PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 2. Mục đích nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu 4. Phương pháp nghiên cứu NỘI DUNG 1. Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên 1.1 Văn hóa ẩm thực 1.1.1 Quan niệm về ăn uống 1.1.2 Đặc trưng trong văn hóa ẩm thực của người Việt 1.1.3 Tính tổng hợp 1.1.4 Tính cộng đồng và tính mực thước 1.1.5 Tính biện chứng, linh hoạt 1.2 Văn hóa trang phục 1.2.1 Quan niệm về mặc 1.2.2 Đặc trưng về văn hóa trang phục của người Việt 1.3 Văn hóa kiến trúc nhà ở 1.3.1 Quan niệm về ở 1.3.2 Đặc trưng về văn hóa kiến trúc nhà ở của người Việt 1.4 Văn hóa giao thông 2. Văn hóa ứng xử tự nhiên của người Việt tại vùng Trung Bộ 2.1 Văn hóa ẩm thực vùng Trung Bộ 2.2 Văn hóa trang phục vùng Trung Bộ 2.3 Văn hóa kiến trúc nhà ở vùng Trung Bộ 2.4 Văn hóa giao thông vùng Trung Bộ KẾT LUẬN
Trang 1Tên đề tài
THẾ NÀO LÀ ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN? TRÌNH BÀY VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT TẠI VÙNG VĂN HÓA TRUNG BỘ
Trang 2MỤC LỤCPHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Đối tượng nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
NỘI DUNG
1 Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên
1.1 Văn hóa ẩm thực
1.1.1 Quan niệm về ăn uống
1.1.2 Đặc trưng trong văn hóa ẩm thực của người Việt
1.1.3 Tính tổng hợp
1.1.4 Tính cộng đồng và tính mực thước
1.1.5 Tính biện chứng, linh hoạt
1.2 Văn hóa trang phục
1.2.1 Quan niệm về mặc
1.2.2 Đặc trưng về văn hóa trang phục của người Việt
1.3 Văn hóa kiến trúc nhà ở
1.3.1 Quan niệm về ở
1.3.2 Đặc trưng về văn hóa kiến trúc nhà ở của người Việt
1.4 Văn hóa giao thông
2 Văn hóa ứng xử tự nhiên của người Việt tại vùng Trung Bộ
2.1 Văn hóa ẩm thực vùng Trung Bộ
2.2 Văn hóa trang phục vùng Trung Bộ
2.3 Văn hóa kiến trúc nhà ở vùng Trung Bộ
2.4 Văn hóa giao thông vùng Trung Bộ
KẾT LUẬN
111111111233477799911141516171819
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Con người sống trong mối quan hệ chặt chẽ với môi trường tự nhiên, cách thức ứng xửvới môi trường tự nhiên là thành tố quan trọng thứ 3 của mỗi hệ thống văn hóa Là người dânViệt Nam nói chung và Miền Trung nói riêng, để có thể hiểu rõ và nhận thức một cách sâu sắc
về những nội dung cơ bản, giá trị to lớn của văn hóa Việt Nam, chúng ta cần phải tìm hiểu về
nó Đó cũng là lý do nghiên cứu của đề tài lần này
2 Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, phân tích những giá trị trongtruyền thống và biến đổi trong cách ứng xử tự nhiên của người Trung Bộ trước những tácđộng của địa hình và khí hậu Qua đó hệ thống lại những giá trị về văn hóa ứng xử với môitrường tự nhiên
3 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của Việt Nam nói chung vùng vănhóa Trung Bộ nói riêng, cụ thể là nghiên cứu từng phần về văn hóa ẩm thực, về trang phục, vềkiến trúc và giao thông
4 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: tìm hiểu một số tài liệu liên quan đến đề tài
và phân tích - tổng hợp, nghiên cứu để làm cơ sở cho nội dung bài nghiên cứu
Phương pháp so sánh và quy nạp vấn đề: tìm hiểu một số tài liệu liên quan đến đề tài và
so sánh, quy nạp, nghiên cứu để làm cơ sở cho nội dung bài nghiên cứu
NỘI DUNG
1 Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên:
