Năm 2011, toàn thế giới phải nghiêng mình thán phục người Nhật Bản vì trong đói rét và giá lạnh họ vẫn giữ được trật tự, kỷ luật để vẫn xếp hàng chờ cấp phát lương thực, và trong tình cảnh ngặt nghèo ấy đã có 50 người anh hùng tình nguyện chịu chết để khắc phục hậu quả rò rỉ hạt nhân. Phải chăng người Nhật Bản có được điều đó chính là nhờ giáo dục đạo đức và họ tiến hành giáo dục đạo đức như thế nào? Để tìm hiểu cách mà người Nhật lưu truyền những điều tốt đẹp trong những con người hiện đại, bài viết đã quay trở lại thời Minh Trị, để thử tìm hiểu xem người Nhật đã giải quyết thế nào bài toán giữa hiện đại hoá và duy trì văn hoá truyền thống, nuôi dưỡng đạo đức cho dân tộc. Thông qua câu chuyện về nhân vật Hiroike Chikuro, người đã xây dựng ngành Moralogy (đạo đức học) và hoạt động của Viện nghiên cứu đạo đức bài viết hy vọng sẽ giúp người đọc phần nào vén lên bức màn của bí mật này.
Trang 1NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY ĐẠO ĐỨC TẠI NHẬT BẢN
(HIROIKE CHIKURO VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU ĐẠO ĐỨC NHẬT BẢN)
TÓM TẮT
Năm 2011, toàn thế giới phải nghiêng mình thán phục người Nhật Bản vì trong đói rét và giá lạnh họ vẫn giữ được trật tự, kỷ luật để vẫn xếp hàng chờ cấp phát lương thực, và trong tình cảnh ngặt nghèo ấy đã có 50 người anh hùng tình nguyện chịu chết để khắc phục hậu quả rò rỉ hạt nhân Phải chăng người Nhật Bản có được điều
đó chính là nhờ giáo dục đạo đức và họ tiến hành giáo dục đạo đức như thế nào?
Để tìm hiểu cách mà người Nhật lưu truyền những điều tốt đẹp trong những con người hiện đại, bài viết đã quay trở lại thời Minh Trị, để thử tìm hiểu xem người Nhật đã giải quyết thế nào bài toán giữa hiện đại hoá và duy trì văn hoá truyền thống, nuôi dưỡng đạo đức cho dân tộc Thông qua câu chuyện về nhân vật Hiroike Chikuro, người đã xây dựng ngành Moralogy (đạo đức học) và hoạt động của Viện nghiên cứu đạo đức bài viết hy vọng sẽ giúp người đọc phần nào vén lên bức màn của bí mật này
Từ khoá: Hiroike Chikuro, Moralogy, Viện nghiên cứu đạo đức Nhật Bản, đạo
đức học, giáo dục đạo đức
Ngày 11/3/2011, Nhật Bản bàng hoàng vì trận động đất sóng thần cùng với sự cố rò rỉ lò phản ứng hạt nhân khiến cho cả vùng đất rộng lớn chịu thảm họa, tuy nhiên cũng chính trong những thời khắc khó khăn đó, tinh thần Nhật Bản lại tỏa sáng hơn bao giờ hết Thế giới đã và vẫn đang nghiêng mình thán phục và tự hỏi vì sao trong đói khát và lạnh giá người Nhật Bản vẫn có thể kiên nhẫn đứng xếp hàng chờ cấp phát lương thực, tại sao 50 người công nhân bao gồm cả ông giám đốc nhà máy điện nguyên tử Fukushima sẵn sàng ở lại nhà máy khắc phục
** ThS., Trung tâm Nghiên cứu Đạo đức, Trường ĐH KHXH&NV-ĐHQG TP HCM.
Trang 2hậu quả dù biết sau đó họ sẽ phải chết? Những hình ảnh ấy khiến toàn thế giới đặt ra câu hỏi: Người Nhật có thể giáo dục và giảng dạy con cái họ, dân tộc họ như thế nào để làm nên những con người như vậy?
