1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HỨNG THÚ VÀ HIỆU QUẢ DẠY HỌC NGỮ VĂN TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG

9 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 879,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, việc dạy học Ngữ văn luôn là vấn đề được chú ý của mọi người, nhất là những người có tâm huyết với môn học này. Một trong những vấn đề được chú ý nhất chính là việc dạy học Ngữ văn trở nên nhàm chán, thiếu hứng thú và hiệu quả không cao. Vì vậy, vấn đề cấp bách hiện nay là cần đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn. Để nâng cao hứng thú và hiệu quả dạy học Ngữ văn ta cần: Một là đổi mới tư tưởng của người giáo viên; hai là dạy học theo một quy trình hướng tới phát huy năng lực học sinh; ba là sử dụng có hiệu quả công nghệ thông tin để hỗ trợ dạy và học; bốn là Dạy học gắn với thực tiễn, tăng cường hoạt động trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn ... và người thầy chính là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại trong hoạt động dạy học Ngữ văn.

Trang 1

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HỨNG THÚ VÀ HIỆU QUẢ DẠY HỌC NGỮ VĂN TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Trần Thanh Phong *

TÓM TẮT

Trong những năm gần đây, việc dạy học Ngữ văn luôn là vấn đề được chú ý của mọi người, nhất là những người có tâm huyết với môn học này Một trong những vấn đề được chú ý nhất chính là việc dạy học Ngữ văn trở nên nhàm chán, thiếu hứng thú và hiệu quả không cao Vì vậy, vấn đề cấp bách hiện nay là cần đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn Để nâng cao hứng thú và hiệu quả dạy học Ngữ văn ta cần: Một là đổi mới tư tưởng của người giáo viên; hai là dạy học theo một quy trình hướng tới phát huy năng lực học sinh; ba là sử dụng có hiệu quả công nghệ thông tin để hỗ trợ dạy và học; bốn là Dạy học gắn với thực tiễn, tăng cường hoạt động trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn và người thầy chính là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại trong hoạt động dạy học Ngữ văn.

Từ khóa: giáo viên, dạy học, Ngữ văn, hứng thú, phê phán, thực tiễn, công nghệ

thông tin, tư duy, trải nghiệm

1 Thực trạng và nguyên nhân

1.1 Thực trạng

Ngữ văn là một môn học trọng yếu trong nhà trường Đây là môn học được sự ưu tiên về thời lượng chương trình, về bắt buộc trong thi cử và được sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội… Bởi, Ngữ văn không chỉ đơn giản là một môn học với vai trò cung cấp tri thức, mà còn

là môn học góp phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh Thế nhưng, việc dạy học Ngữ văn lại chưa thực sự hiệu quả Còn nhiều giờ Văn buồn chán, khô khan, ít hứng thú kể cả người dạy lẫn người học Trong những tiết dự giờ Ngữ văn, ta thấy ít

có sự tương tác giữa giáo viên và học sinh Chủ yếu vẫn là truyền thụ một chiều, giáo điều, ít

** ThS, Trường THPT Hồng Ngự 3, Đồng Tháp.

Trang 2

trực quan, hầu như không có tranh luận Chính vì thế, hứng thú, sức hấp dẫn vốn có của môn

Ngữ văn ít nhiều bị mất đi Theo trang Zing tri thức trực tuyến thì: Có học sinh nhầm lẫn nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân thành nhà văn nên viết: “Nam Cao có chữ viết rất đẹp khiến cho người cai ngục phải cúi đầu”.79,7% giáo viên cho biết, học sinh có tâm lý chán học môn Văn 80% học sinh thì cho rằng, phương pháp dạy Văn chủ yếu là đọc chép và diễn giảng truyền thụ áp đặt

Hơn nữa dạy học các môn khoa học xã hội trong nhà trường hiện nay chủ yếu chỉ mang tính từ chương, nặng lý luận, ít tính thực tiễn Đặc biệt là ít trải nghiệm thực tiễn Giáo viên chỉ chú trọng truyền thụ kiến thức bài học là chính Các hoạt động trải nghiệm,

du khải về nguồn, đi thực tế cuộc sống ít được chú trọng Hay nói khác hơn, việc dạy các môn KHXH nói chung, môn Ngữ văn nói riêng chỉ bó hẹp trong phạm vi nhà trường là chủ yếu

