Đó chính là lý do chúng tôichọn đề tài cho luận văn của mình là : “Từ ngữ chỉ sự vật và hiện tượng tựnhiên trong thành ngữ Việt Nam”.Ngoài ra, chúng tôi cũng được kế thừa từ các công trì
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
CHÂU MỸ THÚY
TỪ NGỮ CHỈ SỰ VẬT VÀ HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN
TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 8229020
Người hướng dẫn: TS NGUYỄN VĂN LẬP
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Châu Mỹ Thúy
Trang 3Để hoàn thành luận văn này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn TS.Nguyễn Văn Lập đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trìnhlàm luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Phòng Đào tạo sau đại học trường Đại họcQuy Nhơn đã có những hướng dẫn cụ thể và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thànhluận văn
Tôi rất hạnh phúc, biết ơn và sẽ nỗ lực hơn nữa để xứng đáng với tìnhyêu thương, tin tưởng, động viên, hết lòng hỗ trợ của tất cả thành viên tronggia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp để tôi hoàn thành luận văn này
Trân trọng!
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tự nhiên là một thế giới rộng lớn bao gồm những gì thuộc về vũ trụ vàcác sự vật hiện tượng trong tự nhiên Con người cũng là một sinh thể nhỏ bétrong thế giới tự nhiên Thiên nhiên rất phong phú và đa dạng các loài độngvật, thực vật, các hiện tượng của vũ trụ, đất trời Đời sống con người phụthuộc chặt chẽ vào thiên nhiên và các sự vật, hiện tượng đó Thiên nhiên lànơi có nguồn lương thực, nguồn tài nguyên, nơi cư trú và là điều kiện tất yếu
để con người tồn tại Tuy nhiên, nó cũng là một thế giới kì bí mà con ngườikhông thể nào khám phá hết Đó là vẻ đẹp của những chiếc lá, bông hoa, đànchim, hồ nước, là cái nắng, cơn mưa,…tất cả các sự vật hiện tượng được kháiquát thành những tên gọi phù hợp với đặc điểm của chúng, con người thôngqua đó có thể hiểu biết thêm về ngôi nhà chung của mình
Thông qua thế giới tự nhiên, con người bộc lộ quan niệm văn hóa củamình về vũ trụ, tình cảm, thái độ ứng xử trong giao tiếp Chính vì thế mà cóthể nói rằng lịch sử phát triển văn hóa xã hội của loài người từ xưa tới nay cómối quan hệ mật thiết với tự nhiên
Có thể nói về thế giới tự nhiên ở nhiều phương diện khác nhau Các nhànghệ sĩ tìm hiểu thiên nhiên qua hội họa, điêu khắc, qua âm nhạc,…Tác giảdân gian lại có lối tư duy rất cụ thể, để diễn tả những điều muốn nói, họthường tìm đến các sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh mình Họhướng về tự nhiên như trăng, gió, mây, hoa, các loài chim muông…để bầubạn, chia sẻ tâm sự Cho nên ta thấy trong ca dao mọi sự biểu hiện của tìnhcảm con người đều liên hệ mật thiết với hiện tượng thiên nhiên Tự nhiêntrong thành ngữ là phương tiện nghệ thuật đặc biệt để con người thể hiện tìnhcảm tâm trạng của mình
Trang 5Từ trước tới nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về thành ngữ,nhưng rất ít người nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật và hiện tượng tự nhiêntrong thành ngữ Việt Nam Chúng tôi đã tìm hiểu trên internet, báo chí, sáchnghiên cứu, những đầu sách ngữ pháp, từ loại, thành ngữ có rất nhiều nhưngliên quan đến việc khảo sát từ ngữ chỉ sự vật và hiện tượng tự nhiên trongthành ngữ hầu như chưa có sự chú ý đúng mức Đó chính là lý do chúng tôichọn đề tài cho luận văn của mình là : “Từ ngữ chỉ sự vật và hiện tượng tựnhiên trong thành ngữ Việt Nam”.
Ngoài ra, chúng tôi cũng được kế thừa từ các công trình nghiên cứuthành ngữ trước đó, có nhiều tài liệu tham khảo để chúng tôi có thể hoànthành tốt luận văn tốt nghiệp của mình
nó không được tạo thành từ ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó Ngay cả khibiết ý nghĩa của các từ trong đó vẫn chưa thể đoán chắc nghĩa thành ngữ của
cả cụm từ đó Trong tiếng Việt, “Mẹ tròn con vuông”, “Nước đổ lá khoai”,
“Chó ngáp phải ruồi”…là những thành ngữ, bởi vì ý nghĩa của chúng không
phải là ý nghĩa của các thành tố hợp lại theo quy tắc cú pháp Vì thế, nghĩacủa các thành ngữ phải được học riêng biệt Thành ngữ có tính hoàn chỉnh vềnghĩa nhưng lại có tính chất khác biệt của các thành tố trong kết cấu, do đó nóhoạt động trong câu với tư cách tương đương với một từ cá biệt
Theo cách hiểu thông thường, một tổ hợp được coi là có tính thành ngữ(idiomaticity) khi ý nghĩa chung của nó là một cái gì mới, khác với tổng số ý
Trang 6nghĩa của những bộ phận tạo thành Igor A Mel’cuk đã sử dụng khái niệmyếu tố tương đương khi dịch để định nghĩa tính thành ngữ Một tổ hợp đượccoi là có tính thành ngữ nếu trong đó có ít nhất một từ khi dịch toàn bộ tổ hợpngười ta phải dịch từ ấy khi từ ấy xuất hiện đồng thời với tất cả các yếu tố cònlại của tổ hợp (trong trật tự nhất định) Thêm vào đó, từ này có thể được gặp
cả khi không có các yếu tố còn lại và khi ấy nó được dịch bằng một yếu tốkhác Trong định nghĩa trên, có ba nhân tố cần chú ý:
Trong tổ hợp thành ngữ tính phải có ít nhất một từ có khả năng dịch duynhất, tức là khả năng dịch chỉ có thể có được khi tồn tại đồng thời một hoặc
một số từ nào đó Ví dụ: “Mẹ tròn con vuông”, có nghĩa là người đàn bà ở cữ
và con đều bình yên mạnh khỏe Vuông và tròn chỉ có nghĩa là bình yên, mạnh
khỏe khi kết hợp với các từ mẹ và con
Trong bài viết mở rộng vốn từ tự nhiên trong thành ngữ Tiếng việt 5 Tập 1
trang 78 “Lên thác xuống ghềnh”, “Góp gió thành bão”, “Nước chảy đá mòn”,
“Khoai đất lạ, mạ đất quen” Cũng đề cập đến vấn đề các từ chỉ sự vật, hiện tượng trong tự nhiên như từthác, ghềnh, gió, bão, nước, đá, khoai, mạ, đất.
Việc nghiên cứu thành ngữ trong tiếng Việt hiện nay đã thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận Đến những năm 60 của thế kỉ XX, việc nghiên cứu thành ngữ mới có cơ sở khoa học nghiêm túc Phải kể đến mốc quan trọng trong việc nghiên cứu thành ngữ Việt Nam là việc xuất bản từ điển “Thành ngữ Tiếng Việt” (1976) của Nguyễn Lực và Lương Văn Đang Tuy công trình này còn chưa bao quát được hết tất cả các thành ngữ trong tiếng Việt nhưng nó đã cung cấp cho các nhà ngôn ngữ học và những ai quan tâm đến vấn đề này một tài liệu bổ ích và có giá trị to lớn Đến năm 1989, Nguyễn Lân xuất bản cuốn “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam”, Hoàng Văn Hành “Kể chuyện thành ngữ tục ngữ” (1988 – 1990) Các công trình khác về sau đều đi sâu vào nghiên cứu với mục đích tìm ra sự khác biệt giữa thành ngữ và các đơn vị khác liên quan, có nghĩa là các tác giả tìm ra sự
Trang 7khu biệt giữa thành ngữ và tục ngữ, giữa thành ngữ với ngữ định danh, giữathành ngữ với cụm từ tự do Với công trình đó có thể kể đến sự đóng góp như
“Góp ý kiến về phân biệt tục ngữ và thành ngữ” (1973) của Cù Đình Tú, “Từ vàvốn tiếng Việt hiện đại” (1976) của Hồ Lê, “Tục ngữ Việt Nam” của Chu XuânDiên, Lương Văn Đang, Phương Tri , “Phân biệt thành ngữ và tục ngữ bằng môhình cấu trúc” (2016) của Triều Nguyên Và gần đây nhất là cuốn “Thành ngữbằng tranh” (2020) của Nguyễn Thị Hường Lý biên soạn, với hơn 300 thành ngữViệt Nam được minh họa bằng tranh Chính vì thế, thành ngữ cho đến nay vẫnđang được tiếp cận và khám phá theo nhiều khía cạnh khác nhau nhằm làm sáng
rõ những giá trị phong phú của đơn vị từ vựng này Xuất phát từ những khía cạnhnói trên là việc nghiên cứu nghệ thuật sử dụng thành ngữ của các nhà văn, nhàthơ, những tác giả lớn Bên cạnh đó, một loạt những luận văn thạc sĩ, nhữngkhóa luận tốt nghiệp, cũng như nhiều báo cáo khoa học, nhiều bài viết đăng lêncác tạp chí về vấn đề sử dụng thành ngữ của những tên tuổi lớn như Chủ tịch HồChí Minh, Nguyên Hồng, Tản Đà, Tô Hoài, Nguyễn Du,…
Nhìn chung, chưa có một tài liệu nào nghiên cứu một cách toàn diện vềcác từ chỉ sự vật và hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ Việt Nam mà phổ biếnchỉ dừng ở việc khảo sát các thành ngữ và tìm sự khu biệt giữa thành ngữ vànhững đơn vị khác liên quan Đó là động lực thúc đẩy chúng tôi đào sâu tìmhiểu, tự do khai thác nhiều điều mới về thành ngữ ở góc độ ngôn ngữ, đặc biệt ởgiới hạn các từ ngữ chỉ sự vật và hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ Việt Nam,góp phần tìm hiểu cụ thể một số vấn đề mới của thành ngữ Việt Nam
3. Mục đích nghiên cứu
Thành ngữ thể hiện nhiều vấn đề khác nhau của đời sống con người.Thông qua việc phân tích các từ chỉ các hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ,người đọc tiếp cận được những phong tục, tập quán, nếp sống sinh hoạt củangười lao động Từ các hình ảnh đó, tìm hiểu ý nghĩa và giá trị của từ từ góc
Trang 8độ ngôn ngữ, làm nổi bật giá trị biểu trưng của các hình ảnh trong thành ngữ.