Con người muốn tồn tại phải có môi trường sống Một văn hoá muốn phát triển khôngthể thiếu điều kiện tự nhiên - với cảnh quan và môi trường sinh thái… Trong việc ứng xử vớimôi trường tự nhiên có thể xảy ra 2 khả năng: những gì có lợi thì con người hết sức tranh thủtận dụng Còn những gì có hại thì phải ra sức ứng phó
Và điều đó thể hiện qua các hoạt động chủ yếu sau: ăn (tận dụng tự nhiên), mặc (đốiphó tự nhiên), ở và đi lại (đối phó với tự nhiên) Tình trạng địa lí, địa hình, khí hậu, sinh thái
và lối sản xuất đã quyết định và chi phối cả 3 vấn đề sinh tồn này
1.1 Văn hóa ẩm thực
1.1.1 Quan niệm về ăn uống
Trang 4Người Việt rất coi trọng ăn uống, mọi hành động đều lấy ăn làm đầu Ăn còn xuất hiệnngay cả trong các bài học vỡ lòng đầu tiên của đời người “học ăn, học nói, học gói, học mở”,
“ăn ngay nói thẳng”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”
Trong từ điển tiếng Việt từ “ăn” còn mang rất nhiều nghĩa, những hoạt động quan trọngliên quan đến vật chất tinh thần đều gắn liền với 1 từ “ăn” Thông qua việc sử dụng từ “ăn”với nhiều ngữ cảnh khác nhau, ta có thể biết được đạo đức và tính cách của một con người: ăn
ở, ăn uống, ăn mặc, ăn chơi, ăn nói, ăn học, ăn tiêu (xài), ăn nằm, ăn ngủ, ăn trộm, ăn thua, ănđám ma, ăn đám giỗ, ăn thôi nôi, ăn đầy tháng, ăn cưới… [1, tr 187] Thế mới biết người Việt coitrọng việc ăn uống hàng đầu, “Có thực mới vực được đạo”, nó quan trọng tới mức mà “Trờiđánh còn tránh bữa ăn”
1.1.2 Đặc trưng trong văn hóa ẩm thực của người Việt
i) Cơm, hạt gạo là thứ quan trọng hàng đầu
Khác với cư dân nền văn hóa gốc du mục thiên về ăn thịt, Việt Nam là nước nôngnghiệp gió mùa, trong cơ cấu bữa ăn của người Việt bộc lộ rất rõ dấu ấn của văn hóa nôngnghiệp lúa nước nên lúa gạo rất quan trọng, bữa ăn của người Việt được gọi là “bữa cơm”.Hình ảnh “chén cơm”, “bát cơm”, hạt gạo xuất hiện với tần số dày đặc, lặp đi lặp lại nhiều lần
trong các câu ca dao dân ca, qua các câu nói truyền miệng: “Người bạo về gạo, cá bạo về
nước”, “cơm tẻ là mẹ ruột”, trong cả cách người ta vẫn thường bông đùa với nhau “chán cơm thèm phở” (vợ là cơm, và nhân tình là phở)
Việc coi ăn uống là điều cần thiết còn thể hiện rõ trong văn hóa chào hỏi của ngườiViệt, thường in sâu vào tiềm thức nên người ta thường bắt đầu một câu hỏi quan tâm rằng: “ăncơm chưa?” Người Việt chủ yếu ăn cơm, dù ăn gì cũng lấy cơm lót dạ, “có cơm mới chắcbụng”
Đối với người Việt, gạo là một thực phẩm thiêng liêng của đất và trời, cho nên trongmâm cơm cúng tổ tiên thường sẽ có từ 2 đến 3 bát cơm cùng với sản phẩm bắt nguồn từ cơm,hay còn gọi là tinh hoa của gạo, đó là “rượu nếp”, rượu đế, rượu gạo… Trong phong tục tậpquán hằng ngày, người Việt dùng rượu để cúng kiếng hoặc thanh tẩy, tẩy rửa về mặt tâm linh
ii) Cơ cấu bữa cơm có 3 yếu tố chính: cơm – rau – cá
Trong bữa cơm, sau lúa gạo thì đến rau củ quả, Việt Nam có một danh mục rau củ quả
vô cùng đa dạng và phong phú, mùa nào thức ấy “Đói ăn rau, đau uống thuốc”, “Ăn cơm
không rau như nhà giàu chết không kèn trống”
1 Trần Ngọc Thêm (1999) Cơ sở văn hóa Việt Nam, Tái bản lần thứ 2, NXB Giáo dục, Hà Nội
2
Trang 5Đứng thứ 3 và đứng đầu trong thức ăn động vật của người Việt Nam là các loại thủysản, từ các loài thủy sản Người Việt thường nói: “Cơm với cá như má với con”, “Có cá đổ vạcho cơm”, “con cá đánh ngã bát cơm” Người Việt còn tận dụng các loài thủy sản để chế biến
