1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ bộ môn những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế

107 411 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 611,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ khái niệm đại diện, khoản 1 Điều 139 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Đại diện là việc một người sau đây gọi là người đại diện nhân danh và vì lợi ích của người khác sau đây gọi là

Trang 1

BÀI TẬP LỚN

HỌC KỲ

Lớp: CLC45C

Giảng viên: Th.S Nguyễn Tấn Hoàng Hải

Bộ môn: Những quy định chung về Luật Dân sự, Tài sản và Thừa kế

Trang 2

- BLDS: Bộ luật dân sự

- UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 3

Nhóm 4:

MỤC LỤC Phần I 1

1 Trường hợp đại diện hợp lệ 1

Câu 1.1: Điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 (So với Bộ luật Dân sự năm 2005)

về người đại diện 1 Câu 1.2 Trong Quyết định số 08, đoạn nào cho thấy ông Mạnh đại diện cho Hưng Yên xác lập hợp đồng với Vinausteel? 3 Câu 1.3 Theo Hội đồng thẩm phán, ông Mạnh có trách nhiệm gì với Vinausteel không? 4

Trang 4

Câu 1.5 Theo Hội đồng thẩm phán, Hưng Yên có trách nhiệm gì với Vinausteel không? 6 Câu 1.6 Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến Hưng Yên nêu trên? 7 Câu 1.7 Nếu ông Mạnh là đại diện theo pháp luật của của Hưng yên và trong hợp đồng có thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận trọng tài này có ràng buộc Hưng Yên không? Biết rằng điều lệ của Hưng Yên quy định mọi tranh chấp liên quan đến Hưng Yên (như tranh chấp phát sinh từ hợp đồng do đại diện theo pháp luật xác lập) phải được giải quyết tại Tòa án 8

2 Trường hợp đại diện không hợp lệ 9

Câu 2.1 Trong Quyết định số 10, đoạn nào cho thấy người xác lập hợp đồng với Ngân hàng không được Vinaconex ủy quyền (không có thẩm quyền đại diện để xác lập)? 9

Câu 2.2 Trong vụ việc trên, theo Tòa giám đốc thẩm, Vinaconex có chịu trách nhiệm với Ngân hàng về hợp đồng trên không? 10 Câu 2.3 Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm 11 Câu 2.4 Nếu hoàn cảnh tượng tự như trong Quyết định số 10 nhưng chỉ phía Ngân hàng phản đối hợp đồng (yêu cầu hủy bỏ hợp đồng do người đại diện Vinaconex không có quyền đại diện) thì phải xử lý như thế nào trên cơ sở BLDS 2015? Vì sao?

Trang 5

Câu 1.5 Anh/chị có suy nghĩ gì về giải pháp trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao? 23 Câu 1.6 Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu có thể

di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà này không? Nêu căn cứ pháp lý khi trả lời 25

2 Diện thừa kế 26

Câu 2.1 Bà Thẩm, chị Hương và bà Xê có thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu hay không? Vì sao? 26 Câu 2.2 Nếu ông Lưu kết hôn với bà Xê vào cuối năm 1976 thì câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không? Vì sao? 29 Câu 2.3 Trong vụ việc này, chị Hương có được chia di sản của ông Lưu không? Vì sao? 30 Câu 2.4 Theo pháp luật hiện hành, ở thời điểm nào người thừa kế có quyền sở hữu đối với tài sản là di sản do người quá cố để lại? Nêu cơ sở khi trả lời? 30 Câu 2.5 Trong Quyết định số 08, theo nội dung của bản án, ở thời điểm nào người thừa kế của ông Hà có quyền sở hữu nhà ở và đất có tranh chấp? Vì sao? 31

3 Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc 32

Câu 3.1 Đoạn nào của Quyết định cho thấy ông Lưu đã định đoạt bằng di chúc toàn

bộ tài sản của ông Lưu cho bà Xê? 32 Câu 3.2 Bà Xê, bà Thẩm, chị Hương có thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc và nội dung di chúc đối với di sản của ông Lưu không? Vì sao? 33 Câu 3.3 Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, vì sao bà Thẩm được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? 34 Câu 3.4 Nếu bà Thẩm khoẻ mạnh, có khả năng lao động thì có được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc đối với di sản của ông Lưu? Vì sao? 35 Câu 3.5 Nếu di sản ông Lưu có giá trị 600 triệu đồng thì bà Thẩm sẽ được hưởng khoản tiền là bao nhiêu? Vì sao? 36 Câu 3.6 Nếu bà Thẩm yêu cầu được chia di sản bằng hiện vật thì yêu cầu của bà Thẩm có được chấp nhận không? Vì sao? 37