Việc trả lời câu hỏi này có lẽ vô cùng ý nghĩa với đất nước Việt Nam chúng ta hiện nay, nơi mà những Lê Văn Luyện, Nguyễn Hải Dương xuất hiện ngày càng nhiều, những vụ hôi của, hôi bia và trộm cắp đang làm vẩn đục một hình ảnh một Việt Nam vốn nổi tiếng kiên cường và bất khuất, xinh đẹp và hào hùng Làm thế nào để có thể phát triển kinh tế, hiện đại hóa đất nước nhưng vẫn duy trì được nền tảng đạo đức và văn hóa truyền thống của mình là một bài toán khó mà Nhật Bản phần nào đã giải quyết được Tuy nhiên, trong khuôn khổ một bài viết nhỏ, chúng tôi chỉ đề cập đến một trong rất nhiều cách đang được người Nhật áp dụng trong việc duy trì nền tảng đạo đức và văn hóa của họ, qua câu chuyện về nhà sáng lập Moralogy (đạo đức học) của Nhật Bản – Hiroike Chikuro (1866-1938) và những hoạt động cụ thể tại Viện nghiên cứu đạo đức Nhật Bản của ông
1 Tổng quan về giáo dục đạo đức tại Nhật Bản từ thời Minh Trị đến nay
Vào cuối thời Mạc phủ (1853-1867), đất nước Nhật Bản sau một thời gian dài bế quan tỏa cảng đã thực sự thức tỉnh dưới áp lực của các nước đế quốc phương Tây Dưới thời Mạc phủ quyền lực chính trị thuộc về giới võ sĩ và triều đình chỉ có ý nghĩa tượng trưng Nhận thức được nguy cơ mất nước, lực lượng võ sĩ bậc thấp cùng các trí thức Tây học của Nhật Bản đã liên kết với thế lực quý tộc ủng hộ Thiên hoàng tiến hành đảo Mạc, chủ động học tập phương Tây để phát triển Bước vào thời Minh Trị (1868-1912), xã hội Nhật Bản chuyển biến sâu sắc
từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản cận đại, điều này làm nảy sinh một sự bất an, hỗn loạn về mặt tinh thần trong dân chúng Thêm vào đó, giai đoạn này nền kinh tế suy thoái, nạn hạn hán, bão lụt liên tiếp xảy ra, nhiều nơi mà đặc biệt là vùng nông thôn lâm vào cảnh nghèo đói, ngay cả trẻ em cũng phải làm việc mới có cái ăn Cả nước Nhật Bản lúc bấy giờ phải đương đầu với bao nhiêu khó khăn, thách thức, vừa phải phục hồi nền kinh tế, phát triển nhanh để tránh nguy cơ bị biến thành thuộc địa, vừa phải bảo tồn được bản sắc văn hoá của dân tộc
Đứng trước tình hình đó, chính phủ Minh Trị đã dựa vào tầng lớp trí thức mới tiến hành cải cách mạnh mẽ nhằm nhanh chóng cận đại hóa đất nước theo mô hình phương Tây Giáo dục Nhật Bản cận-hiện đại được bắt đầu từ thời Minh Trị (1868-1912), mà cụ thể là chế độ
Trang 3giáo dục (HỌC CHẾ 学制) được ban hành vào năm 1872, được thay bằng (pháp lệnh giáo dục 教育令)vào năm 1879 rồi pháp lệnh cải cách giáo dục ( 改正教育令) năm 1880 và pháp lệnh trường học(学校令) năm 1886 Nền giáo dục Nhật Bản trong 10 năm đầu thời Minh Trị đã du nhập mạnh mẽ các trào lưu tư tưởng cùng thành tựu khoa học kĩ thuật phương Tây nhằm đạt cho được mục tiêu “phú quốc cường binh” Tuy nhiên, cụm từ “triết lý giáo dục” chưa xuất hiện trong các văn bản pháp luật liên quan tới giáo dục ở giai đoạn này Có thể nói giáo dục Nhật Bản trước 1945 chịu sự chi phối của triết lý được thể hiện trong
“Sắc chỉ giáo dục” (教育勅語)do Thiên hoàng Minh Trị ban hành năm 1890 với những nội dung đạo đức mang màu sắc Nho giáo, chú trọng sự tu thân và sự tiếp nối văn hóa truyền thống Cụ thể là những điều sau:
Hình 1 “Sắc chỉ giáo dục” (教育二関スル勅語スル勅語勅語)do Thiên hoàng Minh Trị ban hành
năm 1890 với con dấu và chữ ký Thiên hoàng
(Nguồn: http://www.meijijingu.or.jp/english/about/6.html)
1 (孝行) Hiếu thảo với cha mẹ
2 (友愛) Hòa thuận với anh chị em
3 (夫婦ノ和ノ和和) Giữ gìn hòa khí với vợ chồng
4 (朋友ノ和信) Tin tưởng bạn bè
5 (謙遜) Khiêm tốn trong hành động và lời nói
6 (博愛) Bác ái, yêu thương tất cả mọi người
7 (修学習業)Nỗ lực học tập để có nghề nghiệp trong tay
Trang 48 (智能啓発) Bồi dưỡng tri thức, phát triển tài năng
9 (徳器成就) Nuôi dưỡng đạo đức nâng cao nhân cách
10 (公益世務) Dốc lòng phục vụ cộng đồng
11 (遵法)Tuân thủ luật pháp và các quy định để duy trì trật tự xã hội
12 (義勇) Dũng cảm và tận tụy bảo vệ tổ quốc
Nhìn chung sắc chỉ giáo dục này nhằm mục đích đào tạo nên những “thần dân trung quân ái quốc” hết lòng phụng sự Thiên hoàng bên cạnh việc nuôi dưỡng những đặc tính tốt đẹp của con người theo quan niệm Nho giáo
Tuy nhiên, “sắc chỉ giáo dục” bị quy kết là nguyên nhân hình thành nên những người Nhật Bản sẵn sàng liều mình vì Thiên hoàng và tiếp tay cho chủ nghĩa phát xít trong giai đoạn chiến tranh thế giới thứ II Chính vì vậy, sau ngày 15/8/1945, đặt dưới sự chiếm đóng của quân đội Đồng minh (GHQ), Nhật Bản bị buộc phải tiến hành một cuộc cải cách toàn diện nhằm dân chủ hóa và phi quân sự hóa đất nước, cuộc cải cách được tiến hành trên nhiều mặt
mà trước hết là thay đổi về triết lý giáo dục
Triết lý của giáo dục sau chiến tranh được xác định bởi “Hiến pháp nước Nhật Bản” có hiệu lực từ ngày 3 tháng 5 năm 1947 (năm Showa thứ 22) và “Luật giáo dục cơ bản” được ban hành vào tháng 3 cùng năm Đó không phải là kiểu “Sắc lệnh chủ nghĩa” đứng dưới danh nghĩa Thiên hoàng như thời trước chiến tranh mà là “pháp quyền chủ nghĩa” thông qua thảo luận giữa các đại biểu quốc hội do quốc dân bầu ra và dựa trên nền tảng luật pháp để tạo ra nền tảng giáo dục quốc dân Giáo dục nghĩa vụ 9 năm gồm 6 năm tiểu học và 3 năm THCS được thực thi, nam nữ học chung Trong cuộc cải cách này, từ tiểu học, THCS tới THPT, với
tư cách là môn giáo khoa giáo dục nên những người công dân của xã hội dân chủ trong vai trò là người nắm giữ chủ quyền quốc dân, môn Xã hội đã ra đời Triết lý của nền giáo dục mới, nền giáo dục mà sau này người Nhật quen gọi là giáo dục dân chủ, được xây dựng dựa trên sự phản tỉnh sâu sắc về nền giáo dục trước chiến tranh và tiếp thu tinh hoa giáo dục Mĩ Mục tiêu giáo dục giờ đây không phải là đào tạo nên những “thần dân trung quân ái quốc”
mà là người CÔNG DÂN có đủ tri thức, phẩm chất, năng lực phù hợp với xã hội hòa bình, dân chủ và tôn trọng nhân quyền Triết lý giáo dục này được ghi rõ trong các bộ luật luật về
Trang 5giáo dục được công bố trong năm 1947 như: Luật giáo dục cơ bản, Luật giáo dục trường học…1
Trong Luật giáo dục cơ bản được Quốc hội Nhật Bản ban hành lần đầu năm 1947 và sửa đổi năm 2006, chương I phần mục đích và triết lý giáo dục có nêu rõ mục đích của giáo dục
là để “nhằm hoàn thiện nhân cách con người và giáo dục nên quốc dân khỏe mạnh cả về thể
chất lẫn tinh thần đồng thời có đầy đủ phẩm chất cần thiết với tư cách là người làm chủ xã hội-quốc gia hòa bình và dân chủ.”
Mục tiêu giáo dục là để 1.Trang bị văn hóa và tri thức rộng rãi, giáo dục thái độ truy tìm
chân lý, nuôi dưỡng đạo đức và tình cảm phong phú đồng thời rèn luyện thân thể khỏe mạnh; 2.Tôn trọng giá trị cá nhân, mở rộng năng lực cá nhân, nuôi dưỡng tính sáng tạo và tinh thần tự lập, tự chủ đồng thời coi trọng mối quan hệ với nghề nghiệp và cuộc sống, giáo dục thái độ tôn trọng lao động; 3.Tôn trọng chính nghĩa và trách nhiệm, bình đẳng nam nữ, tôn kính và hợp tác lẫn nhau đồng thời giáo dục thái độ tham gia vào xây dựng xã hội, đóng góp cho sự phát triển của xã hội một cách chủ thể dựa trên tinh thần công cộng; 4.Có thái
độ tôn trọng sinh mệnh, coi trọng tự nhiên và đóng góp vào việc bảo vệ môi trường; 5 Có thái độ tôn trọng truyền thống và văn hóa, yêu mến quê hương và đất nước chúng ta nơi đã nuôi dưỡng những thứ ấy đồng thời giáo dục thái độ tôn trọng nước khác, đóng góp vào hòa bình và sự phát triển của cộng đồng quốc tế 2
Tuy có thay đổi về nội dung, giáo dục đạo đức là một nội dung quan trọng trong các văn bản liên quan cho đến tận ngày nay Chính vì vậy, tầm quan trọng của giáo dục đạo đức tại Nhật Bản được các nhà nghiên cứu đánh giá rất cao F N Kerlinger (1951) nhận định giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị vận hành theo triết lý “Shushin (tu thân)” và triết lý này vẫn còn ảnh hưởng cho đến giai đoạn sau chiến tranh Theo Kerlinger tu thân chính là luân thường đạo đức hay những tiêu chuẩn về đạo đức v.v tu thân chính là trọng tâm của chương trình giáo dục tại Nhật Bản, và cũng là trọng tâm trong cuộc sống người Nhật Bản.3 Bassey Ubong (2011) cho rằng “Đạo đức còn có nghĩa là ý thức tuân thủ kỷ luật phản ánh qua quan niệm
1 Nguyễn Quốc Vương (2014), Nhật Bản cải cách giáo dục như thế nào ( http://vnexpress.net/tin-tuc/goc-nhin/nhat-ban-cai-cach-giao-duc-nhu-the-nao-2988237.html )
giáo dục cơ bản do chính phủ Nhật Bản công bố năm 2006 (Bản dịch của Nguyễn Quốc Vương).
3 Fred N Kerlinger (1951), The Modern Origin of Morals Instruction in Japanese Education, History of Education
Journal Vol 2, No 4 (Summer, 1951), tr 119-120.