ra một thứ đồ chấm đặc biệt là nước mắm Thiếu nước mắm thì chưa thành bữa cơm ViệtNam Nồi cơm ở đầu mâm và chén nước mắm ở giữa mâm còn là biểu tượng cho cái đơn giản
mà thiết yếu: cơm gạo là tinh hoa của đất, mắm chiết xuất từ lá là tinh hoa của nước – chúnggiống như hành Thủy và hành Thổ là cái khởi đầu và cái trung tâm trong Ngũ hành [1, tr 187]
Ở vị trí cuối cùng trong cơ cấu bữa ăn mới là thịt, phổ biển thì thịt gia súc gia cầm, đặcsản dân dã thì có thịt chó Ngoài ra có vô số gia vị đủ các mùi vị như hành, gừng, ớt, tỏi, riềng,rau mùi, rau răm, rau hung, xương song, thìa là, hồ tiêu, tía tô, kinh giới, lá lốt, diếp cá…
iii) Đồ uống, đồ hút
Đồ uống hút có trầu cau, rượu gạo, nước chè, nước vối và nhiều thứ lá, hoa, hạt, rễ câykhác Người Việt uống nước mát từ nước mưa (nước mưa chum để lâu có thể dùng để chữabệnh), nước dừa Người Việt uống chè (trà): chè ướp, chè hoa sen, hoa nhài, hoa cúc
Đặc biệt thuốc lào được ưa thích hơn thuốc lá Hút thuốc lào phối hợp âm dương (lửa
và nước, khói phải chui qua nước) còn thuốc lá cây chỉ có lửa
1.1.3 Tính tổng hợp
Tính tổng hợp trong lối ăn Việt trước hết là thể hiện trong cách ăn: Mâm cơm củangười Việt luôn phối hợp nhiều món ăn trong một bữa Trong một miếng ăn đã có thể có đủ cảcơm - canh - rau - thịt, trong một mâm cơm thường có đủ món nước - món khô (khác vớiphương Tây thường ăn một món duy nhất và lần lượt)
Tính tổng hợp còn thể hiện trong cách chế biến đồ ăn: Một món ăn gồm nhiều thứ kếthợp với nhau Nấu nướng như vậy để kết hợp hài hòa các món (hài hòa âm dương, tam tài,
ngũ hành/ ngũ vị) Hương vị thức ăn luôn cầu kỳ ngũ vị mặn - ngọt - đắng - chua - cay, ngũ
chất bột xơ khoáng đạm béo, lại vừa có cái đẹp hài hòa của ngũ sắc trắng xanh đen
-vàng - đỏ
Cái ngon của bữa ăn người Việt Nam là tổng hợp cái ngon của mọi yếu tố: Có thức ănngon mà ăn không hợp thời tiết thì không ngon; hợp thời tiết mà không có chỗ ăn ngon thìkhông ngon; có chỗ ăn ngon mà không có bè bạn tâm giao cùng ăn thì không ngon; có bạn bètâm giao mà không khí bữa ăn không vui vẻ thì cũng không ngon nốt [1, tr 193]
1.1.4 Tính cộng đồng và tính mực thước
Trang 6Tính tổng hợp kéo theo tính cộng đồng như ăn chung, hay còn gọi cách khác là bữa ăngia đình tạo nên nét ấm cúng trong bữa ăn của người Việt (khác hẳn phương Tây ai có suấtngười ấy, mọi người hoàn toàn độc lập với nhau)
Mọi người ăn chung một mâm, không chia phần, tùy
ý nhường nhịn nhau Vì vậy mà trong lúc ăn uống: người
Việt Nam rất thích chuyện trò (khác với người phương Tây
tránh nói chuyện trong bữa ăn) Tính cộng đồng trong bữa
cơm còn thể hiện ở hình ảnh đôi đũa, là sự đoàn kết của anh
chị em trong nhà, là vợ chồng “như đũa có đôi” Và thú
uống rượu cần của người vùng cao là biểu hiện triết lý thâm
thúy về tính cộng đồng sống chết có nhau 2
Tính cộng đòng lại kéo theo tính mực thước, tính
cộng đồng đòi hỏi ở con người 1 thứ văn hóa cao trong ăn
uống đó là “Ăn tùy nơi, chơi tùy chốn”, “ăn trông nồi,
ngồi trông hướng” Nhìn cách ăn cơm và tổ chức một bữa
cơm, người ta có thể đoán được nề nếp, ý tứ của một con người hoặc của một gia đình
Vì nét truyền thốngcủa người Việt trong bữa ăn
là mực thước, tính mựcthước là biểu hiện củakhuynh hướng quân bìnhtrong âm dương, nó đòi hỏi
2 Nhiều tác giả, trường Mỹ thuật Gia Định (1935) Monographie dessinée de l’Indochine: Cochinchine Tome 3: sites et gens, NXB Paul Geuthner.
