ địa vị trung gian giữa Trung Quán luận và Duy Thức tông ”Abhisamayàlankàra” là
một sớ giải quan trọng về Prajnàpàramità, đã hướng dẫn những giải thích về Prajnàpàramità vào khoảng 350 trở về sau, và hãy còn là căn bản giải thích kinh trên trong những tịnh xá ở Tây Tạng và Mông
Cổ Kinh Hoa Nghiêm lấy lại giáo nghĩa về đồng nhất tính của vạn pháp và giải thích nó như sự tương nhập của các yếu tố với nhau
Duy Thức tông được thành lập vào khoảng 400 bởi hai anh em Asanga (Vô Trước) và Vasubandhu (Thế Thân), người Tây Bắc
Ấn Một vài học giả đặt Asanga sớm hơn nữa vào năm 320 Asanga và
Vasubandhu hệ thống hóa lý thuyết Duy Tâm và ngoài ra còn phát khởi ba giáo nghĩa về Tàng thức, Tam tướng, và tam thân Phật Tông
phái đã xây dựng một hệ thống kinh viện hết sức phức tạp và không thiếu những suy lý phong phú
Từ hàng ngũ Duy Thức tông nẩy ra những người phát huy môn Luận lý học Phật giáo Luận lý Phật giáo do Dignàga thành lập, vào khoảng năm 440 và người ta đã viết nhiều về đề tài này ở Ấn Độ cho đến năm 1.100 Giá trị hoằng pháp của môn Luận lý khiến người ta quan tâm tới nó rất nhiều Trong suốt thời Trung Cổ Ấn Độ, các vị vua chúa thường tổ chức những cuộc tranh luận trong đó những tu sĩ khổ hạnh của nhiều tông phái tranh biện trước một số cử tọa đông
Trang 4đảo Sự chiến thắng gia tăng thanh thế và sự bảo trợ của nhà vua Sự tập luyện về luận lý mang lại ưu thế cho các luận sư Phật giáo đối với đối thủ và những tông phái Ấn Độ giáo bắt buộc phải thiết lập những
hệ thống luận lý riêng của họ Luận lý học của Dignàga có một hậu quả gián tiếp quan trọng Bất cứ nơi nào những nhà Duy thức học có ảnh hưởng, người ta đều bỏ rơi A tỳ đàm truyền thống để đến với tân luận lý; như thế, dù không bị công khai khước từ, A Tỳ Đàm cũng càng ngày càng bị bỏ quên Truyền thống luận lý Duy thức tông hãy còn hiện hành ở Tây Tạng Ở Trung quốc, chúng ta có một nền văn điển khá rộng lớn và ở Nhật Bản, cho đến thế kỷ thứ XV, một nền văn điển mênh mông nối kết với những bộ luận Ấn Độ
Duy thức tông biến mất ở Ấn Độ đồng thời với Phật giáo, vào khoảng năm 1.100 Nó được mang qua Trung Hoa bởi nhiều Đại học giả; trong đó hai tâm trí siêu đẳng nhất, Paramàrtha (500-569) từ Ujjayini (Ogein) đến Đông Ấn năm 546 và Huyền Trang, nhà đại chiêm bái (khoảng 650) Tông phái của Huyền Trang được biết dưới tên duy thức (Weih-shih) [2]
Ngoài tông phái của Paramàrtha, ở Trung Hoa còn có nhiều tông phái khác của truyền thống Duy Thức tông mà những cuộc tranh biện kinh viện dài về những điểm khúc mắc của giáo lý đã đánh dấu lịch sử của nó Năm 653, và một lần nữa vào năm 712 tông phái được du
nhập vào Nhật Bản, dưới tên Hosso (=Trung Hoa, fa tsiang tsong
Pháp tướng tông) Trong thời đại Tempyo, nó truyền bá rộng rãi nhờ những cố gắng của Sojo Gien (tịch năm 728) Tông phái còn tồn tại đến ngày nay như một trong những tông phái nhỏ Nhật Bản, với 44 chùa và tịnh xá và 700 tăng sĩ [1]
Trang 53 Sự phát triển của Duy thức tông
Sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni nhập niết bàn thì chúng đệ tử của ngài không còn được người thầy toàn năng trực tiếp dạy dỗ, chỉ đạo nữa Bấy giờ, đại đệ tử là Ma ha Ca Diếp đứng ra huy động 500 đệ tử khác của thầy Thích Ca mâu ni, tổ chức cuộc kết tập Phật pháp với mong muốn Phật pháp trường tồn với đời, không phải lâm vào cảnh Phật mất thì Pháp bị diệt
Cuộc đại hội kết tập lần đầu ấy chỉ tập hợp có 500 đệ tử trong số hàng ngàn đệ tử của Đức Thích Ca Mâu Ni, lại chỉ diễn ra trong vòng
có ba tháng, nên thành quả của lần kết tập ấy chỉ gồm ý kiến của một
số người tuy là những người nòng cốt gần gũi với thầy hơn cả, cũng không thể làm mãn ý tất cả được
Trong lần kết tập đầu tiên có thể gọi là thuộc đợt kết tập Ma ha
Ca Diếp ấy, kinh sách tập hợp được chỉ do một người còn nhớ đọc ra cho hội nghị nghe (A Nan), rồi mọi người trong hội nghị thẩm định Bấy giờ cũng không có việc ghi chép, rồi trải qua nhiều lần khẩu truyền từ người trước qua người sau thì tránh sao khỏi sai sót, nhầm lẫn, tam sao thất bổn, đảo lộn thứ tự
Phải đến hơn hai trăm năm sau, vào thế kỷ thứ III trước CN, thời vua A Dục [A Dục vương (273 - 232 trước CN)] mới xuất hiện kinh Phật bằng chữ viết Tuy nhiên, văn tự ghi chép các kinh sách thời vua
A Dục còn trong tình trạng sơ khai, rất lộn xộn, khác nhau về chủng loại, thủ xả, xuất nhập thì có thể suy đoán mà biết được rằng những ghi chép kinh sách vào thời vua A Dục khó mà đảm bảo đúng hoàn toàn được [3]
Trang 6Ba trăm năm sau nữa thì kinh điển Đại thừa mới thấy lưu hành Những gì từ kinh Đại thừa viết ra không thể phân ra cái nào trước cái nào sau so với kinh điển Tiểu thừa Kinh điển Đại thừa lại được nhiều lần kết tập nữa, lại sản sinh nhiều tông phái, ngày càng dùng biểu tướng sự vật mà phát triển hoành tráng, hình thành lý luận cơ bản cho học thuyết của mỗi tông phái
Trong vòng khoảng sáu trăm năm sau khi Đức Phật nhập diệt thì xuất hiện Bồ tát Mã Minh, người đầu tiên tạo lập mầm mống giáo pháp Đại thừa và bắt đầu ra sức đề xướng Phật pháp Đại thừa Sau đó,
Bồ tát Long Thọ ra đời, nối tiếp Bồ tát Mã Minh Dựa theo ”Đại Bát
Nhã kinh”, Long Thọ đã soạn các sách ”Trung luận”, “Bách luận”,
“Thập nhị môn luận” Bồ tát Long Thọ đả phá các phái Hữu chấp, xiển dương tư tưởng Không nghĩa rốt ráo của Đại thừa Từ đó, tư tưởng Không nghĩa của Đại thừa trở nên hưng thịnh Tư tưởng Không nghĩa của Đại thừa chiếm thế chủ lưu, song ý nghĩa về Không rốt
ráo không phải được toàn thể chúng sinh tiếp thu dễ dàng, chỉ những
người thượng căn lợi trí thông giải, còn những người liệt căn độn trí thì không dễ gì
Trong vòng khoảng chín trăm năm sau khi Đức Phật nhập diệt thì xuất hiện Bồ tát Vô Trước Ban đầu, Vô Trước xuất gia tu học với
phái Nhất thiết Hữu Bộ thuộc phái Phật giáo Tiểu thừa, tu tập Không