Từ ngữ chỉ sự vật bao gồm những từ chỉ tên của cây cối, con người,hiện tượng, con vật, cảnh vật Đề tài này giúp cho người đọc và bản thânchúng tôi thu nhận được một vốn hiểu biết sâu sắc hơn về thành ngữ, đồngthời thấy được giá trị và ý nghĩa biểu đạt của thành ngữ trong việc sử dụng từchỉ sự vật và hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, người viết giới hạn phạm vi nghiên cứu trong nhữngthành ngữ có chứa các từ chỉ các sự vật và hiện tượng tự nhiên Cụ thể trongcuốn “Thành ngữ tiếng Việt” của Nguyễn Lực (2001), Nxb Thanh Niên
Với đề tài này, người viết muốn hướng đến đối tượng nghiên cứu lànhững từ chỉ sự vật hiện tượng thiên nhiên thuộc về vũ trụ như mây, mưa,trăng, gió, …và các từ chỉ thế giới thực vật, động vật như cỏ cây, hoa lá, chimmuông
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết sử dụng phương pháp khoa
Bằng việc nghiên cứu, phân tích kỹ những đặc điểm của thành ngữ về
Trang 9cấu trúc, ngữ nghĩa, phân loại về loại hình, về phản ánh cách tư duy, chúng tôimong muốn có thể cung cấp thêm nhiều thành ngữ hoàn thiện hơn, đầy đủhơn Chính vì thế, với đề tài này chúng tôi hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏtrong công việc nghiên cứu thành ngữ giai đoạn hiện nay.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận,Tài liệu tham khảo và Phụ lục,phần nội dung của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung
Chương 2: Từ ngữ chỉ sự vật trong thành ngữ tiếng Việt
Chương 3: Từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ tiếng Việt
Ngoài ra khóa luận còn bao gồm phần phụ lục: Danh sách thành ngữ
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG
1.1 Những vấn đề chung về từ
1.1.1 Khái niệm về từ.
Cho đến nay, vẫn chưa tìm được sự thống nhất trong cách định nghĩa về
từ Theo G.S Cao Xuân Hạo, “Chúng ta hiểu tính da dạng về tên gọi mà các
tác giả khác nhau đã đề nghị cho các đơn vị khác thường đó của các ngôn ngữ đơn lập là: tiết vị (syllabophoneme), hình tiết (morphosyllabeme), từ tiết (wordssyllabe), đơn tiết (monosyllabe) hoặc đơn giản là từ (word) Thực ra
nó chính là âm, hình vị, hoặc từ và tất cả là đồng thời nếu chúng ta so sánh với các ngôn ngữ Châu Âu về cơ cấu xoay quanh ba trục được tạo thành bởi các đơn vị cơ bản là âm vị, hình vị và từ thì cơ cấu của Tiếng Việt hầu như là
sự kết hợp ba trục đó thành một trục duy nhất, âm tiết” Theo Nguyễn Thiện
Giáp, “Từ của Tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ba nghĩa để tạo ra câu
nói; nó có hình thức, có một âm tiết, một chữ viết rời.” [9, tr.168].
Theo quan niệm của Trương Văn Chính, Nguyễn Hiến Lê, “Từ là âm
có nghĩa, dùng trong ngôn ngữ để diễn đạt một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không thể phân tích ra được.” [9, tr.18].
Nguyễn Văn Tu cho rằng, “Từ là đơn vị nhỏ nhất và đơn lập, có hình
thức vật chất (vỏ âm thanh là hình thức) và có nghĩa, có tính biện chứng và lịch sử.” [9, tr.20].
Tác giả Nguyễn Kim Thản viết, “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể tách khỏi đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và một khối hoàn chỉnh về ngữ âm (từ vựng, ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp.” [9, tr.21].
Hồ Lê nêu ý kiến, “Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi
liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động có khả năng kết hợp
Trang 11tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa.” [29,tr.104].
Lưu Văn Lãng cho rằng: “Những đơn vị dùng tách biệt rõ nhất mới là
từ Có thể nói từ là đơn vị tách biệt nhỏ nhất Nói cách khác, từ là ngữ đoạn (tĩnh) nhỏ nhất và từ có thể gồm nhiều tiếng không tự do kết hợp lại không theo quan hệ thuần cú pháp Tiếng Việt”.[25, tr.214]
Đỗ Hữu Châu quan niệm: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết
cố định bất biến, có ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kiểu cấu tạo) cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu hoặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu.” [1, tr.14]
Qua các định nghĩa nêu trên, chúng tôi nhận thấy có thể khái quát vềkhái niệm từ như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, mangtính sẵn có, cố định và là đơn vị nhỏ nhất trực tiếp tạo nên câu
1.1.2 Các thành phần về nghĩa của từ
Mỗi khi học nghĩa của một từ, chúng ta liên hội từ với những cái mà nóchỉ ra (trước hết là sự vật, hiện tượng, hành động hoặc thuộc tính…mà từ đólàm tên gọi cho nó) Mặt khác nghĩa của từ cũng được thông qua các tìnhhuống giao tiếp ngôn ngữ mà từ đó được sử dụng Từ liên hệ với nhiều nhân
tố, nhiều hiện tượng Nghĩa của từ không chỉ có một thành phần Khi nói vềnghĩa của từ, người ta thường phân biệt các thành phần nghĩa sau đây:
1.1.2.1 Nghĩa biểu vật (denotative)
Những sự vật, quá trình, tính chất hoặc trạng thái mà từ biểu thị đượcgọi là nghĩa biểu vật của từ Hay nói cách khác, nghĩa biểu vật của từ là cácánh xạ của các sự vật, thuộc tính ngoài ngôn ngữ vào ngôn ngữ Biểu vật cóthể hiện thực hoặc phi hiện thực, hữu hình hay vô hình có bản chất vật chấthoặc phi vật chất Ví dụ: đất, trời, mây, mưa, nắng, nóng, lạnh, thánh,thần, Ánh xạ của các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan được phảnánh vào ngôn ngữ không hoàn toàn đồng nhất với các ánh xạ được phản ánh
Trang 12trong tự nhiên Ánh xạ trong ngôn ngữ có sự cải tạo lại, sáng tạo những cái cótrong thực tế theo cách nhận thức của từng dân tộc Ta có thể chứng minh điềunày dựa vào phạm vi biểu vật của các thực từ trong ngôn ngữ cụ thể và dựavào việc so sánh, đối chiếu phạm vi biểu vật giữa các ngôn ngữ.
