Vì vậy, quản trị chi phí sản xuất là một phần cơ bản, không thể thiếucủa công tác kế toán quản trị trong các doanh nghiệp, lại càng có ý nghĩa hơnđối với các doanh nghiệp xây dựng nói ri
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
NGUYỄN HOÀI THƯƠNG
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY TNHH
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đoàn Ngọc Phi Anh.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoài Thương
Trang 3Trong quá trình học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi xinchân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Khoa kinh tế
và Kế toán Trường Đại học Quy Nhơn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành sâu sắc đến PGS.TSĐoàn Ngọc Phi Anh đã dành nhiều thời gian tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôitrong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, nhân viên kế toán tại Công tyTNHH Xây dựng Vĩ Nhân đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốtquá trình thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự động viên khích lệ của các thầy giáo, côgiáo, bạn bè đồng nghiệp và những người thân trong gia đình
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoài Thương
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện nền kinh tế đang trên đà hội nhập, nền kinh tế nước tađang trên đà phát triển mạnh mẽ Đặc biệt là sau khi gia nhập thành công vàoWTO (tổ chức thương mại quốc tế) thì những cơ hội phát triển kinh tế ngàycàng mở rộng Nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào nước ta cũng tăng rõ rệt
Do đó, cơ sở hạ tầng và các công trình xây dựng cũng ngày càng được đầu tưnhiều
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất tạo ra cơ sở vật chất kỹthuật cho nền kinh tế quốc dân, hàng năm tổng kinh phí ngân sách chi cholĩnh vực này chiếm tới 70% vốn đầu tư cả nước… Sản phẩm của ngành xâydựng không chỉ là những sản phẩm có công trình lớn, có thời gian sử dụng lâudài, có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế mà còn là những công trình có tínhthẩm mỹ cao thể hiện phong cách, lối sống của dân tộc đồng thời có ý nghĩaquan trọng về mặt văn hóa xã hội của một quốc gia Tuy nhiên, việc cạnhtranh trong ngành này lại không kém phần gay gắt Trong cơ chế quản lý xâydựng cơ bản hiện nay, các công trình có giá trị lớn phải tiến hành đấu thầu Vìvậy, để có thể đưa ra giá dự thầu hợp lý nhất đem lại khả năng trúng thầu caođòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu tiết kiệm chi phí sảnxuất, hạ giá thành sản phẩm
Để thực hiện được điều này thì các doanh nghiệp phải kiểm soát đượcnhững thông tin về chi phí cũng như giá thành, xem chi phí đó được hìnhthành như thế nào? Ở đâu? Từ đó đề ra biện pháp quản lý vốn, tránh lãng phí,
hạ giá thành sản phẩm Bên cạnh đó những thông tin này là cơ sở, là tiền đề
để doanh nghiệp xác định kết quả hoạt động kinh doanh, làm lành mạnh hóacác quan hệ kinh tế tài chính góp phần tích cực vào việc sử dụng hiệu quả cácnguồn đầu tư của doanh nghiệp
Trang 5Vì vậy, quản trị chi phí sản xuất là một phần cơ bản, không thể thiếucủa công tác kế toán quản trị trong các doanh nghiệp, lại càng có ý nghĩa hơnđối với các doanh nghiệp xây dựng nói riêng và đối với nền kinh tế nói chung.
Ở các nước phát triển, kế toán quản trị được vận dụng triệt để, giúp cácdoanh nghiệp lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá việc thực hiện
kế hoạch Tuy nhiên, tại Việt Nam, kế toán quản trị còn khá mới mẻ nên việc vậndụng nó vào các doanh nghiệp chưa thực sự có hiệu quả Đồng thời, việc triển khaiứng dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp vào hoạt
động quản lý chưa được quan tâm đúng mức Đối với các doanh nghiệp, thựchiện tốt công tác quản trị chi phí sản xuất là cơ sở để giám sát các hoạt động,
từ đó khắc phục các tồn tại và phát huy những tiềm năng đảm bảo cho doanhnghiệp luôn tồn tại và có thể đứng vững trong có chế thị trường cạnh tranh vànhiều rủi ro như hiện nay
Để làm tốt công việc như vậy, đòi hỏi cần tổ chức tốt công tác quản trịchi phí sản xuất một cách kịp thời, chính xác, đúng đối tượng, đúng chế độ vàđúng phương pháp
Công ty TNHH Xây dựng Vĩ Nhân thành lập và hoạt động vào ngày06/02/2015 với các ngành nghề: xây dựng công trình đường sắt và đường bộ,công trình kỹ thuật dân dụng khác, hoạt động kiến trúc và tư vấn kỹ thuật cóliên quan, bán buôn máy móc, thiết bị và phụ tùng máy nông nghiệp, vật liệu,thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng.…
Công ty TNHH Xây dựng Vĩ Nhân với chức năng, nhiệm vụ chính làxây dựng công trình kỹ thuật dân dụng Các công trình xây dựng có quy mô
đa dạng, phức tạp, do vậy việc lập dự toán chi phí sản xuất là công việc đòihỏi tính chất quan trọng, mang lại thông tin thật chính xác cho nhà quản lý.Tại Công ty TNHH Xây dựng Vĩ Nhân, công tác tổ chức và vận dụng kế toánquản trị vào sản xuất kinh doanh chưa có hiệu quả, còn hạn chế về nhiều mặt.Xuất phát từ thực tiễn trên cũng như yêu cầu và tính chất của hoạt động xây
Trang 6dựng, việc hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công tyTNHH Xây dựng Vĩ Nhân sẽ góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý,lợi nhuận của Công ty Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác kếtoán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Xây dựng Vĩ Nhân” làmLuận văn thạc sĩ.
2 Tổng quan các đề tài đã nghiên cứu có liên quan
Trong những năm gần đây có nhiều nghiên cứu về công tác kế toán quản trị chi phí như:
- Tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm (2013) với đề tài “Hoàn thiện kế toánquản trị chi phí sản xuất xây lắp tại Công ty cổ phần Sông Đà 11” đã nghiên
cứu cở sở lý luận về kế toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xâylắp, tác giả đi sâu nghiên cứu thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty,đánh giá những ưu điểm cũng như những tồn tại cần hoàn thiện và đưa ra cácgiải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty Trong nghiên cứunày, tác giả đã trình bày công tác kế toán quản trị chi phí tại đơn vị như xâydựng định mức, dự toán quá trình thi công Tuy nhiên, tác giả cũng nhận xétcông tác lập dự toán chi phí chưa linh hoạt, xây dựng hệ thống định mứcchưa cụ thể Từ đó, tác giả đề xuất các biện pháp hoàn thiện kế toán quản trịchi phí tại đơn vị bao gồm: phân loại chi phí, xây dựng bổ sung định mức chiphí, đồng thời tác giả cũng đề xuất phương pháp định giá đấu thầu phù hợpvới đặc điểm kinh doanh của đơn vị
- Luận văn “Hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí trong doanhnghiệp xây dựng tại thành phố Hồ Chí Minh của Đỗ Nguyên Kỳ (2014), đã
phân tích thực trạng công tác kế toán quản trị tại một số doanh nghiệp xâydựng Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra được nguyên nhân các hạn chế tại cácdoanh nghiệp này chủ yếu là do trình độ quản lý, chuyên môn về kế toán quảntrị chi phí của nhà quản trị còn hạn chế Do đó, các nhà quản lý chưa thấyđược tầm quan trọng của công tác này Bên cạnh đó, các nhân viên kế toán tại
Trang 7doanh nghiệp chủ yếu thực hiện công tác kế toán tài chính, chưa hoặc rất ítquan tâm đến công tác kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp này Từ
đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp để giải quyết các vấn đề này như tổchức bộ máy kế toán có thêm phần hành kế toán quản trị, yêu cầu lập các báocáo quản trị phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản lý, các biện phápnâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về kế toán quản trị chi phí đối vớinhà quản trị và nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp này
- Luận văn “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần tưvấn xây dựng Bình Định” của Lê Thị Thùy Trang (2016), Đại học Quy Nhơn.Tác giả đã tiến hành nghiên cứu thực trạng công tác kế toán quản trị chi phítại Công ty Qua đó, cho thấy Công ty đã tổ chức phân loại được chi phí phátsinh tại Công ty, xây dựng hệ thống sổ chi tiết và sổ tổng hợp chi phí để theodõi chi phí phát sinh; có tiến hành lập dự toán chi phí cho năm và cho từngcông trình Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế như: chỉ phân loại chi phí theo
kế toán tài chính, dự toán chi phí chủ yếu dựa vào chi phí của năm trước; cácbáo cáo quản trị chi phí chưa cung cấp đầy đủ thông tin cho nhà quản trị,phân tích biến động chi phí chỉ đơn giản là so sánh chênh lệch thực tế so với
dự toán Từ đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp để góp phần hoàn thiện kếtoán quản trị chi phí tại Công ty về cách phân loại chi phí, cơ sở lập dự toánphù hợp hơn, phân bổ chi phí theo các tiêu chí phù hợp, xây dựng các báo cáoquản trị chi phí và phân tích các biến động chi phí để tìm ra nguyên nhân để
có cơ sở đánh giá và xử lý hiệu quả hơn
- Trong đề tài nghiên cứu “Ứng dụng mô hình kế toán quản trị chi phítrong doanh nghiệp xây lắp ở Việt Nam” của Lê Thế Anh (2018), tác giả đã
chỉ ra rằng Kế toán quản trị chi phí là một công cụ vô cùng quan trọng trongcông tác điều hành hoạt động sản xuất và hoạch định chiến lược của các nhàquản trị Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà kếtoán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam chưa quan tâm
Trang 8đúng mức Các doanh nghiệp đang rất lúng túng trong việc xây dựng mô hìnhthu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin linh hoạt hiệu quả cho các nhàquản trị Điều đó đã làm ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng của các quyếtđịnh quản trị, làm cho khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bị hạn chế khitham gia vào thị trường xây dựng quốc tế Do vậy, các doanh nghiệp xây lắpđang rất cần có một mô hình kế toán quản trị chi phí đơn giản cơ bản để cungcấp được những thông tin hữu hiệu cho các nhà quản trị.
