1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận triết phân tích cơ sở lý luận của bài học kinh nghiệm nhận thức phải xuất phát từ thực tại khách quan, tôn trọng quy luật khách quan không có hoàn cảnh nào tuyệt vọng chỉ có con người tuyệt vọng vì hoàn cảnh

17 663 28

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 100,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là cơ sở để luận giải cho con người mối quan hệ giữa họ (con người có ý thức) với thế giới có con người (thế giới vật chất). Trong tính hiện thực lịch sử của nó, con người không chỉ giải thích thế giới mà còn cải tạo thế giới bởi thực tiễn. Thực tiễn của con người, một mặt do có sự tham gia hướng dẫn của ý thức, mặt khác do yêu cầu về tính hiệu quả quy định nên tất yếu phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan. Phạm trù “khách quan” dùng để chỉ tất cả những gì tồn tại không phụ thuộc vào một chủ thể xác định, hợp thành một hoàn cảnh hiện thực, thường xuyên tác động đến việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ và phương thức hoạt động của chủ thể đó. Nói đến thực tại khách quan là nói đến tất cả những gì tồn tại độc lập, bên ngoài và không lệ thuộc vào chủ thể hoạt động. Khách quan bao gồm: Những điều kiện, khả năng và quy luật khách quan. Trong đó, quy luật khách quan luôn giữ vai trò quan trọng nhất. Quy luật khách quan: Là mối liên hệ bên trong, cơ bản của các sự vật hiện tượng, chi phối sự vận động, phát triển tất yếu của những sự vật, hiện tượng ấy, đòi hỏi trong nhận thức và hành động, chủ thể phải tuân thủ theo quy luật khách quan, chống nóng vội, chủ quan, duy ý trí, đặc biệt trong chiến tranh nếu không tuân thủ quy luật chiến tranh tất yếu dẫn đến thất bại.

Trang 1

Câu 1 Phân tích cơ sở lý luận của bài học kinh nghiệm: “Nhận thức phải xuất phát từ thực tại khách quan, tôn trọng quy luật khách quan” Rút ra

ý nghĩa đối với công việc của anh/chị đang làm?

* Phân tích cơ sở lý luận của bài học kinh nghiệm: “Nhận thức phải xuất phát từ thực tại khách quan, tôn trọng quy luật khách quan”.

Việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là cơ sở để luận giải cho con người mối quan hệ giữa họ (con người có ý thức) với thế giới có con người (thế giới vật chất) Trong tính hiện thực lịch sử của nó, con người không chỉ giải thích thế giới mà còn cải tạo thế giới bởi thực tiễn Thực tiễn của con người, một mặt do

có sự tham gia hướng dẫn của ý thức, mặt khác do yêu cầu về tính hiệu quả quy định nên tất yếu phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan

Phạm trù “khách quan” dùng để chỉ tất cả những gì tồn tại không phụ thuộc vào một chủ thể xác định, hợp thành một hoàn cảnh hiện thực, thường xuyên tác động đến việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ và phương thức hoạt động của chủ thể đó

Nói đến thực tại khách quan là nói đến tất cả những gì tồn tại độc lập, bên ngoài và không lệ thuộc vào chủ thể hoạt động Khách quan bao gồm: Những điều kiện, khả năng và quy luật khách quan Trong đó, quy luật khách quan luôn giữ vai trò quan trọng nhất

Quy luật khách quan: Là mối liên hệ bên trong, cơ bản của các sự vật hiện

tượng, chi phối sự vận động, phát triển tất yếu của những sự vật, hiện tượng ấy, đòi hỏi trong nhận thức và hành động, chủ thể phải tuân thủ theo quy luật khách quan, chống nóng vội, chủ quan, duy ý trí, đặc biệt trong chiến tranh nếu không tuân thủ quy luật chiến tranh tất yếu dẫn đến thất bại

Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người luôn luôn phải tôn trọng

và hoạt động theo quy luật khách quan, bởi vì, quy luật là những mối liên hệ cơ

bản, tất yếu, ổn định mang tính phổ biến giữa các mặt, các yếu tố của hoạt động thực tiễn, quyết định sự phát sinh, phát triển, kết cục của hoạt động đó, các mối liên