Không chỉ vậy, việc giảng dạy các môn KHXH còn ít chú trọng phát huy năng lực và

kỹ năng của học sinh Sauk hi học xong phổ thông, học sinh vẫn còn rất yếu những kỹ năng cần thiết Thậm chí các em còn chưa có hiểu biết đầy đủ về năng lực của bản thân mình Có một điều ma ta dễ dàng nhận thấy đó là: khi cho một tác phẩm ngoài chương trình để học sinh cảm thụ và phân tích thì các em học sinh, kể cả thầy cô đều lúng túng, không biết phân tích như thế nào

Hình 1 Phổ điểm môn Ngữ văn kỳ thi THPT Quốc gia nằm 2015

Trang 3

(Nguồn: vov.vn)

Kết quả là chất lượng điểm thi hàng năm không cao và thiếu tính ổn định Trong kỳ thi Trung học Phổ thông Quốc gia 2015 vừa qua, khi Bộ Giáo dục & Đào tạo đổi mới cách ra đề thi thì phổ điểm của môn Ngữ văn lại thấp hơn rất nhiều so với những năm trước Nếu như những năm trước điểm trên 5 thường trên 80% thì năm nay có trường dưới 40% Cụ thể, các trường ở khu vực Tam Nông, Tân Hồng, thị xã Hồng Ngự và huyện Hồng Ngự của tỉnh Đồng Tháp, điểm môn Văn trên 5.0 đều dưới 50%

Từ đó, hiệu quả dạy học không như mong đợi Cùng với xu thế của thời đại và nghề nghiệp, nên tất yếu là: học sinh quay lưng với môn Ngữ văn, học Ngữ văn để đối phó Vì môn Văn là điều kiện xếp loại học lực và là môn thi Tốt nghiệp bắt buộc

1.2 Nguyên nhân

Bản thân tôi lại rất tâm đắc với lời dạy của Khổng Tử “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” Bởi trước khi trách học sinh, ta cần xem lại mình đã làm tròn trách nhiệm của mình chưa? Ta đã phấn đấu tìm tòi học hỏi để nâng cao hiệu quả dạy học chưa? … Từ đó, tôi xác định nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên chính là:

Thứ nhất là nguyên nhân khách quan: Do nhu cầu xã hội: đất nước đang trong giai đoạn

Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa nên cần nhiều nguồn nhân lực thiên về các môn Khoa học tự nhiên hơn xã hội; xu hướng nghề nghiệp: do nhu cầu việc làm và thu nhập của việc làm của học sinh và gia đình học sinh nên các em ít chọn các môn xã hội Nhất là trong những năm gần đây việc chọn nguồn học sinh bồi dưỡng học sinh giỏi của môn Ngữ văn ngày càng khó khăn hơn

Thứ hai là nguyên nhân chủ quan từ phía giáo viên cụ thể như sau:

- Một là: Giáo viên chưa đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực: bởi đây là công việc khó khăn và cần nhiều thời gian, đòi hỏi sự đầu tư và tâm huyết cao của giáo viên Nhưng bản thân giáo viên lại phải kiêm nhiệm nhiều công tác khác gây quá tải cho việc đầu

tư chuyên môn

- Hai là: Giáo viên chưa ứng dụng một cách hiệu quả công nghệ thông tin Phần đông giáo viên vẫn thấy được hiệu quả của công nghệ thông tin, nhưng do hạn chế về công nghệ

Trang 4

thông tin và thời gian cùng những điều kiện khác như thiết bị, phòng học Công nghệ thông tin, … nên vẫn chưa khai thác được hiệu quả thực sự của công nghệ thông tin…

- Ba là: Dạy học chưa linh hoạt chưa gắn với thực tiễn sinh động của đời sống xã hội

Do áp lực thời gian và chương trình nên nhiều giáo viên chỉ chú ý dạy cho hết bài trong trương trình, ít liên hệ với thực tiễn sinh động của đời sống xã hội hiện tại

- Bốn là: Giáo viên chưa phát huy tính tích cực chủ động, nhất là tinh thần phản biện,

tư duy phê phán của học sinh Nhiều giờ học còn mang tính truyền thụ một chiều Ta ít để học sinh làm việc vì sợ mất thời gian Và nhất là còn có tâm lý không tốt đối với những học sinh phản biện lại vấn đề thầy cô nói Ta cho rằng điều mình nói là chân lý, … Ít khi, ta ghi nhận ý kiến học sinh vào bài học mà chủ yếu chỉ là những gì ta đã soạn trước

- Năm là: Giáo viên còn rất thụ động, ngại đổi mới, ít có tinh thần cầu thị Dù Bộ, Sở, trường tổ chức rất nhiều đợt tập huấn cho giáo viên, nhưng hiệu quả tiếp thu của giáo viên là rất thấp và đâu lại vào đấy