Trang 6

Câu 3.9 Tại thời điểm cụ Khánh chết, bà Khót và ông Tâm có là con đã thành niên của cụ Khánh không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời 40 Câu 3.10 Bà Khót và ông Tâm có được Tòa án chấp nhận cho hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời? 40 Câu 3.11 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án? 42 Câu 3.12 Hướng giải quyết có khác không khi ông Tâm bị tai nạn mất 85% sức lao động? Vì sao? 43 Câu 3.13 Nêu những điểm giống và khác nhau giữa di chúc và tặng cho tài sản 45 Câu 3.14 Nếu ông Lưu không định đoạt tài sản của ông cho bà Xê bằng di chúc mà, trước khi chết, ông Lưu làm hợp đồng tặng cho bà Xê toàn bộ tài sản của ông Lưu thì bà Thẩm có được hưởng một phần di sản của ông Lưu như trên không? 47

4 Nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản 48

Câu 4.1 Theo BLDS, những nghĩa vụ nào của người để lại di sản được ưu tiên thanh toán? 48 Câu 4.2 Ông Lưu có nghĩa vụ nuôi dưỡng chị Hương từ khi còn nhỏ đến khi trưởng thành không? 49 Câu 4.3 Đoạn nào của Quyết định cho thấy bà Thẩm tự nuôi dưỡng chị Hương từ khi còn nhỏ đến khi trưởng thành? 50 Câu 4.4 Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, nếu bà Thẩm yêu cầu thì có phải trích cho bà Thẩm từ di sản của ông Lưu một khoản tiền để bù đắp công sức nuôi dưỡng con chung không? 50 Câu 4.5 Trên cơ sở các quy định về nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản, anh/chị hãy giải thích giải pháp trên của Tòa án 51

Phần III 52

Câu 1 Cho biết thực trạng văn bản pháp luật liên quan đến thay đổi; huỷ bỏ di chúc (về thời điểm, cách thức và hình thức thay đổi, huỷ bỏ) 52 Câu 2 Trong thực tiễn xét xử, việc thay đổi hay hủy bỏ di chúc có thể ngầm định (tức người lập di chúc không cần nói rõ là họ thay đổi hay hủy bỏ di chúc không) không?

Vì sao? 55

Trang 7

điều kiện? Cho biết điều kiện của di chúc này là gì? 61 Câu 6 Cho biết thực trạng văn bản quy phạm pháp luật về di chúc có điều kiện ở Việt Nam? 62 Câu 7 Cho biết hệ quả pháp lý khi điều kiện đối với di chúc không được đáp ứng 64 Câu 8 Cho biết suy nghĩ của anh/chị về di chúc có điều kiện ở Việt Nam (có nên luật hóa trong BLDS không? Nếu luật hóa thì cần luật hóa những nội dung nào? 65

Phần IV 68

Câu 1: Trong Án lệ số 24/2018/AL, nội dung nào cho thấy đã có thỏa thuận phân chia di sản? 68 Câu 2: Trong Án lệ số 24/2018/AL, nội dung nào cho thấy thỏa thuận phân chia di sản đã được Tòa án chấp nhận ? 68 Câu 3: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án chấp nhận thỏa thuận phân chia di sản

đã trên? Anh/chị trả lời câu hỏi này trong mối quan hệ với yêu cầu về hình thức và

về nội dung đối với thỏa thuận phân chia di sản? 69 Câu 4: Sự khác nhau cơ bản giữa tranh chấp di sản và tranh chấp tài sản 71 Câu 5: Trong Án lệ số 24/2018/AL, tranh chấp về tài sản đã được chia theo thoả thuận trên là tranh chấp về di sản hay tranh chấp về tài sản? 73 Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong

Án lệ số 24/2018/AL 74

Phần V 76

Câu 1: Trong Án lệ số 05/2016/AL, Tòa án xác định ông Trải được hưởng 1/7 kỳ phần thừa kế của cụ Hưng có thuyết phục không? Vì sao? 76 Câu 2: Trong Án lệ số 05/2016/AL, Tòa án xác định phần tài sản ông Trải được hưởng của cụ Hưng là tài sản chung của vợ chồng ông Trải, bà Tư có thuyết phục không? Vì sao? 77 Câu 3: Trong Án lệ số 05/2016/AL, Tòa án theo hướng chị Phượng được hưởng công sức quản lý di sản có thuyết phục không? Vì sao? 79

Trang 9

Phần I

1 Trường hợp đại diện hợp lệ

Quyết định số 08/2013/KDTM-GĐT ngày 15/3/2013 của Hô ̣i đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

Nguyên đơn là Công ty Vinausteel kiê ̣n bị đơn là Công ty Hưng Yên về viê ̣cphía bị đơn đã châ ̣m trễ trong viê ̣c giao hàng dẫn đến tổn thất cho nguyên đơn NayCông ty Vinausteel yêu cầu bồi thường thiê ̣t hại do phía Công ty kim khí Hưng Yêngây ra là 8.681.106.883 đồng Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm công tyHưng Yên phải bồi thường thiê ̣t hại cho công ty Vinausteel Tại bản án kinh doanhthương mại phúc thẩm quyết định hủy bản án sơ thẩm Yêu cầu tòa án sơ thẩm giảiquyết lại vụ án theo quy định của pháp luâ ̣t Tại phiên tòa giám đốc thẩm đã xácđịnh ông Mạnh là đại diện hợp pháp của Công ty Hưng Yên để xác định hợp đồngvới Công ty Vinausteel, đồng thời đưa ra quyết định hủy Quyết định giải quyết viê ̣ckháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án phúc thẩm Tòa

án nhân dân tối cao Hà Nô ̣i và Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanhthương mại của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, giao hồ sơ về cho Tòa án sơ thẩmxét xử sơ thẩm theo quy định của pháp luâ ̣t

Câu 1.1: Điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 (So với Bộ luật Dân sự năm 2005) về người đại diện.

