1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận triết chức năng thế giới quan và phương pháp luận của triết học nội dung quy luật lượng chất

17 100 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 51,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới đó. Trong thế giới quan có sự hoà nhập giữa tri thức và niềm tin. Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, song nó chỉ gia nhập thế giới quan khi nó đã trở thành niềm tin định hướng cho hoạt động của con người. Có nhiều cách tiếp cận để nghiên cứu về thế giới quan. Nếu xét theo quá trình phát triển thì có thể chia thế giới quan thành ba loại hình cơ bản: Thế giới quan huyền thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học. Thế giới quan huyền thoại là phương thức cảm nhận thế giới của người nguyên thủy, ở thời kỳ này, các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, cái thật và cái ảo, cái thần và cái người, v.v. của con người hoà quyện vào nhau thể hiện quan niệm về thế giới. Trong thế giới quan tôn giáo, niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu; tín ngưỡng cao hơn lý trí, cái ảo lấn át cái thực, cái thần vượt trội cái người.

Trang 1

KHOA …



TIỂU LUẬN

Câu 1 Triết học có 2 chức năng cơ bản là chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận Anh/chị hãy làm rõ nội dung lý luận của hai chức năng đó Vận dụng giá trị của hai chức năng đó trong hoạt động chuyên môn và đời sống bản thân của người giáo viên.

Câu 2 Phân tích nội dung quy luật từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi

về chất và ngược lại Thông qua một số ví dụ cụ thể, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý nghĩa phương pháp luận của quy luật này trong công tác chuyên môn của người giáo viên.

Họ tên học viên:……….

Lớp:……….,

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Câu 1 Triết học có 2 chức năng cơ bản là chức năng thế

giới quan và chức năng phương pháp luận Anh/chị hãy làm rõ

nội dung lý luận của hai chức năng đó Vận dụng giá trị của hai

chức năng đó trong hoạt động chuyên môn và đời sống bản

thân của người giáo viên.

1

Câu 2 Phân tích nội dung quy luật từ những sự thay đổi về

lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại Thông qua một số

ví dụ cụ thể, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý nghĩa phương pháp luận

của quy luật này trong công tác chuyên môn của người giáo viên.

8

Trang 3

Câu 1 Triết học có 2 chức năng cơ bản là chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận Anh/chị hãy làm rõ nội dung lý luận của hai chức năng đó Vận dụng giá trị của hai chức năng đó trong hoạt động chuyên môn và đời sống bản thân của người giáo viên.

Thế giới được tạo thành từ những sự vật, những hiện tượng, những quá trình khác nhau Vậy giữa chúng có mối liên hệ qua lại với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Chúng luôn vận động, đổi mới, phát triển hay đứng yên?

Trong thực tiễn và nhận thức, hoạt động của con người tồn tại trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau, với nhiều mối liên hệ khác nhau và với những mục tiêu khác nhau Vậy, làm thế nào để con người có thể đạt được những mục tiêu

đó và tránh những sai lầm trong nhận thức tư duy?

Để trả lời cho những câu hỏi trên, chúng ta cùng nghiên cứu “chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận”.

* Chức năng thế giới quan

Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới đó

Trong thế giới quan có sự hoà nhập giữa tri thức và niềm tin Tri thức là

cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, song nó chỉ gia nhập thế giới quan khi nó đã trở thành niềm tin định hướng cho hoạt động của con người

Có nhiều cách tiếp cận để nghiên cứu về thế giới quan Nếu xét theo quá trình phát triển thì có thể chia thế giới quan thành ba loại hình cơ bản: Thế giới quan huyền thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học

Thế giới quan huyền thoại là phương thức cảm nhận thế giới của người nguyên thủy, ở thời kỳ này, các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, cái thật và cái ảo, cái thần và cái người, v.v của con người hoà quyện vào nhau thể hiện quan niệm về thế giới

Trong thế giới quan tôn giáo, niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu; tín ngưỡng cao hơn lý trí, cái ảo lấn át cái thực, cái thần vượt trội cái người

Trang 4

Khác với huyền thoại và giáo lý của tôn giáo, triết học diễn tả quan niệm của con người dưới dạng hệ thống các phạm trù, quy luật đóng vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thức thế giới Với ý nghĩa như vậy, triết học được coi như trình độ tự giác trong quá trình hình thành và phát triển của thế giới quan Nếu thế giới quan được hình thành từ toàn bộ tri thức và kinh nghiệm sống của con người; trong đó tri thức của các khoa học cụ thể là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành những quan niệm nhất định về từng mặt, từng bộ phận của thế giới, thì triết học, với phương thức tư duy đặc thù đã tạo nên hệ thống lý luận bao gồm những quan niệm chung nhất về thế giới với tư cách là một chỉnh thể Như vậy, triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan; triết học giữ vai trò định hướng cho quá trình củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi

cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử

Những vấn đề được triết học đặt ra và tìm lời giải đáp trước hết là những vấn đề thuộc về thế giới quan Thế giới quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống của con người và xã hội loài người Tồn tại trong thế giới, dù muốn hay không con người cũng phải nhận thức thế giới và nhận thức bản thân mình Những tri thức này dần dần hình thành nên thế giới quan Khi đã hình thành, thế giới quan lại trở thành nhân tố định hướng cho quá trình con người tiếp tục nhận thức thế giới Có thể ví thế giới quan như một “thấu kính”, qua đó con người nhìn nhận thế giới xung quanh cũng như tự xem xét chính bản thân mình để xác định cho mình mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn cách thức hoạt động đạt được mục đích, ý nghĩa đó Như vậy thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực và trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng về sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như của mỗi cộng đồng xã hội nhất định

Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại Đó là chức năng thế giới quan của triết học

Trang 5

Các trường phái chính của triết học là sự diễn tả thế giới quan khác nhau, đối lập nhau bằng lý luận; đó là các thế giới quan triết học, phân biệt với thế giới quan thông thường

Triết học Mác - Lênin là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và tư duy - thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong nhận thức và cải tạo thế giới

Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm về thế giới và về vị trí của con người trong thế giới đó Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan Triết học Mác - Lênin đem lại thế giới quan duy vật biện chứng, là hạt nhân thế giới quan cộng sản

Thế giới quan duy vật biện chứng có vai trò đặc biệt quan trọng Trước hết, hệ thống quan điểm duy vật mácxít là nhân tố định hướng cho con người nhận thức đúng đắn thế giới hiện thực Đây chính là “cặp kính” triết học để con người xem xét, nhận dạng thế giới, xét đoán mọi sự vật, hiện tượng và xem xét chính mình Nó giúp cho con người cơ sở khoa học đi sâu nhận thức bản chất của tự nhiên, xã hội và nhận thức được mục đích ý nghĩa của cuộc sống

Thế giới quan duy vật biện chứng còn giúp con người hình thành quan điểm khoa học định hướng mọi hoạt động Từ đó giúp con người xác định thái

độ và cả cách thức hoạt động của mình Trên một ý nghĩa nhất định, thế giới quan cũng đóng một vai trò của phương pháp luận Giữa thế giới quan và phương pháp luận trong triết học Mác - Lênin có sự thống nhất hữu cơ

Thế giới quan duy vật biện chứng nâng cao vai trò tích cực, sáng tạo của con người Thế giới quan đúng đắn chính là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực Trình độ phát triển về thế giới quan là tiêu chí quan trọng của sự trưởng thành cá nhân cũng như một cộng đồng xã hội nhất định

Các khoa học đều góp phần giúp con người hình thành thế giới quan đúng đắn Trong đó, thế giới quan triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan của con người phát triển như một quá trình tự giác

Trang 6

Thế giới quan duy vật biện chứng có vai trò là cơ sở khoa học để đấu tranh với các loại thế giới quan duy tâm, tôn giáo, phản khoa học “Với bản chất khoa học và cách mạng, thế giới quan duy vật biện chứng là hạt nhân của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và các lực lượng tiến bộ, cách mạng, là cơ sở lý luận trong cuộc đấu tranh với các tư tưởng phản cách mạng, phản động” [4]

Đặc trưng của thế giới quan triết học Mác - Lênin :

Thế giới quan duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin chẳng những đối lập với tất cả các loại hình thế giới quan duy tâm (khách quan, chủ quan) mà còn có những khác biệt căn bản với mọi thế giới quan duy vật cũ, do các nhà tư tưởng triết học trong lịch sử sáng lập ra Có 2 điểm căn bản nhất:

Thế giới quan duy vật do Mác sáng lập là thế giới quan duy vật biện chứng, tức là không chỉ đứng trên lập trường duy vật để giải thích thế giới mà còn giải thích thế giới theo quan điểm biện chứng

Thế giới quan duy vật do Mác sáng lập là thế giới quan duy vật triệt để nhất, tức là không chỉ giải thích thế giới một cách duy vật biện chứng về giới tự nhiên mà còn giải thích một cách biện chứng về đời sống xã hội và nhận thức của con người, từ đó mà sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử và nhận thức luận duy vật biện chứng

Cũng chính vì vậy mà có thể nói : Cơ sở thế giới quan của chủ nghĩa Mác

là thế giới quan duy vật biện chứng và cơ sở phương pháp luận căn bản của nó

là phương pháp luận biện chứng duy vật Bản chất của thế giới quan đó được xác lập trên cơ sở giải quyết theo lập trường duy vật biện chứng đối với những vấn đề căn bản nhất của triết học

* Chức năng phương pháp luận

Thuật ngữ phương pháp có gốc từ tiếng Hy Lạp cổ là methodos (với

nghĩa là con đường, công cụ nhận thức)

Hiểu một cách vắn tắt, phương pháp là “cách thức, thủ đoạn để thực hiện mục đích đã đặt ra, là hoạt động được sắp xếp theo một trật tự nhất định” [3]

Theo nghĩa chung nhất, phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức

Trang 7

và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định.