2 Biện pháp/Giải pháp đã thực hiện

2.1 Đổi mới tư tưởng của giáo viên

Bên cạnh một số ít giáo viên nhiệt tình đổi mới, tiên phong đi đầu với một tinh thần cầu thị rất cao, vẫn còn một bộ phận không nhỏ giáo viên ngán ngại thay đổi Họ chỉ sử dụng những gì sẵn có, luôn nghĩ mình hay và giỏi, và tự bảo “như thế được rồi!” Họ luôn đổ thừa cho hoàn cảnh: lỗi này là của Bộ, Sở, Trường; tại chương trình nặng quá; tại thời gian; tại không có phương tiện; tại học sinh mình yếu; tại, tại … Với một tư tưởng như vậy thì muôn đời không thể nào nâng cao chất lượng dạy học được

Như vậy, điều cốt lõi không nằm ở chương trình, không nằm ở cơ chế hay chính sách…

mà do chính bản thân của giáo viên Vì vậy, ta cần đả thông tư tưởng giáo viên, khích lệ giáo viên để bản thân mỗi giáo viên luôn có lửa học hỏi, đổi mới, nâng chất Có như thế thì giáo dục nói chung, bộ môn Ngữ văn nói riêng mới có thể nâng cao chất lượng được

2.2 Đổi mới giờ dạy học

2.2.1 Dạy học theo quy trình sáu chiếc mũ tư duy bằng sơ đồ tư duy

Đây là sự kết hợp kỹ thuật dạy học sáu chiếc nón tư duy và sơ đồ tư duy imindmap

Kỹ thuật sáu chiếc mũ tư duy là không mới Nó đã được Edward de Bono phát triển năm

1985 và được chúng học tập từ nhiều năm trước nhưng còn ít được sử sụng Nhất là đối với

Trang 5

môn Ngữ văn Một số giáo viên có sử dụng nhưng chủ yếu là dưới dạng cung cấp kiến thức theo kiểu hệ thống kiến thức áp đặt trước Và phần lớn là yêu cầu học sinh tự thiết kế dưới sự dẫn dắt của nhóm trưởng Điều này thực sự khó khăn đối với học sinh của chúng ta Đặc biệt

là học sinh nông thôn Nhưng, đây là một kỹ thuật dạy học phát huy được tính tích cực và tinh thần phản biện, tư duy phê phán của học sinh

Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học cũng không phải là mới Nhưng môn Ngữ văn lại ít sử dụng, do đặc trưng bộ môn và không phải ai cũng thiết kế được Vì nó cần có phần mềm hỗ trợ, đòi hỏi giáo viên phải bỏ nhiều thời gian để học sử dụng Có nhiều phần mềm vẽ sơ đồ

tư duy khác nhau Nên việc tìm hiểu lại càng khó khăn hơn

Qua tìm hiểu và sử dụng, tôi nhận thấy dạy học Ngữ văn, nhất là phần đọc văn theo quy trình kết hợp kỹ thuật sáu chiếc mũ tư duy trên phần mềm vẽ sơ đồ tư duy Minimap là phù hợp và mang lại hiệu quả cao, tạo được nhiều hứng thú cho học sinh

Trước tiên, giáo viên tải phần mềm imindnimap tại đây:

http://bam.vn/threads/download-imindmap-6-2-full-crack-phan-mem-ve-so-do-tu-duy-moi-nhat.13433/

và cài đặt phần mềm vào máy và sử dụng

Tiếp theo, ta thiết kế bài dạy theo sơ đồ sáu chiếc mũ tư duy: Đi theo quy trình:

Một là: Nón trắng (sử dụng nhánh sơ đồ màu trắng): sử dụng các nhánh con để hướng dẫn

học sinh tìm hiểu thông tin về tác giả và tác phẩm trong phần Tiểu dẫn ở sách giáo khoa Ở phần này, ta sử dụng các tranh ảnh về tác giả và tác phẩm để hỗ trợ thêm, giúp học sinh nhớ mau và lâu hơn

Hai là: Nón đỏ (sử dụng nhánh sơ đồ màu đỏ): Ta cho học sinh đọc văn bản Sau đó, ta

hỏi học những về những cảm nhận ban đầu của các em như: Cảm nhận chung của em về tác phẩm là gì? Em có ấn tượng gì tác phẩm, về câu thơ, đoạn thơ hay về nhân vật, chi tiết hình ảnh nào? Thích hay không thích tác phẩm này? Hay hay không hay? Và những cảm nhận khác …

