Tình hình dịch bệnh do virut SARS CoV2 (dịch Covid19) gây ra không chỉ làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người dân, mà nó còn có khả năng gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu. Do đó, các doanh nghiệp, hợp tác xã (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp) Việt Nam bắt đầu gặp những khó khăn và nguy cơ mất khả năng thanh toán.Bởi vậy, tập trung nghiên cứu pháp luật thực định trong tình hình mới phức tạp nhằm chỉ ra những bất cập và xu hướng vận động các quan hệ xã hội, từ đó đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về phá sản, tạo điều kiện cho các chủ thể kinh doanh tiếp tục hoạt động, bảo vệ quyền hợp pháp của các chủ nợ, góp phần cân bằng, bình ổn kinh tế xã hội và phát triển đất nước là vấn đề cần thiết hiện nay.
Trang 1Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp theo pháp luật doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay
Thực trạng và giải pháp
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
1 TÌM HIỂU VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP 4
1.1 Phá sản là gì? 4
1.2 Phá sản doanh nghiệp theo luật phá sản 5
1.3 Doanh nghiệp phá sản là ? 5
2 Hình thức giải giải quyết phá sản doanh nghiệp theo pháp luật 6
2.1 Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 6
2.2 Cơ quan có thẩm quyền giải quyết phá sản theo pháp luật 7
2.3 Hội nghị chủ nợ 9
2.3.1 Triệu tập Hội nghị chủ nợ 9
2.3.2 Thành phần tham gia 10
2.3.3 Điều kiện hợp lệ của Hội nghị chủ nợ 10
2.3.4 Điều kiện thông qua Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ 11
2.3.5 Các trường hợp có thể xảy ra sau khi tiến hành Hội nghị chủ nợ 11
2.4 Hoà giải và giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 11
2.5 Tuyên bố phá sản doanh nghiệp và phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp 12
3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 13
3.2 Giải pháp khắc phục 14
3.2.1 Định hướng: 14
3.2.2 Giải pháp cấp bách: 15
3.2.3.Nhiệm vụ, giải pháp dài hạn 16
3.3 Các tổ chức thực hiện 18
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, do sự tác động của quy luật kinh tế trong đó có quy luật cạnh tranh nên đã làm nảy sinh các mối quan hệ mới và các rủi ro mà bản thân kinh tế kế hoạch hoá không hàm chứa được Đó là hiện tượng phá sản Đối với nước ta việc phá sản vẫn là một vấn đề mới mẻ Cho nên thực tiễn giải quyết phá sản của nước ta trong thời gian qua còn gặp không ít khó khăn vướng mắc Chính vì vậy mà việc nắm bắt, hiểu biết đầy đủ về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản của doanh nghiệp là sự cần thiết và cấp bách
Trải qua hơn 5 năm đi vào thực tiễn, bên cạnh những điểm tiến bộ, tích cực, một
số quy định trong Luật Phá sản 2014 đã bộc lộ các hạn chế, bất cập nhất định cần phải được nhìn nhận, giải quyết, nhất là trong tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam có nhiều biến động, xuất hiện các quan hệ xã hội mới và những điều kiện làm thay đổi các quan hệ xã hội liên quan đến quá trình giải quyết phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
Tình hình dịch bệnh do virut SARS - CoV2 (dịch Covid-19) gây ra không chỉ làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người dân, mà nó còn có khả năng gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu Do đó, các doanh nghiệp, hợp tác xã (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp) Việt Nam bắt đầu gặp những khó khăn và nguy cơ mất khả năng thanh toán
Bởi vậy, tập trung nghiên cứu pháp luật thực định trong tình hình mới phức tạp nhằm chỉ ra những bất cập và xu hướng vận động các quan hệ xã hội, từ đó đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về phá sản, tạo điều kiện cho các chủ thể kinh doanh tiếp tục hoạt động, bảo vệ quyền hợp pháp của các chủ nợ, góp phần cân bằng, bình ổn kinh tế - xã hội và phát triển đất nước là vấn đề cần thiết hiện nay
