1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận thực tiễn áp dụng về chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng trên địa bàn tỉnh thừa thiên huế và giải pháp hoàn thiện

18 36 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 56,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo trợ xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện tính nhân văn sâu sắc, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, “lá lành đùm lá rách” vốn là truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc. Là một bộ phận của hệ thống chính sách an sinh xã hội, bảo trợ xã hội hướng tới những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như người già, người tàn tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, người nhiễm HIVAIDS, hoặc người gặp rủi ro do thiên tai,… nhằm giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng. Thời gian qua, chính sách bảo trợ xã hội đã và đang phát huy tác dụng là tấm lưới an toàn cho các đối tượng bảo trợ xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu “Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với thúc đẩy tiến bộ xã hội và công bằng ở mỗi giai đoạn và trong suốt quá trình phát triển” 3, tr.190.

Trang 1

KHOA …



TIỂU LUẬN THỰC TIỄN ÁP DỤNG VỀ CHẾ ĐỘ CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG ĐỐI TƯỢNG BẢO TRỢ XÃ HỘI TẠI CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN

HUẾ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

Họ tên học viên:……….

Lớp:……….,

- 2021

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

I CHẾ ĐỘ CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG ĐỐI TƯỢNG BẢO TRỢ XÃ HỘI TẠI CỘNG ĐỒNG 2 1.1 Những vấn đề chung về bảo trợ xã hội tại cộng đồn 2 1.2 Chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội tạicộng đồng 3

II.

THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG VỀ CHẾ ĐỘ CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG ĐỐI TƯỢNG BẢO TRỢ XÃ HỘI TẠI CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

6

2.2

Thực tiễn áp dụng về chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

7

2.3

Giải pháp hoàn thiện về chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

13

Trang 3

MỞ ĐẦU

Bảo trợ xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện tính nhân văn sâu sắc, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, “lá lành đùm lá rách” vốn là truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Là một bộ phận của hệ thống chính sách an sinh xã hội, bảo trợ xã hội hướng tới những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như người già, người tàn tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, người nhiễm HIV/AIDS, hoặc người gặp rủi ro do thiên tai,… nhằm giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng Thời gian qua, chính sách bảo trợ xã hội đã và đang phát huy tác dụng là tấm lưới an toàn cho các đối tượng bảo trợ xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu “Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với thúc đẩy tiến bộ xã hội và công bằng ở mỗi giai đoạn và trong suốt quá trình phát triển” [3, tr.190]

Là một đất nước trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, lại bị ảnh hưởng của thiên tai và biến đổi khí hậu; đang trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh nên hiện nay số người cần trợ giúp xã hội của Việt Nam rất lớn, chiếm hơn 20% dân số cả nước Trong đó có khoảng 9,2 triệu người cao tuổi, 7,2 triệu người khuyết tật, 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, gần 5%

hộ nghèo, 1,8 triệu hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hàng năm do thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa, 234 nghìn người nhiễm HIV được phát hiện, 204 nghìn người nghiện ma tuý, khoảng 30 nghìn nạn nhân bị bạo lực, bạo hành trong gia đình; ngoài ra, còn nhiều phụ nữ, trẻ em bị ngược đãi, bị buôn bán, bị xâm hại hoặc lang thang kiếm sống trên đường phố [1, tr.90]

Vì vậy, nghiên cứu vấn đề “Thực tiễn áp dụng về chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế và giải pháp hoàn thiện” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực

tiễn sâu sắc

Trang 4

NỘI DUNG

I CHẾ ĐỘ CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG ĐỐI TƯỢNG BẢO TRỢ

XÃ HỘI TẠI CỘNG ĐỒNG

1.1 Những vấn đề chung về bảo trợ xã hội tại cộng đồng

* Bảo trợ xã hội

Bảo trợ xã hội (tiếng Anh: Social protection) là những biện pháp công cộng nhằm giúp các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng ứng phó với và kiềm chế được nguy cơ có tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), bảo trợ xã hội là những biện pháp công cộng nhằm giúp các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng ứng phó với và kiềm chế được nguy cơ có tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thu ̛ơng và những bấp bênh thu nhập Nhấn mạnh sự kiềm chế nguy cơ, bảo trợ xã hội vừa

là mạng lưới an toàn, vừa là cơ sở để phát triển vốn con người

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho rằng bảo trợ xã hội là việc cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế nhà nước hoặc tập thể, cộng đồng nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp

Nhấn mạnh chiều cạnh bảo hiểm và mở rộng cơ hội việc làm và tạo việc làm cho những đối tượng có nhu cầu và trong khu vực kinh tế phi chính thức

Ở Việt Nam, bảo trợ xã hội gần với khái niệm trợ giúp xã hội, là mọ ̂t trong ba trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh

Với mục đích khắc phục rủi ro, trợ giúp xã hội cùng với bảo hiểm xã hội

có chức năng giảm thiểu rủi ro, và chính sách thị tru ̛ờng lao động chủ động

nhằm phòng ngừa rủi ro cho người dân.

Từ điển thuật ngữ an sinh xã hội của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội không có thuật ngữ “bảo trợ xã hội” mà chỉ có khái niệm “trợ giúp xã hội” (social assistance) là sự trợ giúp bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật của nhà nu ̛ớc

Trang 5

(lấy từ nguồn thuế, không phải đóng góp từ người dân) nhằm bảo đảm mức sống

tối thiểu cho đối tượng được nhận.

* Vai trò, mục đích

Dù theo định nghĩa nào, các tổ chức quốc tế đều thống nhất trong cách tiếp cận coi bảo trợ xã hội như một biện pháp kiềm chế nguy cơ bị tổn thương, duy trì được thu nhập, sinh kế, tránh rơi vào đói nghèo

Mục đích của bảo trợ xã hội nhằm đảm bảo thu nhạ ̂p và các điều kiện sống thiết yếu đối với các trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ sức

lo liệu được cuộc sống

1.2 Chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng

* Đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà

xã hội

Theo Điều 25 Nghị định 136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp

xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội bao gồm:

1) Đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

- Đối tượng quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 5 Nghị định 136/2013/ NĐ-CP thuộc diện khó khăn không tự lo được cuộc sống và không có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng, bao gồm:

+ Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng;

+ Trẻ em bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo; người bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo không còn khả năng lao động mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp ưu đãi người có công hàng tháng, trợ cấp hàng tháng khác

- Người cao tuổi thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ

xã hội, nhà xã hội theo quy định của pháp luật về người cao tuổi;

- Trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội theo quy định của pháp luật về người khuyết tật

Trang 6

2) Đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp

- Nạn nhân của bạo lực gia đình; nạn nhân bị xâm hại tình dục; nạn nhân

bị buôn bán; nạn nhân bị cưỡng bức lao động;

- Trẻ em, người lang thang xin ăn trong thời gian chờ đưa về nơi cư trú;

- Đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp khác theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Lưu ý: Thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng đối với đối tượng này tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội tối đa không quá 03 tháng

3) Đối tượng tự nguyện sống tại cơ sở bảo trợ xã hội

- Người cao tuổi thực hiện theo hợp đồng ủy nhiệm chăm sóc;

- Người không thuộc diện đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp, không có điều kiện sống tại gia đình, có nhu cầu vào sống tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội

* Thẩm quyền tiếp nhận

Thẩm quyền tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội: Người đứng đầu cơ sở trợ giúp xã hội quyết định tiếp nhận đối tượng vào cơ sở trợ giúp xã hội

* Chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội

Đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp khi sống tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội được hưởng chế độ như sau:

- Mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng thấp nhất cho mỗi đối tượng bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội (270.000đồng) nhân với hệ số tương ứng sau đây:

+ Hệ số 5,0 đối với trẻ em dưới 04 tuổi;

+ Hệ số 4,0 đối với trẻ em từ 04 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc người từ đủ 60 tuổi trở lên;

+ Hệ số 3,0 đối với người từ 16 tuổi đến đủ 60 tuổi;

+ Hệ số đối với người khuyết tật, trẻ em khuyết tật thực hiện theo quy định tại Nghị định số 28/2012/NĐ-CP;

- Cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí theo quy định pháp luật về bảo hiểm y tế;

Trang 7

- Hỗ trợ chi phí mai táng khi chết với mức bằng 20 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội;

- Cấp vật dụng phục vụ cho sinh hoạt thường ngày, chăn, màn, chiếu, quần áo mùa hè, quần áo mùa đông, quần áo lót, khăn mặt, giày, dép, bàn chải đánh răng, thuốc chữa bệnh thông thường, vệ sinh cá nhân hàng tháng đối với đối tượng nữ trong độ tuổi sinh đẻ, sách, vở, đồ dùng học tập đối với đối tượng đang đi học và các chi phí khác theo quy định;

- Trường hợp đối tượng thuộc diện hưởng các mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng khác nhau thì chỉ được hưởng một mức cao nhất;

- Trường hợp đối tượng đã được hưởng chế độ trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng thì không được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng

* Hỗ trợ giáo dục, đào tạo và tạo việc làm

Theo Điều 27 Nghị định 136/2013/NĐ-CP, Đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội được hỗ trợ giáo dục, đào tạo và tạo việc làm như sau:

- Đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội được hưởng chính sách hỗ trợ học mầm non, giáo dục phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học theo quy định của pháp luật

- Đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định này từ 16 tuổi trở lên đang học các cấp học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học thì tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội cho đến khi tốt nghiệp văn bằng thứ nhất, nhưng không quá 22 tuổi

- Trẻ em từ 13 tuổi trở lên được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội không còn học phổ thông thì được giới thiệu học nghề

- Đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định này từ 16 tuổi trở lên không tiếp tục học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học được đưa trở về nơi ở trước khi vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội Ủy ban nhân dân cấp xã nơi ở trước đây của đối tượng có trách nhiệm tiếp nhận, tạo điều kiện để có việc làm, ổn định cuộc sống

Trang 8

- Đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định này từ 16 tuổi trở lên không tiếp tục học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học thì cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội và địa phương xem xét hỗ trợ để có nơi

ở, tạo việc làm và trợ cấp xã hội hàng tháng cho đến khi tự lập được cuộc sống, nhưng không quá 24 tháng

II THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG VỀ CHẾ ĐỘ CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG ĐỐI TƯỢNG BẢO TRỢ XÃ HỘI TẠI CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

2.1 Tỉnh Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên Huế (còn được viết là Thừa Thiên - Huế) là một tỉnh ven biển nằm ở cực nam của vùng Bắc Trung bộ, miền Trung Việt Nam

Năm 2018, Thừa Thiên Huế là đơn vị hành chính Việt Nam đông thứ 36

về số dân, xếp thứ 39 về Tổng sản phẩm trên địa bàn GRDP, xếp thứ 42 về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ về tốc độ tăng trưởng GRDP Với 1.163.500 người dân, GRDP đạt 47.428 tỉ đồng (tương ứng với 2,0600 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 40,76 triệu đồng (tương ứng với 1.770 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 7,08% [6, tr.9]

Hiện nay, tỉnh đang xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc và bản sắc văn hóa Huế gắn với bảo tồn, phát huy giá trị các

di sản văn hoá truyền thống, là khâu đột phá để phát triển du lịch Nghiên cứu, từng bước hoàn thiện bản sắc văn hoá Huế, đặc trưng văn hoá Huế để xây dựng Huế trở thành trung tâm văn hoá đặc sắc của Việt Nam; xem đây là lợi thế

so sánh lâu dài để phát triển Huế, làm cho Huế ngày càng đặc sắc, thúc đẩy các ngành du lịch, dịch vụ phát triển Trong đó quy hoạch, xây dựng hệ thống công viên, tượng, các công trình văn hoá, trọng tâm là: Trung tâm hội nghị, Bảo tàng Lịch sử Cách mạng, Bảo tàng thiên nhiên các tỉnh Duyên hải miền Trung, Trung tâm Điện ảnh, Địa đạo Khu ủy Trị thiên Phối hợp chặt chẽ với Bộ Văn hóa, Thể

Trang 9

thao và Du lịch tập trung đầu tư hoàn thành cơ bản trùng tu Đại Nội và một số di tích quan trọng để xứng đáng là trung tâm du lịch đặc sắc của Việt Nam