Biểu hiện thứ nhất của sự không trùng nhau đó là: trong thực tế sự vậtluôn luôn tồn tại trong dạng cá thể, còn nghĩa biểu vật trong ngôn ngữ lạimang tính đồng loạt, khái quát…
Biểu hiện thứ hai của sự không trùng nhau đó là sự chia cắt hiện thựckhách quan khác nhau về nghĩa biểu vật của các ngôn ngữ
1.1.2.2 Nghĩa biểu niệm (significative)
Sự vật và hiện tượng trong thế giới khách quan có các thuộc tính, cácthuộc tính đó phản ánh vào tư duy hình thành các khái niệm Hay nói cáchkhác, khái niệm là phạm trù của tư duy, được hình thành từ những hiểu biếttrong thực tế Đấy là những dấu hiệu bản chất về sự vật, hiện tượng Cácthuộc tính đó phản ánh vào ngôn ngữ hình thành các nét nghĩa Tập hợp củacác nét nghĩa đó trong ngôn ngữ, hình thành nghĩa biểu niệm
Như vậy, nghĩa biểu niệm một mặt thông qua các nghĩa biểu vật mà liên
hệ với hiện thực khách quan, mặt khác, lại có quan hệ với khái niệm, qua kháiniệm mà liên hệ với hiện thực ngoài ngôn ngữ Các nét nghĩa bắt buộc từ cácthuộc tính của các sự vật trong thực tế Mỗi dân tộc, tùy theo ngôn ngữ củamình, chọn một số thuộc tính cơ bản có tác dụng xác lập nghĩa của từ trong hệthống Nghĩa biểu niệm chiếm vị trí hàng đầu trong từ vựng -ngữ nghĩa Cầnphải hiểu mối liên hệ mà chúng ta nói tới trong quan niệm về nghĩa của từ ởđây chính là mối liên hệ chỉ xuất, mối liên hệ phản ánh, cho nên nghĩa biểuhiện cũng có thể hiểu là sự phản ánh sự vật – biểu vật (đúng là phản ánh cácthuộc tính, các đặc trưng của chúng) trong ý thức con người, được tiến hànhbằng từ
Trang 13Nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng,khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định Giữa các nét nghĩa
có mối quan hệ nhất định Tập hợp này ứng với một số nghĩa biểu vật của từ.Chính vì nghĩa biểu niệm của từ là một tập hợp có tổ chức, có quan hệ, chonên còn có thể gọi nó là cấu trúc biểu niệm Ví dụ: Nước biển, nước mắm,ngồi ghế, ngồi chồm hổm, cái bàn, quần áo,…
1.1.2.3 Nghĩa biểu thái (pragmatical meaning)
Nghĩa ngữ dụng còn gọi là nghĩa biểu thái, là mối liên hệ giữa từ với thái
độ chủ quan, cảm xúc của người nói Thuộc phạm vi nghĩa biểu thái của từ baogồm những nhân tố đánh giá như: “mạnh yếu”, “to nhỏ”,…nhân tố cảm xúc như:
“dễ chịu”, “khó chịu”, “sợ hãi”, “ngạc nhiên”,… nhân tố thái độ như: “trọng”,
“khinh”, “yêu”, “ghét”,…mà từ gợi ra cho người nói và người nghe
1.1.3 Sự chuyển nghĩa của từ trong hệ thống
1.1.3.1 Nguyên nhân sự chuyển nghĩa của từ
Sự chuyển nghĩa của từ xảy ra do nhiều nguyên nhân trực tiếp và giántiếp, bên trong và bên ngoài khác nhau như sự phát triển không ngừng củathực tế khách quan, nhận thức của con người thay đổi, hiện tượng kiêng cữ, sựphát triển và biến đổi của hệ thống ngôn ngữ…Tuy nhiên, nguyên nhân quantrọng nhất chính là “nhu cầu giao tiếp của con người” Thay đổi nghĩa củamột từ có sẵn, thổi vảo chúng một luồng sinh khí mới là một biện pháp tiếtkiệm, sống động, giàu tính dân tộc, dễ dàng được sự chấp nhận của nhân dân,đáp ứng được kịp thời của nhu cầu giao tiếp
1.1.3.2 Các dạng chuyển nghĩa của từ
Dạng móc xích
Dạng tỏa ra
1.1.3.3 Phương thức chuyển nghĩa của từ
Một từ có thể có một hoặc nhiều nghĩa, nhưng đó không phải là những
Trang 14tổ chức lộn xộn Nếu là một từ nhiều nghĩa (đa nghĩa) thì các nghĩa đó của từ
có quan hệ với nhau, được sắp xếp theo những cơ cấu tổ chức nhất định.Trong từng nghĩa của mỗi từ cũng vậy, chúng gồm những thành tố nhỏ hơn,
có thể phân tích ra được và cũng được sắp xếp theo một tổ chức nào đó
Như vậy, xét cơ cấu nghĩa của từ là ta xác định xem từ đó có bao nhiêunghĩa, mỗi nghĩa có bao nhiêu thành tố nhỏ hơn, và tất cả chúng được sắp xếptrong quan hệ với nhau như thế nào Để xây dựng, phát triển thêm nghĩa của
từ, trong ngôn ngữ có nhiều phương thức Tuy nhiên, có hai phương thứcquan trọng nhất thường gặp trong các ngôn ngữ là: chuyển nghĩa ẩn dụ(metaphor) và chuyển nghĩa hoán dụ (metonymy)
a. Phương thức ẩn dụ
Là phương thức lấy tên gọi A của sự vật a để gọi tên các sự vật b, c, d vìgiữa a, b, c,d có điểm giống nhau Hay nói cách khác, ẩn dụ là phương thứcchuyển nghĩa dựa vào quy luật liên tưởng tương đồng
Ví dụ: Từ CHÂN trong tiếng Việt có nhiều nghĩa Khi định danh chochân người, nó có nghĩa là: Bộ phận cuối cùng của cơ thể người hay động vật,dùng để đi, đứng, chạy, nhảy Trên cơ sở so sánh nhiều sự vật khác có hìnhdạng tương tự (hoặc người Việt liên tưởng và cho là chúng tương tự nhau,người ta đã chuyển CHÂN sang gọi tên cho những bộ phận dưới cùng củamột số đồ dùng, có tác dụng đỡ cho các bộ phận khác như: chân đèn, chânghế, chân bàn, chân giường) nó khác so với những hoạt động bằng chân củacon người mà ta nói ở trên
Có hai hình thức chuyển nghĩa:
- Dùng cái cụ thể để nói cái cụ thể (ẩn dụ cụ thể - cụ thể)
- Dùng cái cụ thể để gọi tên những cái trừu tượng (ẩn dụ cụ thể - trừutượng)
Trang 15b. Phương thức hoán dụ
Là phương thức lấy tên gọi A của sự vật a để gọi tên cho sự vật b, c, d
vì giữa a, b, c, d tuy không giống nhau nhưng có một quan hệ gần nhau nào
đó về không gian hay thời gian Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa dựavào quy luật liên tưởng tiếp cận
Ví dụ: “Đàn bà dễ có mấy tay,
Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan” (thơ Nguyễn Du)
Thì các từ tay, mặt, gan không mang nghĩa đen chỉ đối tượng (cái tay,
khuôn mặt, bộ gan) mà dùng để chỉ con người trong nghĩa bóng của nó, nhưvậy bộ phận của con người được dùng để chỉ chính con người
Các dạng chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ:
- Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa bộ phận và toàn thể Dạng chuyểnnghĩa này có các cơ chế chuyển nghĩa cụ thể sau: Lấy tên gọi của một bộ phận
cơ thể gọi tên cho người hay cho cả toàn thể Lấy tên gọi của tiếng kêu, đặcđiểm hình dáng của đối tượng gọi tên cho đối tượng Lấy tên gọi của đơn vịthời gian nhỏ gọi tên cho đơn vị thời gian lớn Lấy tên gọi của toàn bộ gọi têncho bộ phận
- Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa vật chứa và vật bị chứa hay lượng vậtchất được chứa
- Lấy tên nguyên liệu gọi tên cho hoạt động hoặc sản phẩm được chế
ra từ nguyên liệu đó
- Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa đồ dùng hoặc dụng cụ và người sử dụng hoặc ngành hoạt động sử dụng dụng cụ đó
- Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa cơ quan chức năng và chức năng
- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa tư thế cụ thể và hành vi hoặc trạng thái tâm – sinh lí đi kèm
- Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa các tác giả hoặc địa phương và tác
Trang 16phẩm hoặc sản phẩm của họ hoặc ngược lại.
Tóm lại, hiện tượng nhiều nghĩa một mặt phản ánh độ dày của ngônngữ, một mặt đáp ứng quy luật tiết kiệm của ngôn ngữ, mặt khác phản ánh độphong phú của tư duy, tình cảm, những kinh nghiệm sống của mỗi dân tộc.Hiện tượng nhiều nghĩa còn giúp ta có thêm căn cứ để hiểu sâu sắc bản chất ýnghĩa của từ cũng như tính hệ thống của chúng
1.1.4 Sự chuyển nghĩa của từ trong hoạt động
Trong hoạt động nhận thức và giao tiếp, từ có thể được chuyển nghĩa(chuyển tên gọi từ một đối tượng cũ sang đối tượng mới) dựa trên mối quan hệnào đó giữa các đối tượng được gọi tên Tác giả Cù Đình Tú còn nói đến sựchuyển nghĩa của từ trong quyển Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt(Nxb Giáo dục, 2001).Theo quan niệm của ông thì các cách tu từ cấu tạo theoquan hệ liên tưởng là trong một văn cảnh cụ thể, từ ngữ có hiện tượng lâm thờichuyển đổi nghĩa Ở đây, nghĩa của từ vốn biểu thị đối tượng này nay được lâmthời chuyển sang đối tượng khác dựa trên một quan hệ liên tưởng nhất định (liêntưởng nét tương đồng và liên tưởng có tính logic khách quan) về mối quan hệ cóthực xảy ra giữa hai đối tượng Tùy vào đặc trưng của từng đối tượng, tùy thuộcvào đặc trưng mối quan hệ liên tưởng giữa hai đối tượng mà chúng ta có nhữngcách tu từ: ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ, tượng trưng tu từ,…
1.1.4.1 Ẩn dụ tu từ
Ẩn dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tượng nàydùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên cơ sở mối quan hệ liên tưởng về néttương đồng giữa hai đối tượng
Ví dụ: “Nước đổ đầu vịt”
“Đàn gẩy tai trâu”.
Trong tâm trí người bình dân Việt Nam, hình ảnh “vịt, trâu” thường gắn
với cái gì lì lợm, không thay đổi Người ta liên tưởng đến dấu hiệu tương
Trang 17tự ở một con người chậm tiêu, nói không nghe lời Và “Đầu vịt, tai trâu” được
thành ngữ lấy làm ẩn dụ để lâm thời biểu thị con người không chú ý tới những
gì người lớn dạy bảo, hoặc lỳ lợm không nghe sự chỉ dẫn “Thôi thì như nước
đổ đầu vịt, những lời chém to kho mặn của ông thầy dạy nghề cũng chẳngthấm vào đâu” (Báo văn nghệ, 1-11-1973)
1.1.4.2 Hoán dụ tu từ
Hoán dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi của đối tượng nàydùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên mối quan hệ liên tưởng logic kháchquan giữa hai đối tượng
Ví dụ: “Đầu trâu mặt ngựa”(thành ngữ)
- “Đầu” (bộ phận cơ thể)
- “Mặt người” (bộ phận cơ thể)
Chỉ con người hung hãn, ngang ngược thô bạo không có tính ngườigiống như loài trâu ngựa “Quanh anh một lũ đầu trâu mặt ngựa uống máungười không tanh đang chờ đợi một miếng mồi ngon” (Nguyễn Sơn Tùng,Hoa hồng trắng) “Nửa giờ sau, một đoàn đầu trâu mặt ngựa do tên Chánh mậtthám Ri Gan dẫn đầu ập vào hoa tít súng sáu bắt chúng tôi, điệu đi” (NguyễnTạo, Sống để hoạt động)
1.1.4.3 Tượng trưng
Tượng trưng là cách tu từ biểu thị đối tượng định miêu tả bằng ước lệ
có tính chất xã hội Người ta quy ước với nhau rằng, từ ngữ này có thể đượcdùng để biểu thị một đối tượng khác ngoài cái nội dung ngữ nghĩa thôngthường của nó
Ví dụ : “Chửi mèo quèo chó”
“Chửi chó mắng mèo”.