1

Trang 2

hệ đó hình thành khách quan, không phụ thuộc vào ý thức của con người Nếu nhận thức và hoạt động đúng theo quy luật thì hiệu quả hoạt động sẽ cao, ngược lại hiệu quả sẽ thấp thậm trí có thể dẫn đến thất bại Nguyên tắc này yêu cầu phải chống chủ nghĩa chủ quan, phản ánh mộo mú, phiến diện, hời hợt cỏi khỏch quan, coi thường hoặc bất chấp quy luật, điều kiện, hoàn cảnh khỏch quan trong xỏc định đường lối, chủ trương, chớnh sỏch, mục tiờu kế hoạch, biện phỏp hoạt động thực tiễn

Sự tồn tại thường được định nghĩa như một thế giới, nơi mà con người nhận

thức hoặc ý thức được, cái vẫn diễn ra khách quan độc lập với sự hiện diện của con người Nó cũng là một từ đồng nghĩa với cụm từ "mọi thứ", hoặc "tất cả mọi thứ" cái mà hầu hết mọi người đều tin vào

Cơ sở lý luận của bài học kinh nghiệm: “Nhận thức phải xuất phát từ thực tại khách quan, tôn trọng quy luật khách quan” là mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn.

- Phạm trù lý luận

Lý luận là sản phẩm cao nhất của nhận thức, của sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ não con người Cho nên, bản chất của lý luận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Nhận thức là cả một quá trình biện chứng từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ nông cạn đến sâu sắc, từ hiện tượng đến bản chất

… Đúng như V.I.Lênin nhận xét: “Trong lý luận nhận thức cũng như trong tất cả các lĩnh vực khác của khoa học cần suy luận một cách biện chứng nghĩa là đừng giả định rằng nhận thức chúng ta là bất di bất dịch và có sẵn mà phải phân tích xem xét sự hiểu biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ và không chính xác trở thành đầy đủ

và chính xác hơn như thế nào”1

Như vậy có thể thấy, nhận thức là một quá trình biện chứng diễn ra rất phức tạp bao gồm nhiều giai đoạn, trình độ, vòng khâu và hình thức khác nhau Tuỳ theo tính chất nghiên cứu mà quá trình đó được phân chia thành nhận thức cảm tính và

Trang 3

nhận thức lý tính Nhận thức cảm tính (hay còn gọi là trực quan sinh động) là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức Nó được thể hiện ở ba hình thức cơ bản là cảm giác, tri giác và biểu tượng

Xét về bản chất, lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế giới khách quan,

lý luận được hình thành không phải nằm ngoài thực tiễn mà trong mối liên hệ với thực tiễn

Do quá trình hình thành và bản chất của nó, lý luận có hai chức năng cơ bản là chức năng phản ánh hiện thực khách quan và chúc năng phương pháp luận cho hoạt động thực tiễn Lý luận phản ánh hiện thực khách quan bằng những quy luật chung nhất Tri thức kinh nghiệm cũng như tri thức lý luận đều phản ánh hiện thực khách quan nhưng ở những phạm vi lĩnh vực và trình độ khác nhau Lý luận phản ánh hiện thực khách quan để làm phương pháp luận nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan bằng hoạt động thực tiễn

- Phạm trù thực tiễn

Theo C.Mác và Ph.Ăngghen “Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người”2

Hoạt động của con người bao gồm hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần Thực tiễn là hoạt động vật chất Hoạt động vật chất là những hoạt động mà chủ thể

sử dụng phương tiện vật chất tác động vào đối tượng vật chất nhất định nhằm cải tạo chúng theo nhu cầu của con người Con người sử dụng các phương tiện để tác động vào đối tượng theo những hình thức và mức độ khác nhau tuỳ thuộc mục đích của con người Kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn là những sản phẩm thoả mãn nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của cá nhân và cộng đồng