Tất cả các nghiên cứu này đã khái quát được các vấn đề lý luận chung
về kế toán quản trị chi phí thấy được tầm quan trọng của việc cung cấp thôngtin về chi phí cho công tác quản trị Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ mangtính chất chuyên sâu phù hợp với từng doanh nghiệp cụ thể nên chưa thể vậndụng vào Công ty TNHH Xây dựng Vĩ Nhân Vì vậy, tác giả đã nghiên cứu,tìm hiểu cụ thể thực trạng công tác kế toán quản trị tại Công ty TNHH Xâydựng Vĩ Nhân Từ đó tác giả đề xuất các biện pháp để góp phần hoàn thiệncông tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty ngày càng tốt hơn, hiệu quả hơn
3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là:
- Nghiên cứu thực trạng về công tác tổ chức, vận dụng kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Xây dựng Vĩ Nhân
- Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán quản trị chiphí sản xuất của Công ty TNHH Xây dựng Vĩ Nhân hướng đến mục tiêu tiết kiệmchi phí sản xuất và tối đa hóa lợi nhuận trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là công tác kế toánquản trị chi phí sản xuất; các luận giải, nội dung và phương pháp kế toán quản trịchi phí tại doanh nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu: Công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Xây dựng Vĩ Nhân trong quý 1 năm 2020
Trang 9Công ty Cổ phần TNHH xây dựng Vĩ Nhân ngoài hoạt động xây dựngcông trình kỹ thuật dân dụng còn có hoạt động khác Tuy nhiên hiện nay, hoạtđộng xây dựng các công trình kỹ thuật dân dụng vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu,khoảng 80% Vì vậy, luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu và hoàn thiện kếtoán quản trị chi phí sản xuất cho hoạt động xây dựng dân dụng của Công ty.
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính Cụ thể:
- Để thực hiện việc nghiên cứu luận văn sử dụng các phương pháp
thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, so sánh, kiểm
chứng Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Phòng Kế toán của Công ty TNHHXây dựng Vĩ Nhân
- Quan sát, tìm hiểu những tồn tại, hạn chế trong việc áp dụng công tác
kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Xây dựng Vĩ Nhân qua
quá trình hạch toán, kiểm soát chi phí
- Vận dụng lý thuyết về công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất để mô
tả, giải thích và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán quản trị chiphí sản xuất tại Công ty
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị trong doanh nghiệp
- Luận văn đề xuất một số biện pháp cơ bản nhằm hoàn thiện kế toánquản trị chi phí, bảo đảm thông tin kế toán cho các yêu cầu quản trị ở công ty
trong điều kiện cơ chế thị trường hiện nay
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
Trang 10Chương 2: Thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH xây dựng Vĩ Nhân.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH xây dựng Vĩ Nhân
Trang 11CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP
XÂY LẮP1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
1.1.1 Khái niệm về kế toán quản trị chi phí
Khi nền kinh tế càng phát triển thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệpngày càng trở nên gay gắt và khốc liệt hơn Một trong những yếu tố quyếtđịnh đến lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp là giá bán Tuy nhiên, để có thểđưa ra mức giá bán cạnh tranh thì doanh nghiệp phải kiểm soát tốt giá thànhsản phẩm, tức là phải kiểm soát và điều chỉnh chi phí sản xuất một cách phùhợp với những biến động của môi trường kinh doanh Vì vậy, thông tin kếtoán cung cấp đòi hỏi ngày càng phong phú, đa dạng hơn nhằm phục vụ chocông tác quản trị doanh nghiệp một cách kịp thời, có hiệu quả Thông tin kếtoán cung cấp không chỉ phản ánh những gì đã xảy ra mà cần cung cấp thôngtin về kế hoạch, định hướng, chiến lược phát triển trong tương lai của doanhnghiệp Những thông tin đó do kế toán quản trị cung cấp [3]
Theo Luật Kế toán Việt Nam “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý,phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị vàquyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán (Luật Kế toán, khoản
3 điều 4)
Chi phí là một trong những yếu tố quan trọng của quản lý hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Chi phí ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuậncủa doanh nghiệp Do đó, vấn đề được đặt ra là làm sao có thể kiểm soát đượctất cả các khoản chi phí Để hoạt động của quản trị chi phí đạt hiệu quả thì cácdoanh nghiệp cần phải sử dụng công cụ hỗ trợ trong công tác quản trị chi phí,trong đó có kế toán quản trị chi phí KTQT chi phí là công cụ hữu hiệu đáp ứngnhu cầu thông tin chi phí cho các nhà quản trị để đưa ra các quyết định
Trang 12kinh doanh, cơ sở cho việc kiểm soát, sử dụng chi phí của đơn vị một cáchhiệu quả Như vậy, KTQT chi phí là việc thu thập, xử lý, phân tích và cungcấp các thông tin về chi phí của doanh nghiệp nhằm giúp các nhà quản trịdoanh nghiệp thực hiện tốt các chức năng quản trị chi phí trong quá trình kinhdoanh.
Theo Ngô Thị Ngọc Điệp và Đặng Thị Liên (2013) thì “Kế toán quản trịchi phí là một bộ phận của cấu thành của kế toán quản trị, được phát triển gắnvới nhu cầu thông tin của những nhà quản trị trong doanh nghiệp sản xuất Kếtoán QTCP trong doanh nghiệp sản xuất có vai trò thu thập, xử lý số liệutrong quá khứ và dự đoán xu hướng trong tương lai dưới dạng thông tin phitài chính phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trongnền kinh tế thị trường” [5 tr.20]
1.1.2 Bản chất của kế toán quản trị chi phí
Các thông tin của kế toán tài chính chủ yếu phục vụ cho các đối tượngbên ngoài doanh nghiệp Kế toán quản trị cung cấp thông tin ttheo yêu cầucủa các nhà quản trị doanh nghiệp, đó là những người mà các quyết định vàhành động của họ ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành bại của doanh nghiệp Kếtoán quản trị không những cung cấp thông tin cho các nhà quản trị cấp cao để
ra quyết định kinh doanh, quyết định đầu tư và sử dụng các nguồn lực mà còncung cấp cả các thông tin về các mặt kỹ thuật để các nhà quản lý thừa hành sửdụng thực thi trách nhiệm của mình
Như vậy, kế toán quản trị là một khoa học thu nhận, xử lý và cung cấpthông tin về hoạt động sản xuất, kinh doanh một cách cụ thể, phục vụ cho cácnhà quản lý trong việc lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện kế hoạch vàquản lý hoạt động kinh tế, tài chính trong nội bộ doanh nghiệp
Từ đó cho thấy bản chất của kế toán quản trị là [3]:
- Kế toán quản trị không chỉ thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin vềnghiệp vụ kinh tế đã xảy ra mà còn xử lý và cung cấp thông tin phục vụ cho
Trang 13việc ra quyết định quản trị Các thông tin này phải phù hợp với yêu cầu của nhà quản trị, dễ hiểu và cụ thể phục vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp.