Ba là: Nón vàng (sử dụng nhánh sơ đồ màu vàng): Ở phần này, ta hướng dẫn học sinh tìm

hiểu vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Với nhánh vàng này, ta thiết kế những định hướng về nội dung và nghệ thuật để lần lượt giúp học sinh khai thác giá trị của tác phẩm Đồng thời, ta dùng các hình ảnh minh họa để học sinh trực quan và dễ cảm nhận

Trang 6

Bốn là: Nón đen (dùng nhánh sơ đồ màu đen): Phần này, ta hướng học sinh đến chỗ tìm

những hạn chế, chỗ chưa hay của tác phẩm, những dư luận xung quanh tác giả và tác phẩm

Năm là: Nón xanh lá cây (dùng nhánh sơ đồ màu xanh lá cây): Phần này, ta hướng học

sinh tìm hiểu những sáng tạo, những đóng góp, nét đặc sắc của tác phẩm và tác giả

Sáu là: Nón xanh dương (sử dụng nhánh sơ đồ màu xanh dương): Phần này, ta hướng dẫn

học sinh tổng kết lại bài học, tìm ra ý nghĩa văn bản của tác phẩm

Sau đó ta có thể dạy bài trực tiếp trên imindmap hoặc xuất ra video và Powerpoint cũng được Nếu không thì ta xuất bài học ra file hình để làm đồ dùng dạy học

(Dạy bài thơ“Sóng” dạng video và bài Tây Tiến dạng file ảnh, Sóng dạng Powerpoint Tây Tiến dạy trên Imidmap đều được thiết kế trên imindmap và xuất ra các dạng khác nhau) 2.2.2 Hướng dẫn chuẩn bị bài mới và tự học cho học sinh có kiểm tra khích lệ

Trong dạy học, ta cần dành một khoảng thời gian nhất định, vừa đủ để hướng dẫn học sinh

tự học ở nhà Có thể là mở rộng, tìm hiểu thêm bài đã học hoặc chuẩn bị cho bài mới

Đến tiết sau, vào đầu tiết, ta kiểm tra sự chuẩn bị và tự học của học sinh bằng những câu hỏi về vấn đề ta hướng dẫn bằng hai cách kết hợp cùng lúc Đó là cho học sinh xung phong

Trang 7

và ta gọi ngẫu nhiên bằng cách bắt số theo số thứ tự của học sinh (ta làm sẵn số thứ tự từ một đến hết) Sau đó, ta khích lệ hay nhắc nhở, động viên, bổ sung thêm

Khi thăm dò ý kiến học sinh, về việc làm thế nào để các em thích học môn Văn? … Các

em thường trả lời: thầy cô nên đặt câu hỏi cho các em trả lời phần chuẩn bị ở nhà của các em

2.2.3 Kích thích tinh thần phản biện và tư duy phê phán cho học sinh bằng sơ đồ sáu chiếc mũ tư duy

Khi dạy học ta cần hướng học sinh đến việc mạnh dạn thể hiện ý kiến, quan điểm riêng của mình Trong đó, ta cần chú ý những câu hỏi như: Tác phẩm này không hay chỗ nào? Nó

có những hạn chế gì? Có cần thay đổi gì không? Có chỗ nào chưa hợp lý? Có những dư luận

gì xung quanh vấn đề này? Chúng ta nên chú ý khai thác chiếc mũ đen trong sơ đồ sáu chiếc nón tư duy

2.2.4 Kể những mẩu chuyện từ Quà tặng cuộc sống hay truyện ngụ ngôn

Môn Ngữ văn thường được xếp thời khóa biểu hai tiết liền kề nên thường dễ gây sự nhàm chán cho học sinh (nhất là nếu rơi vào hai tiết cuối) Vì vậy, ta cần:

Mỗi buổi học, khi có những vấn đề liên quan đến câu chuyện, hay thấy học sinh có biểu hiện mệt mỏi, buồn chán, thiếu tập trung, ta cần kể hoặc cho xem video những mẫu chuyện ngụ ngôn hay quà tặng cuộc sống Các câu chuyện đó có ở trang cuối trong tập của một số học sinh Mỗi năm, ta cứ xin và giữ lại để tập hợp lại, còn các video clip thì có trên Youtube.com Khi đi dạy, ta chỉ cần mang theo Laptop và một cái loa mi-ni để trong cặp thì thật là thuận tiện Sau đó, ta bình luận ý nghĩa và giáo dục thêm các bài học đạo đức cho học sinh Kể mỗi câu chuyện hay xem đoạn video clip chỉ mất khoảng ba đến năm phút nhưng lại

mang lại hiệu quả rất cao Ta nên kể hoặc cho học sinh xem video Quà tặng cuộc sống vào

lúc giao tiết là hiệu quả nhất Vì vừa thư giản sau 45 phút học vừa tạo được tâm thế tốt cho tiết học tiếp theo