Về quy định người đại diện, so với Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm

2015 đã có nhiều thay đổi

- Thứ nhất, pháp nhân có thể là người đại diện (cho cá nhân, pháp nhân khác).

Từ khái niệm đại diện, khoản 1 Điều 139 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân

sự trong phạm vi đại diện”, việc sử dụng từ “một người” cùng với quy định tại khoản 5 Điều 139 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Người đại diện phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 143 của Bộ luật này” (khái niệm chỉ áp dụng cho cá nhân) đã dẫn tới thực tế là Tòa án không thừa

nhận khả năng đại diện của pháp nhân khi không có quy định cụ thể cho phép pháp

Trang 10

nhân đại diện người khác Trước thực trạng này, “chúng ta nên chỉnh sửa quy định

để cho thấy người đại diện không chỉ là cá nhân và thêm quy định theo hướng ghi nhận khả năng cho tổ chức, chủ thể khác là người đại diện”1 Do đó, tại khoản 1

Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã thay đổi như sau: “Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”.

- Thứ hai, có sự thay đổi về năng lực của người đại diện Theo khoản 5 Điều

139 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Người đại diện phải có năng lực hành vi dân sự

đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 143 của Bộ luật này” Quy định

này có nhược điểm là chỉ quy định về năng lực hành vi dân sự, tức chỉ đề cập tới cánhân, không còn phù hợp với Bộ luật Dân sự năm 2015, cho nên, tại khoản 3 Điều

134 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định cụ thể hơn: “Trường hợp pháp luật quy định thì người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện”, việc bổ sung như trên giúp

khái quát hơn về tư cách, năng lực của người đại diện, nhất là đối với pháp nhân.Điều này góp phần hạn chế được các tranh chấp liên quan đến tư cách đại diện củapháp nhân

- Thứ ba, về các loại đại diện, nếu Bộ luật Dân sự năm 2005 phân loại dựa vào

tiêu chí căn cứ xác lập quyền (theo pháp luật hay theo ủy quyền) thì Bộ luật Dân sựnăm 2015 phân loại dựa vào cả căn cứ xác lập quyền và chủ thể đại diện

Điều 136 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“1 Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

2 Người giám hộ đối với người được giám hộ Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định.

1 Đỗ Văn Đại, Luật Hợp đồng Việt Nam- Bản án và bình luận bản án, NXB Hồng Đức- Hội Luật

gia Việt Nam, 2013, tập 1, tr 254.

Trang 11

3 Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

4 Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự”.

Điều 136 Bộ luật Dân sự năm 2015 bổ sung khoản 2 vì Bộ luật Dân sự năm 2015 đã

có quy định mới về người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, nên đã ghinhận thêm về người giám hộ trong trường hợp này; và khoản 3 để khắc phục thực tếkhông xác định được người đại diện theo pháp luật cho người chưa thành niên hayngười được giám hộ và góp phần bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng cho những chủthể trên

Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“1 Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bao gồm:

a) Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ;

b) Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật;

c) Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án.

2 Một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định tại Điều 140 và Điều 141 của

Bộ luật này”.

Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2015 bổ sung điểm c khoản 1 giúp thẩm quyền Tòa

án được tăng cường trong quá trình giải quyết các tranh chấp về đại diện nói chung

và đại diện theo pháp luật của pháp nhân nói riêng Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sựnăm 2015 chính thức khẳng định: Một pháp nhân có thể có nhiều người đại diệntheo pháp luật

Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“1 Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

Trang 12

2 Các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân

có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình,

tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân.

3 Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người

từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện”.

Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về đại diện theo ủy quyền có những sựthay đổi về chủ thể Người đại diện đều là các cá nhân và pháp nhân Khoản 1 có sự

thay đổi: “pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự” để toàn diện và chính xác hơn (chủ thể ủy quyền là pháp

nhân chứ không phải là người đại diện của pháp nhân)

- Thứ tư, về số lượng người đại diện, khoản 3 Điều 141 Bộ luật Dân sự năm

2015 quy định: “Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng

là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Quy

định này khắc phục được nhược điểm đó là các trường hợp trong thực tế: nhiềungười như cha, mẹ đại diện theo pháp luật cho con chưa thành niên, ông bà cùnggiám hộ nên cũng là cùng đại diện cho cháu, pháp nhân có thể có nhiều đại diệntheo pháp luật2

Tất cả những điểm mới trên về người đại diện trong Bộ luật Dân sự năm 2015 đềuđược bổ sung, thay đổi để phù hợp hơn với các trường hợp thực tế, khát quát hơnđồng thời cũng cụ thể hơn để người đọc luật có thể hiểu rõ hơn những quy định vềngười đại diện, giúp cho tranh chấp về người đại diện ít xảy ra hơn, Tòa án xét xử

dễ dàng hơn trong những vụ án tranh chấp có người đại diện, nhất là đối với chủ thể

là pháp nhân

2 Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015, NXB Hồng

Đức- Hội Luật gia Việt Nam, 2017, tr 181- 197

Trang 13

Câu 1.2 Trong Quyết định số 08, đoạn nào cho thấy ông Mạnh đại diện cho Hưng Yên xác lập hợp đồng với Vinausteel?

- Trong phần “Xét thấy” của Quyết định số 08 đã cho thấy ông Mạnh đại diệncho HYM (Công ty cổ phần kim khí Hưng Yên) xác lập hợp đồng với

Vinausteel:“Bởi lẽ, ngày 20/11/2006, bà Lê Thị Ngọc Lan có Giấy ủy quuền cho ông Lê Văn Mạnh – Phó giám đốc Công ty kim khí Hưng Yên được thay mặt Công

ty thực hiện các giao dịch kinh tế trong phạm vi ngành nghề kinh doanh (trong thời gian này bà Lan vẫn là người đại diện theo pháp luật của Công ty kim khí Hưng Yên), nên ngày 16/01/2007, ông Mạnh đã đại diện cho Công ty kim khí Hưng Yên kí hợp đồng mua bán phôi thép số 01/HĐPT/2007/VA-HY với Công ty Vinausteel” 3

- Khái niệm “đại diện” được quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự

năm 2015: “Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung

là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự” Chế định đại diện là

một chế định hết sức quan trọng của Bộ luật Dân sự, chế định này giúp giải quyếtđược các vấn đề pháp lý liên quan đến chủ thể khi một số chủ thể không thể tự mìnhhoặc không muốn tự mình tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự Chínhvì lẽ đó, pháp luật quy định cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịchdân sự thông qua người đại diện Thông qua chế định đại diện, quyền và lợi ích hợppháp của người được đại diện được đảm bảo 4

Câu 1.3 Theo Hội đồng thẩm phán, ông Mạnh có trách nhiệm gì với Vinausteel không?

- Trong Quyết định số 08/2013/KDTM-GĐT ngày 15/3/2013 của Tòa dân sự

Tòa án nhân dân tối cao có đoạn: “Bởi lẽ, ngày 20/11/2006, bà Lê Thị Ngọc Lan có Giấy ủy quyền cho ông Lê Văn Mạnh – Phó Tổng Giám đốc Công ty kim khí Hưng Yên được thay mặt Công ty thực hiện các giao dịch kinh tế trong phạm vi ngành

3 Quyết định số 08/2013/KDTM-GĐT ngày 25/03/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

4 Nguyễn Hồ Bích Hằng, Giáo trình Những vấn đề chung về Luật dân sự của Đại học Luật Thành

phố Hồ Chí Minh, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, 2018, chương V, tr 239.

Trang 14

nghề kinh doanh (trong thời gian này bà Lê Thị Ngọc Lan vẫn là người đại diện theo pháp luật của Công ty kim khí Hưng Yên), nên ngày 16/01/2017, ông Mạnh đã đại diện cho Công ty kim khí Hưng Yên ký Hợp đồng mua bán phôi thép số 01/HĐPT/2007/VA-HY với Công ty Vinausteel Quá trình thực hiện hợp đồng trên, Công ty kim khí Hưng Yên không giao đủ hàng là trách nhiệm của Công ty kim khí Hưng Yên.

Việc ông Lê Văn Mạnh có Bản cam kết vào ngày 01/4/2007 “xin chịu trách nhiệm trước pháp luật và xin cam kết nhận trách nhiệm trả cho Công ty và các bên thứ ba (trong đó có Công ty liên doanh sản xuất thép Vinausteel) tất cả các khoản nợ và bồi thường thiệt hại phát sinh từ các giao dịch hợp đồng” mà ông Mạnh đã ký trước đó Tuy nhiên, Công ty Vinausteel không tham gia ký kết, không đồng ý nên không thuộc trường hợp chuyển giao nghĩa vụ dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 315 Bộ luật Dân sự năm 2005”.

- Từ đó ta thấy theo Hội đồng thẩm phán, ông Mạnh không cần phải chịu tráchnhiệm với Vinausteel mà trách nhiệm sẽ thuộc về Công ty kim khí Hưng Yên Bên

cạnh đó ở khoản 1 Điều 315 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Bên có nghĩa vụ

có thể chuyển giao nghĩa vụ dân sự cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ” tuy nhiên Công ty

Vinausteel không tham gia ký kết, không đồng ý nên ông Mạnh không thuộc trườnghợp này

Câu 1.4 Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến ông Mạnh (có văn bản nào không về chủ đề này? Có thuyết phục không?).

- Từ nhận định trong Quyết định số 08/2013/KDTM-GĐT ngày 25/03/2013của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có thể thấy, theo Tòa án, ông LêVăn Mạnh không phải chịu bất kì trách nhiệm nào trước vấn đề giao dịch với Công

ty Vinausteel Ông Lê Văn Mạnh được bà Lê Thị Ngọc Lan ủy quyền làm đại diện

Trang 15

cho Công ty kim khí Hưng Yên để ký kết hợp đồng mua bán với Công ty Vinausteeltrong giai đoạn bà này vẫn giữ chức vụ Tổng Giám đốc Công ty kim khí Hưng Yên.

Theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Cá nhân, pháp nhân có thể

ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự” Việc

ủy quyền đại diện cho một cá nhân hay một pháp nhân khác chỉ nhằm mục đích

“xác lập, thực hiện giao dịch dân sự” Bên cạnh đó, chỉ trong trường hợp người đại diện “xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện” theo Điều 143 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì người đại diện mới “phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện” 5 , hoặc “phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại” 6.Trong bản án nêu ra, ông Lê Văn Mạnh được

ủy quyền thay bà Lê Thị Ngọc Lan đại diện Công ty đối với “giao dịch dân sự, kinh

tế và thương mại trong phạm vi ngành kinh doanh của Công ty” Ông Lê Văn Mạnh

đại diện Công ty kim khí Hưng Yên ký kết hợp đồng với Công ty Vinausteel không

có phát sinh về vấn đề vượt quá phạm vi đại diện, nên ông Mạnh không thể là ngườichịu trách nhiệm đối với việc thanh toán các khoản nợ cho Công ty Vinausteel.Đồng thời, bản án có nhắc đến Bản cam kết mà ông Mạnh đã ký với nội dung thaymặt Công ty kim khí Hưng Yên nhận trách nhiệm thanh toán, bồi thường các khoảntiền đối với Công ty Vinausteel, tuy nhiên trong quá trình ông Mạnh ký vào bảncam kết không hề có sự xác nhận của bên còn lại nên bản cam kết đó không đượcTòa án công nhận là hợp pháp Bên cạnh đó, xét theo Điều 370 Bộ luật Dân sự năm

2015 thì ông Mạnh không thuộc diện được chuyển giao nghĩa vụ dân sự:

“1.Bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ.

2 Khi được chuyển giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ”.

5 Khoản 2 Điều 143 Bộ luật Dân sự năm 2015, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

6 Khoản 4 Điều 143 Bộ luật Dân sự năm 2015, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trang 16

- Vì vậy, hướng giải quyết của Tòa ân đối với ông Mạnh lă không xâc nhậnông phải chịu trâch nhiệm trước câc khoản tiền đối với Công ty Vinausteel với tưcâch người đại diện cho Công ty kim khí Hưng Yín lă phù hợp với câc quy địnhcủa luật, hợp lí trong bối cảnh khi ký kết hợp đồng với bín còn lại thì Công ty kimkhí Hưng Yín vđ̃n có người đại diện theo phâp luật lă bă Lí Thị Ngọc Lan.

Cđu 1.5 Theo Hội đồng thẩm phân, Hưng Yín có trâch nhiệm gì với Vinausteel không?

- Toă phiín giâm đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sât nhđn dđn tối cao đưa ra

quyết định: “Huỷ Quyết định giải quyết việc khâng câo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ ân số 46/2010/ QĐ-T ngăy 09/3/2010 của Toă phúc thẩm Toă ân nhđn tối cao Hă Nội vă Quyết định đình chỉ giải quyết vụ ân kinh doanh, thương mại số 05/2009/QĐ-ST ngăy 15/12/2009 của Toă ân nhđn dđn tỉnh Bắc Ninh Giao hồ sơ đến Toă ân nhđn dđn tỉnh Bắc Ninh để giải quyết lại vụ ân theo quy định của phâp luật” 7

- Lí do mă Viện kiểm sât đưa ra lă:

+ Cần lăm rõ, xâc định rõ tư câch tham gia tố tụng của ông Lí Văn Mạnh vẵng Lí Văn Dũng, xâc minh lại địa chỉ

+ Chưa có đủ thu thập bằng chứng của vụ việc, đặc biệt lă bản cam kết nợgiữa ông Lí Văn Mạnh vă Công ty kim khí Hưng Yín, bản thoả thuận chia tăi sảnchung trong thời kì hôn nhđn giữa bă Lí Thị Ngọc Lan vă ông Lí Văn Dũng, bảncam kết về nợ của Công ty giữa ông Lí Văn Dũng vă bă Nguyễn Thị Toăn