- Kế toán quản trị chỉ cung cấp thông tin về hoạt động kinh tế tài chínhtrong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của một doanh nghiệp, không có ý
nghĩa đối với các đối tượng bên ngoài
- Kế toán quản trị là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và làcông cụ quan trọng không thể thiếu đối với công tác quản lý nội bộ
doanh nghiệp
1.1.3 Vai trò của kế toán quản trị chi phí trong quản trị doanh nghiệp
Theo Hume-Schwarz (2007) thì vai trò của kế toán quản trị chi phí thểhiện trong chức năng quản lý, cụ thể là khả năng lập kế hoạch, kiểm soát quátrình kinh doanh, đánh giá các hoạt động, đưa ra các quyết định quản lý từ đó
dự báo xu hướng biến động của thị trường có ảnh hưởng đến mục tiêu kinhdoanh của doanh nghiệp [19 tr.53]
Chức năng của kế toán quản trị chi phí bao gồm:
- Chức năng lập kế hoạch: Để trợ giúp cho nhà quản trị thực hiện lập kếhoạch, kế toán quản trị chi phí sẽ thực hiện lập dự toán chi phí Kế toán quảntrị chi phí đã cụ thể hóa các kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp thành cáchoạt động thành các dự toán sản xuất kinh doanh, cung cấp thông tin về chiphí ước tính cho các sản phẩm, dịch vụ hoặc đối tượng khác theo yêu cầu củaquản lý nhằm giúp nhà quản trị đưa ra các quyết định sản xuất kinh doanhphù hợp
- Chức năng tổ chức thực hiện: Tổ chức thực hiện là sự phối hợp cáchoạt động và nguồn nhân lực để thực hiện các kế hoạch đặt ra một cách thông suốt.Khi tổ chức thực hiện kế hoạch nhà quản trị sẽ cần đến thông tin chi phí về cáchoạt động thường xuyên để có thể điều phối nguồn lực Thông tin chi phí về hoạtđộng do kế toán quản trị chi phí cung cấp luôn là thông tin quan trọng giúp nhàquản trị xác định được hoạt động tạo ra và không tạo ra giá trị
Trang 14gia tăng cho doanh nghiệp để từ đó nhà quản trị có thể điều chỉnh kịp thời các hoạt động và phân phối lại nguồn lực nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
- Chức năng kiểm tra, đánh giá hoạt động: Với nhiệm vụ cung cấp thôngtin phản ánh thực trạng kinh doanh cho nhà quản trị, kế toán quản trị chi phí
cũng cung cấp thông tin để nhà quản lý kiểm soát chi phí và nâng cao hiệuquả hoạt động Việc cung cấp thông tin chi phí và phản hồi thông tin về cáchoạt động là cốt lõi của quá trình kiểm soát Dựa trên những so sánh số liệucung cấp và số liệu dự toán của kế toán quản trị chi phí sẽ phản hồi thông tincho nhà quản lý trong việc kiểm soát và hoàn thiện quá trình sản xuất
- Chức năng đánh giá thực hiện kế hoạch: Những thông tin mà kế toánquản trị chi phí cung cấp sẽ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp kiểm soát
đánh giá kết quả thực hiện, những vấn đề còn tồn tại đồng thời khắc phục cho việc lập kế hoạch, dự toán kỳ tiếp theo
- Chức năng ra quyết định: Sau khi nhà quản trị thực hiện lập kế hoạch
tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá hoạt động, đánh giá thực hiện kế hoạch sẽ đưa
ra quyết định lựa chọn phương án tối ưu nhất cho hướng phát triển của doanhnghiệp Kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin, phân tích số liệu, lập báo cáophân tích, đề cập đến thông tin thích hợp để đưa ra cho nhà quản trị tham khảoquyết định tốt nhất
- Kế toán quản trị chi phí có vai trò hỗ trợ quản lý điều điều hành doanhnghiệp: Để điều hành và quản lý hoạt động kinh doanh, các nhà quản lý doanhnghiệp cần phải lập kế hoạch và lập dự toán chi phí trên cơ sở đã đặt ra mục
tiêu, tổ chức điều hành thực hiện kế hoạch và kiểm tra đánh giá việc thực hiện
kế hoạch Trong đó kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp đóng vaitrò là công cụ giúp cho các nhà quản trị trong việc thực hiện cụ thể hóa cácthông tin chỉ đạo điều hành của nhà quản trị
Thông tin do kế toán quản trị chi phí cung cấp đã chính thức hóa các
Trang 15mục tiêu thành các chỉ tiêu kinh tế, lập dự toán chung và các dự toán chi tiết,cung cấp một cách đầy đủ, kịp thời các kết quả thực hiện kế hoạch cung cấpcác báo cáo thực hiện kế hoạch và phân tích nguyên nhân chênh lệch, pháthiện kịp thời các hoạt động không hiệu quả để tổ chức lại quá trình sản xuấtcho phù hợp với yêu cầu của nhà quản trị.
- Kế toán quản trị chi phí góp phần quan trọng trong việc phân bổ nguồnlực: Những phân tích của kế toán quản trị chi phí giúp định hướng cho các nhàquản trị có thể tính toán, lựa chọn để đưa ra quyết định tối ưu nhất cho việc phân
bổ các nguồn lực có sẵn một cách hiệu quả hơn Thông tin kế toán
quản trị chi phí cung cấp về tình hình chi phí, thu nhập và kết quả lợi nhuậnthu được của từng mảng hoạt động, từng dự án, đồng thời cho phép nhận diệnrủi ro, hạn chế của doanh nghiệp trong từng dự án như: rủi ro lãi suất, rủi rothanh khoản… Từ đó, đưa ra các thông tin đánh giá kết quả tài chính, phântích nguyên nhân của từng dự án
1.2 VAI TRÒ ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG XÂY LẮP ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.2.1 Vai trò của hoạt động xây lắp
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường đã tạo nênnhững biến đổi sâu sắc trong lĩnh vực xây dựng vai trò của ngành xây dựngtrong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ngày càng quan trọng Trong nềnkinh tế thị trường, xây dựng là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn Xâydựng tạo ra những tiền đề vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và những tài sản cốđịnh mới, phục vụ đời sống con người và tạo điều kiện cho các ngành kinh tếkhác phát triển
Sản phẩm của xây dựng là những công trình xây dựng và những bộ phậncấu thành nên chúng, cùng những giá trị công việc có tính chất xây lắp do laođộng trong lĩnh vực xây dựng sáng tạo ra
Trang 16Do tính chất, đặc điểm của hoạt động xây dựng như vậy nên nó ảnhhưởng lớn tới những hoạt động khác Chỉ cần một vài sai sót nhỏ trong quátrình thực hiện xây lắp có thể gây ra các tác hại không lường Chẳng hạn, khitiến hành xây dựng một cây cầu Trong quá trình khảo sát địa chất do khôngthăm dò kỹ lưỡng, cẩn thận nên không biết được lòng sông bị sụt cát Dự ánvẫn được tiến hành thi công Do đó, trong quá trình xây dựng không thể đổđược bê tông chân cầu do sụt lún cát Vì vậy, lúc này dự án bị chậm tiến độ vìtiến hành khảo sát đo đạc lại dòng sông, lưu lượng nước chảy Lúc này cácnguồn lực như: lao động, máy móc nằm một chỗ, chỉ khảo sát, thiết kế mớiđược hoàn thành thì dự án mới được tiếp tục Như vậy chỉ cần sai sót ở mộtđiểm nút nào đó trong hoạt động xây lắp cũng gây ra những tác hại lớn: haophí tiền của, sức lao động và lãng phí về mặt thời gian.
Có thể nói, hoạt động xây lắp không chỉ tạo ra những sản phẩm có giá trị
về mặt kinh tế mà còn mang tính văn hoá Sản phẩm xây lắp thường có thờigian tồn tại lâu dài, có những sản phẩm trường tồn với thời gian Các côngtrình kiến trúc như: thánh địa Mỹ Sơn, lăng tẩm của vua chúa ở cố đô Huế,thành nhà Hồ ở Thanh Hoá đều là sản phẩm của hoạt động xây lắp Đấy đều
là những di tích có ý nghĩa về mặt lịch sử, là những công trình mà người xưa
đã xây dựng nên Các công trình đó đã được thiết kế và xây dựng rất côngphu Nếu không thì chắc hẳn nó không tồn tại đến ngày nay Các sản phẩmxây lắp này gắn chặt với yếu tố văn hoá và nó trở thành vô giá
Như vậy, hoạt động xây dựng và sản phẩm của nó giữ vai trò quan trọngtrong nền kinh tế cũng như trong đời sống con người Người ta phải huy độngrất nhiều nguồn lực với khối lượng quy mô không phải là nhỏ để hoạt động xâydựng đó được diễn ra và tạo ra những sản phẩm hoàn thiện nhất trong khả năng
có thể Nếu sản phẩm xây lắp xảy ra những sự cố mà nguyên nhân lại chính dohoạt động xây lắp tạo ra thì những nguồn lực đã đầu tư sẽ trở nên lãng phí.Chính vì vậy, các công việc của hoạt động xây lắp như thiết kế, thi
Trang 17công cần phải được thực hiện một cách chặt chẽ, đảm bảo chất lượng vớimức chi phí hợp lý nhất.