Hoạt động thực tiễn là hoạt động có tính năng động sáng tạo, là hoạt động được đối tượng hoá, là quá trình chuyển hoá cái tinh thần thành cái vật chất Bởi

2 C.Mác - Ăngghen (1974) Toàn tập Tập 10 Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia, tr.120.

3

Trang 4

hoạt động thực tiễn là quá trình tương tác giữa chủ thể và khách thể trong đó chủ thể hướng vào việc cải tạo khách thể trên cơ sở đó nhận thức khách thể Vì vậy thực tiễn là khâu trung gian nối liền ý thức con người với thế giới bên ngoài Như vậy, hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người Nếu động vật chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài thì con người nhờ vào thực tiễn như là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình để cải tạo thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu mình thích nghi một cách chủ động tích cực với thế giới và làm chủ thế giới Để thoả mãn nhu cầu của mình con người phải tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống mình và nhờ đó con người tạo nên những vật phẩm vốn không có sẵn trong tự nhiên Như vậy, không có hoạt động thưc tiễn con người và xã hội không thể tồn tại và phát triển được

Vì vậy có thể nói: Thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới Mỗi hoạt động của con người đều mang tính lịch sử cụ thể Nó chỉ diễn ra trong một giai đoạn nhất định nào đó Nó có quá trình hình thành phát triển và kết thúc hoặc chuyển hoá sang giai đoạn khác, không có hoạt động thực tiễn nào tồn tại vĩnh viễn Mặt khác, hoạt động thực tiễn chịu sự chi phối của mỗi giai đoạn lịch sử cả về đối tuợng, phương tiện cũng như mục đích hoạt động

Hoạt động thực tiễn rất phong phú đa dạng, song có thể chia làm ba hình thức

cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học Ngoài các hoạt động thực tiễn cơ bản nêu trên, còn có các hoạt động phát sinh trong các lĩnh vực đạo đức, nghệ thuật, y tế, giáo dục,… các loại hoạt động này nảy sinh trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài người, có tác dụng bổ sung làm phong phú thêm những dạng hoạt động thực tiễn của con người Như vậy mỗi hình thức hoạt động cơ bản có một chức năng quan trọng khác nhau, không thể thay thế được cho nhau Song giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong mối quan hệ đó hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động cơ bản

Trang 5

nhất, đóng vai trò quyết định đối với các hoạt động khác Bởi vì nó là hoạt động nguyên thuỷ nhất, tồn tại một cách khách quan, thường xuyên nhất trong cuộc sống của con người và nó tạo ra những điều kiện, của cải thiết yếu có tính quyết định đối với sự sinh tồn và phát triển của con người và xã hội Nếu không có hoạt động sản xuất vật chất thì không thể có các hình thức hoạt động khác Các hình thức hoạt động khác suy cho cùng cũng xuất phát từ hoạt động sản xuất vật chất và phục vụ cho hoạt động sản xuất vật chất của con người Nhưng như vậy không có nghĩa là các hình thức hoạt động chính trị xã hội và thực nghiệm khoa học là hoàn toàn thụ động lệ thuộc một chiều vào hoạt động sản xuất vật chất Ngược lại, chúng có thể tác động kìm hãm hoặc thúc đẩy hoạt động sản xuất vật chất phát triển Chẳng hạn nếu hoạt động chính trị - xã hội mang tính chất tiến bộ cách mạng và nếu hoạt động thực nghiệm khoa học

mà đúng đắn sẽ tạo đà cho hoạt động sản xuất vật chất phát triển Còn nếu hoạt động chính trị - xã hội mà lạc hậu phản cách mạng và nếu hoạt động thực nghiệm mà sai lầm không khoa học sẽ kìm hãm sự phát triển của sản xuất vật chất

- Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn

Được thể hiện bằng mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn Giữa lý luận và thực tiễn thống nhất biện chứng với nhau Sự thống nhất đó bắt nguồn từ chỗ: chúng đều là hoạt động của con người, đều nhằm mục đích cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội để thoả mãn nhu cầu của con người Nội dung mối quan hệ giữa lý luận

và thực tiễn:

Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn Lý luận dựa trên nhu cầu của thực tiễn và lấy

được chất liệu của thực tiễn Thực tiễn là hoạt động cơ bản nhất của con người, quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội Lý luận không có mục đích tự nó mà mục đích cuối cùng là phục vụ thực tiễn Sức sống của lý luận chính là luôn luôn gắn liền với thực tiễn, phục vụ cho yêu cầu của thực tiến

Lý luận mở đường và hướng dẫn hoạt động của thực tiễn Ví dụ: lý luận Mác

-Lênin hướng dẫn con đường đấu tranh của giai cấp vô sản Sự thành công hay thất bại

5

Trang 6

của hoạt động thực tiễn là tuỳ thuộc vào nó được hướng dẫn bởi lý luận nào, có khoa học hay không? Sự phát triển của lý luận là do yêu cầu của thực tiễn, điều đó cũng nói lên thực tiễn không tách rời lý luận, không thể thiếu sự hướng dẫn của lý luận

Vai trò của lý luận khoa học là ở chỗ: nó đưa lại cho thực tiễn các tri thức đúng đắn về các quy luật vận động, phát triển của hiện thực khách quan, từ đó mới

có cơ sở để định ra mục tiêu và phương pháp đúng đắn cho hoạt động thực tiễn Quan hệ lý luận và thực tiễn mang tính chất phức tạp, quan hệ đó có thể là thống nhất hoặc mâu thuẫn đối lập

Lý luận và thực tiễn là thống nhất Lý luận và thực tiễn thống nhất khi giai cấp

thống trị còn mang tinh thần tiến bộ và còn giữ sứ mệnh lịch sử Khi lý luận và thực tiễn thống nhất thì chúng sẽ tăng cường lẫn nhau và phát huy vai trò của nhau

Sự thống nhất đó là một trong những nguyên lý căn bản của triết học Mác - Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng đẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận

mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông Vì vậy cho nên trong khi nhấn mạnh

sự quan trọng của lý luận, đã nhiều lần V.I.Lênin nhắc đi nhắc lại rằng lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nang cho hành động cách mạng, và lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo Lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động

Vai trò của thực tiễn đối với lý luận: Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích

và tiêu chuẩn của lý luận, lý luận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn Thực tiễn là cơ sở của lý luận Xét một cách trực tiếp, những tri thức được khái quát thành lý luận là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn của con người Thông qua kết quả hoạt động thực tiễn, kể cả thành công cũng như thất bại, con người phân tích cấu trúc, tính chất và các mối quan hệ của các yếu

tố, các điều kiện trong các hình thức thực tiễn để hình thành lý luận Qúa trình hoạt động thực tiễn còn là cơ sở để bổ sung và điều chỉnh những lý luận đã đựơc khái quát Mặt khác, hoạt động thực tiễn của con người làm nảy sinh những vấn đề mới

Trang 7

đòi hỏi quá trình nhận thức phải tiếp tục giải quyết Thông qua đó, lý luận được bổ sung, mở rộng Chính vì vậy, V.I.Lênin nói: “Nhận thức lý luận phải trình bày khách thể trong tính tất yếu của nó, trong những quan hệ toàn diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫn của nó, tự nó và vì nó”3

Thực tiễn là động lực của lý luận Hoạt động của con người không chỉ là nguồn gốc để hoàn thiện các cá nhân mà còn góp phần hoàn thiện các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội Lý luận được vận dụng làm phương pháp cho hoạt động Thực tiễn, mang lại lợi ích cho con người càng kích thích con người tích cực bám sát thực tiễn để khái quát lý luận Quá trình đó diễn ra không ngừng trong sự tồn tại của con người, làm cho lý luận ngày càng đầy đủ, phong phú và sâu sắc hơn Nhờ vậy hoạt động con người không bị hạn chế trong không gian và thời gian Thông qua đó, thực tiễn đã thúc đẩy một ngành khoa học mới ra đời - khoa học lý luận