4
Nam Kỳ, 193 - Bữa cơm [2]
Nam Kỳ, 1935 – Bữa ăn của người An Nam [2]
Trang 7“ăn chậm nhai kĩ”, đòi hỏi người ăn không ăn quá nhanh hoặc quá chậm, không ăn quá nhiềuhoặc quá ít, không ăn hết, không ăn còn
Hơn hết, tính cộng đồng và mực thước trong nội tại được bộc lộ qua mâm cơm gia đình
và đặc biệt là bát nước chấm Các món ăn khác thì có thể có người ăn, người không, còn cơm
và nước mắm thì ai cũng xơi và ai cũng chấm Vì ai cũng dùng, cho nên chúng trở thành thước
đo sự ý tứ, đo trình độ văn hóa của con người Chấm nước mắm phải cho gọn, sạch, đầu đũakhông được chạm vào nước mắm
Trước khi ăn, bề dưới cần cất tiếng mời chào lễ độ Riêng với khách được ưu tiên hơnngười nhà,“tiên khách hậu chủ” Chủ nhà ngồi đầu nồi phải rất tế nhị và mực thước khi đơmcơm cho khách: không đơm nhiều quá hoặc ít quá vào mỗi bát – nhiều quá thì đầy, dễ rơi vãi(khiến khách mang tiếng vụng về và không có chỗ để thức ăn; ít quá thì ăn mau hết phải đưaxới nhiều lần (khiến khách mang tiếng tham ăn) Thấy cơm trong nồi sắp hết, phải giảm tốc độ
ăn của mình và người nhà (đơm ít), tránh không để đũa cái va vào nồi, phải luôn làm sao chokhách thấy đầy đủ, thoải mái nhất Khi ăn cơm, với vai trò là khách thì một mặt phải ăn chongon miệng để tỏ lòng biết ơn và tôn trọng của chủ nhà, mặt khác phải chừa ra 1 ít trong cácđĩa đồ ăn để tỏ rằng mình không chết đói, không tham ăn Tục ngữ có câu “ăn hết bị đòn, ăncòn mất vợ”
1.1.5 Tính biện chứng, linh hoạt
i) Tính linh hoạt
Tính linh hoạt của người Việt còn thể hiện rất rõ trong cách ăn và trong dụng cụ ănuống, đặc biệt là sử dụng đũa, đó là cách ăn đặc thù mô phỏng động tác của con chim nhặt hạtxuất phát từ những thứ không thể dùng tay bốc hay mò tay vào được (Cơm, cá, nước mắm…).Trong khi người phương Tây phải dùng một bộ đồ ăn gồm dao, thìa, dĩa (mô phỏng động táccủa con thú xé mồi) [1, tr 196] Thay vì mỗi thứ thực hiện một chức năng riêng rẽ như dao, thìa,nĩa… (sản phẩm của tư duy phân tích) thì đôi đũa của người Viết Nam thực hiện một cáchtổng hợp và cực kì linh hoạt hàng loạt chức năng khác nhau: gắp, và, xé, khoắng, trộn, xẻ,dầm, vét, và nối cho cánh tay dài ra để gắp thức ăn xa
ii) Tính biện chứng
Tuy nhiên, biểu hiện quan trọng hơn cả của tính biện chứng trong việc ăn là ở chỗngười Việt Nam đặc biệt chú trọng đến quan hệ biện chứng âm – dương, bao gồm ba mặt liênquan mật thiết với nhau: sự hài hòa âm – dương trong thức ăn, hài hòa âm – dương trong cơthể, hài hòa giữa con người với môi trường tự nhiên (mùa nào thức nấy)