1.2.2 Đặc điểm sản phẩm xây dựng
Doanh nghiệp xây dựng thực hiện các hợp đồng xây dựng đã ký kết vớiđơn vị chủ đầu tư sau khi trúng thầu hoặc được chỉ định thầu Khi công trìnhhoàn thành bàn giao cho bên giao thầu chính là quá trình tiêu thụ sản phẩmxây lắp
Việc sản xuất ra những sản phẩm nào, tiêu chuẩn chất lượng kỹ thuật rasao đã được xác định cụ thể, chi tiết trong hồ sơ thiết kế kỹ thuật được duyệt,doanh nghiệp xây lắp phải chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư về kỹ thuật,chất lượng xây lắp công trình
Sản phẩm của hoạt động xây dựng có những đặc điểm như: Có tính chấtđơn chiếc, tồn tại lâu dài, có thể tích lớn, chu kỳ sản xuất dài, sử dụng vốnlớn, vốn chu chuyển chậm; Được xây dựng cố định tại một vị trí nhất địnhnên nơi xây dựng cũng là nơi tiêu thụ sản phẩm
Sản phẩm xây lắp là những công trình, vật kiến trúc … có quy mô lớn,kết cấu phức tạp, mang tính chất đơn chiếc, thời gian xây dựng dài Trongđiều kiện đó không thể chờ cho đến khi công trình hoàn thành mới tính toánkết quả và thanh toán được mà phải tiến hành hàng tháng, quý, năm Do đó,cần phải có giá trị dự toán cho từng đơn vị khối lượng xây lắp để hạch toánchi phí và tính kết quả lãi (lỗ) cho bất kỳ khối lượng công tác xây lắp nàotrong kỳ
Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện cần thiếtcho quá trình sản xuất như nguyên liệu, máy móc, nhân công … phải dichuyển theo địa điểm thi công Mặt khác, việc xây dựng còn chịu tác độngcủa địa chất công trình, điều kiện thời tiết, khí hậu của nơi xây dựng …
Trong các doanh nghiệp xây lắp, ngoài bộ phận thi công xây lắp chínhđảm nhiệm việc thực hiện hợp đồng đã ký kết còn có thể có thêm các bộ phận
Trang 18sản xuất khác như bộ phận xây lắp phụ, các bộ phận sản xuất phụ để phục vụcho bộ phận xây lắp chính và tăng thêm thu nhập cho doanh nghiệp.
1.2.3 Đặc điểm chi phí trong doanh nghiệp xây lắp
Các dự án đầu tư xây dựng thường có đặc điểm là được lập ra trước khithực hiện dự án Thời gian này có thể một vài năm, có khi phải mất 5 đến 10năm Điều này ảnh hưởng đáng kể đến chi phí xây lắp, thực tế phát sinhthường cao hơn nhiều so với dự toán bỡi ảnh hưởng của giá cả có xu hướngtăng dần qua thời gian Do đó, khi lập dự toán chi phí xây lắp, các doanhnghiệp cần tính đến sự ảnh hưởng này để có dự toán hợp lý nhất cho doanhnghiệp, tránh tình trạng bị lỗ do giá cả tăng, làm ảnh hưởng lớn đến thời gian,tiến độ xây dựng, chất lượng công trình, tiêu chuẩn kỷ thuật, hiệu quả vốnđầu tư và gây ra những tổn thất không lường cho các doanh nghiệp xây dựngnói riêng và nền kinh tế nói chung
Chi phí xây lắp tại các công ty xây dựng gồm các khoản mục như: chiphí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máythi công và chi phí sản xuất chung
Tại một thời điểm, công ty xây dựng có thể tiến hành xây dựng cùnglúc nhiều công trình nên sẽ có những chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đếnmột công trình (chi phí xi măng, sắt thép …) nhưng cũng có những chi phíphát sinh liên quan đến nhiều công trình (chi phí giám sát thi công, khấu haomáy móc thiết bị …) cần phải tiến hành phân bổ theo các tiêu chí nhất định
để có thể xác định giá thành cho từng công trình xây dựng
1.3 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.3.1 Phân loại chi phí trong doanh nghiệp xây lắp
Theo chức năng hoạt động, chi phí phát sinh trong doanh nghiệp xây lắpđược chia thành hai loại: Chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất [3]
Trang 19- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm cácloại nguyên vật liệu và vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc xây lắp công trìnhnhư: xi măng, sắt, thép, đất, đá ….
- Chi phí nhân công trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm lương và các khoản trích theo lương phải trả cho bộ phận công nhân trực tiếp xây lắp
- Chi phí sử dụng máy thi công:
Máy thi công là một bộ phận của TSCĐ, bao gồm tất cả các loại xemáy và thiết bị chuyển động bằng động cơ được sử dụng trực tiếp cho côngtác xây lắp trên công trường để thay thế cho sức lao động của con ngườitrong các công việc làm đất, làm đá, làm móng, nâng cao, vận chuyển … nhưmáy nghiền đá, máy trộn bê tông, máy ủi, máy xúc …
Chi phí sử dụng máy thi công là toàn bộ các chi phí vật liệu, nhân công,các chi phí khác trực tiếp dùng cho quá trình sử dụng máy thi công như: Chiphí lương phải trả cho người trực tiếp điều khiển, phục vụ máy thi công; Chiphí nhiên liệu, vật liệu khác phục vụ máy thi công; Chi phí dụng cụ phục vụmáy thi công; Chi phí khấu hao máy thi công; Chi phí dịch vụ thuê ngoài sửachữa máy thi công …
- Chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung là các chi phí phục vụ
và quản lý quá trình xây lắp công trình Khoản mục này bao gồm: Chi phí lương
và các khoản trích theo lương của quản lý đội thi công, công cụ dụng cụ, khấu haoTSCĐ dùng chung cho đội xây lắp, chi phí lán trại tạm thời …
Trang 20* Chi phí ngoài sản xuất
Chi phí ngoài sản xuất là các khoản chi phí phát sinh ngoài sản xuất củadoanh nghiệp Chi phí ngoài sản xuất thường bao gồm chi phí bán hàng vàchi phí quản lý doanh nghiệp
- Chi phí bán hàng: Là những khoản chi phí phục vụ cho việc tiêu thụsản phẩm của doanh nghiệp Chi phí này bao gồm những khoản chi phí liên
quan với các hoạt động quảng cáo, nghiên cứu thị trường, xúc tiến bán hàng
… Nói cách khác chi phí bán hàng gồm các khoản chi phí nhằm tạo ra nhucầu đối với sản phẩm và các khoản chi phí của chuỗi hoạt động bắt đầu bằngviệc nhận công trình hoàn thành từ bộ phận sản xuất, làm cho chúng sẵn sàng
để chuyển giao cho khách hàng và kết thúc khi đã hoàn tất bàn giao công trìnhcho khách hàng
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là những khoản chi phí của quá trìnhquản lý tổ chức, lập kế hoạch điều hành và kiểm soát các hoạt động của tổchức, chi phí quản lý không liên quan với các chức năng sản xuất, tiêu thụ,phân phối hay nghiên cứu và phát triển Bao gồm chi phí nhân viên quản lý,khấu hao tài sản cố định cho quản lý, chi phí vật liệu cho quản lý và chi phídịch vụ mua ngoài cho quản lý …
- Chi phí tài chính: Là những khoản chi phí liên quan đến hoạt động tàichính của doanh nghiệp như: chi phí lãi vay, chiết khấu thanh toán cho ngườimua …
doanh
Khi xem x t cách tính toán và kết chuyển các loại chi phí để xác định lợinhuận trong từng kỳ kế toán, chi phí sản xuất kinh doanh trong các doanhnghiệp sản xuất được chia thành hai loại: Chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ
[3]
Trang 21* ản phẩm
Chi phí sản phẩm bao gồm các chi phí phát sinh liên quan đến việc xâylắp công trình, do vậy các chi phí này kết hợp tạo nên giá trị của công trìnhhình thành qua các giai đoạn xây lắp Tùy thuộc vào phương pháp tính giáthành được áp dụng mà chi phí sản phẩm có khác nhau Với phương pháp giáthành toàn bộ, chi phí sản phẩm gồm các khoản mục: Chi phí nguyên vật liệutrực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công và chi phísản xuất chung X t theo mối quan hệ với việc xác định lợi nhuận từng kỳ kếtoán, chi phí sản phẩm chỉ được tính toán, kết chuyển để xác định lợi nhuậntrong kỳ tương ứng với khối lượng xây lắp hoàn thành và bàn giao cho kháchhàng trong kỳ đó
Chi phí thời kỳ gồm các khoản mục chi phí còn lại sau khi đã xác địnhcác khoản mục chi phí thuộc chi phí sản phẩm Bao gồm chi phí bán hàng, chiphí QLDN, chi phí tài chính Chi phí thời kỳ phát sinh ở kỳ kế toán nào đượcxem là có tác dụng phục vụ cho quá trình kinh doanh của kỳ đó, do vậy chúngđược tính toán kết chuyển hết để xác định lợi nhuận ngay trong kỳ mà chúngphát sinh Chi phí thời kỳ còn gọi là chi phí không tồn kho
Sự thay đổi của chi phí theo cách ứng xử của chi phí gọi là sự ứng xửcủa chi phí Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí, kế toán quản trịchia chi phí thành ba loại: Biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp [3]
* Biến phí
Biến phí là các chi phí thay đổi theo sự tăng giảm của mức độ hoạt động.Biến phí chỉ phát sinh khi có các hoạt động xảy ra Tổng biến phí sẽ tăng hoặcgiảm tương ứng với sự tăng hoặc giảm của mức độ hoạt động, nhưng biếnphí tính theo đơn vị của mức độ hoạt động thì không thay đổi
Trong các doanh nghiệp sản xuất, các khoản mục chi phí nguyên vật
Trang 22liệu, vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp thể hiện r nhất đặc trưngcủa biến phí Ngoài ra, biến phí còn bao gồm các chi phí khác thuộc khoảnmục chi phí sản xuất chung như chi phí vật liệu phụ, chi phí lao động giántiếp trong chi phí sản xuất chung hoặc thuộc khoản mục chi phí bán hàng vàchi phí quản lý doanh nghiệp như chi phí vật liệu, phí hoa hồng.