Thừa Thiên Huế là một cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp (năm 2018, tỷ trọng ngành Công nghiệp - Xây dựng chiếm 36,5%, ngành dịch vụ 45,3%, ngành nông nghiệp giảm còn 18,2%) Thu ngân sách tăng bình quân đạt 18,3%/năm Tỷ lệ huy động ngân sách từ GDP đạt trên 12%, xếp thứ 20/63 tỉnh, thành cả Việt Nam Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nằm trong nhóm 20 tỉnh, thành dẫn đầu toàn quốc Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh từ vị thứ 15 (năm 2018) đã vươn lên đứng thứ 10 toàn quốc trong năm

2008 Quy mô doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh còn nhỏ, và siêu nhỏ Ngân sách đạt thấp, thu ngân sách chưa bền vững, đến nay chưa cân đối được ngân sách, hằng năm ngân sách nhà nước phải bù vào ngân sách địa phương khoảng 1.500 (tỷ đồng) [6, tr.11]

2.2 Thực tiễn áp dụng về chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

* Những kết quả đạt được

Chính sách bảo trợ xã hội được thể chế hóa trong một số luật như Luật người cao tuổi, Luật người khuyết tật, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật phòng, chống HIV/AIDS, Luật phòng chống bạo lực gia đình, Luật phòng, chống buôn bán người, và được cụ thể hóa trong các văn bản dưới luật, đặc biệt là Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ

về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; Nghị định số

13/2010/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 24/2010/TTLT-BLDTBXH-BTC ngày 18/8/2010 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định

67 và Nghị định 13; Nghị định số 68/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội; Nghị định số 06/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm

Trang 10

2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người cao tuổi và các văn bản pháp luật khác có liên quan…

Nhìn chung, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã cơ bản đảm bảo

cơ sở pháp lý cho chính sách bảo trợ xã hội, đáp ứng được đòi hỏi tình hình thực tiễn trong quá trình triển khai chính sách Việc xác định đối tượng, chế

độ, chính sách, nguồn lực, cơ chế tổ chức, bộ máy triển khai thực hiện chính sách đã được quy định cụ thể, thủ tục và chi phí hành chính từng bước được cắt giảm, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ sở cũng như đối tượng tiếp cận chính sách nhà nước

Kết quả thực hiện chính sách, pháp luật về bảo trợ xã hội Hệ thống chính

sách bảo trợ xã hội gồm trợ giúp xã hội ở cộng đồng, nuôi dưỡng chăm sóc trong các cơ sở bảo trợ xã hội và trợ giúp đột xuất khi thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn,…

Trợ giúp xã hội ở cộng đồng Theo quy định hiện hành, đối tượng thuộc diện hưởng chính sách trợ giúp xã hội cộng đồng gồm 9 nhóm đối tượng Ngoài việc được hưởng khoản trợ cấp hàng tháng theo quy định, các đối tượng bảo trợ

xã hội còn được cấp thẻ bảo hiểm y tế và hưởng thêm các khoản trợ giúp như: các đối tượng học văn hoá, học nghề được miễn, giảm học phí, được cấp sách,

vở, đồ dùng học tập theo quy định của pháp luật; khi chết được hỗ trợ kinh phí mai táng Các đối tượng ở cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước, ngoài các khoản trợ giúp trên còn được trợ cấp để mua sắm tư trang, vật dụng phục vụ cho sinh hoạt đời sống thường ngày; trợ cấp để mua thuốc chữa bệnh thông thường; riêng người nhiễm HIV/AIDS được hỗ trợ điều trị nhiễm trùng cơ hội…

Nuôi dưỡng, chăm sóc trong cơ sở bảo trợ xã hội Trong giai đoạn vừa qua, hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội đã phát huy hiệu quả vai trò của mình trong việc tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng bảo trợ xã hội; tổ chức hoạt động phục hồi chức năng, lao động sản xuất; trợ giúp các đối tượng trong các hoạt động tự quản, văn hoá, thể thao và các hoạt động khác phù hợp với lứa tuổi và sức khoẻ của từng nhóm đối tượng; phối hợp, tổ chức để dạy văn

Ngày đăng: 16/11/2021, 08:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w