Trang 8Để có sự hài hòa âm – dương trong thức ăn, người Việt phân biệt thức ăn theo năm
mức âm– dương, ứng với Ngũ hành: hàn, nhiệt, ôn, lương, và bình Theo đó, người Việt tuânthủ nghiêm nhặt luật âm – dương bù trừ và chuyển hóa khi chế biến Tập quán dùng gia vị củaViệt Nam, ngoài các tác dụng kích thích dịch vị, làm dậy mùi thơm ngon của thức ăn, bảoquản và xử lý thức ăn, còn có tác dụng đặc biệt là điều hoà âm – dương, thủy – hỏa của thứcăn
Các loại thức ăn của người Việt thường đi kèm với các loại gia vị mang tính hàn –nhiệt cân bằng với nhau Cụ thể, gừng (tính nhiệt) có tác dụng làm thanh hàn, giải cảm, chonên được dùng kèm bắp cải, bí đao (tính hàn) Ớt (tính nhiệt) được dùng nhiều trong các loạithức ăn thủy hải sản (cá, tôm, cua, mắm, gỏi.) là những thứ vừa hàn, bình, lại có mùi tanh Lálốt (tính hàn) đi với thịt bò (tính nhiệt) Rau răm (tính nhiệt) đi với trứng lộn (tính hàn) Chénnước chấm dung hòa đủ ngũ hành: vị mặn (thủy) của nước mắm, đắng (hỏa) của vỏ chanh,chua (mộc) của chanh giấm, cay (kim) của tiêu ớt Ngoài ra có thể lí giải cho việc vì sao ngườiViệt thường ăn trái cây với muối, như nước dừa, dưa hấu (âm) được dùng với muối (dương),v.v
Để tạo nên sự quân bình âm – dương trong cơ thể, một là tiêu thụ các món chế biến có
tính đến sự quân bình âm – dương, hai là sử dụng thức ăn trực tiếp như những vị thuốc để điềuchỉnh sự mất quân bình âm – dương trong cơ thể Mọi bệnh tật đều do mất quân bình âm –dương; vì vậy, một người bị ốm do quá âm cần ăn đồ dương và, ngược lại, ốm do quá dươngcần ăn đồ âm để khôi phục lại sự thăng bằng đã mất Cụ thể, đau bụng nhiệt (dương) thì cần
ăn nhưng thứ hàn (âm) như chè đậu đen, nước bí… Đau bụng hàn (âm) thì dùng các thứ nhiệt(dương) như gừng, riềng…
Để bảo đảm quân bình âm dương giữa con người với môi trường, người Việt có tập
quán ăn uống theo vùng khí hậu, theo mùa Về ăn theo vùng khí hậu, Việt Nam là xứ nóng(dương) cho nên phần lớn thức ăn đều thuộc loại bình, hàn (âm) Trong cuốn Nữ công thắnglãm, Hải Thượng Lãn Ông kể ra khoảng 120 loại thực phẩm thì đã có tới khoảng 100 loạimang tính bình, hàn rồi. [3] Cơ cấu ăn truyền thống thiên về thức ăn thực vật (âm) và ít thức ănđộng vật (dương) chính là góp phần quan trọng trong việc tạo nên sự cân bằng giữa con ngườivới môi trường
Về ăn theo mùa, người ta vẫn hay nói:
Mùa hè cá sông, mùa đông cá bể;
Chim ngói mùa thu, chim cu mùa hè.