Trong thực tế, không phải tất cả các biến phí đều có cách ứng xử giốngnhau theo mức độ hoạt động X t theo cách ứng xử khác nhau đó, biến phí cònđược chia thành hai loại: Biến phí tỷ lệ và biến phí cấp bậc
- Biến phí tỷ lệ: Là loại biến phí mà tổng của nó biến động theo tỷ lệthuận trực tiếp với biến động của mức hoạt động căn cứ Biến phí tỷ lệ gồm các khoản chi phí như chi phí NVLTT, chi phí NCTT
- Biến phí cấp bậc: Là loại biến phí mà tổng của nó chỉ biến động khimức hoạt động biến động nhiều và r ràng Biến phí cấp bậc không đổi khi mứchoạt động căn cứ thay đổi ít
* Định phí
Định phí là những chi phí thực tế phát sinh thường không có sự thay đổitrong phạm vi của quy mô hoạt động Vì tổng số định phí là không thay đổicho nên, khi sản lượng sản phẩm sản xuất, tiêu thụ trong quy mô giới hạnthay đổi thì định phí cho một đơn vị sản phẩm thay đổi
Trong doanh nghiệp xây lắp, các loại định phí thường gặp là chi phíkhấu hao TSCĐ, chi phí tiền lương nhân viên quản lý, chi phí quảng cáo Xét ở khía cạnh quản lý chi phí, định phí được chia thành hai loại: Địnhphí bắt buộc và định phí không bắt buộc
- Định phí bắt buộc: Là những khoản định phí mang tính chất cơ bản, lâudài và không thể cắt giảm hoàn toàn được Đó là chi phí liên quan đến việc đầu tư
cơ sở hạ tầng, nhà xưởng, máy móc thiết bị …
- Định phí không bắt buộc: Là những khoản chi phí có thể thay đổi trongtừng kỳ kế hoạch Nhà quản trị có thể quyết định mức độ hay thay đổi dễ
Trang 23dàng khi lập kế hoạch hàng năm Ví dụ: chi phí quảng cáo, đào tạo nhân viên.
* Chi phí hỗn hợp
Chi phí hỗn hợp là loại chi phí bao gồm cả các yếu tố định phí và biếnphí Ở mức hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thường thể hiện các đặc điểmcủa định phí, còn với mức độ hoạt động quá mức cơ bản lại thể hiện đặc điểmcủa biến phí
Định phí phản ánh phần chi phí căn bản, tối thiểu để duy trì sự phục vụ
và để giữ cho dịch vụ luôn ở tình trạng sẵn sàng phục vụ
Biến phí phản ánh phần thực tế phục vụ hoặc phần vượt quá mức cănbản, do đó phần này sẽ biến thiên tỷ lệ thuận với mức sử dụng trên căn bản.Nhằm phục vụ việc lập kế hoạch phân tích và quản lý chi phí, cần phântích các chi phí hỗn hợp thành yếu tố biến phí và định phí Việc phân tích nàyđược thực hiện bằng một trong ba phương pháp: Phương pháp cực đại, cựctiểu; phương pháp đồ thị phân tán; phương pháp bình phương b nhất
1.3.1.4 Phân loạ c e ối quan hệ vớ đố ượng chị c
Theo tiêu thức này, chi phí được phân thành hai loại là chi phí trực tiếp
và chi phí gián tiếp [3]
* Chi phí trực ế
Trong các doanh nghiệp xây lắp, các khoản chi phí phát sinh có liênquan trực tiếp đến quá trình xây lắp công trình và có thể tính trực tiếp chotừng công trình hay từng hạng mục công trình và được gọi là chi phí trực tiếp
Các khoản chi phí phát sinh cho mục đích phục vụ và quản lý chung, liênquan đến việc xây lắp và bàn giao công trình, nhiều công trình và cần đượctiến hành phân bổ cho các đối tượng sử dụng chi phí theo các tiêu thức phân
bổ phù hợp, ta gọi là chi phí gián tiếp
Thông thường, khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phínhân công trực tiếp là các khoản mục chi phí trực tiếp, còn các khoản mục chi
Trang 24phí sản xuất chung, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí bán hàng và chi phíquản lý doanh nghiệp là chi phí gián tiếp.