- Tuy không níu rõ, nhưng tại phần “Xét thấy” của Quyết định số08/2013/KDTM-GĐT ngăy 15/03/2013 của Hội đồng thẩm phân Toă ân nhđn dđn

tối cao có níu: “Ngoăi ra, việc chia tăi sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhđn giữa ông Lí Văn Dũng vă bă Lí Thị Ngọc Lan; việc bă Nguyễn Thị Toăn vă ông Lí Văn Dũng có thoả thuận với nhau về trâch nhiệm thanh toân câc khoản nợ

7 Quyết định giâm đốc thẩm số 08/2013/KDTM-GĐT ngăy 15/03/2013 của Hội đồng thẩm phân Tòa ân nhđn dđn tối cao.

Trang 17

cũng như việc ông Mạnh cam kết chịu trách nhiệm về các khoản nợ của Công ty liên doanh sản xuất thép Vinausteel là việc nội bộ của công ty kim khí Hưng Yên.

Do đó, Công ty kim khí Hưng Yên phải có trách nhiệm thanh toán”.

Câu 1.6 Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến Hưng Yên nêu trên?

- Tòa giám đốc thẩm đã giải quyết liên quan đến công ty kim khí Hưng Yên:

“Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Lê Văn Dũng và bà Lê Thị Ngọc Lan; việc bà Nguyễn Thị Toàn và ông Lê Văn Dũng có thỏa thuận với nhau về trách nhiệm thanh toán các khoản nợ cũng như việc ông Mạnh cam kết chịu trách nhiệm về các khoản nợ của Công ty liên doanh sản xuất thép Vinausteel là việc của nội bộ của công ty kim khí Hưng Yên phải chịu trách nhiệm thanh toán các khoản nợ và bồi thường thiệt hại cho Công ty Vinausteel chứ không phải cá nhân ông Mạnh, ông Dũng”8

- Theo quan điểm của chúng tôi, hướng giải quyết trên của Tòa án là hợp lý vìông Mạnh đã thực hiện đúng thẩm quyền trong phạm vi cho phép của mình Căn cứ

vào khoản 3 Điều 143 Bộ luật Dân sự năm 2015 về “Người đại diện theo ủy quyền”:

“Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây:

a) Người được đại diện đồng ý;

b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý;

8 Quyết định số 08/2013/KDTM-GĐT ngày 15/3/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Trang 18

c) Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình vượt quá phạm vi đại diện”

- Mặt khác, Luật Doanh nghiệp năm 2014 của nước ta cũng có quy định:

“Người đại diện theo ủy quyền chịu trách nhiệm trước chủ sở hữu, thành viên, cổ đông ủy quyền do vi phạm các nghĩa vụ quy định tại Điều này Chủ sở hữu, thành viên, cổ đông ủy quyền chịu trách nhiệm trước bên thứ ba đối với trách nhiệm phát sinh liên quan đến quyền và nghĩa vụ được thực hiện thông qua người đại diện theo

ủy quyền”9 nên hướng giải quyết của Tòa án là hợp lý, bảo vệ được quyền lợi củacông ty Vinausteel cũng như ông Dũng và bà Lan

Câu 1.7 Nếu ông Mạnh là đại diện theo pháp luật của của Hưng yên và trong hợp đồng có thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận trọng tài này có ràng buộc Hưng Yên không? Biết rằng điều lệ của Hưng Yên quy định mọi tranh chấp liên quan đến Hưng Yên (như tranh chấp phát sinh từ hợp đồng do đại diện theo pháp luật xác lập) phải được giải quyết tại Tòa án.

Trong trường hợp này, thoả thuận trên vẫn ràng buộc công ty Hưng Yên Bởi lẽ:

- Thứ nhất, cần xác định Điều lệ pháp nhân chỉ mang ý chí đơn phương của

pháp nhân đó trong khi hợp đồng có nguyên tắc cơ bản là dựa trên tính tự nguyện,bình đẳng và ý chí song phương hoặc đa phương Việc áp dụng Điều lệ của công tyHưng Yên đối với cả những giao dịch dân sự, tranh chấp có liên quan đến phápnhân khác là không hợp lý

- Thứ hai, điểm i khoản 2 Điều 77 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định Điều

lệ pháp nhân bao gồm nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ Có thể thấy, tranhchấp phát sinh giữa Công ty Hưng Yên và Công ty Vinausteel không còn nằm trongnội bộ của Công ty Hưng Yên nữa mà có sự tham gia của pháp nhân khác

9 Khoản 3 Điều 16 Luật doanh nghiệp năm 2014, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trang 19

- Thứ ba, có thể thấy, ngay cả trong trường hợp việc thỏa thuận tranh chấp

được giải quyết nhờ trọng tài bị vô hiệu cũng không ảnh hưởng đến phần còn lại củahợp đồng Theo Điều 130 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“Điều 130 Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần

Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần nội dung của giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch”.