3 Hải Thượng Lãn Ông (1971) Nữ công thắng lãm (Phần chế biến món ăn cổ truyền), Lê Trần Đức, Viện Nghiên cứu
Đông ty biên dịch phiên âm và phụ giải, NXB Phụ Nữ
6
Trang 9Mùa nóng, người Việt thích ăn rau quả, tôm cá (là những thứ âm) hơn là mỡ thịt Khichế biến, người ta thường luộc, nấu canh, làm gỏi, làm dưa, tạo nên thức ăn có nhiều nước(âm) và vị chua (âm) vừa dễ ăn, vừa dễ tiêu, vừa giải nhiệt Chính vì vây mà người Việt Namrất thích ăn đồ chua, đắng – cái chua của dưa cà, của khế, của me, của chanh, lá giang và cáiđắng của vỏ chanh, khổ qua, lá bưởi Cho nên, khi nhắc đến một món canh đặc trưng ViệtNam, người ta thường nghĩ đến canh chua Mùa lạnh, người Việt thường ăn thịt, mỡ là nhữngthức ăn dương tính, giúp cơ thể chống lạnh Phù hợp với mùa này là các kiểu chế biến khô,dùng nhiều mỡ (dương tính hơn) như chiên, xào, thăn, ram, kho… Gia vị phổ biển của mùanày cũng là những thứ dương tính như ớt, tiêu, gừng, tỏi…
Xứ nóng (dương) phù hợp cho việc phát triển mạnh các loài thực vật và thủy sản (âm);
xứ lạnh (âm) thì phù hợp cho việc phát triển chăn nuôi các loài động vật với lượng mỡ, bò sữaphong phú (dương), như vậy là tự thân thiên nhiên đã có sẵn sự cân bằng Do vậy, ăn theomùa chính là đã tận dụng tối đa môi trường tự nhiên để phục vụ con người, là lúc sản vật ngonnhất, nhiều nhất, rẻ nhất và tươi sống nhất, là hòa mình vào tự nhiên, tạo nên sự cân bằng biệnchứng giữa con người với môi trường
Tính biện chứng trong việc ăn uống không chỉ thể hiện ở việc ăn phải hợp thời tiết,phải đúng mùa, mà người Việt Nam sành ăn còn phải biết chọn đúng bộ phận có giá trị Thờiđiểm có giá trị còn là lúc thức ăn đang trong quá trình âm dương chuyển hóa, nhất là một sốmón ăn “non” đang giữa quá trình chuyển hóa - giàu chất dinh dưỡng như hột vịt lộn, măng,giá, cốm, dồi trường, heo sữa, nhộng (tằm), dế non [1, tr 199]
1.2 Văn hóa trang phục
1.2.1 Quan niệm về mặc
Mặc giúp con người ứng phó trước môi trường tự nhiên (nóng, rét, mưa gió…), mặcchỉ ra địa vị quê quán của một con người, mặc làm đẹp và trang điểm con người, và mặc mangtính biểu tượng dân tộc, là đại diện cho 1 dân tộc nào đó
Quan niệm về mặc của người Việt Nam được xem là một quan niệm cần thiết và thiếtthực: “ăn chắc, mặc bền”, “ăn no, mặc ấm”, “người đẹp vì lụa” Và cái riêng trong trang phụcđược chi phối bởi khí hậu và nghề nghiệp
1.2.2 Đặc trưng về văn hóa trang phục của người Việt
Trang 10Cái riêng trong cách mặc của người Việt
đó là cái chất nông nghiệp, thể hiện rõ nhất là ở
chất liệu may mặc Người phương Nam sở
trường ở việc tận dụng các chất liệu có nguồn
gốc thực vật là sản phẩm của nghề trồng trọt,
cũng là những chất liệu may mặc mỏng, nhẹ,
thoáng, rất phù hợp với xứ nóng (tơ tằm, vải tơ
chuối, tơ đay, vải bông)
Đặc biệt là tơ tằm, tơ tằm là loại đặc biệt
nửa thực vật nửa động vật (con sâu tằm chế biến
lá dâu thành sợi tơ) Sau trồng lúa, việc trồng
dâu nuôi tằm được coi trọng (nông và tang) Tơ
tằm dệt nên rất nhiều loại vải từ đơn giản đến
quí giá: tơ, lụa, lượt, là, the, nhiễu, đoạn, sồi,
đũi, lĩnh, thao (nón quai thao) nái, địa đến gấm
vóc Ngoài nuôi tằm, người Việt ta còn dùng các
loại cây thông thường khác như sợi gai, sợi đay,
sợi bông và tơ chuối (Đặc biệt tơ chuối mịn
màng, nhẹ, mặc mùa nóng rất mát mặc dù dễ rách)
Trang phục ViệtNam, trước hết, thích hợpvới khí hậu, thời tiết vànghề nông nghiệp Sau
8
Nam Kỳ, 1935 - Thợ kéo sợi [2]
Nam Kỳ, 1935 - Những người hát rong ở chợ [2]