Cách phân loại chi phí này giúp ích cho việc xây dựng các phương pháphạch toán và phân bổ thích hợp cho từng loại chi phí
1.3.1.5 Các cách phân loại khác nhằm mục đ c
ể
* Chi phí kiể á được và không kiể á được
Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được là những kháiniệm chi phí phản ánh khả năng kiểm soát của nhà quản trị đối với nhữngkhoản chi phí phát sinh trong phạm vi trách nhiệm Một khoản chi phí kiểmsoát được đối với một nhà quản trị nào đó, khi nhà quản trị đó có thể kiểmsoát và tác động đến mức độ của khoản chi phí đó Những chi phí mà nhàquản trị không thể tác động được gọi chi phí không kiểm soát được [3]
* Chi phí chênh lệch
Chi phí chênh lệch là những chi phí có trong phương án này nhưng lạikhông hoặc chỉ có một phần trong phương án kia, do đó tạo ra chênh lệch chiphí Chi phí chênh lệch là những thông tin hữu ích để người quản lý thấyđược sự khác biệt giữa chi phí và các lợi ích của mỗi phương án, giúp lựachọn phương án kinh doanh tốt nhất [3]
* Chi phí chìm
Khái niệm chi phí chìm chỉ phát sinh khi xem x t các chi phí gắn liền vớicác phương án hành động liên quan đến tình huống cần ra quyết định lựachọn Chi phí chìm được hiểu là khoản chi phí đã bỏ ra trong quá khứ và sẽhiển hiện ở tất cả mọi phương án với giá trị như nhau Hiểu một cách khác,chi phí chìm được xem như là khoản chi phí không thể tránh được cho dùngười quản lý quyết định lựa chọn thực hiện theo phương án nào Chính vìvậy, chi phí chìm là loại chi phí không thích hợp cho việc xem xét, ra quyếtđịnh của người quản lý [3]
Trang 25* cơ ội
Là lợi ích tiềm tàng bị mất đi do lựa chọn phương án (hoặc hành động)này thay vì chọn phương án (hoặc hành động) khác Chi phí cơ hội không thểhiện trên bất cứ sổ sách kế toán nào nhưng lại là cơ sở rất cần thiết để lựachọn phương án kinh doanh [3]
1.3.2 Lập dự toán chi phí sản xuất
1.3.2.1 Mục đ c lập dự toán chi phí
Dự toán chi phí rất cần thiết để quản lý điều hành hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Dự toán chi phí là một bộ phận của dự toántổng thể doanh nghiệp, cung cấp thông tin về toàn bộ chi phí sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp trong năm tới một cách có hệ thống và đảm bảo việcthực hiện các mục tiêu đã đề ra Ngoài ra, việc lập dự toán chi phí còn cónhững tác dụng khác như sau [16]:
- Xác định r các mục tiêu về chi phí cụ thể để làm căn cứ đánh giá việc thực hiện sau này
- Lường trước được những khó khăn tiềm ẩn để có phương án xử lý kịpthời và đúng đắn
- Liên kết toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp bằng cách hợp nhấtcác kế hoạch và mục tiêu của các bộ phận khác nhau Chính vì vậy, dự toán
đảm bảo các kế hoạch và mục tiêu của các bộ phận phù hợp với mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp
- Đánh giá hiệu quả quản lý và thúc đẩy hiệu quả công việc
1.3.2.2 Trình tự lập dự toán chi phí sản xuất
Dự toán chi phí thường do các phòng ban hoặc bộ phận chuyên mônthực hiện Căn cứ vào điều kiện thực tế của quá trình sản xuất kinh doanh vàđịnh mức tiêu hao chi phí mà các bộ phận tiến hành xây dựng các dự toán chiphí sản xuất kinh doanh Sau đó dự toán chi phí được chuyển lên cấp quản lýcao hơn kiểm tra, đánh giá tính khả thi của dự toán, từ đó hoàn thiện dự toán
Trang 26Việc xem x t và kiểm tra lại các dự toán của cấp dưới là cần thiết nhằm tránh
những nguy cơ có những dự toán lập ra thiếu chính xác Cuối cùng dự toán
được gửi cho cấp quản lý cao nhất để phê duyệt và tiến hành thực hiện
Dự toán được thực hiện từ cấp có trách nhiệm thấp nhất đến cấp có trách
nhiệm cao nhất Dự toán ở cấp nào do chính người quản lý ở cấp đó thực hiện
rồi trình lên cấp trên Mỗi cấp quản lý đều có trách nhiệm với những chi phí
thuộc phạm vi kiểm soát của mình Người quản lý ở mỗi cấp chịu trách nhiệm
về những biến động chi phí của kết quả thực hiện dự toán
1.3.2.3 Các dự toán chi phí sản xuất
* Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Dự toán chi phí NVLTT phản ánh tất cả chi phí NVLTT cần thiết để đáp
ứng yêu cầu sản xuất đã được thể hiện trên dự toán khối lượng sản phẩm sản
xuất Để lập dự toán chi phí NVLTT cần xác định: định mức tiêu hao NVL
để sản xuất một sản phẩm; đơn giá xuất NVL; mức độ dự trữ NVLTT vào
cuối kỳ dự toán được tính toán trên cơ sở lý thuyết quản trị tồn kho [16]
Dự toán chi phí NVLTT xuất dùng cho sản xuất:
Định mức tiêu hao nguyên vật liệu cần sử dụng được xác định trên cơ
sở mối quan hệ đầu vào, đầu ra Mối quan hệ này thường do bộ phận thiết kế
kỹ thuật xác định hoặc căn cứ vào mức độ hao phí NVLTT tính trung bình
cho một đơn vị sản phẩm những kỳ trước mà quá trình sản xuất đạt mức hiệu
năng bình thường
Đơn giá nguyên vật liệu không chỉ là giá mua trên hóa đơn của người
Trang 27bán mà còn bao gồm cả các chi phí phát sinh trong quá trình thu mua Mứcgiá nguyên vật liệu do bộ phận mua hàng xác định Bộ phận mua hàng cầnlựa chọn những cung cấp nguyên vật liệu có chất lượng cao và mức hợp lýnhất Các nhà quản lý cần đưa ra một mức giá dự kiến hợp lý trên cơ sở phântích quá khứ cũng như xem x t xu hướng biến động giá đối với nguyên vậtliệu doanh nghiệp sử dụng.
* Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán chi phí NCTT được xây dựng từ dự toán khối lượng xây lắp,cung cấp những thông tin quan trọng liên quan đến quy mô của lực lượng laođộng cần thiết cho kỳ dự toán Mục tiêu cơ bản của dự toán này là duy trì lựclượng lao động vừa đủ để đáp ứng yêu cầu xây lắp, tránh tình trạng lãng phí
sử dụng lao động Dự toán lao động còn là cơ sở để doanh nghiệp lập dự toán
về đào tạo tuyển dụng trong quá trình hoạt động xây lắp Để lập dự toán chiphí NCTT doanh nghiệp cần xây dựng: định mức lao động để xây lắp côngtrình; tiền công cho từng giờ lao động hoặc từng công trình nếu doanh nghiệptrả lương theo từng công trình xây lắp [16]
* Dự toán chi phí sử dụng máy thi công
Chi phí sử dụng máy thi công là các chi phí liên quan đến việc sử dụngmáy thi công (máy ủi, máy đào, máy nâng …), bao gồm có dự toán biến phí
sử dungh máy thi công và dự toán định phí sử dụng máy thi công
Dự toán biến phí sử dụng máy thi công: Trường hợp biến phí sử dụngmáy thi công được xây dựng theo từng yếu tố chi phí (chi phí vật liệu giántiếp chi phí nhân công gián tiếp…) theo mỗi đơn vị hoạt động thì quá trìnhlập dự toán biến phí SXC được thực hiện tương tự như dự toán chi phí
Trang 28cả năm chia đều cho bốn quý để xác định định phí sử dụng máy thi công hàngquý Đối với các yếu tố định phí sử dụng máy thi công tùy ý, căn cứ vào kếhoạch của nhà quản trị trong kỳ dự toán thích hợp [16].
Trên cơ sở dự toán biến phí và dự toán định phí sử dụng máy thi công,
ta có thể kiểm soát được chi phí sử dụng máy thi công bằng công thức sau:
Dự toán chi phí sử Dự toán biến phí sử Dựán định phí sử
* Dự toán chi phí sản xuất chung
Chi phí SXC là các chi phí liên quan đến phục vụ và quản lý hoạt động
sản xuất phát sinh trong nhà máy ngoài chi phí NCTT và chi phí NVLTT,
gồm có dự toán biến phí SXC và dự toán định phí SXC
Dự toán biến phí SXC: Trường hợp biến phí SXC được xây dựng theo
từng yếu tố chi phí (chi phí vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp…)
theo mỗi đơn vị hoạt động thì quá trình lập dự toán biến phí SXC được thực
hiện tương tự như dự toán chi phí NVLTT, dự toán chi phí NCTT [16]
=
Trang 29Dự toán định phí SXC: Dự toán định phí SXC cũng cần phải phân biệtđịnh phí bắt buộc và định phí tùy ý Đối với các yếu tố định phí SXC bắtbuộc, căn cứ vào định phí SXC cả năm chia đều cho bốn quý để xác định địnhphí SXC hàng quý Đối với các yếu tố định phí SXC tùy ý, căn cứ vào kếhoạch của nhà quản trị trong kỳ dự toán thích hợp [7].
Dự toán chi phí SXC = Dự toán biến phí SXC + Dự án định phí SXC
1.3.3 Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.3.3.1 Đố ượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
Để xây lắp công trình, doanh nghiệp cần phải bỏ ra các khoản chi phí
Do đó, các chi phí phát sinh cần phải đƣợc tập hợp theo các yếu tố, khoảnmục và theo những giới hạn, phạm vi nhất định để phục vụ cho việc tính giáthành sản phẩm Vì vậy, cần phải xác định đối tƣợng hạch toán chi phí sảnxuất Việc xác định đối tƣợng hạch toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên củaviệc tập hợp chi phí, tính giá thành sản phẩm Nếu xác định đúng đối tƣợngtập hợp chi phí sản xuất thì mới tổ chức đúng đắn việc hạch toán chi phí từkhâu hạch toán ban đầu, tổng hợp số liệu, tổ chức ghi chép vào tài khoản, sổchi tiết… đều phải theo đúng đối tƣợng đã đƣợc xác định
Xác định đối tƣợng tập hợp chi phí thực chất là xác định giới hạn các bộphận chịu phí hoặc các đối tƣợng chịu phí làm cơ sở cho việc tính giá thành.Đối với doanh nghiệp xây lắp, đối tƣợng tập hợp chi phí sản xuất và tínhgiá thành sản phẩm là từng hợp đồng xây dựng cụ thể, trong đó có thể kết hợphạch toán chi phí sản xuất kinh doanh theo từng công trình, hạng mục công
Trang 30trình hay từng giai đoạn công việc nhằm quản lý chặt chẽ chi phí sản xuất kinh doanh [10].