Do đó, giao dịch giữa Công ty Hưng Yên và Công ty Vinausteel chỉ có thể bị vôhiệu một phần và vẫn sẽ phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với công ty Hưng Yên

2 Trường hợp đại diện không hợp lệ

Tóm tắt Quyết định số 10/2013/KDTM-GĐT ngày 25/4/2013 của

HĐTPTANDTC

Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam kiện bị đơn là Công

ty cổ phần xây dựng 16-Vinaconex Ngày 14/5/2001, nguyên đơn cho bị đơn vay 2

tỷ đồng Nay bị đơn không có khả năng trả nợ nên Ngân hàng đã xử lý phát mại mộtphần tài sản thế chấp Do bị đơn thuộc Công ty cổ phần xây dựng 16-Vinaconexnên Ngân hàng yêu cầu công ty này phải có trách nhiệm thanh toán khoản nợ nêutrên và xử lý tài sản thế chấp, bảo lãnh để thu hồi nợ Tại bản án sơ thẩm quyết địnhCông ty cổ phần xây dựng 16-Vinaconex phải thanh toán cho ông Trần Quốc Toản

số tiền là 75.000.000 đồng, hợp đồng bảo lãnh số 02/HĐCT ngày 10/5/2001 giữaNgân hàng và ông Trần Quốc Toản vô hiệu do ông không phải là người đại diệnhợp lệ Tại bản án phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm Tại bản Quyếtđịnh giám đốc thẩm quyết định hủy bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm vàbản án sơ thẩm Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơthẩm theo quy định của pháp luật

Trang 20

Câu 2.1 Trong Quyết định số 10, đoạn nào cho thấy người xác lập hợp đồng với Ngân hàng không được Vinaconex ủy quyền (không có thẩm quyền đại diện để xác lập)?

- Trong Quyết định số 10/2013/KDTM-GĐT ngày 25/2/2013 của Hội đồngthẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có đoạn:

“Theo tài liệu do Công ty xây dựng số II Nghệ An xuất trình thì ngày 26/3/2001, Công ty xây dựng II có Công văn số 263 CV/XD2.TCKT quy định về việc vay vốn tín dụng của các đơn vị trực thuộc và ngày 06/4/2001, Công ty xây dựng số II Nghệ

An có Công văn số 064CV/XDII.TCKT gửi Chi nhánh Ngân hàng Công thương Nghệ An không cho các Xí nghiệp thuộc Công ty xây dựng số II Nghệ An vay vốn khi chưa có bảo lãnh vay vốn của Công ty kể từ ngày 06/4/2001…” và “Các văn bản của Công ty liên quan tới vay vốn tại Ngân hàng Công thương Nghệ An ban hành trước ngày 06/4/2001 đều bãi bỏ”, nhưng ngày 14/5/2001 Ngân hàng vẫn kí Hợp đồng tín dụng số 01/HĐTD ngày 14/5/2001 cho Xí nghiệp xây dựng 4 vay tiền”.

- Ở đây, qua Công văn mà Công ty Xây dựng số II Nghệ An (Vinaconex) banhành, người xác lập hợp đồng với Ngân hàng không được Công ty ủy quyền Việc

ủy quyền của một pháp nhân hiện nay có quy định trong khoản 1 và 2 Điều 138 Bộluật Dân sự năm 2015:

“1 Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

2 Các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân

có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình,

tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân”.

- Ở đây, pháp nhân được ủy quyền cho pháp nhân khác Tuy nhiên, trongtrường hợp này, pháp nhân là Xí nghiệp xây dựng 4 lại không được pháp nhân lớn

Trang 21

hơn nó là Vinaconex ủy quyền đại diện đi vay vốn ngân hàng, Vinaconex đã cócông văn với nội dung là không cho các Xí nghiệp thuộc Công ty xây dựng số IINghệ An đi vay vốn khi chưa có bảo lãnh vay vốn của Công ty Cho nên, Xí nghiệpxây dựng 4 không có thẩm quyền xác lập giao dịch giữa Vinaconex và Ngân hàng.

- Xét thấy, đây là trường hợp xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhưng không

có thẩm quyền đại diện Đối với những trường hợp như vậy, người không có thẩmquyền đại diện sẽ phát sinh thêm quyền và nhất là nghĩa vụ mà không phải là ngườiđại diện Người đã giao dịch với người không có thẩm quyền khi muốn giải quyếttranh chấp liên quan đến giao dịch dân sự đó, phải tìm đến người không có thẩmquyền đại diện, hoặc có quyền đơn phương chấm dứt, hủy bỏ giao dịch đã xác lập,yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại từ người không có thẩm quyền đại diện đó10

Câu 2.2 Trong vụ việc trên, theo Tòa giám đốc thẩm, Vinaconex có chịu trách nhiệm với Ngân hàng về hợp đồng trên không?