“Chó”, “mèo” tượng trưng cho con người không có sự tương đồng,
tranh cãi nhau, chửi người này nhưng nói móc người kia
Trang 18Phân biệt ẩn dụ và hoán dụ tu từ với ẩn dụ và hoán dụ từ vựng:
- Ẩn dụ và hoán dụ tu từ được sử dụng nhằm giúp cho sự diễn đạt tăngtính hình ảnh, biểu cảm, chứ không có tác dụng tạo nghĩa mới làm giàu cho hệthống ngữ nghĩa của ngôn ngữ dân tộc Ẩn dụ và hoán dụ tu từ là sáng tạo của
cá nhân do đó nghĩa tu từ mang tính tạm thời, lệ thuộc hoàn toàn vào văncảnh, nghĩa tu từ biến mất
- Ẩn dụ tu từ và hoán dụ từ vựng có tác dụng tạo nghĩa mới cho hệthống từ vựng – ngữ nghĩa của dân tộc, do đó sự chuyển nghĩa đó là sản phẩmcủa toàn dân, được cố định hóa trong kho từ vựng tiếng Việt, được ghi vào từđiển như một nghĩa sẵn có, được tái dụng một cách tự do trong lời nói
Ví dụ: Kén cá chọn canh; Ăn vóc học
hay 1.2.1.2 Đặc trưng của ngữ cố định
a Do sự cố định hóa, do tính chặt chẽ mà các ngữ cố định ít hay nhiềuđều có tính thành ngữ Tính thành ngữ được định định nghĩa như sau: Chomột tổ hợp có nghĩa S do các đơn vị A, B, C mang nghĩa lần lượt S(1), S(2),S(3) tạo nên nếu như nghĩa S không thể giải thích bằng các ý nghĩa S(1), S(2),(3) thì tổ hợp A, B, C có tính thành ngữ
Tính thành ngữ có mức độ từ thấp tới cao khác nhau “Ba hoa tinh
tướng” có tính thành ngữ thấp hơn “Ba chìm bảy nổi” nhưng “Ba chìm bảy nổi” có tính thành ngữ thấp hơn “Ba cọc ba đồng”.
Trang 19b Nói ngữ cố định là các cụm từ cố định hóa nói chung Thực ra trong
các ngữ cố định, có nhiều ngữ cấu tạo là các câu như: “Chuột sa chĩnh gạo”,
“Cha truyền con nối”, “Chó ngáp phải ruồi” thậm chí có hình thức cấu tạo là
câu ghép: “Đâm bị thóc chọc bị gạo”, “Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”,…
Tiêu chí cơ bản để xác định các thành ngữ cố định là tính tương đươngvới từ của chúng về chức năng tạo câu “Chúng ta nói ngữ cố định tươngđương với từ không phải chỉ vì chúng có tính sẵn có, bắt buộc như từ mà còn
vì ở trong câu chúng có thể thay thế cho một từ, ở vị trí các từ, hoặc có thể kếthợp với từ để tạo câu”
c Những đơn vị trung gian giữa ngữ cố định và cụm từ tự do là cáctrường hợp như: nói cách khác, nói khác đi, một mặt thì, đáng chú ý là, vv.Tính chất cụm từ tự do của các ngữ này rất rõ ràng về ý nghĩa và hình thức.Đây là các cụm từ tự do đã được cố định hóa do nội dung của chúng đã trởthành điều thường xuyên phải lặp đi lặp lại vì cần thiết cho sự suy nghĩ và cho
sự diễn đạt
d Nói ngữ cố định có tính chặt chẽ, cố định không có nghĩa là chúngkhông biến đổi trong câu văn cụ thể Sự biến đổi của các ngữ cố định đa dạnghơn, “tự do” hơn các biến thể từ phức
Các ngữ cố định cũng có thể rút gọn, như ngữ “Chết nhăn răng”, “Tốt
mã giẻ cùi” có thể rút gọn còn “Nhăn răng”,”Tốt mã” Chúng có thể được
mở rộng, thêm thành phần như: “Như quốc kêu” được mở rộng thành“Học
như cuốc kêu ra rả mùa hạ”.
1.2.2 Quan niệm về thành ngữ
Thông thường các nhà ngôn ngữ học thường phân chia ngữ cố định làmhai loại: Quán ngữ và thành ngữ Quán ngữ là những cách nói, cách diễn đạtcần thiết để đưa đẩy, để chuyển ý hay dẫn ý, để nhập đề chứ không có tác
Trang 20dụng nêu bật một sắc thái của những cái đã có tên hoặc nêu bật ra các sự vật,hiện tượng, tính chất chưa có tên gọi Ví dụ như: chắc chắn là, rõ ràng, cũngthế mà thôi, vv.
Các thành ngữ (có tính thành ngữ cao hay thấp) có thể được phân thànhnhững thành ngữ tương đương với từ sẵn có (hiển nhiên hay không hiển nhiên)
và những thành ngữ không tương đương với từ Các thành ngữ tương đương với
từ chủ yếu là các thành ngữ đồng nghĩa, sắc thái hóa, có tính chất miêu tả
Ta có thể phân chia các ngữ cố định tiếng Việt về hình thức (dựa theo kếtcấu cú pháp gốc của chúng) thành hai loại: ngữ cố định có kết cấu câu và ngữ cố
định có kết cấu cụm từ Ngữ cố định có kết cấu câu: “Mèo mù vớ cá rán”,
“Lươn ngắn chê chạch dài” Nhìn chung các ngữ cố định có kết cấu câu
thường biểu thị các sự kiện, tình thế phức tạp không có từ sẵn có đồng nghĩa
Thành ngữ là một bộ phận quan trọng trong kho tàng từ vựng của mộtngôn ngữ Thành ngữ hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của tiếngnói dân tộc Cùng với từ, nó được dùng rộng rãi phục vụ cho giao tiếp chungmột cách phong phú và đa dạng
Thành ngữ là đối tượng được nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu và đưa
ra những khái niệm khác nhau, theo những hướng nhìn và khía cạnh khác nhau:Các nhà Việt ngữ học, khi nghiên cứu thành ngữ, không phải ai cũng đưa ra đượcnhững quan điểm đầy đủ và rõ ràng, thậm chí còn có tác giả cho rằng thành ngữ
là tục ngữ Chẳng hạn Nguyễn Văn Tố trong bài “Tục ngữ ta đối với tục ngữ Tàu
và tục ngữ Tây” đã viết: “ Tục ngữ là những câu thành ngữ nói đã quen trong thế tục, nhiều câu nghĩa lý thâm thúy, ý tứ sâu xa, câu nào từ đời xa xưa truyền lại gọi là ngạn ngữ, tục ngữ hay tục ngạn Nhưng dù là ngạn ngữ, tục ngữ hay tục ngạn thì nghĩa cũng gần giống nhau” [46, tr.105]
Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu các nhà Việt ngữ học đã dần dần
Trang 21có được quan niệm ngày càng hoàn thiện hơn về thành ngữ, mặc dù còn nhiềuđiểm khác nhau giữa các quan niệm nhưng các tác giả đều chỉ ra được ranhgiới giữa thành ngữ và tục ngữ.
Trong sách Việt Nam học sử yếu, tác giả Dương Quảng Hàm đã đưa ra
quan niệm: “Thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn
đạt một ý gì cho có màu mè”.[13, tr 107]
Đến năm 1972, trong Tạp chí Ngôn ngữ số 3, Nguyễn Văn Mệnh lại coi
“Thành ngữ là đơn vị có nội dung bên trong miêu tả hình ảnh các hiện tượng
cũng như hành động và quan hệ” Hay trong bài Ranh giới giữa thành ngữ và
tục ngữ, ông đã chỉ ra một số nét riêng của thành ngữ như sau: “Về nội dung
thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái, một nét tính cách, một thái độ về hình thức ngữ pháp, nói chung thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh” [31, tr.72] Tiếp tục hướng nghiên
cứu đó, năm 1986, ông lại đưa ra một khái niệm rõ ràng hơn: “Thành ngữ là
một loại đơn vị có sẵn, chúng là những ngữ có kết cấu chặt chẽ và ổn định, có chức năng định danh và được tái hiện trong giao tế” [32, tr.43]
Còn Trương Đông San thì cho rằng: “Thành ngữ là những cụm từ cố
định có ý nghĩa hình tượng tổng quát, không suy ra trực tiếp từ ý nghĩa của những đơn vị từ tạo ra nó Thành ngữ gồm những đơn vị mang ý nghĩa hình tượng chung, trong đó tất cả các đơn vị từ đều mất nghĩa đen” [37, tr.7]
Nguyễn Văn Tu quan niệm: “Thành ngữ là những cụm từ cố định mà
các từ trong đó đã mất tính độc lập cao về ý nghĩa kết hợp thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không do nghĩa của từng thành tố tạo ra Những thành ngữ này cũng có thể có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có Nghĩa của chúng có thể khác nghĩa của các từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học” [44, tr.7]
Trang 22Nhấn mạnh về tính dân tộc của thành ngữ, Nguyễn Đức Dân viết:
“Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ ổn định về hình thức, phản ánh lối nói, lối suy
nghĩ đặc thù của dân tộc Thành ngữ phản ánh các khái niệm và hiện tượng”
[6, tr.11] Để khắc sâu tính gợi hình ảnh của thành ngữ, Nguyễn Thiện Giáp
nêu lên quan niệm: “Thành ngữ là một cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh
về nghĩa vừa có tính gợi tả Tính hình tượng là đặc trưng cơ bản của thành ngữ Thành ngữ biểu thị khái niệm nào đó dựa trên hình ảnh, những biểu tượng cụ thể Tính hình tượng của thành ngữ được xây dựng trên cơ sở của hiện tượng ẩn dụ và so sánh”.[9, tr.7]
Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt đã định nghĩa
thành ngữ như sau: “Các thành ngữ (có tính thành ngữ cao hay thấp) có thể
được phân thành ngữ tương đương với từ sẵn có (hiển nhiên hay không hiển nhiên) và những thành ngữ không tương đương với từ Các thành ngữ tương đương với các từ chủ yếu là các thành ngữ đồng nghĩa, sắc thái hóa, có tính chất miêu tả” [4, tr.86]
Đái Xuân Ninh cho rằng: “Thành ngữ là một cụm từ cố định mà các
yếu tố tạo thành đã mất tích độc lập ở các mức nào đó, và kết hợp lại thành một khối tương đối vững chắc và hoàn chỉnh” [33, tr.211]
Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi pháp ca dao thì lại cho rằng “Thành
ngữ là những đơn vị có sẵn mang chức năng định danh, dùng để gọi tên sự vật hoặc để chỉ tính chất, hành động Về mặt này, thành ngữ là những đơn vị tương đương như từ” [22, tr.69]
Nhìn chung, quan niệm về thành ngữ khá đa dạng và phức tạp Các tác giảđều cố gắng nêu lên quan niệm của mình về thành ngữ Song qua đó chúng tôinhận thấy khái niệm về thành ngữ đã ngày càng rõ nét hơn và có những điểmthống nhất như: Tính sẵn có và tính ổn định của tổ hợp từ gọi là thành ngữ
Trang 23Ta thấy sự khác biệt giữa các nhà nghiên cứu chủ yếu thể hiện ở điểmnhấn trong từng quan niệm về cấu trúc hình thức, đặc tính ngữ nghĩa hoặcchức năng của thành ngữ Ở khóa luận này chúng tôi chọn một cách hiểuthông thường rút ra từ quan niệm của các nhà Việt ngữ học, cụ thể chúng tôicoi: Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định bền vững về hình thái cấu trúc,hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, thành ngữ là đơn vị có sẵn và được sử dụngtương đương với từ trong giao tiếp ngôn ngữ.
1.2.2.1 Đặc điểm của thành ngữ
Thành ngữ với tư cách là đơn vị có sẵn tương đương với từ có các đặcđiểm cơ bản như sau:
a Tính ổn định về hình thức: Sự ổn định về hình thức của thành ngữthể hiện ở mặt cấu tạo, trật tự các thành tố trong thành ngữ
Ví dụ: “Há miệng mắc quai”
Tính ổn định về hình thức là một tiêu chí cơ bản để xác định thành ngữ.Tuy nhiên, trong thực tế sử dụng, thành ngữ cũng có thể có những biến đổi
nhất định nhằm tăng thêm giá trị biểu cảm như: “Tất bật như nhà có đám” có thể biến đổi thành “Tất ba tất bật như nhà có đám” hay trường hợp “Đi guốc
trong bụng” thành “Đi dép trong bụng”.
b Tính biểu trưng: Tính biểu trưng của thành ngữ thể hiện ở mặt nghĩa,
cụ thể: Nghĩa chung của thành ngữ không phải là phép cộng đơn giản củanghĩa từng thành tố cấu tạo nên nó
Ví dụ: “Đầu trâu mặt ngựa”
Thành ngữ này đã vận dụng hình ảnh trâu và ngựa để chỉ hạng người hung
hăng, ngang ngược, thô bạo không có tính người, giống như loài trâu ngựa c
Tính cụ thể: Tính biểu trưng của thành ngữ có được là do tính cụ thể.Tính cụ thể làm cho thành ngữ có thể vận dụng linh hoạt trong giao tiếp hàng
Trang 24ngày và trong những cảnh huống khác nhau.
Ví dụ: Cũng là tính chất lúng túng, nhưng “Lúng túng như gà mắc tóc”
nói đến tình trạng lung túng do sa vào nhiều sự việc dồn dập mà không tìm
được cách giải quyết, “Lúng túng như thợ vụng mất kim” là nói đến sự lung
túng không phải vì gặp nhiều sựu việc rắc rối mà là do chỗ chưa có kinh
nghiệm, lại mất phương hướng “Lúng túng như ếch vào rạp xiếc” là nói đến
sự lung túng do bị giam hãm trong những tình thế cực kì khó khăn, không thi
thố được tài năng “Lúng túng như chó ăn vụng bột” là nói đến sự lung túng
của những người phạm sai lầm muốn che giấu lỗi lầm của mình song tangchứng vẫn “sờ sờ” ra đấy” [4, tr.85]
d Tính dân tộc: Mỗi thành ngữ đều mang nghĩa biểu trưng, nó phảnánh tư duy của mỗi dân tộc Mỗi dân tộc có cách tư duy, cách nhìn nhận riêng
về các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan
Ví dụ: Người Tày có thể so sánh “Rẻ như cát” còn người Kinh có thể so sánh “Rẻ như bèo”, hoặc người Anh so sánh “Đắt như bánh nóng”, người Việt lại so sánh “Đắt như tôm tươi”.
1.2.2.2 Phân loại thành ngữ
Từ trước tới nay các nhà Việt ngữ học đã chú ý tới sự phân loại thànhngữ nhưng dường như các tác giả chỉ mới dừng lại ở những phạm vi nhất địnhvới mục đích phục vụ cho việc phân loại hệ thống hóa các lớp từ ngữ trongtiếng Việt Điều này đã được thể hiện rõ qua các chuyên luận từ vựng học,ngữ pháp học của Nguyễn Kim Thản (1962), Nguyễn văn Tu (1968), Hồ Lê(1976), Đái Xuân Ninh (1978), Đỗ Hữu Châu (1981), Cù Đình Tú (1981),Nguyễn Thiện Giáp (1985), Hoàng Văn Hành (1993)
Khi phân loại thành ngữ tiếng Việt, các nhà Việt ngữ học thường dựavào những tiêu chí sau: Chức năng, ngữ nghĩa và hình thức.Do mục đích
Trang 25nghiên cứu khác nhau nên kết quả phân loại cũng khác nhau, ở đây chúng tôidựa vào một số kết quả phân loại chính như sau:
Đặt thành ngữ trong sự tương ứng với từ về mặt chức năng và khả năng
thay thế cho nhau, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Các thành ngữ (có tính thành
ngữ cao hay thấp) có thể được phân thành những thành ngữ tương đương với
từ sẵn có (hiển nhiên hay không hiển nhiên) và những thành ngữ không tương đương với từ” [4, tr.86]
Đặt thành ngữ trong tương quan với cách thức cấu tạo từ ghép, NguyễnThiện Giáp phân thành ngữ tiếng Việt thành hai loại:
+ Thành ngữ thường (không đối, không so sánh).[45]
Như vậy, ranh giới giữa từng kiểu loại cụ thể được xác định tùy theomục đích nghiên cứu của từng tác giả Nếu đi sâu vào từng kiểu nhỏ thìđường ranh giới đó lại càng đa dạng và phức tạp hơn
Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ rằng để phân loại thành ngữ phải chú ý đến
Trang 26tất cả những nhân tố tham gia cấu tạo thành ngữ, làm cho sự phân loại khôngchỉ là sự sắp xếp các thành ngữ thành từng loại một cách triệt để mà còn phảinhằm mục đích nhận thức các thành ngữ Do vậy, khi phân loại thành ngữ cầnthiết phải có sự kết hợp các tiêu chí hình thức, ngữ nghĩa để định loại Có thểphân loại thành ngữ thành mấy loại sau:
a. Thành ngữ đối
Thành ngữ đối là bộ phận quan trọng trong vốn thành ngữ của bất kỳmột ngôn ngữ nào Đặc điểm nổi bật về mặt cấu trúc của thành ngữ đối là tínhchất đối ứng giữa các bộ phận và các yếu tố tạo nên thành ngữ
Nguyễn Thiện Giáp cũng đã đề cập đến tính chất đối ứng của các yếu tố
tạo nên thành ngữ Theo tác giả: “Về hình thức, thành ngữ vẫn phân biệt với
cụm từ tự do ở tính phi cú pháp trong quan hệ Tính chất phi cú pháp của thành ngữ được bộc lộ rõ nhất ở tính đối ứng của các thành tố”.[7, tr.83]
Bùi Khắc Việt (1981) đã miêu tả khá kĩ lưỡng về thành ngữ đối Theo
tác giả: “Đối là cách chơi chữ cốt đặt hai tiếng, hai phần của câu hoặc hai
câu song song và cân xứng nhau Hai từ đối nhau nếu: Về ngữ pháp cùng thuộc loại từ; về ngữ nghĩa vừa có những đồng nhất vừa có những khác biệt;
về ngữ âm, có số lượng âm tiết ngang nhau, đối lập với âm điệu bằng trắc Trong ba điều kiện trên, đối về nghĩa là căn bản”.[47, tr.28]
Đi vào chi tiết, các nhà Việt ngữ học cũng đã phân tích sự đối ứng, điệphay đối lập giữa các thành tố trong hai vế của thành ngữ, ví như quan hệ về từloại, quan hệ về các phạm trù ngữ nghĩa giữa các yếu tố Ở đây các quan hệđồng nghĩa, trái nghĩa, điệp nghĩa được miêu tả khá tỉ mỉ Các tác giả đi sâuvào việc tìm hiểu những quy luật bằng trắc, các yếu tố có sự thống kê khácông phu:
- Bằng bằng trắc trắc (quê cha đất tổ)
Trang 27trong thành ngữ “Đời cha ăn mặn đời con khát nước” Quan hệ đối ứng về ý
giữa hai vế của thành ngữ này là: đời cha đã hưởng nhiều, hưởng hết, hưởngquá phần được hưởng thì đời con phải chịu thiếu thốn, phải chịu thiệt thòi
Như vậy, nghĩa của thành ngữ đối được xác nhập chính là nhờ vàobậc đối ý này Đối lời là quan hệ đối ứng giữa các yếu tố xen cài trong hai vế
của thành ngữ Trong thành ngữ “Mẹ tròn con vuông” sở dĩ ta nhận thấy quan
hệ đối ý (sau khi sinh) mẹ khỏe khoắn, vẹn toàn, con lành lặn, kháu khỉnh là
nhờ có quan hệ đối ứng giữa các yếu tố mẹ với con, tròn với vuông.
Tóm lại, tuy các quan niệm về thành ngữ đối của tác giả mà chúngtôi liệt kê ở trên không có sự trùng khít với nhau nhưng vẫn có điểm đồngnhất: đều khẳng định đặc điểm nổi bật của thành ngữ đối là đối lời và nhờquan hệ đối ứng này mà ta xác định được quan hệ đối ứng về ý của thành ngữ
từ đó suy ra ý nghĩa của từng thành ngữ
b Thành ngữ so sánh
Thành ngữ so sánh khi nghiên cứu tác giả đã đưa ra khá nhiều khái niệmkhác nhau, tuy nhiên chúng tôi xin điểm qua một vài quan niệm tiêu biểu
Nhà Việt ngữ học Trương Đông San cho rằng: “Đó là một cụm từ cố
định được dùng đi dùng lại thường xuyên, nhưng rất sinh động tươi mát, ví von, chân xác vì đã được đúc kết từ thực tiễn lâu đời và được mọi người Việt
Trang 28Nam thừa nhận”.[17, tr.2] Ví dụ: “Lừ đừ như ông Từ vào đền”, “Vắng như chùa bà đanh”, “Lòng vả cũng như lòng sung”, “Lúng túng như ngậm hột thị”, “Nóng như Trương Phi”.
Tập thể tác giả biên soạn cuốn Kể chuyện thành ngữ tục ngữ (HoàngVăn Hành (chủ biên), 1991) nêu quan niệm về thành ngữ so sánh như sau:
“Thành ngữ so sánh là một tổ hợp từ bên vững, bắt nguồn từ phép so sánh với
nghĩa biểu trưng” Ví dụ: “Rách như tổ đỉa”, “Khỏe như vâm”, “Ngu như bò”, “Béo như cun cút”, “Xoay như chong chóng”, “Như cá nằm trên thớt”,
“Như mở cờ trong bụng” Để làm rõ hơn về thành ngữ so sánh, Nguyễn Văn
Hằng nhấn mạnh: “Trong thành ngữ so sánh, yếu tố so sánh là yếu tố mang
hình ảnh, được xem như mẫu mực tính chất hay thuộc tính được gán ghép cho chủ thể và cả cụm từ có ý nghĩa khái quát.”
Qua các ý kiến nêu trên, chúng tôi nhận thấy: Quan niệm về thành ngữ
so sánh của các tác giả tuy khác nhau nhưng cơ bản các tác giả đều dựa trênphép so sánh để đưa ra các khái niệm sao cho rõ ràng và đầy đủ nhất Trongkhóa luận này, từ việc tiếp thu ý kiến của những người đi trước, chúng tôiquan niệm về thành ngữ so sánh như sau:
Thành ngữ so sánh là một tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái cấutrúc, hoàn chỉnh về nghĩa, bắt nguồn từ phép so sánh Hình tượng của thànhngữ so sánh rất phong phú và sinh động, gần gũi và quen thuộc với người bảnngữ được đúc kết từ trong đời sống
c. Thành ngữ thường
Kì thực, thành ngữ thường là một loại riêng, có con đường tạo lập nghĩariêng và rất độc đáo Thành ngữ thường chiếm một số lượng lớn rất đáng kểtrong “kho” thành ngữ của bất kì một dân tộc nào Với loại thành ngữ này, nếukhông tập trung chú ý thì dễ bị che lấp bởi các loại thành ngữ so sánh và
Trang 29thành ngữ đối Chính vì vậy, chúng ta thường thấy các nhà Việt ngữ học hoặcchỉ nghiên cứu thành ngữ nói chung hoặc lấy các đặc điểm nổi trội của thànhngữ so sánh và thành ngữ đối làm đối tượng nghiên cứu của mình Về hìnhthức, một bộ phận khá lớn các thành ngữ thường xuất hiện dưới dạng một kếtcấu chủ vị, nói chính xác hơn là tương đương với một câu trọn vẹn.
Ví dụ: “Chó ngáp phải ruồi”
“Gà què ăn quần cối xay”
Nói một cách tổng quát thì thành ngữ chủ yếu được hình thành bằng xuhướng cố định hóa câu và các cụm động từ Nguyên nhân tạo nên xu hướngnày là do bản thân ngữ nghĩa của loại thành ngữ này quy định Thành ngữthường hẳn là được hình thành nhờ vào sự quan sát sự vật, hiện tượng thiênnhiên, xã hội với một quá trình lâu dài được hình thành trong tư duy của conngười, làm nảy sinh những liên tưởng với những điều gần gũi, thân thuộc,bình dị trong cuộc sống hàng ngày Thông thường những liên tưởng đó phảiviện đến một hình thức cố định như kết cấu chủ vị hay cụm động từ (nòng cốtđóng vai trò vị ngữ tính của câu) Nghĩa của thành ngữ thường nói chung tiềm
ẩn những đặc trưng, những tri thức văn hóa, lịch sử, khó có thể lý giải trên bềmặt câu chữ
Ví dụ: “Thả hổ về rừng”
“Gương vỡ lại lành”
1.3 Phân biệt thành ngữ với quán ngữ, cụm từ tự do với tục ngữ
Về mặt phương pháp luận, muốn hiểu biết khái niệm thành ngữ, ngoàiviệc chỉ ra các dấu hiệu đặc trưng của nó cần phải xem xét nó trong quan hệvới các khái niệm có liên quan Những khái niệm có liên quan dễ nhầm lẫnvới thành ngữ là quán ngữ, cụm từ tự do và tục ngữ Trên thực tế việc xácđịnh ranh giới giữa các khái niệm này lại hết sức phức tạp, còn tồn tại nhiều ý
Trang 30kiến tranh luận khác nhau.
1.3.1 Phân biệt thành ngữ với quán ngữ
Khi mà để xác định phạm vi rộng hay hẹp của ý sắp trình bày, chúng tathường mở đầu: Nói chung thì (nói một cách tổng quát; nhìn chung; đại thể;đại cương mà nói), Nói riêng thì (đi vào chi tiết; nhìn riêng; để cho được rõràng: chuyên biệt mà nói) Để khẳng định tính chất của ý sắp trình bày, chúng
ta thường mở đầu: Thành thực mà nói; Nói chí tình; Nói thật với nhau; Nóicho đúng; Nói mà không sợ quá lời vv Đây là những nhóm từ quen dùng, cácnhà ngữ pháp đã đặt tên cho chúng là “quán ngữ” (những ngữ quen dùng,được dùng lâu ngày thành quen trong ngôn ngữ) Nhưng để phân biệt thànhngữ và quán ngữ ta hãy để ý những điểm này: Thành ngữ thường thì có nộidung so sánh, còn quán ngữ chỉ là một cách nói
Quán ngữ ra đời sau thành ngữ nếu xét về mặt thời gian Ở các tác
phẩm ra đời cách đây vài ba trăm năm, có thể có những thành ngữ “Đẹp như
tiên”, “Đen như cột nhà cháy” nhưng chắc chưa có quán ngữ như: “Nói riêng với nhau mà nghe”, “Nói để bà con dễ thông cảm”.
Những quán ngữ được dùng để mở đầu một câu trong các ví dụ trên,thường được gọi là khởi ngữ (ngữ bắt đầu câu) Nhưng trong thông dụng,quán ngữ không phải luôn luôn là khởi ngữ Quán ngữ có thể đứng giữa câu,cuối câu Khi đó quán ngữ sẽ mang tên theo chức năng cú pháp
Ví dụ: Tình hình văn học hiện đại, nói chung, cũng có nhiều biến đổi
Nằm ở giữa câu ý nghĩa không khác khi nằm ở đầu câu, nhưng quánngữ “nói chung” không có chức năng mở đầu câu nên không được gọi là
“khởi ngữ” Ở đây nó có phận sự đưa đẩy Vì thế nó được gọi là chuyển ngữ.Như vậy:
Thành ngữ và quán ngữ đều là những nhóm từ quen dùng đối với mọi
Trang 31người và có thể có người không thích dùng nhưng nghe vẫn hiểu đúng ý.
Thành ngữ luôn hàm ý so sánh, nhận xét, nặng về nội dung Quán ngữchỉ mở ý, chuyển ý, nặng về hình thức
Về số lượng thành ngữ nhiều hơn quán ngữ gấp bội Nhưng tính số lầnđược dùng thì quán ngữ được dùng nhiều hơn Kiếm một cuốn sách khoảng
200 trang không chắc đếm được 20 thành ngữ, nhưng có thể đếm được cảtrăm quán ngữ mở đầu câu như “thật ra”, “nói cho đúng”, “nhìn chung”
Dịch một quán ngữ nước ngoài sang tiếng Việt rất dễ, nhưng không dễ
gì tìm được những thành ngữ đồng nghĩa trong hai thứ tiếng, thường chỉ cóthể dịch theo ý
1.3.2 Phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do
Cả thành ngữ và cụm từ tự do đều là những tổ hợp do từ cấu tạo nên vàhoạt động với tư cách là những bộ phận cấu thành câu Cụm từ tự do là mộtkết hợp tạm thời mỗi lần dùng đều được cấu tạo mới và chỉ tồn tại trong phạm
vi một văn bản nhất định Những bộ phận cấu thành cụm từ tự do có thể đượcthay thế bằng những từ khác cùng loại, chỉ là tăng giảm nghĩa của từ cụ thểcòn nghĩa của cụm từ không bị phá vỡ
Ở thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ có sẵn, có cấu trúc bền vững luônđược tái hiện dưới dạng có sẵn với cùng một thành phần yếu tố cố định.Thành ngữ không thể bỏ đi hay thay thế bất kỳ yếu tố nào mà không phá vỡnghĩa của toàn thành ngữ
Nghĩa của cụm từ tự do là nghĩa tổng hợp của các từ riêng lẻ Thường
có nghĩa hình ảnh ẩn dụ, không thể suy trực tiếp từ nghĩa của các yếu tố cấuthành Dùng để định danh như thành ngữ nhưng không có giá trị hình ảnhbiểu cảm Ở thành ngữ dùng để gọi tên (định danh) hiện tượng, sự vật, tínhchất, trạng thái nhưng mang giá trị hình ảnh biểu cảm Sự kết hợp chỉ phục
Trang 32tùng những chuẩn mực từ vựng, ngữ pháp Thành ngữ thường có tổ chức âmđiệu, tiết tấu của toàn cấu trúc, thành ngữ có tính nhạc.
Tóm lại, có thể nói không có ranh giới rõ ràng, tuyệt đối để phân biệtcụm từ tự do và thành ngữ Bởi lẽ nếu những cụm từ tự do trở nên cố định vànghĩa của nó phức tạp hóa nó biến thành thành ngữ
1.3.3 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ
Trong giới ngôn ngữ học có rất nhiều ý kiến xoay quanh việc phân biệtthành ngữ và tục ngữ, các ý kiến và quan niệm ấy xuất phát từ sự phân loạikhác nhau:
Và người đầu tiên đi tìm sự khác nhau giữa hai đơn vị này là nhànghiên cứu Dương Quảng Hàm Trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu (1943),
ông cho rằng: “Một câu tục ngữ tự nó có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên
răng hoặc chỉ bảo điều gì, còn thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để ta tiện dùng
để diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè” [13, tr.15]
Nhà nghiên cứu văn học dân gian Vũ Ngọc Phan đã đưa ra quan niệm
của mình: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt một ý trọn vẹn, một nhận xét,
một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán Còn thành ngữ là thành phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn đạt một ý trọn vẹn Về hình thức ngữ pháp mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải là câu hoàn chỉnh, còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng là một câu hoàn chỉnh” [34, tr.31]
Tạp chí Ngôn ngữ số 3/1972 có bài “Ranh giới giữa tục ngữ và thànhngữ:” của tác giả Nguyễn Văn Mệnh Tác giả bài báo có nhận xét rằng “giữathành ngữ và tục ngữ có thể tìm ra những điểm khu biệt rõ ràng có ở cả haiphương diện nội dung và hình thức” Từ nhận xét “về nội dung thành ngữ giớithiệu một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái, một tính cách, một thái
Trang 33độ”, còn tục ngữ “đi đến một nhận định cụ thể, một kết cấu chắc chắn, mộkinh nghiệm sâu sắc, một lời khuyên răn, một bài học tư tưởng về đạo đức”tác giả rút ra kết luận: “Có thể có nội dung của tục ngữ nói chung chỉ mangtính quy luật Từ sự khác nhau cơ bản nội dung đến sự khác nhau cơ bản vềhình thức ngữ pháp, về năng lực hoạt động trong chuỗi lời nói Về hình thứcngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh.Tục ngữ thì khác hẳn, mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu”.[31]
Trên tạp chí Ngôn ngữ số 1/1973 trong bài báo: “Góp ý về sự phân biệtthành ngữ với tục ngữ”, nhà ngôn ngữ học Cù Đình Tú đưa ra quan niệmriêng của mình là: “Thành ngữ là một hiện tượng của ngôn ngữ Tục ngữ xét
về mặt nào đó cũng là một hiện tượng ngôn ngữ Giải quyết được các hiệntượng ngôn ngữ phải dựa vào những căn cứ ngôn ngữ học Một trong nhữngthành tựu của ngôn ngữ học hiện đại là chỉ ra sự khác nhau và mối quan hệgiữa kết cấu và chức năng, sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là
sự khác nhau về chức năng Thành ngữ là những đơn vị có sẵn mang chứcnăng định danh, nói khác đi, dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hành động củathành ngữ là những đơn vị tương đương từ Tục ngữ đứng về mặt ngôn ngữ cóchức năng khác hẳn thành ngữ Tục ngữ cũng như các sáng tạo khác của dângian như ca dao, truyện cổ tích, đều là các thông báo Nó thông báo một nhậnđịnh, một phương tiện nào đó của thế giới khách quan Do vậy, mỗi tục ngữđọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng” [45, tr 41]
Theo nhà nghiên cứu văn học Chu Xuân Diên, thì cần phải xem xétthành ngữ và tục ngữ không phải chỉ như hai hiện tượng của ngôn ngữ khácnhau mà chủ yếu như một hiện tượng ngôn ngữ và một hiện tượng trong ýthức xã hội Cho nên tiêu chí gốc cần phải dựa vào để tìm ra sự phân biệt giữathành ngữ và tục ngữ là hai tiêu chí về nhận thức luận với tiêu chí đó
Trang 34Hoàng Văn Hành và một số tác giả ở Viện Ngôn ngữ học trong “Kểchuyện thành ngữ, tục ngữ” đã nhận xét thành ngữ tuy có nhiều nét tươngđồng với tục ngữ nhưng khác tục ngữ về bản chất Thành ngữ là những tổ hợp
từ đặc biệt, biểu hiện những khái niệm một cách bóng bẩy, còn tục ngữ lànhững câu - ngôn bản đặc biệt, biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật
Theo Nguyễn Thiện Giáp: “Các tục ngữ cũng được dùng lặp đi lặp lại
nhiều lần trong lời nói như một đơn vị có sẵn, nhưng khác với thành ngữ ở chỗ nghĩa của tục ngữ bao giờ cũng là một phán đoán Về mặt nội dung nghĩa của tục ngữ gần với cụm từ tự do, bởi vì nó không biểu thị một khái niệm như thành ngữ, mà biểu thị một tổ hợp khái niệm” [7, tr.83]
Nhìn chung lại kể cả nhà nghiên cứu văn học lẫn các nhà nghiên cứungôn ngữ học đều đưa ra những cơ sở những tiêu chí khác nhau để phân biệt
sự khác nhau thành ngữ và tục ngữ nhưng kết quả vẫn chưa được như mongmuốn Các nhà nghiên cứu văn học thì thiên về tiêu chí nội dung còn các nhàNgôn ngữ học lại sử dụng tiêu chí chức năng và tiêu chí ý nghĩa để phân biệt.Tuy nhiên, trên thực tế vẫn tồn tại những hiện tượng trung giữa thành ngữ vàtục ngữ (tuy số lượng không nhiều) Ví dụ như một số thành ngữ có cấu tạo
theo mô hình câu chủ ngữ-vị ngữ nhưng chỉ là thành ngữ: “Cú đội lốt công”,
“Nước mắt chạy quanh” hay có một loại khác do thay đổi chức năng có thể
dùng như một thành ngữ hay tục ngữ bằng cách thêm vào một số từ: mà, thìlại, mà lại Ví dụ:
Dầm mưa dãi nắng → Dầm mưa thì dãi nắng (hiện tượng) (quy luật) Trứng chọi với đá → Trứng mà lại chọi với đá (hiện tượng) (quy luật)
Một hiện tượng khác cũng có những trường hợp tồn tại dưới hai dạng
mà không biết do tục ngữ rút ngắn lại hay tục ngữ triển khai ra, phải chăng đó
là sự “chuyển hóa” giữa thành ngữ và tục ngữ Ví dụ:
Trang 35Khôn nhà dại chợ ↔ Khôn nhà dại chợ
Cờ đến tay ai ngưới ấy phất ↔ Cờ đến
Sự giống nhau giữa thành ngữ và tục ngữ:
- Thành ngữ và tục ngữ là những đơn vị có sẵn với cấu trúc rất bền chặt, cố định, trong đó không thể dễ dàng thay đổi trật tự các yếu tố
- Cả thành ngữ và tục ngữ đều có nội dung ngữ nghĩa mang tính khái quát hình ảnh và nghĩa bóng
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Tuy thành ngữ có nhiều quan niệm khác nhau tùy vào cách phân loạicủa từng tác giả Nhưng chung quy lại thành ngữ là những cụm từ cố địnhđược sử dụng tương đương với từ, có chức năng gọi tên một sự vật, hiệntượng nào đó, có tính hình tượng, bóng bẩy về nghĩa hay còn gọi là nghĩa biểutrưng, nó có giá trị biểu cảm nhằm diễn đạt một nội dung, một quan niệmsống hay một thông điệp nào đó
Bên cạnh đó, có sự phân loại, phân biệt giữa thành ngữ và những đơn vị
Trang 36liên quan như tục ngữ, quán ngữ, cụm từ tự do, qua đó ta thấy sự khác biệt vànhững điểm tương đồng với nhau Đồng thời, từ sự nghiên cứu khái quát, tanhận thấy được thành ngữ luôn là đề tài mà các tác giả đưa ra những quanđiểm riêng để ngày càng hoàn thiện hơn về thành ngữ Cách tư duy, nhận thức
về thế giới tự nhiên và đời sống xã hội, lối nói so sánh, ví von muôn màumuôn vẻ của nhân dân ta trong thành ngữ góp phần làm giàu, làm đẹp thêmcho tiếng Việt
Trang 37Chương 2
TỪ NGỮ CHỈ SỰ VẬT TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT
2.1 Khái quát từ ngữ chỉ sự vật và thành ngữ có yếu tố chỉ sự vật
2.1.1 Khái niệm từ ngữ chỉ sự vật
Từ ngữ chỉ sự vật bao gồm từ chỉ tên cây cối (những bộ phận cây cối),con người (những bộ phận của con người), hiện tượng thiên nhiên, đồ vật, convật, cảnh vật Chẳng hạn như:
- Cây cối: thược dược, phượng vĩ, hoa lan, cây mận, cây xoài,…
- Con người: thầy giáo, cô giáo, chân, tay, học sinh, cô dâu, chú rể…
- Hiện tượng: mây, mưa, sấm, chớp,…
- Đồ vật: bàn, ghế, cái kéo, bút, thước, hoa tai,
- Con vật: chó, mèo, gà, nai, hổ, cá,
- Cảnh vật: hòn đá, thác, suối, núi, rừng, cánh đồng,…
Và ở đề tài này, chúng tôi chỉ chú trọng đến từ ngữ chỉ sự vật (thực
vật và động vật) và hiện tượng tự nhiên như: nắng, mây, mưa, sấm, chớp,
giông, bão, lũ lụt,…Những hiện tượng này được thể hiện như thế nào trong
thành ngữ Việt Nam, và tần số xuất hiện của những từ này trong vốn thànhngữ Việt Nam sẽ được đề cập và đánh giá trong luận văn này
2.1.2 Thành ngữ có yếu tố chỉ sự vật
Thành ngữ vốn dĩ rất đa dạng và quan trọng trong kho tàng từ vựng củamột ngôn ngữ Thành ngữ tiếng Việt là một khối lượng lớn trong giao tiếp đờithường của người Việt Mỗi thành ngữ đều biểu hiện một khái niệm riêng
Theo tác giả Đinh Trọng Lạc, “Mỗi thành ngữ được sử dụng rộng rãi trong
lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân Đó là cách nói ví von rất hay, rất có hình ảnh, rất thấm thía” (Hồ Chí Minh), “Cách nói hình ảnh và hàm súc của thành ngữ lắm khi phải dùng nhiều trang sách mới minh họa được” (Gorki)
Trang 38[24; tr.40] Chính vì thế mỗi thành ngữ đều có những từ chỉ sự vật cây cối,con người, hiện tượng tự nhiên, con vật, cảnh vật làm nổi bật lên cách tư duynhìn nhận của nhân dân ta.
2.1.2.1 Sự vật chỉ cây cối
Cây cối được nhắc đến trong thành ngữ xuất hiện cũng rất đa dạng như:
“Ăn cây táo rào cây xoan”, “Cành vàng lá ngọc”, “Ăn cây nào, rào cây ấy”,
“Bèo dạt mây trôi”, “Cơm sung cháo dền”, “Cây muốn lặng gió chẳng ngừng”, “Chữa dép vườn dưa”, “Chưa dập miếng trầu”, “Bãi bể nương dâu”, “Ăn mít bỏ xơ”, “Bắn bụi tre đè bụi đóp”, “Bẻ hành bẻ tỏi”, “Bèo hợp mây tan”, “Bới bèo ra bọ”, “Cà chua mắm mặn”, “Cây cao bóng cả”, “Cây nhà lá vườn”, “Chanh chua thì khế cũng chua”, “Cây ngay không sợ chết đứng”, “Chắp cánh liền cành”, “Củi quế gạo châu”, “Dây mơ rễ má”, “Dây
mơ rễ muống”, “Dây cà ra dây muống”, “Đạp vỏ dưa sợ quả dừa”, “Đạp vỏ dưa thấy vỏ dừa mà sợ”, “Đâm quàng bụi rậm”, “Đào tơ liễu yếu”, “Đắm nguyệt say hoa”, “Liễu yếu đào tơ”, “Say hoa đắm nguyệt”, “Đâm chồi mọc rễ”, “Đâm chồi nảy lá”, “Đâm hoa kết quả”, “Đo lọ nước mắm đếm củ dưa hành”, “Đổ thóc giống ra mà ăn”, “Đơm đó ngọn tre”, “Ép liễu nài hoa”,
“Gạo châu củi quế”, “Già trái non hột”, “Giậu đổ bìm leo”, “Hoa hòe hoa sói”, “Hoa tàn nhị rữa, “Hoa thải hương thừa”, “Hoa thơm đánh cả cụm”… 2.1.2.2 Sự vật chỉ con người
Thành ngữ chỉ con người đa số thể hiện ý nghĩa quan hệ giữa các thànhviên trong gia đình xã hội và cách ứng xử ở ngoài xã hội.Các thành ngữ như:
“Bằng chị bằng em”, “Bầu đàn thê tử”, “Bố vợ phải đấm”, “Cha căng chú
kiết”, “Cha già con cọc”, “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, “Cha sinh mẹ đẻ”, “Cha truyền con nối”, “Cha chung không ai khóc”, “Con có khóc mẹ mới cho bú”, “Chị ngã em nâng”, “Chồng cha vợ mẹ”, “Chồng chung vợ chạ”, “Chồng loan vợ phượng”, “Con bế con bồng”, “Con bế con dắt”,
Trang 39“Con bồng con mang”, “Con cha cháu ông”, “Con chị đi con dì nó lớn”,
“Con côi vợ góa”, “Con dại cái mang”, “Con đàn cháu đống”, “Con một cha nhà một nóc”, “Con dòng cháu dõi”, “Con nhà lính tính nhà quan”,
“Con ông cháu cha”, “Con thơ vợ dại”, “Cô nhi quả phụ”, “Dựng vợ gả chồng”, “Đem con bỏ chợ”, “Đời cha ăn mặn đời con khát nước”, “Giàu đổi bạn sang đổi vợ”, “Huynh đệ tương tàn”,…
2.1.2.3 Sự vật chỉ hiện tượng tự nhiên
Thế giới tự nhiên muôn màu muôn vẻ và rộng lớn bao gồm những gìthuộc về vũ trụ và các sự vật hiện tượng trong tự nhiên Bên cạnh đó, conngười chúng ta là một sinh thể nhỏ bé trong thế giới đó Thế giới tự nhiênphong phú và đa dạng các loài động thực vật, các hiện tượng tự nhiên nhưmây, mưa, sấm , chớp, các hiện tượng của vũ trụ đất trời
Từ những hình ảnh tự nhiên tươi đẹp, hùng vĩ, sông núi, mây trời, đếnnhững điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt gây ra cho con người như bão lũ, hạnhán, mưa giông hay những hiện tượng thiên văn…đều được phản ánh trong
thành ngữ Việt nam như : “Ăn đất nằm sương”, “Ăn gió nằm sương”, “Ăn
sấm nói gió”, “Ăn tuyết nằm sương”, “Bão táp mưa sa”, “Bão táp phong ba”, “Bạo thiên nghịch địa”, “Băng ngàn vượt bể”, “Băng rừng vượt bể”,
“Bể bạc rừng vàng”, “Biển lặng gió êm”, “Cây muốn lặng gió chẳng ngừng”, “Chân trời góc bể”, “Chiếu đất màn trời”, “Màn trời chiếu đất”,
“Lở đất long trời”, “Long trời lở đất”, “Dãi gió dầm mưa”, “Dãi nắng dầm sương”, “Dày gió dạn sương”, “Dầm mưa dãi gió”, “Dầm mưa dãi nắng”,
“Dầu mưa dãi nắng”, “Đầu sóng ngọn gió”, “Đi mây về gió”, “Đội mưa đội gió”, “Đội mưa đội nắng”, “Đồng chua nước mặn”, “Đồng trắng nước trong”, “Gieo gió gặt bão”, “Gió dập mưa dồn”, “Gió dập sóng dồn”, “Gió táp mưa sa”, “Gió thảm mưa sầu”, “Góc bể chân trời”, “Gối đất nằm sương”, “Gội gió tắm mưa”, “Dãi dầu mưa nắng”, “Dãi dầu nắng mưa”,
Trang 40“Dạn dày gió sương’, “Dạn dày nắng mưa”, “Đã mưa thì mưa cho khắp”,
“Hạn hán gặp trời mưa rào”,…
2.1.2.4 Sự vật chỉ con vật
Thành ngữ mang yếu tố chỉ sự vật con vật chiếm một số lượng lớn, cáchình ảnh về động vật phong phú, đa dạng về sinh học của Việt Nam Từnhững loài động vật to lớn sống trong tự nhiên hoang dã như hổ, sói, báo, voi,
…đến những con vật nuôi lấy thịt hoặc sức kéo trong lao động sản xuất nhưngựa, trâu, bò, lợn, gà, vịt,…hoặc những con vật gần gũi với đời sống conngười, làm bạn với con người trong cuộc sống hàng ngày như chó, mèo, chim,
…đến những con vật nhỏ bé tầm thường như cá, muỗi, ong, bướm, ve, từ loàitrên rừng đến loài nuôi ở nhà, từ loài trên cạn đến loài dưới nước…Tất cả đều
có mặt trong thành ngữ Việt Nam như: “Ba hoa chích chòe”, “Châu chấu đá
voi”, “Bỏ con săn sắt bắt con cá rô”, “Bắt cóc bỏ dĩa”, “Bắt cua bỏ giỏ”,
“Bạo hổ hằng hà”, “Bọ chó múa bấc”, “Bò thấy nhà tán”, “Bút sa gà chết”,
“Bướm chán ong chường”, “Bướm lả ong lơi”, “Cá biển chim trời”, “Cáo mượn oai hùm”, “Cáy vào hang cua”, “Châu chấu đá voi”, “Châu chấu đá xe”, “Chim lồng cá chậu”, “Chim sa cá lặn”, Chim chích ghẹo bồ nông”,
“Chó ăn đá gà ăn sỏi”, “Chó càn bứt dậu”, “Chó cắn áo rách”, “Chuồn chuồn đạp nước”, “Chuột chạy cùng sào”, “Chuột chạy hở đuôi”, “Chuột chù lại có xạ hương”, “Chuột gặm chân mèo”, “Chuyện hươu chuyện vượn”,
“Con rô cũng tiếc con riết cũng muốn”, “Con ong cái kiến”, “Cóc mò cò xơi”, “Cò bay thẳng cánh”, “Cóc lại mở miệng”, “Con chấy cắn đôi”, “Con sâu làm rầu nồi canh”, “Con cà con kê”, “Cõng rắn cắn gà nhà”, “Cú dòm nhà bệnh”, “Cú đội lốt công”, “Cưa sừng làm nghé”, “Dòi từ trong xương”,
“Dạy khỉ leo cây”, “Dở hơi dở chuột”, “Đá gà đá vịt”, “Đàn gảy tai trâu”,
“Điều ong tiếng ve”, “Đợi thỏ ôm cây”, “Đười ươi giữ ống”, “Đứt đuôi con nòng nọc”, “Đầu cua tai nheo”, “Đuổi hùm cửa