1.3.3.2 P ương á ập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
* Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất: có hai phương pháp tập hợp chi phí là:
+ Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp: Được sử dụng để tập hợp cácloại chi phí có liên quan trực tiếp đến đối tượng tập hợp chi phí đã xác định, tức làđối với các loại chi phí phát sinh nào thì có thể xác định được trực tiếp cho đốitượng đó một cách phù hợp, chi phí phát sinh liên quan đến từng đối
tượng tập hợp chi phí cụ thể đã xác định sẽ được tập hợp trực tiếp cho đốitượng đó
+ Phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp: Phương pháp này được sửdụng để tập hợp các chi phí gián tiếp, bao gồm các chi phí phát sinh liên quanđến nhiều đối tượng tập hợp chi phí đã xác định mà kế toán không thể tập hợptrực tiếp các chi phí này cho đối tượng đó Theo phương pháp này, trước tiêncần căn cứ vào các chi phí phát sinh kế toán tiến hành tập hợp chung các chi phí
có liên quan đến nhiều đối tượng cụ thể phải lựa chọn các tiêu chuẩn hợp lý vàtiến hành phân bổ các chi phí đó cho từng đối tượng liên quan
* Giá thành sản phẩm xây lắp bao gồm: chi phí nguyên vật liệu trựctiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công và chi phí sản xuấtchung
Phương pháp chi phí toàn bộ: Khi xác định giá thành sản phẩm theophương pháp này thì tất cả các chi phí tham gia vào quá trình sản xuất (chiphí NVL trực tiếp, chi phí công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công và chiphí sản xuất chung) đều được tính vào giá phí sản phẩm xây lắp, không có sựphân biệt giữa các chi phí sản xuất cố định và chi phí sản xuất biến đổi
Trang 31Chi phí +
ản x ấ chung
Phương pháp chi phí trực tiếp: Theo phương pháp này thì giá thànhsản phẩm xây lắp chỉ bao gồm các chi phí sản xuất biến đổi như chi phí NVLtrực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công và chi phísản xuất chung biến đổi
Giá thành
1.3.4 Kiểm soát chi phí
Để kiểm soát chi phí cần phân tích biến động chi phí Phân tích biến độngchi phí là so sánh chi phí thực tế với chi phí định mức để xác định mức biếnđộng (chêch lệch) chi phí, trên cơ sở đó đánh giá và tìm nguyên nhân ảnh hưởngđến sự biến động và đề xuất biện pháp thực hiện nhằm tiết kiệm chi phí
Khi phân tích biến động chi phí cần phân tích tất cả các khoản mục chiphí bao gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chiphí sử dụng máy thi công và chi phí sản xuất chung
* Phân tích biến động của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Biến động của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp do biến động của hainhân tố: Nhân tố số lượng và nhân tố giá mua nguyên vật liệu [10]
Biến động số lượng nguyên vật liệu:
Là sự chênh lệch giữa lượng nguyên vật liệu trực tiếp thực tế với lượngnguyên vật liệu theo dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Biếnđộng về lượng do những nguyên nhân sau [10]:
- Doanh nghiệp thay đổi định mức nguyên vật liệu sử dụng, do thay đổi loại sản phẩm sản xuất;
Trang 32- Tình trạng máy móc thiết bị;
- Tay nghề người lao động;
- Nguyên vật liệu không đảm bảo;
- Việc tổ chức quản lý nguyên liệu tại khâu sản xuất chưa tốt
Biến động về lượng nguyên vật liệu trực tiếp được xác định như sau :
Biến động giá nguyên vật liệu
Là chênh lệch giữa giá nguyên vật liệu trực tiếp thực tế với giá nguyênvật liệu trực tiếp theo dự toán Biến động về giá nguyên vật liệu do nhữngnguyên nhân sau [10]:
- Do quan hệ cung cầu trên thị trường thay đổi;
- Chính sách thuế thay đổi tác động đến chỉ số giá hàng hóa;
- Giá nguyên vật liệu trên thị trường biến động
- Thay đổi loại nguyên vật liệu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm;
- Thay đổi phương pháp xuất kho
Biến động về giá nguyên vật liệu trực tiếp được xác định như sau [10]:
* Phân tích biến động của chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm chi phí lương và các khoản tríchtheo lương của công nhân trực tiếp sản xuất Biến động của CPNCTT do biếnđộng của hai nhân tố: Nhân tố thời gian lao động và giá NC trực tiếp [10]
Biến động về thời gian lao động
Biến động về thời gian lao động là chêch lệch giữa số giờ lao động trực
Trang 33tiếp thực tế với dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Biến động
về thời gian lao động thường do các nguyên nhân chủ yếu sau [10]:
- Sự thay đổi cơ cấu lao động;
- Năng suất lao động cá biệt của từng bậc thợ công nhân;
- Tình trạng hoạt động của máy móc thiết bị;
- Chính sách trả lương cho công nhân
Biến động thời gian lao động đến chi phí nhân công trực tiếp được xác định qua công thức sau:
Biến động giá nhân công trực tiếp
Biến động giá nhân công lao động là chênh lệch giữa giá giờ công laođộng trực tiếp thực tế với dự toán để sản xuất ra một lượng sản phẩm nhấtđịnh Biến động về giá nhân công trực tiếp thường do các nguyên nhân chủyếu sau [10]:
- Do quan hệ cung cầu lao động trên thị trường lao động thay đổi;
- Chính sách tiền lương của nhà nước cũng như của doanh nghiệp có sựthay đổi;
- Giá công lao động trên thị trường có nhiều biến động
Biến động giá NCTT đến CPNCTT được xác định như sau [10]:
ố g á n ân công đến = NCTT theo - Đơn g á N TT x l động
Trang 34* Phân tích biến động của chi phí sản xuất chung, chi phí sử dụng máy thi công
Chi phí sản xuất chung (chi phí sử dụng MTC) biến động là do sự biến động biến phí sản xuất chung (chi phí sử dụng MTC) và biến động của địnhphí sản xuất chung (chi phí sử dụng MTC)
Biến động biến phí sản xuất chung (CP sử dụng MTC)
Biến phí sản xuất chung (CP sử dụng MTC) bao gồm những chi phí giántiếp liên quan đến phục vụ quản lý hoạt động xây lắp và sử dụng MTC Chiphí này thường thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt động sản xuất củadoanh nghiệp
Biến động của biến phí sản xuất chung (CP sử dụng MTC) do nhiềunguyên nhân nhưng về phương pháp phân tích trong kiểm tra, nó cũng đượcphân tích thành ảnh hưởng của nhân tố giá và nhân tố lượng như đối với chiphí nguyên vật liệu trực tiếp và nhân công trực tiếp
Ảnh hưởng của nhân tố lượng có thể do nhiều nguyên nhân như tìnhhình thay đổi sản xuất theo nhu cầu kinh doanh, điều kiện trang thiết bị khôngphù hợp phải giảm khối lượng xây lắp hoặc dẫn đến năng suất máy móc thiết
bị giảm
Biến động của nhân tố lượng đến biến phí SXC (SDMTC) [10]:
Ản ưởng củ Mức độ Mức độ Đơn g á b ến lượng đến b ến = ạ động - ạ động x SXC (SDMTC) SXC (SDMTC) ực ế dự án dự án
Biến động của nhân tố giá đến biến phí SXC được xác định qua công thức sau:
Trang 35 Biến động định phí sản xuất chung (SDMTC):
Định phí sản xuất chung (SDMTC) là các khoản chi phí phục vụ và quản
lý sản xuất, chi phí này thường không thay đổi theo sự biến đổi của mức độhoạt động trong phạm vi phù hợp Chẳng hạn như tiền lương bộ phận quản lýcông trình trả theo lương thời gian, chi phí về bảo hiểm, chi phí khấu hao máymóc, thiết bị phục vụ xây lắp là những chi phí không thay đổi theo quy môxây lắp [10]
Phân tích biến động định phí sản xuất chung (SDMTC) sẽ giúp doanhnghiệp đánh giá được việc sử dụng năng lực tài sản cố định của đơn vị