quán Tu Không quán chừng đã quá lâu mà chẳng thấy hiệu nghiệm, tinh thần bế tắc quá, Vô Trước tính tự sát, nhưng rồi chợt nhớ đến tôn giả Tân Đầu Na có lần đến giáo hóa, lý giải rất sâu sắc Bấy giờ, trong lòng Vô Trước tuy chưa thấy thỏa mãn vì cho rằng theo đạo lý ấy thì không thể viên mãn Thế rồi, Vô Trước chứng ngộ Đại Thừa không
Trang 7nghĩa Vô Trước còn muốn cho người đời tin tưởng hơn, liền thuyết giảng các Luận của Đức Di Lặc như “Du già sư địa luận”, “Biện trung biên luận” và nhiều Luận khác nữa Vô Trước đã ra sức hoằng dương giáo pháp thâm mật ở thời kỳ thứ ba Vô Trước căn cứ vào các kinh
luận như “Giải Thâm mật kinh”, “Du già sư địa luận”, rồi viết sách “Nhiếp Đại Thừa luận thích”, hoằng dương giáo nghĩa Tam tính
Duy thức Đến cuối đời, Vô Trước viết sách “Duy Thức tam thập luận”, trở thành khoa vàng luật ngọc của Duy Thức tông Sau đó, lại được Thập đại luận sư quảng thích sách Luận này của Vô Trước khiến cho Duy Thức tông đại hưng thịnh, trở thành chủ lưu trong dòng chảy Phật giáo
III KẾT LUẬN
Những ý nghĩa trừu tượng pháp thuật của những ý niệm như thế
này có một tầm quan trọng lịch sử rất lớn Thế gian nơi những cơ-cấu
Phật hiện ra không là gì khác hơn một ảo hóa (màyà) Khi dậy thế
gian là một ảo tưởng, Phật giáo không có ý nói rằng nó không tồn tại Nó hiển nhiên có thực, nhưng nó giả dối bởi người ta ngộ nhận nó với cái không có thực Nó không thực hữu và, như một trò ảo thuật, người ta không được coi nó quá nghiêm trọng Trong ý nghĩa thực tiễn này, thế gian pháp ngay từ lúc khởi đầu Phật giáo sử đã bị gọi là Màyà Từ đó, danh từ được dùng phổ thông Như Đức Phật nói với
người làm trò quỉ thuật trong kinh Bảo Tích (Ratnakùta): “Những lạc
thụ của tất cả mọi chúng sinh và của cải của họ do Màyà của hành vi
họ tạo ra; Tăng đoàn này do Màyà của Pháp; chính ta, ta là Ảo hóa
do Màyà của Trí Tuệ; và vạn pháp nói chung do Màyà của trùng trùng duyên khởi” [4] Nói khác, thế gian là một thứ ảo tưởng, trong
Trang 8đó chúng sinh do pháp thuật tạo ra được cứu vớt khỏi một nỗi khổ đau
do pháp thuật tạo ra bởi một đấng tế độ do pháp thuật tạo ra, người chỉ cho họ tính cách hư ảo của tất cả pháp hữu vi Vì thế không có gì đáng ngạc nhiên khi lòng xác tín rằng chỉ có những phương pháp pháp thuật mới có thể đối trị hữu hiệu được một vũ trụ như thế này bắt đầu lan rộng Lòng xác tín này đã thành hình trong Mật Tông mà chúng ta sắp bàn tới bây giờ đây
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Duy thức học, HT.Thích Thiện Hoa dịch, Hương Đạo xuất bản, 1962
2 Thích Thắng Hoan, Khảo nghiệm Duy thức học, Tâm lý học thực nghiệm (quyển I), 1998
3 Thích Thắng Hoan, Khảo nghiệm Duy thức học, Tâm lý học thực nghiệm (quyển II), 2002
4 Thrangu Rinpoche Geshe Lharampa, The Five Buddha Families and The Eight Consciousnesses (Translated by Peter Roberts), Pub the Namo Buddha Seminar, 1998