Thực tiễn là mục đích của lý luận Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận Tính chân lý của lý luận chính là sự phù hợp của lý luận với hiện thực khách quan

và được thực tiễn kiểm nghiệm, là giá trị phương pháp của lý luận đối với hoạt động thực tiễn của con người Do đó, mọi lý luận phải thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm Chính vì thế mà C.Mác nói: “vấn đề tìm hiểu tư duy của con người có thể đạt đến chân lý khách quan không hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”4 Thông qua thực tiễn những lý luận đạt đến chân lý sẽ được bổ sung vào kho tàng tri thức nhân loại; những kết luận chưa phù hợp thực tiễn thì tiếp tục điều chỉnh bổ sung hoặc nhận thức lại giá trị của lý luận nhất thiết phải được chứng minh trong hoạt động thực tiễn

3

I.V.Lênin (1974) Toàn tập Tập 43 Hà Nội: Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tr.527.

4 C.Mác - Ăngghen (1974) Toàn tập Tập 18 Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia, tr.419.

7

Trang 8

Vai trò của lý luận đối với thực tiễn: Thực tiễn chỉ đạo lý luận, ngược lại lý luận

phải được vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn C.Mác đã từng nói, người thợ xây không bao giờ tinh xảo như con ong xây tổ nhưng người thợ xây hơn hẳn con ong ở chỗ, trước khi xây dựng một công trình họ

đã hình thành được hình tượng của công trình ấy trong đầu họ Tức là hoạt động của con người là hoạt động có ý thức Ban đầu hoạt động của con người chưa có lý luận chỉ đạo, song con người phải hoạt động để đáp ứng nhu cầu tồn tại của mình Thông qua đó, con người khái quát thành lý luận Từ đó những hoạt động của con người muốn có hiệu quả nhất thiết phải có lý luận soi đường hoạt động thực tiễn của con người mới trở thàng tự giác, có hiệu quả và đạt được mục đích mong muốn

Lý luận đóng vai trò soi đường cho thực tiễn vì lý luận có khả năng định hướng mục tiêu xác định lực lượng biện pháp thực hiện Lý luận còn dự báo được khả năng phát triển cũng như các mối quan hệ của thực tiễn, dự báo được những rủi

ro có thể xảy ra, những hạn chế những thất bại có thế có trong quá trình hoạt động Như vậy lý luận không chỉ giúp con người hoạt động hiệu quả mà còn là cơ sở để khắc phục những hạn chế và tăng năng lực hoạt động của con người Mặt khác lý luận còn có vai trò giác ngộ mục tiêu, lý tưởng liên kết các cá nhân thành cộng đồng, tạo thành sức mạnh to lớn của quần chúng trong cải taọ tự nhiên và cải tạo xã hội Chính vì vậy, C.Mác đã khẳng định “vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”5

Lý luận hình thành là kết quả của nhận thức lâu dài và khó khăn của con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn Hoạt động thực tiễn tuy đa dạng phong phú nhưng không phải không có tính quy luật Tính quy luật của thực tiễn được khái quát dưới hình thức lý luận Mục đích của lý luận không chỉ là phương pháp mà

Trang 9

còn là định hướng cho hoạt động thực tiễn Đó là định hướng mục tiêu, biện pháp

sử dụng lực lượng, định hướng giải quyết các mối quan hệ trong hoạt động thực tiễn Không những thế, lý luận còn định hướng mô hình của hoạt động thực tiễn Vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn, trước hết từ lý luận để xây dựng mô hình thực tiễn theo những mục đích khác nhau của quá trình hoạt động, dự báo các diễn biến, các mối quan hệ lực lượng tiến hành và những phát sinh của nó trong quá trình phát triển để phát huy các nhân tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm đạt kết quả cao hơn

Từ phân tích trên chúng ta có thể khẳng định cơ sở lý luận của bài học kinh nghiệm: “Nhận thức phải xuất phát từ thực tại khách quan, tôn trọng quy luật khách quan” là mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn.