Trang 6xem giáo dục là con đường dẫn đến cuộc sống tốt đẹp hơn Chính vì vậy mà thanh niên tích cực học tập, tuân theo các chuẩn mực về tôn trọng mọi người xung quanh và nhờ vậy giảm tỉ lệ thất nghiệp, mọi người đều tốt nghiệp và có việc làm”4
Nước Nhật đã và đang thực hiện một chương trình giáo dục đạo đức với mục đích lưu truyền những đặc tính tốt đẹp của dân tộc cho các thế hệ sau Giáo dục đạo đức tuy không đưa thành một môn học cụ thể nhưng bao gồm trong toàn bộ chương trình giáo dục tại Nhật Bản Chương trình được triển khai từ lớp 1 đến lớp 9 được phân ra làm 4 nhóm liên hệ từ gần đến xa:
1 Nhóm 1- liên quan đến bản thân
2 Nhóm 2- liên quan đến người khác
3 Nhóm 3- liên quan với nhóm, xã hội
4 Nhóm 4- liên hệ với tự nhiên và siêu nhiên
Mỗi nhóm gồm nội dung kiến thức nâng cao dần, từ dễ đến khó, trình độ học sinh từ thấp ( lớp 1-2) đến cao ( lớp 7-9) Ví dụ 1: Nhóm Liên quan đến bản thân- Kiến thức lớp 1-2 là
"Sự cần cù, chăm chỉ" Ở lớp 7-9 là "Yêu quý sự thật" Ví dụ 2: Nhóm Liên hệ với nhóm xã hội Ở lớp 1-2 "Thương yêu kính trọng cha, mẹ, ông, bà" Ở lớp 7-9 là "Kính trọng và yêu quý người nước ngoài" 5
Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa vai trò của giáo dục đạo đức đối với công dân, Nhật Bản hiện đang dần hoàn chỉnh hệ thống sách giáo khoa và ngày càng chú trọng hơn đến giáo dục đạo đức tại nhà trường Hiện nay, tại các trường tiểu học và trung học cơ sở công lập, mỗi tuần có một giờ đạo đức, tuy nhiên từ trước đến nay Nhật Bản chưa có sách giáo khoa đạo đức mà chỉ sử dụng tài liệu tham khảo hỗ trợ Trong kế họach hiện tại Nhật Bản đã xây dựng xong bộ sách giáo khoa về giáo dục đạo đức và tiến hành đưa vào giảng dạy từ năm 2017 đối với bậc tiểu học, và từ năm 2018 đối với bậc THCS Điều này đánh dấu một sự thay đổi lớn về vị trí của môn đạo đức trong giáo dục tại Nhật Bản Bộ giáo dục Nhật Bản cũng đã hoàn thành việc kiểm định sách giáo khoa giảng dạy môn đạo đức trong nhà trường và từ năm
4 Bassey Ubong (2011), Bassey Ubong (2011), National philosophies of education and impact on national
development, Proceedings of the 1st International Technology, Education and Environment Conference (c) African
Society for Scientific Research (ASSR)
5 NGƯT Châu An (2011) , Giáo dục đạo đức ở Nhật Bản - Đôi điều suy nghĩ, Viện nghiên cứu giáo dục Trường
ĐHSP TP.HCM (http://www.ier.edu.vn/content/view/474/186/).
Trang 72016 mô hình giảng dạy đạo đức trên sách giáo khoa chuyên biệt sẽ được đưa vào áp dụng
Tuy nhiên, phải chăng giáo dục đạo đức chỉ
là công việc của nhà trường? Phải chăng chỉ với một giờ học đạo đức có thể hình thành nên những con người Nhật Bản đúng chuẩn mực? Để có thể có cái nhìn đầy đủ về giáo dục đạo đức tại Nhật Bản, thiết nghĩ không thể bỏ qua được vai trò của gia đình, cộng đồng xã hội và vai trò của người đã khai sinh ngành đạo đức học tại Nhật Bản cũng như thành tựu của ông để lại cho hậu thế
2 Hiroike Chikuro (1866-1938) – người khai sinh Moralogy (đạo đức học) tại Nhật Bản
Hiroike Chikuro (廣池千九郎) sinh ngày 29 tháng 3 năm 1866 và trải qua thời niên thiếu tại thành phố Nakatsu tỉnh Oita
Ông sinh ra vào cuối thời Edo, chỉ hai năm trước khi Nhật Bản chuyển mình và bước vào thời Minh Trị, giai đoạn chủ trương học tập và xây dựng đất nước hùng
mạnh, theo kịp với các nước Âu Mỹ vốn đã tiến rất xa thời bấy giờ Cha mẹ ông cũng là một trong những người hiếm hoi rất coi trọng học vấn và cho ông được học hành đầy đủ, đây là
cơ sở để những tài năng trong ông có điều kiện phát triển Lúc thiếu thời ông là đứa trẻ hay đau ốm, và đã từng bị các bạn khác bắt nạt… đến năm 14 tuổi, sau khi hoàn tất việc học tập tại trường trung học cơ sở Nakatsu ông trở thành trợ giảng tại trường tiểu học Nagasoi Năm
17 tuổi ông đến học tại Reitakukan do một nhân vật kiệt xuất thời bấy giờ là Ogawa Gansho (小川含章)6 thành lập và đã chịu ảnh hưởng rất lớn của nhân vật này, sau này ông lấy tên
6 Ogawa Gansho (1812 - 1894) là đệ tử xuất sắc của một nhà Nho học nổi tiếng thời bấy giờ đồng thời bản thân cũng
là một nhà Hán học, là người sáng lập Reitakukan, là nơi Hiroike vào làm việc sau khi thi không đỗ để lấy chứng chỉ
Sư phạm để trở thành giáo viên Tinh thần trân trọng văn hoá truyền thống, luôn nghĩ đến lợi ích quốc gia và tương lai của Nhật Bản của ông đã gây ảnh hưởng rất sâu sắc đến Hiroike (ND)
Hình 2 Hiroike Chikuro
(Nguồn: http://edu.moralogy.jp/history/)
Trang 8Reitakukan đặt cho trường dạy đạo đức của mình Năm 19 tuổi ông lấy được chứng chỉ hành nghề giáo viên chính thức và bắt đầu sự nghiệp giáo viên tại trường tiểu học Nakatsu Ông tích cực hoạt động trên nhiều lĩnh vực, rất nhiệt huyết trong việc phổ cập giáo dục tiểu học Năm 1886 ông mở trường ban đêm để dạy cho các trẻ em nghèo không có cơ hội đến trường, năm 1888 chấp bút viết quyển “Tân biên Tiểu học tu thân dụng thư” (新編小学修身用書 Sách rèn luyện đạo đức cho bậc tiểu học), năm 1891 sáng lập tổ chức “Hội giáo dục công lập tỉnh Oita” bao gồm hội hỗ trợ, cải thiện đời sống cho giáo viên đầu tiên của Nhật Bản, mặc dù xã hội Nhật Bản lúc bấy giờ ít ai quan tâm đến giáo dục, địa vị xã hội của người giáo viên cũng rất thấp Chikuro ôm ấp lý tưởng dùng giáo dục để thay đổi địa phương, nỗ lực không ngừng để biến những ước mơ của mình thành hiện thực7
Dù làm gì, ở đâu ông luôn đặt mình vào hoàn cảnh của người học, đối với ông giáo dục không phải là “dạy” mà là “gợi mở, nuôi dưỡng”, không chỉ đơn thuần là việc truyền đạt kiến thức mà còn là làm lay động tâm hồn người học, khiến bản thân người học thấy mình ngày một trưởng thành hơn Lòng nhiệt huyết của ông đã làm thay đổi không những bản thân học trò của mình mà còn làm thay đổi cả bố mẹ họ và cả những người xung quanh, vượt qua khuôn khổ của cách giáo dục tại Nhật Bản từ trước đến nay, giáo dục không còn gói gọn sau cánh cổng nhà trường mà còn lan rộng ra toàn thể xã hội, thực hành giáo dục suốt đời
Giai đoạn đầu thời Minh Trị, Nhật Bản đang ở trong ranh giới của sự chuyển biến từ văn hoá truyền thống sang văn hoá phương Tây, việc xác định được bản sắc văn hoá dân tộc Nhật, quyết định bảo tồn và phát yếu yếu tố truyền thống Nhật Bản như thế nào trong sự kết hợp với văn minh phương Tây là một nhiệm vụ của cả đất nước Nhật Bản thời bấy giờ, đồng thời cũng là một nhiệm vụ suốt đời của một nhà nghiên cứu, nhà giáo dục đồng thời là một học giả như Hiroike Chikuro8
Chikuro bắt đầu rời Nakatsu để đến sống ở Kyoto với vai trò là một nhà sử học Ông tự lập ra tạp chí phổ cập sử học (史学普及雑誌社) phát hành tạp chí lịch sử cho người dân đứng trên quan điểm một nhà giáo dục Để mọi người dễ hiểu, trong tạp chí của ông có rất nhiều hình ảnh trên loại giấy có chất lượng rất tốt Tuy nhiên, xã hội Nhật Bản thời bấy giờ đang trong cuộc chiến với nhà Thanh mà ít quan tâm đến lịch sử Đây cũng là giai đoạn ông