Phương pháp là phạm trù gắn liền với hoạt động có ý thức của con người, phản ánh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người

Phương pháp bao giờ cũng là sự thống nhất giữa khách quan và chủ quan Phương pháp chỉ đứng khỉ nó phù hợp với khách thể nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, khỉ xuất phát từ khách thể đó

Căn cứ vào tính phổ biến của phương pháp, người ta chia thành phương pháp riêng, phương pháp chung và phương pháp phổ biến Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của con người, người ta chia thành phương pháp nhận thức và phương pháp hoạt động thực tiễn Mặc dù vậy, các phương pháp này có quan hệ chặt chẽ với nhau

Khác với các khoa học cụ thể, triết học Mác - Lênin đề ra phương pháp nhận thức chung nhất, đó là phương pháp biện chứng duy vật Phương pháp này không thay thế phương pháp của các ngành khoa học khác mà là cơ sở lý luận chung của các ngành khoa học và được dùng làm công cụ nhận thức trong mọi lĩnh vực

Phương pháp luận Hiểu một cách vắn tắt, phương pháp luận là lý luận về

phương pháp, là khoa học về phương pháp

Phương pháp luận giải quyết các vấn đề như: Phương pháp là gì; bản chất, nội dung, hình thức của phương pháp là thế nào; phương pháp có bao nhiêu loại, tiêu chí phân loại phương pháp là gì; phương pháp có vai trò như thế nào đối với hoạt động nhận thức (nhất là nhận thức khoa học) và hoạt động thực tiễn của con người, v.v

Với nghĩa chung nhất, phương pháp luận là hệ thống quan điểm, nguyên tắc xuất phát có vai trò chỉ đạo trong việc xác định phương pháp cụ thể cũng như xác định phạm vỉ, khả năng áp dụng chúng một cách hợp lý và có hiệu quả

Vai trò phương pháp luận của phép biện chứng duy vật trong nhận thức khoa học và hoạt động cải tạo xã hội.

Trong hoạt động thực tiễn, để cải biến sự vật, tạo nên sự thay đổi về chất, đòi hỏi chúng ta phải quán triệt sâu sắc quan điểm toàn diện, đồng bộ; quan

Trang 8

điểm phát triển; lựa chọn những biện pháp, phương tiện phù hợp để tác động vào đối tượng sao cho có hiệu quả nhất nhưng lại ít chi phí nhất

Trong quá trình tác động vào đối tượng, một mặt, chúng ta phải chú ý đến

sự đồng bộ, hệ thống về phương pháp, về phương tiện, về tính toàn vẹn trong sự tác động, lựa chọn phương pháp tối ưu Mặt khác, phải xác định đâu là trọng tâm, trọng điểm; đâu là phương pháp có tính chất trung gian Không được sử dụng các phương pháp một cách ngang bằng nhau

Phương pháp, phương tiện sử dụng để tác động vào đối tượng phải linh hoạt, mềm dẻo; phải quán triệt nguyên tắc lịch sử - cụ thể Tư duy của chúng ta chỉ có thể là chân thực, đúng đắn khi nó theo sát sự vận động, biến đổi của hoàn cảnh, của đối tượng nhận thức Mỗi khi tình hình thực tế có sự thay đổi, đòi hỏi chúng ta phải lựa chọn phương pháp tác động phù hợp để có hiệu quả cao nhất

* Vận dụng giá trị của hai chức năng đó trong hoạt động chuyên môn

và đời sống bản thân của người giáo viên

Chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận có vai trò đặc biệt quan trọng đối với cuộc sống con người Bằng hệ thống quan niệm đúng đắn về thế giới, con người tiếp tục tìm cách đi sâu, khám phá những bí ẩn của thế giới Theo nghĩa đó, nó giống như một thấu kính để nhìn nhận, xét đoán sự vật hiện tượng của thế giới cũng như của chính bản thân mình một cách đúng đắn, từ đó con người có cách thức, phương thức hoạt động thích hợp; xuất phát

từ một thế giới quan nhất định, con người sỗ đi đến lựa chọn một phương hướng giải quyết vấn đề theo một cách thức nhất định Như vậy, lập trường triết học, thế giới quan khác nhau sẽ dẫn đến lựa chọn những phương hướng và cách thức giải quyết vấn đề khác nhau Thế giới quan khoa học đúng đắn là tiền đề xác lập một nhân sinh quan tích cực và ngược lại, thế giới quan phi khoa học sẽ dẫn con người đến những hành động sai lầm, chẳng hạn như thế giới quan duy tâm và tôn giáo Ngoài ra, thế giới quan khoa học còn cung cạp cho con người một bức tranh chung tổng thể, khái quát, đúng đắn về thế giới