Trang 11nữa, theo quan điểm thẩm mỹ, người Việt ưa ăn mặc bình dị, kín đáo, không thích sắc màu sặc
sỡ và hở hang (trong khi đó ở phương Tây du mục: chất liệu mặc là lông thú, da thú chắc
bề, ấm phù hợp xứ lạnh…)
Sắc màu trang phục của người Việt cũng nói lên cảm quan thẩm mỹ của con ngườisống chan hòa giữa thiên nhiên Trong điều kiện thời tiết nắng lắm, mưa nhiều màu sắc trangphục của người Việt xưa thường chọn gam màu chủ đạo là đen, nâu sậm, ít khi mặc màutrắng, màu nhuộm được lấy từ cây cỏ quanh nhà như lá sồi, lá bàng, vỏ trâm bầu … vừa bềnmàu vừa dễ tìm Cách thức trang phục của người Việt thể hiện tính linh hoạt và chịu sự chiphối của môi trường tự nhiên- đó là: khí hậu nóng bức của vùng nhiệt đới
Với phụ nữ thường là váy, áo và yếm Với nam giới thường là đóng khố, quần đùi(quần xà lỏn) Văn hóa trang phục đặc trưng của người Việt còn thể hiện trong chiếc nón lá vàđôi guốc mộc, búi tóc
Đối với nón lá thì mưa
không thấm nước, nắng không tát
mặt Nó là vật dụng không thể thiếu
của những người lao động một
nắng hai sương Nhưng công dụng
của nó không dừng lại ở đấy, nó đã
trở thành một phần cuộc sống của
người Việt Nam Trên đường xa
nắng gay gắt hay những phút nghỉ
ngơi khi làm đồng, ngồi bên rặng
tre cô gái có thể dùng nón quạt cho
ráo mồ hôi Bên giếng nước trong,
giữa cơn khát cháy cổ, nón có thể trở thành chiếc cốc vại khổng lồ bất đắc dĩ, hay có thể thaychiếc chậu vục nước mà áp mặt vào đó cho giải bớt nhiệt
Đôi guốc có vai trò quan trọng trong việc giữ
ấm cho đôi chân Guốc thường được làm bằng gỗ,
có mũi uốn cong để bảo vệ ngón chân, quai dọc thì
tết bằng mây, mỗi vùng đều có cách trang trí cho đôi
guốc rất độc đáo
Đối với trang phục ngày thường thì đơn sơ
gọn nhẹ, trang phục lễ hội thì tươm tất cầu kỳ Qua
đó thể hiện tâm lý sĩ diện, trọng hình thức
Trung Kỳ, Phan Thiết, 1935 – Một góc chợ
Trang 12Nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan cho tất cả điều này rằng là, Việt Nam luôn luôn
bị chiến tranh, luôn luôn bị ám ảnh bởi đói nghèo, cho nên quan niệm của mình chỉ cần mặcbền, người dân không quá chú trọng vào việc mặc đẹp (trừ tầng lớp quý tộc), nguời nghèo vẫnthường đi chân đất, trang phục đơn sơ Không quá
quan tâm vào văn hóa trang phục Việt
1.3 Văn hóa kiến trúc nhà ở
1.3.1 Quan niệm về ở
Căn nhà trước hết phục vụ yêu cầu đối phó với thiên nhiên, khí hậu và thuận tiện vớinghề nông nghiệp, là một trong những yếu tố quan trọng nhất đảm bảo cho họ cuộc sống ổnđịnh Cuộc sống nhà nông yên tĩnh, do đó ngôi nhà được xây dựng ổn định thành cái tổ ấm
“An cư lạc nghiệp”, ngôi nhà là cơ nghiệp của nhiều đời, gắn liền với sự thịnh suy của giađình, dòng họ
1.3.2 Đặc trưng về văn hóa kiến trúc nhà ở của người Việt
Ngôi nhà Việt Nam thích hợp với sông nước và khí hậu nóng ẩm gió mùa Đặc biệtkiểu nhà sàn, và nhà bè, nhà thuyền Kiến trúc mái cong (hình thuyền) có tính thẩm mỹ Nóichung, nhà cao cửa rộng phù hợp thời tiết
Trước đây người Đông Sơn mình có quan niệm là sống và chết trên những con thuyền.Những người sống bằng nghề sông nước thường lấy ngay thuyền, bè làm nhà ở đó, được gọi
là các nhà thuyền, nhà bè Nhiều gia đình quần tụ thì lập nên các xóm chài, làng chài.J.B.Tavernier viết về người Việt vào năm 1909: “Họ rất thích ở nước, thích ở trên nước hơn làtrên cạn Cho nên phần lớn sông ngòi đầy thuyền Những thuyền đó thay cho nhà cửa của họ.”
[1, tr 216]
10
Nam Kỳ, 1935 – Những kiểu Dép - Guốc [2]