* Rút ra ý nghĩa đối với công việc tại ngân hàng

Ngân hàng được coi là mạch máu của nền kinh tế quốc dân, vì vậy nâng cao năng lực hoạt động của cán bộ, nhân viên ngành ngân hàng là vấn đề rất quan trọng Thời gian qua, trước sự đổi mới toàn diện của đất nước, ngành ngân hàng đã

có bước phát triển mạnh mẽ về công nghệ, trình độ quản lý, năng lực tài chính và nguồn nhân lực, qua đó từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Song khách quan mà nói, trong khi nguồn nhân lực được đào tạo từ các trường đại học là rất lớn nhưng đang thiếu đi nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong một số lĩnh vực như quản lý, quản trị rủi ro, đầu tư quốc tế, hoạch định chiến lược Do vậy, nghiên cứu mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn giúp cán bộ, nhân viên ngành ngân hàng có một quan điểm rõ ràng “nhận thức phải xuất phát từ thực tại khách quan, tôn trọng quy luật khách quan” từ đó nâng cao hiệu quả công việc Vận dụng kinh nghiện này, trước hết cán bộ, nhân viên ngân hàng cần khắc phụ bệnh kinh nghiệm trong quá trình công tác, đó là khuynh hướng tuyệt đối hóa kinh nghiệm, coi thường lý luận khoa học, khuếch đại vai trò thực tiễn để hạ thấp vai trò lý luận Chúng sẽ dẫn đến các dự án đầu tư của ngân hàng sai, không đúng

9

Trang 10

lúc gây lãng phí, thất thoát ngân sách Trong khi đó trước khi thực hiện các bản nghiên cứu dự án dựa trên các nguyên lý, học thuyết kinh tế, xã hội đều chỉ ra tính không hiệu quả, rủi ro cao

Bên cạnh đó, công tác trong lĩnh vực ngân hàng: đây là ngành kinh doanh mà đầu vào cũng là tiền mà đầu ra cũng là tiền Quá trình cung cấp dịch vụ không đòi hỏi ở người lao động những yêu cầu cao về thể lực mà trí lực, thái độ mới là những yếu tố quan trọng cần có Do vậy dù thực tiễn công việc căng thẳng, áp lực hay cường độ cao thì yêu cầu cán bộ, nhân viên ngân hàng “phải xuất phát từ thực tại khách quan, tôn trọng quy luật khách quan”, cần có về trình độ chuyên môn, mức

độ tư duy, có một nền tảng kiến thức chuyên ngành nhất định để có thể thực hiện công việc Các yêu cầu về đạo đức, lối sống cũng đã trở thành những tiêu chuẩn hàng đầu xuất phát từ thực tiễn công việc ngành ngân hàng đối với mỗi nhân viên Thực tiễn cũng chỉ ra, niềm tin của khách hàng là yếu tố mang tính sống còn đối với một ngân hàng, chỉ cần một biến động nhỏ cũng có thể gây ảnh hưởng đến tâm lý khách hàng, từ đó có thể dẫn đến sự chuyển dịch của hàng loạt khách hàng

Vì vậy, vận dụng kinh nghiệm “Nhận thức phải xuất phát từ thực tại khách quan, tôn trọng quy luật khách quan” mỗi nhân viên ngân hàng, đặc biệt là các nhà quản trị ngân hàng phải luôn làm việc với một sự cẩn trọng nhất định, nắm vững nguyên tắc công việc, xử lý linh hoạt, nhạy bén trong các tình huống

Thực tiễn khách quan cũng chỉ ra: Khách hàng đa dạng, các nhân viên ngân hàng thường xuyên tiếp xúc với khách hàng ở nhiều độ tuổi, trình độ khác nhau nên nhân sự trong các ngân hàng phải có khả năng giao tiếp tốt, luôn có thái độ vui vẻ, hòa nhã với khách hàng Các yêu cầu về ngoại hình, ngoại ngữ cũng thường được

đề cao hơn so với nhiều ngành sản xuất khác

Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn công việc đặt ra, cán bộ, nhân viên công tác

trong lĩnh vực ngân hàng phải nâng cao trình độ thông qua học các lớp học nghiệp

Ngày đăng: 16/11/2021, 07:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w