Đối với người giáo viên, chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận là cơ sở, chỗ dựa cho niềm tin đúng đắn, là cơ sở, chỗ dựa cho những

Trang 9

lý tưởng tốt đẹp Từ đó, thế giới quan khoa học góp phần quan trọng trong việc củng cố niềm tin, lý tưởng tốt đẹp vào sự nghiệp “trồng người” - một nghề cao quý, có vai trò đặc bietj quan trọng đối với tiến bộ của xã hội

Chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận giúp người giáo viên có tầm nhìn rộng, bao quát, có tầm nhìn xa; tránh sa vào những cái vụn vặt, nhỏ nhặt, trước mắt, từ đó tránh được chủ nghĩa kinh nghiệm cũng như bệnh kinh nghiệm và tâm lý tiểu nông trong quá trình công tác Thế giới quan khoa học giúp người giáo viên hiện thực hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đòa tạo vào lĩnh vực mà mình công tác

Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn tham gia giảng dạy, người giáo viên đều phải xuất phát từ thực tế khách quan, từ những điều kiện, tiền đề vật chất hiện có của nhà trường

Chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận chỉ ra nhận thức

sự vật, hiện tượng phải chân thực, đúng tránh tô hồng hoặc bôi đen đối tượng, không được gán cho đối tuọng cái mà nó không có Do vậy, là người giáo viên quá trình dạy học, đánh giá học sinh cần khách quan, phản ánh đúng thực chất chất lượng học sinh, khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục

Chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận đòi hỏi người giáo viến cần phải tránh chủ nghĩa chủ quan, bệnh chủ quan, duy ý chí; chủ nghĩa duy vật tầm thường, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa khách quan Quá trình tham gia giáo dục phải chấp hành đúng các quy định, quy chế nhà trường, các nội dung dạy để truyền thụ kiến thức cho học sinh

Đồng thời quá trình công tác, dạy học đòi hỏi phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tổ con nguời, chống tư tưởng, thái độ thụ động, ỷ lại, ngồi chờ, bảo thủ, trì trệ, thiếu tính sáng tạo; phải coi trọng vai trò của ý thức, coi trọng công tác tư tưởng và giáo dục tư tưởng, áp dụng đa dạng các phương pháp, hình thức vào quá trình dạy học để nâng cao chất lượng dạy và học Coi trọng việc giữ gìn, rèn luyện phẩm chất đạo đức của người “thầy”, luôn gương mẫu trong quá trình công tác và trong cuộc sống để cho học sinh noi theo

Trang 10

Câu 2 Phân tích nội dung quy luật từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại Thông qua một số ví dụ cụ thể, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý nghĩa phương pháp luận của quy luật này trong công tác chuyên môn của người giáo viên.

* Phân tích nội dung quy luật từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến

sự thay đổi về chất và ngược lại

Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại chỉ ra cách thức của sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Nội dung cơ bản của quy luật này được làm sáng tỏ thông qua việc nhận thức một số phạm trù: chất, lượng, độ, điểm nút, bước nhảy,v.v

Chủ nghĩa duy vật biện chứng quan niệm, chất là phạm trù triết học dùng

để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng, là sự thống nhất các thuộc tính, làm cho sự vật là nó và phân biệt nó với những sự vật khác

Chất của sự vật mang tính khách quan Chất của mỗi sự vật không phải chỉ được tạo bởi các nhân tố hợp thành mà còn bởi cách sắp xếp của các nhân tố

đó Mỗi sự vật có nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính có thể đặc trưng cho một chất Do đó, mỗi sự vật không phải chi có một chất mà có thể có nhiều chất, trong đó có chất cơ bản và chất không cơ bản Sự vật chỉ thực sự không còn là

nó, khi chất cơ bản thay đổi

Ta cần lưu ý mối quan hệ giữa chất và thuộc tính như sau:

Tổng hợp các thuộc tính của sự vật làm nên chất của sự vật đó Thuộc tính

ở đây có thể hiểu là “tính chất”, như tính dẫn điện, tính co giãn, tính chua, tính ngọt…

Để nhận thức được chất của sự vật, ta phải nhận thức được những thuộc tính của sự vật đó Và để nhận thức được thuộc tính nhất định của sự vật, ta cần nhận thức thuộc tính đó trong mối quan hệ giữa các sự vật Ở mức độ cao hơn,

để nhận thức được chất của sự vật, ta phải nhận thức sự vật trong tổng hợp các mối quan hệ có thể có giữa sự vật đó với các sự vật khác

Ngày đăng: 16/11/2021, 07:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w