Biến động của nhân tố định phí sản xuất chung (SDMTC) được xác địnhnhư sau:
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị, là công cụhữu hiệu cung cấp thông tin chi phí cho việc thực hiện các chức năng quản trịtrong doanh nghiệp Công tác kế toán quản trị chi phí là tiền đề cho các nhàquản trị tìm được giải pháp tiết kiệm chi phí hợp lý, hạ giá thành sản phẩm,gia tăng khả năng cạnh tranh, tối đa hóa lợi nhuận
Trong Chương 1, tác giả đã hệ thống hóa lý luận về kế toán quản trị chiphí trong doanh nghiệp xây lắp trên các vấn đề sau: Trình bày khái niệm, bảnchất kế toán quản trị chi phí, nêu vai trò của kế toán quản trị chi phí trongdoanh xây lắp gắn liền với mục tiêu quản trị doanh nghiệp trong quá trình lập
kế hoạch, kiểm soát, kiểm tra đánh giá và ra quyết định Từ đó tập trung vàonghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản của kế toán quản trị chi phí về phânloại chi phí, lập dự toán chi phí, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm xây lắp, phân tích biến động chi phí phục vụ kiểm soát chi phí
và ra quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp, hệ thống báo cáo kế toánquản trị chi phí
Những vấn đề ở Chương 1 là cơ sở lý luận để nghiên cứu, đánh giá thựctrạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH Xây dựng Vĩ Nhân ởChương 2 nhằm đưa ra những giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phítại Công ty ở Chương 3 của Luận văn
Trang 37CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VĨ NHÂN2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VĨ NHÂN 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty TNHH xây dựng Vĩ Nhân hoạt động theo Luật Doanh nghiệp
do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp lầnthứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 Doanh nghiệp hoạt động dướidạng Công ty TNHH một thành viên
Công ty được thành lập theo giấy đăng ký kinh doanh số 4101439665
do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Định cấp ngày 07/2/2015 và thay đổi lầnthứ nhất ngày 28/6/2016
Tên giao dịch của Công ty là Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng VĩNhân, Giám đốc Công ty là ông Trương Nhơn Quí Vốn điều lệ của Công ty
2.1.2 Mục tiêu và chiến lược của Công ty
- Mục tiêu của doanh nghiệp là phát triển thành một trong những nhàthầu tư vấn giám sát và thi công xây dựng các công trình uy tín, chất lượng
hàng đầu ở tỉnh nhà và hướng ra các tỉnh khác trong và ngoài nước
- Các nguyên tắc hoạt động chính của Công ty:
+ Đối với pháp luật: phải tuyệt đối tuân thủ
+ Đối với khách hàng: luôn luôn lắng nghe và hết lòng phục vụ
+ Đối với lãnh đạo: trung thực, thẳng thắn
Trang 38+ Đối với đồng nghiệp: bình đẳng, giúp đỡ - Chiến lược phát triển của Công ty
+ Sản phẩm của Công ty là các dịch vụ tư vấn: khảo sát, thiết kế, giám sát, quản lý dự án
+ Khách hàng bao gồm các đối tượng như: Khách hàng là các tổ chức(Chủ đầu tư) theo sự quản lý của Nhà nước; Các loại doanh nghiệp; Các tổ
chức và hội nhóm khác; Khách hàng cá nhân
- Chính sách chất lượng: “Chất lượng sản phẩm của Công ty ảnhhưởng trực tiếp lên chất lượng công trình xây dựng nên chúng tôi luôn quan niệmchất lượng sản phẩm là trách nhiệm pháp lý, lương tâm, sự sống còn của mỗi cán
bộ nhân viên và Công ty”
2.1.3 Tình hình hoạt động xây dựng của Công ty
Công ty hoạt động với các ngành nghề kinh doanh như:
- Xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng khác Chi tiết: Xây dựng côngtrình thủy lợi, hạ tầng kỹ thuật
- Xây dựng công trình đường sắt và đường bộ Chi tiết: Xây dựng côngtrình đường bộ
- Hoạt động kiến trúc và tư vấn kỹ thuật có liên quan Chi tiết: Giám sátcông trình xây dựng giao thông, thủy lợi, dân dụng
- Bán buôn nông, lâm sản nguyên liệu (trừ gỗ, tre, nứa) và động vật sống Chi tiết: Mua bán giống cây trồng
- Bán buôn chuyên doanh Chi tiết: Mua bán phân bón, thuốc trừ sâu vàhóa chất khác sử dụng trong nông nghiệp
- Bán buôn máy móc, thiết bị và phụ tùng máy nông nghiệp
- Bán buôn kim loại và quặng kim loại Chi tiết: Mua bán sắt, thép
- Bán buôn vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng Chi tiết: Muabán xi măng, gạch xây, ngói, đá, cát và vật liệu, thiết bị lắp đặt khác
- Vận tải hàng hóa bằng đường bộ
Trang 39- Cho thuê xe có động cơ.
2.1.4 Đặc điểm tổ chức quản lý tại Công ty
2.1.4.1 Tổ chức quản lý sản xuất
Quy trình tổ chức quản lý sản xuất tại Công ty thực hiện theo Sơ đồ 2.1.
BAN CHỈ HUY CÔNG TRƯỜNG
THUẬT THI CÔNG CHẤT LƯỢNG QL HÀNH CHÍNH – BỘ PHẬN
Y TẾ
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ quy trình tổ chức quản lý sản xuất tại Công ty
(Nguồn: Công ty TNHH Xây dựng Vĩ N ân)
* Ban chỉ huy công trường: chỉ huy công trường là Giám đốc điềuhành Là người có nhiều kinh nghiệm trong việc điều hành xây dựng công trìnhgiao thông Là người thay mặt cho Công ty có toàn quyền quyết định và chịu tráchnhiệm trước Giám đốc công ty về mọi mặt nhằm đảm bảo hoàn thành dự án theođúng yêu cầu của Chủ đầu tư và kỹ sư tư vấn Với mô hình
giám đốc điều hành cho các công trình ở xa trụ sở, nhằm tăng cường sự quản
lý sâu sắc của lãnh đạo Công ty đối với công trình
* Bộ phận quản lý hành chính - y tế:
Bao gồm quản lý kế hoạch và tài vụ ở công trường, chịu trách nhiệm vềtiến độ tổng thể cũng như tiến độ chi tiết của từng hạng mục công trình, đáp ứngđầy đủ nguồn tài chính, vốn và vật tư kịp thời cho công trình thi công Chịutrách nhiệm thanh quyết toán công trình Y tế công trường dự kiến bố trí
Trang 40một y sỹ để chăm sóc sức khỏe cho công nhân trên công trường, kịp thời cấpcứu các trường hợp xấu như ốm đau, tai nạn lao động trước khi chuyển bệnhnhân đến bệnh viện.
* Bộ phận quản lý kỹ thuật:
Chủ nhiệm kỹ thuật phụ trách các vấn đề kỹ thuật của toàn bộ côngtrình cũng như từng hạng mục bộ phận công trình, tham mưu các vấn đề kỹthuật cho Giám đốc điều hành để đảm bảo thi công công trình an toàn, đảmbảo chất lượng và đạt hiệu quả cao nhất Cùng với giám sát bên A và kỹ sư
tư vấn thống nhất các vấn đề kỹ thuật, xử lý các sự cố trong quá trình thi công
để đảm bảo công trình hoàn thành đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng đạt yêucầu thiết kế
* Bộ phận quản lý chấ lượng:
Bao gồm bộ phận KCS tại hiện trường và phòng thí nghiệm côngtrường; có chức năng tham mưu cho giám đốc điều hành và chủ nhiệm kỹthuật nhằm đảm bảo công trình đạt tiêu chuẩn chất lượng, gồm những người
có kinh nghiệm trong thi công, luôn luôn có mặt tại hiện trường, chịu tráchnhiệm làm việc với bên A và kỹ sư tư vấn giám sát trong các giải pháp kỹthuật thi công, nghiệm thu nội bộ, nghiệm thu phần khuất và chuẩn bị chocông tác nghiệm thu hoàn thành công trình
* ác đội thi công:
·- Đội thi công cơ giới:
Chuyên thi công bằng cơ giới Thực hiện dây chuyền thi công gồm máyđào, máy ủi, máy đầm, Ô tô tải vận chuyển
- Đội thi công thủ công:
Chuyên thi công các nội dung như: đổ bê tông, gia công và lắp dựngcốt thép,ván khuôn, xây móng, xây tường, gia công và lắp đặt các cấu kiện bêtông đúc sẵn, thi công phần trát - láng - ốp - lát gạch