Trang 4NỘI DUNG
1 TÌM HIỂU VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP
1.1 Phá sản là gì?
Dưới góc độ pháp lý, phá sản là hiện tượng con nợ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thường là Toà án) tuyên bố phá sản và phân chia tài sản còn lại của con
nợ cho các chủ nợ theo thủ tục pháp luật quy định
Ở Việt Nam, thuật ngữ này được biết đến từ thời kỳ Pháp thuộc do người Pháp mang sang Việt Nam cùng với quá trình thực dân hoá
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, thuật ngữ này dường như không được biết đến Pháp luật phá sản và thuật ngữ phá sản chỉ thực sự được sử dụng trở lại kể từ khi có sự chuyển đổi cơ chế kinh tế sang cơ chế thị trường theo đó hiện tượng phá sản dưới tác động- của cạnh tranh trở thành hiện tượng bình thường và tất yếu
Năm 1990 cùng với sự ra đời của Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty, thuật ngữ phá sản đã chính thức được sử dụng trong pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, do phá sản là vấn đề rất mới nên các đạo luật này chỉ quy định rất đơn giản về điều kiện phá sản trong một điều luật duy nhất Thủ tục phá sản
và nhiều vấn đề khác liên quan đến việc giải quyết phá sản chưa được quy định
cụ thể Chính vì thế, Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 đã được ban hành để lấp khoảng trống pháp luật kể trên Sau hơn 10 năm thực thi, đạo luật phá sản đầu tiên kể trên của Việt Nam đã bộc lộ những điểm bất cập, không phù hợp với thực tế, đòi hỏi có sự sửa đổi, bổ sung kịp thời Đáp ứng yêu cầu này, Luật phá sản cũ năm 2004 đã được ban hành để thay thế cho Luật phá sản doanh nghiệp
cũ năm 1993
Trang 5Thuật ngữ phá sản tuy được sử dụng rộng rãi trong ngôn ngữ hàng ngày
và trong khoa học pháp lý song cho đến nay vẫn chưa được chính thức giải thích trong các văn bản pháp luật về phá sản ở nước ta Thay vào đó, thuật ngữ “tình trạng phá sản" được sử dụng và giải thích
Theo Luật phá sản doanh nghiệp cũ năm 1993 thì doanh nghiệp lâm vào
“tinh trạng phá sản" là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt đông kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp "tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn
Theo Luật phá sản cũ năm 2004 thì doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì bị coi
là lâm vào tình trạng phá sản
Hiện nay, ở Việt Nam đang áp dụng Luật phá sản năm 2014 số 51/2014/QH13
1.2 Phá sản doanh nghiệp theo luật phá sản
Theo Điều 2 Luật phá sản doanh nghiệp “Doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn.”
Luật này áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sở hữu được thành lập và hoạt động theo pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi lâm vào tình trạng phá sản
Chính phủ qui định cụ thể việc thi hành Luật này đối với các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và dịch vụ công cộng quan trọng
1.3 Doanh nghiệp phá sản là?
Một doanh nghiệp được coi là phá sản khi thỏa mãn đồng thời hai điều kiện
Thứ nhất, doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán
Trang 6 Thứ hai, doanh nghiệp bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản
Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 quy định: “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã ảp dụng các biện pháp tài chỉnh cần thiết mà vẫn mẩt khả năng thanh toán nợ đến hạn” (Điều 2)
Doanh nghiệp được coi là mất khả năng thanh toán khi doanh nghiệp đã không thể thực hiện khả năng thanh toán trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán
Doanh nghiệp chỉ phá sản khi bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản, mà Tòa án chỉ ra quyết định sau quá trình xem xét theo yêu cầu doanh nghiệp phá sản
2 Hình thức giải giải quyết phá sản doanh nghiệp theo pháp luật
Để doanh nghiệp bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản thì doanh nghiệp phải đáp ứng đủ các điều kiện:
Thứ nhất, nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Thứ hai, họp hội nghị chủ nợ
Thứ ba, doanh nghiệp thực hiện các phương án phục hồi hoạt động kinh
doanh
Thứ tư, Tòa án ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản
2.1 Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Điều 5 Luật phá sản năm 2014 quy định về người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:
“1 Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày khoản
nợ đến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán
Trang 72 Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán
3 Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa
vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán
4 Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
5 Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán Cổ đông hoặc nhóm
cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất
06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán trong trường hợp Điều lệ công ty quy định
6 Thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác
xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mất khả năng thanh toán.”
2.2 Cơ quan có thẩm quyền giải quyết phá sản theo pháp luật Khoản 1 Điều 8 Luật Phá sản năm 2014 quy định Tòa án nhân dân (TAND) cấp Tỉnh có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với Doanh nghiệp (DN) đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX) đăng ký
Trang 8kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã tại tỉnh đó và thuộc một trong các trường hợp sau:
– Vụ việc phá sản có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài;
– Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có chi nhánh, văn phòng đại diện ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau;
– Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau;
– Vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết do tính chất phức tạp của vụ việc
Khoản 2 Điều 8 Luật Phá sản năm 2014 quy định TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với DN, HTX có trụ sở chính tại huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đó và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này
Như vậy, có thể thấy rằng: so với Luật phá sản năm 2004 thì Luật Phá sản năm 2014 đã mở rộng thẩm quyền giải quyết phá sản của TAND cấp huyện Theo đó, TAND cấp tỉnh chỉ giải quyết phá sản đối với những vụ việc phá sản
có tính chất phức tạp; có tài sản, người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài; có nhiều bất động sản, chi nhánh, văn phòng đại diện ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau, TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với các vụ việc còn lại Trước đây, TAND cấp huyện chỉ
có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với HTX đã đăng ký kinh doanh tại
cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện đó Đây là một điểm mới khác biệt cơ bản của Luật phá sản năm 2014 so với Luật phá sản năm 2004
Việc quy định mở rộng thẩm quyền giải quyết phá sản của TAND cấp Huyện như trên sẽ có ưu điểm, chẳng hạn: giảm bớt sự quá tải, sức ép công việc
Trang 9đối với TAND cấp tỉnh; phù hợp với xu hướng cải cách tư pháp là tăng thẩm quyền cho Tòa án cấp huyện và thành lập Tòa án khu vực để đúng với tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; đối với đối tượng bị yêu cầu mở thủ tục phá sản
là HTX, không phải mất thời gian xác minh HTX đó đăng ký kinh doanh tại đâu
để xác định thẩm quyền của Tòa án; giảm bớt sự phiền hà, lãng phí thời gian, công sức tiền bạc của các bên trong việc giải quyết phá sản do không phải lên cấp tỉnh để giải quyết…
Tuy nhiên, quy định như trên có thể phát sinh một số hạn chế trong thực tiễn:
Thứ nhất, việc giải quyết phá sản lâu nay vẫn được đánh giá là vụ việc
khó, đòi hỏi Thẩm phán phải có kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn sâu
về thủ tục tố tụng, có sự hiểu biết về quản trị doanh nghiệp và những vấn
đề liên quan khác Trong khi đó chất lượng đội ngũ Thẩm phán TAND cấp huyện vẫn còn thấp, chưa đồng đều nên sẽ rất khó cho TAND cấp huyện giải quyết
Thứ hai, hiện nay nhiều DN, HTX có quy mô lớn, liên quan đến nhiều
ngành, nhiều địa phương khác nhau, rất phức tạp Vì vậy, khi giao thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho TAND cấp huyện sẽ ảnh hưởng đến tiến độ cũng như chất lượng giải quyết phá sản
2.3 Hội nghị chủ nợ Hội nghị chủ nợ được hiểu là cuộc họp của các chủ nợ do Thẩm phán triệu tập và chủ trì để thảo luận và quyết định các vấn đề liên quan đến việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Vậy Luật Phá sản
2014 quy định như thế nào về Hội nghị chủ nợ - một trong các bước trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã:
2.3.1 Triệu tập Hội nghị chủ nợ
Trang 10Trong vòng 20 ngày kể từ ngày lập danh sách chủ nợ hoặc kiểm kê tài sản kết thúc thì Thẩm phán sẽ triệu tập Hội nghị chủ nợ, trừ trường hợp không phải
tổ chức Hội nghị chủ nợ quy định tại Điều 105 của Luật Phá sản 2014
Chậm nhất là 15 ngày trước khi khai mạc Hội nghị chủ nợ thì Thông báo triệu tập Hội nghị chủ nợ và các tài liệu khác có liên quan phải được gửi cho người có quyền và người có nghĩa vụ tham gia Hội nghị Trong giấy triệu tập phải ghi rõ: thời gain và địa điểm tổ chức, chương trình, nội dung của Hội nghị chủ nợ
2.3.2 Thành phần tham gia
Chủ thể có quyền, bao gồm:
Chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ (chủ nợ có thể ủy quyền bằng văn bản cho người khác tham gia Hội nghị chủ nợ);
Đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn được người lao động ủy quyền;
Người bảo lãnh sau khi đã trả nợ thay cho doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán (hay còn gọi là chủ nợ không có bảo đảm)
Chủ thể có nghĩa vụ bao gồm:
Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
Chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp hợp tác xã mất khả năng thanh toán (nếu không tham gia được thì có thể ủy quyền cho người khác)
2.3.3 Điều kiện hợp lệ của Hội nghị chủ nợ
Có số chủ nợ tham gia đại diện ít nhất 51% tổng số nợ không có bảo lãnh (trong trường hợp chủ nợ không tham gia Hội nghị chủ nợ nhưng có ý kiến bằng văn bản gửi cho Thẩm phán trước ngày tổ chức Hội nghị chủ nợ, trong văn bản
Trang 11đó có ghi rõ ý kiến về những nội dung quy định tại khoản 1 Điều 83 của Luật Phá sản 2014 thì được xem như là có tham gia Hội nghị chủ nợ);
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được phân công giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải tham gia
Trong trường hợp không đáp ứng được các yêu cầu trên thì Hội nghị chủ
nợ được hoãn nhưng chỉ được hoãn trong vòng 30 ngày kể từ ngày hoãn thì Thẩm phán phải triệu tập lại Hội nghị chủ nợ
2.3.4 Điều kiện thông qua Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ
Nghị quyết của Hội nghị được thông qua khi có quá nửa tổng số chủ nợ không có đảm bảo có mặt và đại diện cho từ 65% tổng số nợ không có bảo đảm trở lên biểu quyết tán thành
2.3.5 Các trường hợp có thể xảy ra sau khi tiến hành Hội nghị chủ nợ
Đình chỉ thủ tục phá sản: doanh nghiệp, hợp tác xã không mất khả năng thanh toán;
Tiến hành thủ tục phục hồi;
Tuyên bố phá sản dựa trên một trong các căn cứ:
Hội nghị chủ nợ không thành công sau 02 lần triệu tập;
Khi có nghị quyết của Hội nghị chủ nợ;
Có nghị quyết cho phép áp dụng thủ tục phục hồi nhưng doanh nghiệp, hợp tác xã không thể phục hồi
Trên đây là những quy định của pháp luật về Hội nghị chủ nợ theo Luật phá sản 2014
2.4 Hoà giải và giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp