1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Tài liệu PHÂN I: GIỚI THIÊU CHUNG VỀ TÂP ĐOAN ĐA QUÔC GIA SAMSUNG TRÊN TOAN CÂU doc

36 1,7K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giới thiệu chung về Tập đoàn đa quốc gia Samsung trên toàn cầu
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh doanh và Quản trị
Thể loại Tài liệu giảng dạy
Năm xuất bản Không rõ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 304,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Môi trường công nghệ So với các quốc gia trong khu vực, Việt Nam không được đánh giá cao vềmôi trường công nghệ... Lĩnh vưc sản xuất điện thoại thì Samsung chỉđứng sau

Trang 1

PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN ĐA QUỐC GIA SAMSUNG TRÊN TOÀN CẦU

1 Giới thiệu sơ qua về lịch sử tập đoàn Samsung

Tập đoàn Samsung do Lee Byung-Chul sáng lập vào năm 1953, là mộttrong những tập đoàn thương mại lớn nhất Hàn Quốc Chủ tịch hiện nay là ôngLee Kun-hee

Năm 1969, Samsung Electronics, hãng điện tử của Samsung được thành lập tạiDaegu - Hàn Quốc, là một bộ phận lớn nhất của Tập đoàn Samsung Hoạt động tạichừng 58 nước và có khoảng 208.000 công nhân Hãng điện tử Samsung được coilà một trong 10 nhãn hiệu hàng hóa tốt nhất thế giới

Từ năm 2000 đến nay, Samsung là doanh nghiệp tiên phong trong “thời đại kỹthuật số” mang lại sự thay đổi và cả cơ hội mang tính cách mạng cho kinh doanhtoàn cầu bằng những công nghệ tiên tiến, sản phẩm cạnh tranh và sự đổi mớikhông ngừng

2 Lĩnh vực hoạt động kinh doanh chính

Tập đoàn Samsung kinh doanh rất nhiều lĩnh vực trên thị trường toàn cầubao gồm các sản phẩm nổi bật:

 Kinh doanh thiết bị truyền thông kỹ thuật số như các sản phẩm tích hợp đầutiên trên thế giới như đầu đĩa Blu-ray, máy tính Ultra Mobile và máy nghenhạc MP3 có loa trượt…

 Kinh doanh dụng cụ bán dẫn: điều khiển hiển thị ICs (DDIs), chip thôngminh cho thẻ SIM, bộ xử lý ứng dụng dò tìm, cảm biến hình ảnh CMOS vàcác hệ thống trên một chip (Systems on a chip-SoCs) cho các sản phẩmmáy nghe nhạc

 Kinh doanh LCD: công nghệ màn hình độ sắc nét cao, điện thoại di động,camera kỹ thuật số, PDAs và hệ thống dò đường cho xe hơi

 Lĩnh vực bảo hiểm, bất động sản, tài chính

Tại Việt Nam, Samsung Vina sản xuất và kinh doanh các mặt hàng nghe nhìn:tivi LCD, TV Plasma, TV SlimFit, TV CRT, hệ thống âm thanh Home Theatre,đầu đĩa DVD, máy giặt, tủ lạnh và máy điều hòa nhiệt độ, màn hình máy tính

Trang 2

CRT, LCD, điện thoại di động, máy in, ổ đĩa cứng, ổ đĩa quang… Nhà máy củaSamsung Vina không chỉ sản xuất cho nhu cầu của thị trường trong nước, mà cònxuất khẩu sản phẩm phục vụ cho thị trường châu Phi, Trung Đông và Philippines

Hiện nay,Samsung Vina chiếm thị phần số 1 về TV LCD, TV phẳng, Màn hìnhmáy tính và đứng thứ 2 trên thị trường về điện thoại di động

3 Kết quả hoạt động kinh doanh của tập đoàn Samsung trong thời gian gần đây

Với tầm nhìn chiến lược của Samsung Electronics là “dẫn đầu cuộc cáchmạng hội tụ kỹ thuật số”, tập đoàn Samsung luôn sử dụng các công nghệ kỹ thuậthiện đại để chinh phục người tiêu dùng và xây dựng thương hiệu cao cấp trên toàncầu Tất cả các thành viên của tập đoàn đều cố gắng mở rộng hoạt động sản xuấtkinh doanh để nâng cao giá trị thương hiệu Samsung ở mỗi nước mà Samsung cómặt Trong 5 năm trở lại đây, công ty Samsung Electronics đã kinh doanh rất hiệuquả và thu được nhiều lợi nhuận

Bảng 1: Kết quả hoạt động kinh doanh của tập đoàn Samsung trong 5 năm

Đơn vị : nghìn đôla

Tổng doanh thu 59,002,073 59,357,383 95,625,233 81,664,881 105,106,276Doanh thu hoạt

Thu nhập khác 2,109,320 2,637,077 3,670,845 3,297,485 8,611,193Tổng chi phí 46,045,976 50,600,747 85,046,497 74,001,498 99,873,360Thu nhập trước thuế 12,956,097 8,756,636 10,578,736 7,663,383 5,232,916Lợi nhuận sau thuế 10,648,314 7,542,165 8,531,848 6,303,088 4,685,930

Tỷ suất lợi nhuận 18.04735573 12.70636376 8.922172247 7.7182357 4.458278019

(Nguồn: tổng hợp từ báo cáo thường niên của tập đoàn Samsung)

Trang 3

Biểu đồ kết quả hoạt động kinh doanh

0 20,000,000 40,000,000 60,000,000 80,000,000 100,000,000

120,000,000

năm 2004

năm 2005

năm 2006

năm 2007

năm 2008

Bảng kết quả kinh doanh cho thấy, doanh thu của tập đoàn Sam sung trong

5 năm trở lại đây đều tăng, năm 2008 đạt trên 105 tỷ $, gấp gần 1.5 lần so vớinăm 2007 Giá trị xuất khẩu các mặt hàng điện tử, điện thoại di động vào thịtrường Việt Nam đều tăng mạnh qua các năm do nhu cầu và thị hiếu của ngườitiêu dùng ngày càng cao, buộc Sam sung phải liên tục cho ra đời các mẫu sảnphẩm mới đáp ứng nhu cầu của khách hàng đặc biệt là giới trẻ, đi đầu về côngnghệ trên thị trường

Tuy nhiên do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu cuối năm 2007gây tác động tới sức mua của người tiêu dùng nên chi phí sản xuất và nhập khẩusản phẩm năm 2008 tăng mạnh lên tới 99 tỷ $ làm cho lợi nhuận sau thuế thấp hơn

kỳ vọng của nhà đầu tư

Nhìn chung sang năm 2009, tình hình kinh tế trong nước đã dần ổn định, nhu cầuvề mặt hàng điện tử tăng mạnh làm cho lợi nhuận của Samsung tăng cao, lợinhuận toàn cầu từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong Quý II của tập đoàn

Trang 4

Samsung đạt mức 2.52 nghìn tỉ won, tăng 5% so với cùng kỳ năm ngoái và tăng436% so với Quý I/2009 Lợi nhuận toàn cầu trước thuế đạt 2.86 nghìn tỉ won Lợinhuận ròng của công ty mẹ đạt 2.25 nghìn tỉ won Với sự cố gắng nỗ lực của toànthể cán bộ nhân viên trong công ty, kết quả kinh doanh của tập đoàn Sam sung sẽngày một tăng trưởng khẳng định vai trò đi đầu thị trường về công nghệ và tạodựng thương hiệu hàng đầu trên thế giới.

4 Sự cần thiết phải tham gia vào thị trường quốc tế

Xuất phát từ mục tiêu trở thành tập đoàn đa quốc gia hàng đầu trên thế giới,Samsung không chỉ dừng lại ở thị trường nội địa Hàn Quốc mà còn dự định mởrộng hoạt động kinh doanh, xâm nhập sang các thị trường tiềm năng để tiếp cậnvới những nguồn lực khan hiếm hoặc rẻ hơn so với khi chỉ sử dụng nguồn lựctrong nước Khi đầu tư vào thị trường Việt Nam, một thị trường có nền chính trịổn định, kinh tế đang tăng trưởng, tập đoàn Samsung có thể tận dụng được lợi thếlà một nước có nguồn lao động dồi dào, chi phí thấp, giá nhân công rẻ

Đa dạng hóa danh mục và nước đầu tư bao giờ cũng giúp các công ty giảmthiểu được rủi ro và bất trắc khi chỉ đầu tư vào một nước Vì thế đây cũng là mộttrong những lý do khiến các công ty luôn có mục tiêu mở rộng kinh doanh ra nướcngoài

Mở rộng đầu tư giúp các công ty tránh các rào cản thương mại và tiếp cậnvới những khuyến khích đầu tư từ việc ký kết các hiệp định song phương và đaphương giữa chính phủ các nước Khi Việt Nam ra nhập WTO, Việt Nam cam kếtmở rộng tự do buôn bán, làm bạn với tất cả các nước trong tổ chức Thương mạiThế giới theo quy chế Tối Huệ Quốc, các hàng rào thuế quan, hạn ngạch cũng dầnđược xóa bỏ, tạo mọi điều kiện cho vấn đề giao lưu buôn bán, tăng nguồn thungoại tệ vào trong nước Nhận thấy những lợi thế sẵn có đó, Samsung Electronicscũng tăng cường đầu tư vào Việt Nam và ngày càng khẳng định Việt Nam là điểmđầu tư chiến lược trong tương lai

Một điều cần lưu ý, khi mở rộng các hoạt động ra thế giới cần gắn liền vớichiến lược chung của doanh nghiệp, hỗ trợ cho chiến lược cấp doanh nghiệp, giúpcông ty tạo lập và duy trì lợi thế cạnh tranh của mình Có như vậy, công ty mớiđứng vững được trên thị trường thế giới

PHẦN 2: CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA TẬP ĐOÀN SAMSUNG

TẠI VIỆT NAM

Trang 5

1 Phân tích môi trường kinh doanh bên ngoài tại Việt Nam

1.1.Phân tích môi trường vĩ mô:

* Môi trường kinh tế

 Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Việt Nam là nền kinh tế lớn thứ 60 trong các nền kinh tế thành viên củaQuỹ Tiền tệ Quốc tế xét theo GDP danh nghĩa năm 2008 và đứng thứ 133 xéttheo GDP danh nghĩa/người Trong những năm gần đây, Việt Nam là mộttrong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng GDP nhanh và ổn định nhất trongkhu vực, và luôn được các nhà đầu tư đánh giá là mội điểm đến đầu tư lí tưởng.Trong 4 năm liên tục kể từ 2005 đến 2007 tốc độ tăng trưởng GDP của ViệtNam luôn đạt trên 8%, và năm 2008, tuy có giảm do ảnh hưởng của cuộckhủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhưng tốc độ tăng GDP vẫn được giữ ở mức cao

so với những quốc gia trong khu vực

Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam

(Nguồn: Số liệu của Tổng cục thống kê)

Theo báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội của nước ta, tính chung 6 thángđầu năm 2009, tổng sản phẩm trong nước tăng 3,9% so với 6 tháng đầu năm

Trang 6

2008, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,25%; khu vựccông nghiệp và xây dựng tăng 3,48%; khu vực dịch vụ tăng 5,5%

Mặc dù trong điều kiện cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, mức tăngtrưởng GDP của hầu hết các nước trong khu vực tụt giảm đáng kể, trong quýIV/2008 cũng như quý I/2009; tuy nhiên theo nhận định của các chuyên giakinh tế thuộc Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF, Việt Nam vẫn là một trong những nướccó tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất trong khu vực châu Á

Kinh tế phát triển ổn định tạo cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài nhưSamsung có thể tiếp tục mở rộng hoạt động sản xuất tại Việt Nam

 Chính sách tiền tệ và tỉ giá hối đoái

Có thể thấy, trong những năm gần đây, Việt Nam đang thực hiện chính sáchtiền tệ linh hoạt và hiệu quả, điều này góp phần tạo nên tâm lý an tâm cho cácdoanh nghiệp nước ngoài đang đầu tư tại thị trường Việt Nam

Điển hình như trước bối cảnh phức tạp của kinh tế thế giới và trong nướctrong 6 tháng đầu năm 2008, Chính phủ Việt Nam đã có những phản ứng kịpthời, sử dụng đồng bộ và quyết liệt về điều hành chính sách tiền tệ thắt chặtnhằm kiềm chế lạm phát có hiệu quả và ổn định kinh tế vĩ mô

Ngân hàng Nhà nước đã tăng cường công tác thanh tra, giám sát hoạt độngcủa thị trường ngoại hối và của các tổ chức tín dụng, hạn chế tăng trưởng tíndụng quá nóng có thể gây mất an toàn hệ thống của các tổ chức tín dụng Đếncuối năm 2008, để chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế, chính sách tiền tệ thắtchặt được chuyển dần sang nới lỏng một cách thận trọng.Và gói hỗ trợ lãi suất4% cho các doanh nghiệp được đưa ra hồi đầu năm 2009 được coi là nỗ lựccủa chính phủ nhằm giúp các doanh nghiệp có thể vượt qua tình hình khó khănhiện nay

 Tình hình lạm phát

Tình hình lạm phát cũng là một vấn đề các doanh nghiệp quan tâm khi xemxét tới môi trường kinh tế vĩ mô của một quốc gia Trong 2 năm trở lại đây,lạm phát ở Việt Nam ở mức tương đối cao Nếu như năm 2006, mức lạm phátdừng lại ở con số 7% thì năm 2007 con số này đã là 21.36%, và tiếp tục giữ ởmức 2 con số - 22% năm 2008 Tuy nhiên tình hình sẽ được cải thiện trongnăm 2009 Theo số liệu của Tổng cục thống kê, lạm phát của Việt nam quý

Trang 7

I/2009 đã giảm xuống còn 14.5% và chính phủ sẽ tiếp tục có những biện pháphiệu quả nhằm tích cực đưa mức lạm phát về mức 1 con số vào cuối năm nay.Lạm phát giảm trong năm 2009 làm cho các dự án đầu tư sản xuất của cácdoanh nghiệp khả thi hơn và đem lại mức lợi nhuận cao hơn cho các doanhnghiệp.

* Môi trường chính trị - luật pháp

Trong số 11 nước Đông Nam Á, Việt Nam được coi là nước có môi trườngđầu tư thuận lợi nhất ở khía cạnh ổn định chính trị và xã hội Điều này tạo lợithế trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường ViệtNam.Tuy hệ thống luật pháp của Việt Nam chưa thực sự hoàn thiện, thủ tụchành chính còn rườm rà đã tạo ra những trở ngại nhất định cho các nhà đầu tưnước ngoài song phải khẳng định rằng, trong những năm trở lại đây, chính phủViệt Nam đang nỗ lực nhằm cải thiện môi trường đầu tư Luật Doanh nghiệp,Luật đầu tư lần lượt được sửa đổi bổ sung năm 2005 đã góp phần tạo hành langpháp lý hỗ trợ doanh nghiệp nước ngoài, các thủ tục về cấp giấy phép kinhdoanh, thủ tục quản lý đầu tư cũng như các thủ tục hành chính khác đều đãđược từng bước đơn giản hoá

* Môi trường văn hoá- xã hội

Việt Nam là quốc gia với dân số 85.789.573 người (theo số liệu cuộc tổngđiều tra dân số diễn ra vào ngày 1/4/2009).đứng thứ 3 ở khu vực Đông Nam Ácho thấy nguồn lao động dồi dào Trình độ văn hoá của người dân Việt Namđang ngày càng được nâng cao Theo báo cáo về tình hình phát triển con ngườiHDI năm 2007-2008 do LHQ công bố ngày hôm nay, 27/11, Việt Nam đã tăng

4 bậc so với năm trước, từ vị trí 109 lên vị trí 105 trong tổng số 177 nước đượcxếp hạng Và những thế hệ người Việt trẻ có tri thức luôn là những khách hàngchuộng công nghệ mới Do đó, thị trường Viêt Nam luôn là một thị trường tiêuthụ hàng điện tử, hàng công nghệ cao hấp dẫn với các nhà sản xuất nhưSamsung

* Môi trường công nghệ

So với các quốc gia trong khu vực, Việt Nam không được đánh giá cao vềmôi trường công nghệ Chúng ta bị đánh giá là tụt hậu nhiều năm so với cácquốc gia châu Á Tuy nhiên trong những năm trở lại đây tình hình cũng đã đượccải thiện phần nào

Trang 8

Theo bảng chỉ số cạnh tranh về công nghệ năm 2007 và 2008 được BSA(Liên minh phần mềm công nghệ) công bố, Việt Nam xếp thứ 61 trong số 66quốc gia được nghiên cứu Về hoạt động R&D, xét về mức độ chi tiêu củadoanh nghiệp tư nhân cho nghiên cứu và phát triển , năm 2007 chỉ số này là 1,7USD/100 dân, năm 2008 tụt xuống 0 USD/100 dân Xét về tiêu chí các bằngsáng chế, năm 2007 Viêt Nam có tỷ lệ 0,1 /100; năm 2008 là 0 USD/100 dân Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng công nghệ của Việt Nam trong năm 2008 đã cónhững cải thiện đáng kể Ví dụ, tỷ lệ số lượng máy tính/100 người dân (baogồm cả máy để bàn và máy xách tay) của Việt Nam trong năm 2007 chỉ là 0,6nhưng sang năm 2008 là 1,4

Về nguồn nhân lực và tri thức, Nguồn nhân lực công nghệ thông tin là yếutố duy nhất Việt Nam có sự gia tăng về thứ bậc trong năm 2008 (từ 61 lên 58).Việt Nam được xếp thứ 6 trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương về sốlượng sinh viên đang theo học các ngành kỹ thuật và công nghệ, đứng thứ 5trong khu vực về số lượng người làm việc trong lĩnh vực IT

2.2 Phân tích môi trường ngành

* Chu kỳ phát triển của ngành điện tử thế giới

- Thời kỳ thâm nhập: Nổi lên bằng những phát minh và sáng chế vĩ đại

trong ngàng điện tử như: máy tính cá nhân, ô tô, các con chíp vi xử lý, điệnthoại… các công ty của Mỹ Microsoft, IBM, General Mertor đã nhanh chóng

“khai phá” và chiếm lĩnh toàn bộ thị trường điện tử mới mẻ trên thế giới Thịtrường lúc này còn khá nguyên sơ nên nhu cầu tiêu dùng hàng hóa điện tử cònkhiêm tốn một phần vì nó quá mới mẻ, phần còn lai là do giá cả quá đắt

- Thời kỳ tăng trưởng: Để kích cầu, các công ty này đã thưc hiện những

chiến dịch quảng bá rầm rộ và ngày càng phát minh ra nhiều sản phẩm điện tử tiệndụng Do đó nhu cầu trong ngành điện tử bắt đầu tăng lên Nắm bắt được xu thếđó, các công ty của Nhật bắt đầu vào cuộc.Chiến lược sản xuất và kinh doanh theokiểu “siêu thị”, trong đó một công ty tham gia vào hoạt động trong mọi lĩnh vực đãtừng mang lại nhiều hiệu quả trong thời kỳ bùng nổ kinh tế từ năm 1960 đến năm

1990 Hàng điện tử Nhật nhanh chóng đứng đầu thế giới về chất lượng, ngành điệntử của Mỹ vì thế như “kẻ bại trận” Người tiêu dùng Nhật và nhiều nơi trên thếgiới đổ xô mua hàng Nhật, thăng dư thương mại Nhật tăng cao, căng thẳng thươngmại tăng lên Tokyo trở thành kinh đô ngành điện tử tiêu dùng thế giới

Trang 9

- Thời kỳ bão hòa: Công ty điện tử Nhật phát triển ngày một lớn mạnh, họ

tự hào vì tầm cỡ và tiếng tăm của họ nhiều hơn lợi nhuận Nhiều công ty có tới

500 chi nhánh hoạt động trong mọi lĩnh vực, từ du lịch cho đến nhà hàng kháchsạn, công ty nội địa bán điện thoại di động Sau đó, khi sang đến khu vực thiết bị,cũng chính 5/9 công ty trên bán mọi thứ, từ máy hút bụi cho đến nồi cơm điện 3trong số 5 công ty đó là nhà cung cấp thang máy trong suốt cửa hàng Và các thịtrường điện tử bắt đầu trở nên bão hòa

- Thời kỳ suy thoái: Tất cả những điều này sẽ tiếp tục nếu các công ty

chấp nhận mức lợi nhuận không mấy ấn tượng Suy thoái kinh tế toàn cầu đang đểlộ ra những vấn đề nội tại của ngành Nhu cầu hàng điện tử giảm sút Đồng yênmạnh khiến xuất khẩu giảm, đồng yên tăng giá 67% so với đồng bảng trong nămqua và tăng 75% so với đồng won Hàn Quốc Hàng xuất khẩu Nhật vì thế trở nênđắt đỏ hơn, lợi nhuận thu về giảm Samsung và LG của Hàn Quốc đang khẳngđịnh vị thế trong việc cung cấp tivi và Haier của Trung Quốc tiến hành mọi biệnpháp tăng thị phần cung cấp thiết bị nhà ở, họ cố gắng thao túng thị trường Nhậtcũng giống như Nhật chiếm lĩnh thị trường Mỹ trước đây bằng việc sản xuất hàngchất lượng với giá rẻ Và hiện tại Samsung của Hàn Quốc đang sánh vai cùng cáctập đoàn điện tử hùng mạnh nhất thế giới như: Sony, Motorola, Microsoft

* 5 áp lực cạnh tranh của M.Porter

Hiểu được tầm quan trọng của môi trường ngành tác động vào quá trìnhthâm nhập thị trường mới, khi mở rộng hoạt động kinh doanh sang thị trường ViêtNam, Samsung đã đầu tư một nguồn vốn lớn cho quá trình nghiên cứu các yếu tốcủa môi trường ngành trong lĩnh vực điện tử tại Việt Nam Theo mô hình 5 áp lựccạnh tranh của M.Porter, khi xâm nhập vào thị trường Việt Nam, công ty Samsungphải đối mặt với một số áp lực cạnh tranh sau:

Đối thủ cạnh tranh hiện tại:

Theo 2 tạp chí Interbrand và BusinessWeek, tổng giá trị của nhãn hiệu

Samsung đứng thứ 43 trong số các tập đoàn toàn cầu năm 2005 Hiện tại, Samsungcó 16 sản phẩm nổi bật trên thị trường thế giới trong đó có: DRAM, TV màu sửdụng ống catốt (CPT, CDT), SRAM, STN-LCD, tuner, thiết bị cầm tay sử dụngCDMA…Tuy nhiên về mặt TV CRT và LCD samsung vẫn còn thua xa các đối thủ

Trang 10

khác của Nhật đặc biệt là SONY Lĩnh vưc sản xuất điện thoại thì Samsung chỉđứng sau Nokia- Phần Lan trên toàn thế giới.

Hàng Samsung giờ đây đã có mặt khắp nơi và Samsung là thương hiệu đứnghàng 21 thế giới theo đánh giá của hãng tư vấn Interbrand Xét về doanh số hàngđiện tử gia dụng, Samsung hiện đứng thứ ba sau Matsushita và Sony và đanggiành vị trí thứ hai về điện thoại di động với Motorola (sau Nokia)

Ở một số sản phẩm nhất định, chẳng hạn bộ nhớ và màn hình phẳng (hai kỹthuật quan trọng cốt lõi của công nghệ kỹ thuật số), Samsung đang ở vị trí đầu.Hiện thời, Samsung là công ty kỹ thuật đạt lợi nhuận cao nhất thế giới với 10 tỷUSD vào năm 2004, tỉ lệ cao hơn cả Microsoft

Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn

Khi thị trường điện tử đã có quá nhiều công ty sản xuất và buôn bán các sảnphẩm điện tử thì ngoài việc chiến thắng các đối thủ cạnh tranh hiện tại Samsungcũng luôn phải phòng ngự trước các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn Các đối thủ nàybao gồm những công ty nhỏ đang lấn sang phần điện tử, hay chính những công tychỉ sản xuất hoặc buôn bán môt số sản phẩm nhất định…

Áp lực từ phía nhà cung cấp

Đối với lĩnh vực sản xuất điện tử, thị trường Việt Nam có số lượng các nhàcung cấp thiết bị, phụ tùng, vật liệu tương đối rộng lớn, bản thân Samsung cũng làmột trong các nhà cung cấp cho các tập đoàn, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnhvực công nghệ Do đó Samsung không gặp nhiều khó khăn trong việc tìm nhàcung cấp cho mình và bên cạnh đó đã tiến hành hợp tác với các liên minh chiến

lược – đối tác tin cậy để có thể có một chuỗi cung ứng được quản lí tốt như

T3/2006, hợp tác phát triển và tiếp thị công nghệ cho các giải pháp máy in côngnghiệp; T1/2005, hợp tác với KDDI cung cấp thiết bị mạng CD MA2000…

Từ khâu cung ứng nguyên vật liệu đầu vào tới quá trình sản xuất sản phẩmnếu được giảm tải cũng giúp công ty tiết kiệm được chi phí Samsung Vina đãthực hiện để cải thiện chuỗi cung ứng:

Trang 11

Sử dụng những đối tác chiến lược: Samsung hoàn toàn tin cậy vào những

nhà tư vấn và nhà cung cấp bên ngoài như SAP và i2 để sửa đổi toàn bộ hệthống IT không phù hợp

Chia sẻ dữ liệu: Công ty đã triển khai nhiều hệ thống và phần mềm như hoạch

định chuỗi cung ứng, phần mềm quản trị quan hệ nhà cung cấp, hoạch địnhhợp tác, cổng thông tin, trung tâm điều hành toàn cầu để chia sẻ thông tin rộngkhắp và nhanh chóng trong toàn tập đoàn và cho những khách hàng quan trọng

Ưu tiên đối tượng khách hàng: Samsung sẽ xếp hạng về mức độ quan trọng

của từng khách hàng và sẽ có những qui chế đặc biệt dành cho những kháchhàng quan trọng nhất

Thuê ngoài khi cần thiết Sản xuất và thiết kế sẽ do chính Samsung thực hiện

nhưng cũng đã dần thực hiện thuê ngoài một số chức năng chủ yếu như vậnchuyển và logistics

Giờ đây, vấn đề tồn kho của Samsung đã được giải quyết nhờ nhiều năm nỗlực điều chỉnh hoạt động chuỗi cung ứng

Áp lực từ phía khách hàng :

Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộhoạt động sản xuất kinh doanh của ngành Khách hàng được phân làm 2 nhóm:Khách hàng lẻ và nhà phân phối Cả hai nhóm đều gây áp lực với doanh nghiệp vềgiá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ đi kèm và chính họ là người điểu khiển cạnhtranh trong ngành thông qua quyết định mua hàng Khi nghiên cứu về áp lực từphía khách hàng ta nghiên cứu các khía cạnh: quy mô khách hàng, tầm quan trọng,chi phí chuyển đổi và thông tin khách hàng

Năm 2005, Samsung đã chuyển sang phục vụ đối tượng khách hàng cao cấp, đó là do khoa học công nghệ ngày một tiến bộ vượt bậc dẫn đến ngành càng cónhiều nhà cung cấp nhảy vào ngành công nghiệp điện tử, làm cho sản phẩm trởnên thông thường và ít sự khác biệt Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật– khách hàng đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm bên cạnh đó là lạm phát vàcuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 khiến cho nhu cầu tiêu dùng hàng điện tử củakhách hàng ngày một giảm đi khiến cho cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngàymột khốc liệt Do đó thông qua chiến dịch thương hiệu toàn cầu “Imagine”,Samsung đặt mục tiêu trở thành thương hiệu tiêu biểu cho cuộc cách mạng về kiểu

Trang 12

dáng và công nghệ trong “Kỷ nguyên kỹ thuật số” Đây thực sự là một sự chuyểnhướng của Samsung nhằm tạo dựng một hình ảnh thương hiệu cao cấp

* Áp lực từ sản phẩm thay thế

Hiện nay trong lĩnh vực điện tử đang diễn ra xu hướng ứng dụng công nghệchủ đạo cho nhiều dòng sản phẩm do Samsung Electronics mở đường Samsung làtên tuổi trụ cột trên thị trường truyền thông, điện gia dụng và hệ thống thông tin

Với các sản phẩm từ tivi, viễn thông, đến máy vi tính và công nghệ truyềnthông đa phương tiện, khách hàng của Samsung được cung cấp hàng loạt nhữngdịch vụ như mua sắm tại nhà (home shopping), sử dụng dịch vụ ngân hàng tại nhà(home banking) và dần dần còn có thêm cả ngôi nhà thông minh (homeautomation)

Nghiên cứu và cải tiến sản phẩm là khâu quan trọng dẫn đến thành côngngày nay của Samsung Electronics Đội ngũ R&D (nghiên cứu và phát triển) hùnghậu của Samsung bao gồm 13,000 khoa học gia và kỹ sư trên 63 quốc gia, đã tạonên những bước đột phá tầm cỡ như tạo ra bộ vi xử lý có tốc độ nhanh nhất vàđiện thoại di động CDMA siêu nhỏ

Tuy nhiên sản phẩm của Samsung thật sự gặp rất nhiều khó khăn khi hầunhư tất cả các doanh nghiệp trong ngành hàng điện tử tiêu dùng đều có sản phẩmdịch vụ có khả năng thay thế sản phẩm của Samsung như là Sony, LG, Canon,Panasonic

2.Phân tích các vấn đề mang tính chiến lược của Samsung Vina tại Việt Nam 2.1.Chiến lược phát triển quốc tế của Samsung Vina tại Việt Nam

Mỗi khu vực, mỗi quốc gia đều có bản sắc văn hóa, phong cách sống đặctrưng Để thâm nhập và phát triển vào bất kỳ thị trường nào, các doanh nghiệpcũng phải đi sâu phân tích kỹ môi trường vĩ mô và môi trường ngành để có nhữngchiến lược phát triển phù hợp Tập đoàn Samsung vào Việt Nam từ năm 1996 khihàng điện tử Nhật Bản đang tràn ngập thị trường Người tiêu dùng Việt Nam cũngdường như tuyệt đối tin tưởng ở các sản phẩm điện tử mang nhãn hiệu Nhật Bản.Thay đổi sự lựa chọn cũng như tâm lý, thị hiếu đã ăn sâu trong tiềm thức ngườitiêu dùng không phải là điều đơn giản, Samsung Vina đã phải đối mặt với các áplực về tính thích nghi với địa phương

Trang 13

Hoạt động trong lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật số đi đầu về sự đổi mới, đểhấp dẫn thị hiếu và sở thích của người tiêu dùng Việt Nam, Samsung Vina đã cho

ra đời các mẫu thiết kế mới với khẩu hiệu “Cân bằng lý trí và tình cảm” để bày tỏtriết lý thiết kế của Samsung luôn đáp ứng nhu cầu cảm xúc của khách hàng vớigiải pháp kỹ thuật hiện có ở công ty Các nhân viên thiết kế của Samsung Vinakhông chỉ ngồi trong phòng lab vẽ kiểu hợp thời trang mà phải đi ra ngoài nghiêncứu, quan sát thị hiếu người tiêu dùng về kiểu dáng, màu sắc, thẩm mỹ của giới trẻViệt Nam Cuối năm 1998, Samsung Vina đầu từ thêm vốn vào công nghệ kỹthuật cao, tập trung mạnh hơn vào tiếp thị và nghiên cứu tâm lý thị trường (tung racác nhóm nhỏ, cải trang và trà trộn vào xã hội để ghi nhận ý kiến người tiêu dùng)

Sự khác biệt về cơ sở hạ tầng và thông lệ truyền thống buộc công ty phảithay đổi cơ sở sản xuất đề phù hợp với nhu cầu riêng biệt của từng thị trường địaphương Chính vì thế, công ty điện tử Samsung đã quyết định đầu tư 670 triệuUSD để xây dựng một nhà máy sản xuất điện thoại di động ở Bắc Ninh - nhà máycó công nghệ hiện đại, chuyên sản xuất điện thoại di động thế hệ mới 3G, 4G,thậm chí cả 5G - là một sự đầu tư chiến lược nhằm giảm các chi phí sản xuất, tăngsức cạnh tranh về giá cả và chất lượng sản phẩm trên thị trường

Những khác biệt về kênh phân phối cũng đòi hỏi công ty phải có nhữngchiến lược marketing phù hợp, chuyên biệt đối với thị trường Việt Nam

Cuối cùng là những yêu cầu của chính phủ Việt Nam cũng đòi hỏi công typhải nâng cao thích nghi với tình hình thực tế và môi trường hiện nay Samsung làmột trong số ít các công ty có trách nhiệm xã hội, cộng đồng và môi trường rấtcao Công ty đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất hiện đại cho các nhà máy, cáchệ thống xử lý chất thải…là một cam kết của Samsung nhằm đảm bảo môi trườngxanh và sạch Công ty đã được cơ quan chức năng TP Hồ Chí Minh tặng Bằngkhen “công ty có môi trường xanh và sạch nhất”

Với áp lực giảm chi phí thấp, áp lực về tính thích nghi với địa phương cao,Samsung đã theo đuổi chiến lược đa quốc gia, hoạt động trên quy mô toàn cầu.Từng sản phẩm được thiết kế đều phù hợp với từng quốc gia dựa trên sự cái biến

để thích nghi với địa phương Samsung đã tập trung cạnh tranh trên từng khu vựcthị trường quốc gia bằng các chiến lược thông minh và phù hợp của mình, nhanhchóng vượt qua được những thách thức để tồn tại và phát triển mạnh như ngàynay

Trang 14

2.2 Chiến lược kinh doanh của tập đoàn Samsung tại Việt Nam

Được coi là thị trường chiến lược đầy tiềm năng ở khu vực Đông Nam Á,Việt Nam ngày càng thu hút các tập đoàn đa quốc gia trên thế giới mở rộng đầu tưvà phát triển Tập đoàn điện tử Samsung của Hàn Quốc vào thị trường Việt Namkhi miếng bánh thị phần đã được chia cho các đại gia định vị được thương hiệucủa mình trên thị trường như Sony, Motorola, LG…Để có thể cạnh tranh được vớicác tập đoàn lớn trong cùng ngành, ban lãnh đạo của tập đoàn đã lựa chọn chiếnlược khác biệt hóa dựa trên những lợi thế của doanh nghiệp mình

Định vị thương hiệu của Samsung bằng yếu tố “chất lượng là hàng đầu”

Trước khi thâm nhập vào thị trường Việt Nam, Samsung từng là một nhàsản xuất biết đến với chất lượng thấp và rẻ tiền giành cho đối tượng trung lưu Saunhiều thập kỷ theo đuổi chiến lược chi phí thấp, Samsung đã định vị lại thươnghiệu của mình như một nhãn hiệu chất lượng cao Ngày nay, người tiêu dùng đãthực sự xem Samsung là một nhãn hiệu TV và đầu Video cao cấp và trong cả lĩnhvực điện thoại di động ngay cả khi cạnh tranh với Nokia, Motorola và Sony-Erricson Để chuyển sang chiến lược phát triển sản phẩm chất lượng cao, Samsungđã đầu tư thêm vốn từ một dây chuyền sản xuất TV màu năm 1996, đến nay nhàmáy của Samsung Vina đã phát triển lên 5 dây chuyền với sản lượng hàng năm là1.5 triệu sản phẩm bao gồm nhiều dòng sản phẩm khác nhau như tivi, điện giadụng và màn hình máy tính… Trung bình mỗi năm, Samsung Vina xuất khẩu700.000 tivi các loại sang thị trường nước ngoài Bên cạnh đó, Samsung đã kếthợp chặt chẽ với các hoạt động marketing và PR hiệu quả cao trên nhiều kênhtruyền thông để định vị lại nhãn hiệu trong tâm trí người tiêu dùng

Với Samsung, bên cạnh chiến lược "cạnh tranh chính mình", Samsung tiếptục đẩy mạnh dịch vụ bảo hành để phục vụ nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng.Dịch vụ chăm sóc khách hàng luôn được chú trọng với khoảng 50 trạm bảo hànhtrên toàn quốc Với 60 đại lý cấp 1 và hàng trăm đại lý cấp 2, 3 chuyên biệt cùngvới các trung tâm bảo hành siêu tốc vấn đề được Samsung chú trọng là bằngnhững cải tiến của mình về các chính sách bảo hành cộng với hệ thống trung tâmbảo hành rộng khắp toàn quốc, Samsung sẽ nhận được sự ủng hộ của người tiêudùng để trở thành thương hiệu cung ứng các sản phẩm CNTT số 1 hiện nay tại

Trang 15

VN Năm 2006, Samsung nhận giải thưởng : “Doanh nghiệp – sản phẩm – dịch vụCNTT và viễn thông được ưa thích nhất năm 2006” do tạp chí eChip bình chọn,với giải thưởng dành cho màn hình LCD, CRT, ô đĩa cứng HDD Tạp chí PCWorld cũng trao tặng Samsung Vina: “giải thưởng màn hình LCD và CRT được

ưa chuộng nhất năm 2006”

Chiến lược “hớt phần ngọn”

“Nếu không đi trước thị phải đi nhanh hơn đối thủ” đó chính là triết lý kinhdoanh mà Yun Jong-Yong rất tâm đắc trong sự nghiệp của mình Trước sự cạnhtranh rất khốc liệt trên thị trường, Yun Jong-Yong quyết tâm đề ra mục tiêu hễ trênthị trường có sản phảm mới nào thì Samsung cũng phải sản xuất ra được thứ đó vàđồng thời phải sản xuất thật nhanh, thật nhiều như có thể Theo đó, khi là mộttrong những nhà sản xuất đầu tiên thì Samsung sẽ hớt hết những khách hàng lắmtiền, chịu chơi, sẵn sàng mua ngay một sản phẩm mới hay một mẫu mã mới Giaiđoạn “hớt phần ngọn” này có thời gian “sống” rất ngắn nhưng tỉ suất lợi nhuậnthương mai lại vô cùng cao Có thể gấp 2, gấp 3 hay hơn thế cho giai đoạn sau khiphải cạnh tranh với nhiều đối thủ hơn, đồng thời đối tượng khách hàng cũngkhông phải là khách sộp như trước Có thể Samsung không phải là người nghĩ rasản phẩm trước tiên nhưng tập đoàn của ông phải là người nhanh chân tung ra thịtrường sản phẩm đó với số lượng lớn Việc đầu tư, cả về con người và phươngtiện, cho nghiên cứu phát triển sản phẩm rất được chú trọng Yun Jong-Yong cònchủ động xây dựng mạng lưới nhân viên chuyên khai thác thông tin về sản phẩmcủa đối thủ Khi đã bắt chước hay hoàn thiện xong một sản phẩm mới, Yun Jong-Yong cho sản xuất đại trà ngay lập tức với số lượng lớn và trong thời gian thậtnhanh Có thể nói đây là một sự táo bạo đến liều lĩnh của Yun Jong-Yong nhưngđồng thời cũng chính là bí quyết thành công quan trọng nhất của Samsung Cácnhà sản xuất khác thường chỉ sản xuất thử để thăm dò thị trường trước khi sản xuấtđại trà nhưng Samsung thì không vậy Ông Tổng giám đốc Yun Jong-Yong đã hạlệnh tất cả các xưởng sản xuất của Samsung hoạt động hết tốc lực ngày đêm cả 7ngày của tuần để hớt hết các khách “sộp” chịu chơi trên thị trường

Khác biệt hóa bằng chiến lược tiếp thị toàn cầu

Trang 16

Samsung Vina đã đầu tư một khoản tiền khổng lồ cho hoạt động tiếp thị,điều này đã gia tăng sức ép buộc phải thu lợi nhuận cao nhất cho mỗi đồng đô-labỏ ra Do Samsung đa dạng quá nhiều mặt hàng và sản phẩm, nên thực hiện chiếnlược tiếp thị sao cho có hiệu quả là một vấn đề không dễ dàng Bộ phận nghiêncứu và phát triển của Samsung Vina đã lên kế hoạch tiếp thị hoàn toàn mới dựatrên việc xác định lại thị trường và các sản phẩm mục tiêu Đầu tiên phải phân tíchcác dữ liệu thống kê về quy mô dân số, tổng sản lượng nội địa tính trên đầu người.Sau đó, dự đoán chính xác tốc độ tăng trưởng và thông tin đầy đủ về sản phẩm nhưtốc độ thâm nhập thị trường, thị phần, chi phí truyền thông, lợi nhuận và ưu thếcạnh tranh Dựa trên những phân tích, đánh giá đó, công ty sẽ tính toán chính xácvà dự đoán thành công những thị trường và mặt hàng tiềm năng để ưu tiên đầu tưphát triển Từ việc phân chia lại nguồn ngân sách tiếp thị cũng như các kế hoạchgiới thiệu sản phẩm mới một cách rầm rộ và rộng rãi từ năm 2005, Samsung đãthu được những kết quả khả quan Tại thị trường Việt Nam, Samsung đứng thứ 1doanh thu về TV màn hình phẳng, thứ 2 về lĩnh vực điện thoại di động sau Nokia,đồng thời tạo bước đột phá trong nhóm các dòng sản phẩm vẫn là thế mạnh củaSony như máy quay phim, màn hình vi tính phẳng, đầu đĩa DVD và TV kỹ thuậtsố Samsung được xem là thương hiệu phát triển nhanh nhất thế giới vào nhữngnăm 2004 - 2005 Giá trị thương hiệu của Samsung đạt mức 8,3 tỉ USD

Chiến lược phát triển nhân lực

Ban lãnh đạo của Samsung Vina nhận thức rất rõ tầm quan trọng của nguồnlực con người đối với sự phát triển bền vững của tập đoàn Vì thế công ty luôncam kết xây dựng Samsung Vina thành một công ty hàng đầu được yêu thích, ở đónhân viên luôn hài lòng với môi trường làm việc, chính sách phúc lợi và cơ hộithăng tiến Đội ngũ cộng sự của Samsung Vina đều là những nhân viên trẻ, cónăng lực, kiến thức và tinh thần cầu tiến cao, luôn đoàn kết để hoàn thành mục tiêuchung của công ty, xây dựng Samsung Vina trở thành thương hiệu cao cấp đối vớingười tiêu dùng Hiện nay, Samsung Vina có 800 nhân viên trên toàn quốc, làmviệc trong môi trường thân thiện và nhiều điều kiện tốt để phát triển Điểm nổi bậtnhất khi làm việc tại Samsung Vina, đó là nhân viên luôn được trang bị cácphương tiện làm việc hiện đại nhất, được tham gia vào các khóa học đào tạo tiên

Trang 17

tiến nhất ở cả trong và ngoài nước Kể từ năm 2001, Samsung đã áp dụng chínhsách đào tạo nhân tài cho công ty bằng việc sử dụng công cụ OTVR (Organizationtalent vitality review) Với công cụ này, những nhân viên nòng cốt luôn có cơ hộirộng mở cho việc đào tạo để nắm giữ các vị trí lãnh đạo cao cấp trong công ty Ngoài ra, Samsung Vina còn có các chương trình trao đổi kỹ sư và kỹ thuật viên ranước ngoài nhằm nâng cao tay nghề và trau dồi kiến thức trong khu vực Chính vìnhững chính sách lấy con người là trung tâm của sự phát triển, đội ngũ nhân viêncủa Samsung Vina đã rất gắn bó với công ty, rất nhiều người trong số họ đã gắn bóvới Samsung Vina kể từ những ngày đầu tiên thành lập.

Với triết lý con người là trung tâm của sự phát triển, hiện nay, Samsung Vina đangtriển khai chương trình ”Nơi làm việc tuyệt vời” (great working place) với một lộtrình liên tục cải thiện môi trường làm việc, chính sách phúc lợi, đào tạo, lươngcũng như những thay đổi tích cực về văn hóa công ty để biến công ty thành mộtnơi làm việc lý tưởng nhất ở Việt Nam Mục tiêu của công ty là tạo lập một môitrường làm việc chuyên nghiệp và nhân văn ở đó tất cả mọi nhân viên luôn vui vẻ,say mê làm việc, không ngừng sáng tạo, luôn yêu thương lẫn nhau và sống cótrách nhiệm với bản thân, gia đình, công ty và xã hội

Với mục tiêu chiến lược xây dựng Samsung Vina thành một thương hiệucao cấp có vai trò dẫn đầu trong cuộc cách mạng hội tụ kỹ thuật số, công tySamsung Vina đã thực hiện chiến lược đa dạng hóa sản phẩm luôn mang đến chongười tiêu dùng các sản phẩm đột phá, có phong cách, các chiến lược tiếp thị sángtạo và dịch vụ khách hàng hoàn hảo, đón đầu trước các đối thủ cạnh tranh trên thịtrường Mục tiêu của Samsung Vina là mỗi khách hàng yêu thích thương hiệuSamsung và tự hào khi được sở hữu các sản phẩm của Samsung như một phầnkhông thể thiếu trong nghệ thuật sống của họ

2.3.Cơ cấu tổ chức của Samsung Vina

Để đạt được mục tiêu chiến lược xây dựng Samsung Vina trở thành thươnghiệu cao cấp được yêu thích nhất tại thị trường Việt Nam, công ty cần xây dựngđược một cơ cấu tổ chức hiệu quả nhằm phối hợp hoạt động nhiều chức năngtrong toàn doanh nghiệp để đạt được mục tiêu chung Với việc theo đuổi chiến

Trang 18

lược đa dạng hóa trong dài hạn, công ty Samsung Vina đã thiết kế theo mô hình cơ

cấu tổ chức hỗn hợp cho phép chuyên môn hóa các ngành nghề, phân bổ doanh

thu lợi nhuận cho từng bộ phận trong từng lĩnh vực kinh doanh trong đó từng giám

đốc sẽ chịu trách nhiệm loại hình sản phẩm của mình Mô hình cơ cấu tổ chức sản

phẩm (xem hình 2)

Hình 2: Cơ cấu tổ chức của Samsung tại Việt Nam

(Nguồn: website:samsung.com.vn)

Ban lãnh đạo chủ chốt của công ty Samsung Vina gồm có:

 Ông Je Hyoung Park: Tổng Giám đốc công ty Điện tử Samsung

Vina, chính thức nhận chức Tổng Giám đốc Samsung Vina từ tháng 2 năm 2007

Ông là một trong những người đầu tiên của tập đoàn Samsung tham gia đàm

phán và ký kết hợp đồng liên doanh đưa đến sự ra đời của Samsung Vina tại Việt

Nam

 Ông Nguyễn Văn Đạo: Phó Tổng giám đốc công ty Điện tử

Samsung Vina, một trong những người đặt nền móng đầu tiên cho Samsung tại

Việt Nam Ông Đạo là chuyên viên trong lĩnh vực kinh doanh và tiếp thị tại thị

Tổng giám đốc

Giám đốc chi nhánh miền Bắc nhánh miền TrungGiám đốc chi nhánh miền NamGiám đốc chi

Quản trị hệ thống

Máy ảnh Thiết bị gia dụng

Quản trị bộ phận sản xuất Quản trị bộ phận

R$D

Quản lý sản phẩm tiêu dùng Viễn thông

Hộp giải mã Máy nén

Quản lý sản phẩm hỗ trợ

Ngày đăng: 20/01/2014, 01:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w