2.3 Khai thác công nghệ thông tin hiệu quả để hỗ trợ dạy học Ngữ văn

Khai thác hiệu quả máy tính, projector, các phần mềm hỗ trợ dạy học, điện thoại của học sinh đang sử dụng (hướng dẫn tra cứu ở nhà) Đặc biệt là trong thiết kế bài học và dặn dò, hướng dẫn học sinh tự học, kết hợp với wifi có sẵn để truy cập thông tin trực tuyến khi dạy học (cần có sự kiểm soát và trù tính trước của giáo viên)

Trang 8

Giáo viên cần thường xuyên truy cập các trang dạy học trực tuyến, trang công nghệ thông tin để cập nhật kiến thức và ứng dụng những thành quả công nghệ thông tin vào dạy học Đặc biệt là trong thời đại ngày nay, không thể dạy học Ngữ văn dựa vào kinh nghiệm sẵn có, hay được học ở đại học (dù rằng dạy Văn rất cần kinh nghiệm) Nếu biết kế thừa kinh nghiệm truyền thống, nội sinh cùng với cập nhật thông tin thì ta mới có thể đáp ứng được yêu cầu dạy học mới.Những phần mềm hỗ trợ tốt cho dạy học Ngữ văn: Powerpoint; Prezi; Imindmap; activinspire; Proshow producuer; proshow gold…

2.4 Dạy học gắn với thực tiễn, tăng cường hoạt động trải nghiệm trong dạy học

Cùng với xu thế của thời đại, yêu cầu của đổi mới giáo dục theo tinh thần nghị quyết 29 của Trung ương, bản thân thiết nghĩ: chúng ta cần tăng cường hoạt động trải nghiệm, tính thực tiễn trong dạy học Như ta biết: Giáo dục Hàn Quốc rất phát triển, với nhiều mô hình dạy học rất thiết thực và tiến bộ Trong đó, các sinh viên đại học ở Hàn Quốc, trong bốn năm đại học bắt buộc phải có một năm học tập ở nước ngoài, học tập từ cuộc sống bên ngoài Như vậy tại sao ta không thử mô hình này Riêng đối với học sinh phổ thông, các hoạt động tham quan, làm công tác xã hội, … sẽ mang lại cho các em nhiều trải nghiệm bổ ích Ví dụ: các em học những tác phẩm viết về nông dân và nông thôn thì ít ra các em phải trải nghiệm cuộc sống, công việc của người nông dân thì mới giúp các em có hiểu biết thực sự về họ và có cái nhìn đồng cảm thực sự; hay khi học về tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” thì cũng phải để các em trải nghiệm cuộc sống của những người dân nghèo vùng biển,…

Chính việc dạy học thiếu tính thực tiễn, ít trải nghiệm cuộc sống, vô tình ta tạo cho học sinh tính thụ động, ngại thay đổi, ngại va chạm, thiếu kỹ năng sống… Như thế thì làm sao đáp ứng được yêu cầu đào tạo con người toàn diện, năng động, đáp ứng nhu cầu đổi mới được

KẾT LUẬN

Với những giải pháp trên, ta có thể nâng cao hứng thú hiệu quả dạy học môn Ngữ văn mà vẫn giữ được tính đặc thù của bộ môn Ngữ văn Dù muốn hay không, giáo viên vẫn chính là người quyết định chất lượng, hiệu quả dạy học Cho nên khâu quan trọng nhất của đổi mới dạy học chính là đổi mới người thầy

Trang 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Zing tri thức trực tuyến

2 http://www.vov.vn/

3 http://www.hieuhoc.com/camnanghoctap/chitiet/ky-thuat-6-chiec-mu-tu-duy-chia-khoa-giai-quyet-xung-dot-y-kien-trong-nhom-2008-07-19

4 http://www.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/bo-gd-dt-dieu-chinh-pho-diem-mon-toan-ngu-van-c46a723043.html

5 http://bam.vn/threads/download-imindmap-6-2-full-crack-phan-mem-ve-so-do-tu-duy-moi-nhat.13433/

6 http://duhochanquoc.vn/du-hoc-han-quoc/tu-van-du-hoc/421-giao-duc-han-quoc-malaysia-da-lam-gi-de-canh-tranh-toan-cau.htm

Ngày đăng: 15/11/2021, 21:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w