http://www.hiroike-chikuro.jp/yukari_hito/01a.htm
7 Hiroike Chikuro, Tài liệu do Viện nghiên cứu đạo đức phát hành, tr.2.
8 Hiroike Chikuro, Tài liệu do Viện nghiên cứu đạo đức phát hành, tr.3
Trang 9lâm vào cảnh khó khăn về mặt kinh tế Mặc dù vậy ông cũng vẫn tiếp tục các cuộc điều tra điền dã tiếp xúc với những tinh hoa văn hóa của Nhật Bản và bắt đầu tìm hiểu lịch sử hoàng thất Nhật Bản để lại nhiều tác phẩm có giá trị
Ông dời đến sinh sống tại Tokyo và bắt đầu đi theo con đường của một học giả thực thụ Đối với ông, trở thành học giả cũng là một cách tu thân, và đó cũng là nơi ông tỏa sáng Lòng say mê nghiên cứu của ông cũng đã được giới thiệu trên báo chí thời bấy giờ và đó cũng chính là con đường đưa ông đến với môi trường nghiên cứu tại ĐH Waseda hay Jingukougakukan (Thần cung hoàng học quán, ĐH Kogakukan ngày nay)
Bên cạnh đó ông cũng là người tiên phong trong việc viết về lịch sử địa phương, cuốn
“Lịch sử Nakatsu” (中津歴史) sau đó ông lại góp phần biên soạn “Cổ sự loại uyển” (古事類
苑 Tự điển bách khoa sử liệu lớn nhất Nhật Bản) và bắt đầu khai thác lĩnh vực mới là “Lịch sử pháp chế Đông Dương” (東洋法制史) và có rất nhiều đóng góp trong học thuật Năm
1929, ông đã lấy bằng tiến sĩ Luật tại Đại học Đế quốc Tokyo (Đại học Tokyo ngày nay) bằng con đường tự học, cũng là người đầu tiên xuất thân từ tỉnh Oita lấy được học vị này Ông chính là nhà giáo dục, nhà nghiên cứu đóng góp vào sự nghiệp giáo dục trong giai đoạn cận đại hóa của Nhật Bản9
Tuy nhiên, sau bao nhiêu nỗ lực cố gắng để đạt được học vị này, ông mắc một căn bệnh nan y mà bác sĩ cũng không thể chữa trị được, chỉ còn chờ chết Cũng chính điều này đã giúp ông có dịp nhìn nhận lại ý nghĩa của cuộc đời mình và có một tâm nguyện là nếu được sống ông sẽ dành toàn bộ kiến thức và sức lực của mình để nghiên cứu các phương pháp và nguyên tắc cần thiết nhằm mang lại hạnh phúc cho toàn thể nhân loại
Ông cống hiến hết mình cho các hoạt động đóng góp cho xã hội Nhật Bản thời bấy giờ vốn chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, đời sống người dân hết sức khó khăn, nhiều người phải chịu đói Ông luôn tiếp xúc với cuộc sống khổ sở của người dân và luôn suy nghĩ tìm cách để làm cho đời sống người dân được tốt hơn Sau thành công của cách mạng tháng 10 Nga, tư tưởng cộng sản chủ nghĩa đã có ảnh hưởng rất nhiều đến Nhật Bản, đặc biệt là sự đối lập về quyền lợi giữa giai cấp tư bản và phần lớn nhân dân lao động trong nước Giữa tình hình ấy ông lại chủ trương mang đến “sự hoà bình, an tâm cho tất cả mọi người” Để thực hiện được điều này không chỉ giải quyết vấn đề từ phía người lao động mà cần phải tác động
9 Hiroike Chikuro, Tài liệu do Viện nghiên cứu đạo đức phát hành, tr.4-5.
Trang 10từ nhiều phương diện, đến cả đến giới tư bản, giới chính trị, nhà tư tưởng v.v Ông cho rằng cần phải giải quyết vấn đề từ cả phía người lao động lẫn giới tư bản Về phía người lao động, ông tiến hành giáo dục cho họ hiểu về nghề nghiệp và ý thức nâng cao hiệu suất trong công việc, còn đối với phía người kinh doanh thì xây dựng trường học trong công ty, cung cấp nơi học tập cho người lao động, áp dụng các chế độ như hình thành Hội cứu tế để kịp thời ứng phó khi có bệnh tật hay tai nạn xảy ra 10
Cho đến những năm cuối đời, mặc dù bệnh tật, ông vẫn luôn cho thấy tinh thần hoạt động không mệt mỏi, lập các cơ sở đào tạo và giảng dạy tại đây Năm 1935, ông cho xây dựng trường giảng dạy đạo đức cho tất cả mọi đối tượng, cả nam và nữ tại vùng Hikarigaoka, thành phố Kashiwa tỉnh Chiba
Không những thế ông còn đến vùng suối nước nóng Tanigawa để xây dựng một cơ sở nghỉ dưỡng và trị liệu.11 Hiroike đã từng nói “Con người có ba căn bệnh lớn nhất đó là căn
bệnh tinh thần, vật chất và thể xác, bất kỳ người nào cũng đều mắc một trong ba căn bệnh này vì vậy nếu có thể tìm được cách chữa bệnh thì mới có thể đạt được sự bình an Khoa học
về đạo đức có thể giúp chữa được căn bệnh về tinh thần và vật chất, nhưng nếu muốn có được sự bình an và hạnh phúc thật sự cần phải có một nơi giúp chữa căn bệnh thể xác ”.
Được xây dựng từ 1937, trong suốt 75 năm qua cơ sở này đã hoạt động đúng như tâm nguyện của ông, trở thành nơi trị liệu cho cả tâm hồn và thể xác của con người và là nơi tổ chức các buổi tập huấn nhằm đào tạo ra nguồn nhân lực có đạo đức phục vụ cho xã hội Ông qua đời vào năm 1938 tại tỉnh Gunma, hưởng thọ 72 tuổi12
Xuất thân là một nhà giáo, trải qua con đường nghiên cứu học thuật lịch sử, văn hoá Nhật Bản và trải qua bao nhiêu thăng trầm trong cuộc sống, Hiroike Chikuro đã nhận thức được tầm quan trọng của việc nuôi dưỡng đạo đức trong tâm hồn nhằm mang lại hoà bình và hạnh phúc thật sự cho mọi người trên thế giới Những nghiên cứu của ông không chỉ ở những bộ sách đồ sộ mà ông lưu lại cho hậu thế mà còn là những hoạt động cụ thể triển khai trên nhiều lĩnh vực, có sức ảnh hưởng sâu rộng trên toàn đất nước Nhật Bản và vẫn được tiếp tục duy trì đến tận ngày nay
3 Moralogy (đạo đức học) và hoạt động của Viện nghiên cứu đạo đức Nhật Bản
10 Hiroike Chikuro, Tài liệu do Viện nghiên cứu đạo đức phát hành, tr.10.
11 http://www.hiroike-chikuro.jp/life/index.htm
12 http://tg.moralogy.jp/?page_id=13