- Trong vụ việc trên, theo Tòa giám đốc thẩm, Vinaconex phải chịu tráchnhiệm với Ngân hàng về hợp đồng đã ký Tòa giám đốc thẩm đã đưa ra nhận định:

“Như vậy, sau khi Xí nghiệp xây dựng 4 vay tiền Ngân hàng, Công ty xây dưng số II Nghệ An biết và không phản đối nên Công ty xây dựng số II Nghệ An (nay là Công

ty cổ phần xây dựng 16 – Vinaconex) phải chịu trách nhiệm trả khoản nợ này Tòa

án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc Công ty cổ phần xây dựng 16 – Vinaconex phải trả khoản tiền nợ gốc và lãi (1.382.040.000 đồng) cho Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam là có căn cứ” 11

- Sở dĩ có tranh chấp về hợp đồng nêu trên là do Giám đốc cũ của Công ty xâydựng số II khi còn đang giữ chức vụ đã nhất trí cho Xí nghiệp xây dựng 4 vay tiềncủa Ngân hàng Nhưng sau đó Giám đốc mới lên thay thế đã không đồng ý cho Xínghiệp 4 vay vốn Ngân hàng nữa, đồng thời công ty cũng đã có công văn gửi Ngân

10 Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật dân sự Việt Nam, NXB Đại học

quốc gia, 2007, tr 87- 88.

11 Quyết định số 10/2013/KDTM-GĐT ngày 25/4/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Trang 22

hàng yêu cầu không cho Xí nghiệp xây dựng 4 vay tiền, Ngân hàng chưa nhận đượcCông văn Sau này Công ty xây dựng số II cũng không xuất trình được tài liệuchứng minh Ngân hàng đã nhận được Công văn này.

Câu 2.3 Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm.

Trong Quyết định giám đốc thẩm số 10/2013/KDTM- GĐT, hướng giải quyếtcủa Tòa án là phù hợp với các quy định của pháp luật và có các cơ sở pháp lý vữngchắc Khi nhận định về vấn đề Công ty Vinaconex có phải chịu trách nhiệm trả nợcho ngân hàng hay không, Tòa án đã xác định Xí nghiệp xây dựng 4- chi nhánh trựcthuộc Công ty Vinaconex đã ký kết hợp đồng tín dụng vay tiền từ Ngân hàng,không phải là một pháp nhân bởi theo khoản 1 Điều 84 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“Chi nhánh, văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không phải là pháp nhân.”; vậy nên Vinaconex phải trực tiếp chịu trách nhiệm trả nợ cho Ngân

hàng Tuy nhiên, ông Nguyễn Hữu Thuận- người được bổ nhiệm vào chức Giámđốc Công ty thay cho ông Bạch Văn Thìn- cho rằng ông đã không chấp thuận vàkhông ký xác nhận bất kì văn bản nào cho phép Xí nghiệp xây dựng 4 vay nợ từNgân hàng Đồng thời, ông Thuận không ủy quyền đại diện cho ông Nguyễn HồngTâm hay ông Trần Quốc Toàn (ban lãnh đạo của Xí nghiệp xây dựng 4) để thay mặtCông ty ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Khi người đứng đầu chi nhánhtham gia một giao dịch nào đó mà không có sự ủy quyền của pháp nhân thì trườnghợp này thuộc diện không có ủy quyền hoặc thẩm quyền vượt quá phạm vi chophép, bởi vì người đứng đầu chi nhánh vốn không thể tự ý, cũng như không cóquyền đại diện pháp nhân để thực hiện các công việc của pháp nhân12 Vì thế, ôngThuận cho rằng Công ty không phải chịu bất kì trách nhiệm nào trước khoản nợ củaNgân hàng, và yêu cầu Xí nghiệp xây dựng 4 phải tự giải quyết khoản nợ này Mặc

dù vậy, Tòa án sau khi xem xét cáo trạng đã nhận định rằng trong quá trình Xínghiệp xây dựng 4 vay vốn từ Ngân hàng đã có liên tiếp các báo cáo tình hình tài

12 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam- Bản án và bình luận bản án, NXB Hồng Đức- Hội luật

gia Việt Nam, 2009, tập 2, tr 164.

Trang 23

chính lên Ban giám đốc Công ty, đồng thời có việc chuyển giao máy móc có từ vốnvay Ngân hàng giữa Công ty Vinaconex và chi nhánh Xí nghiệp xây dựng 4, cùngvới việc Công ty không thể chứng minh Ngân hàng đã nhận công văn từ Công tyvới nội dung yêu cầu không cho Xí nghiệp xây dựng 4 vay vốn Vì các lẽ đó, Tòa

án có đầy đủ cơ sở chứng minh Công ty Vinaconex phải biết về việc Xí nghiệp xâydựng 4 vượt quá thẩm quyền Điều này cho thấy Công ty Vinaconex thuộc diện

“Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý” 13nên vẫnphải chịu trách nhiệm trước vấn đề phát sinh từ giao dịch dân sự vượt quá phạm viđại diện được xác lập bởi Xí nghiệp xây dựng 4

Câu 2.4 Nếu hoàn cảnh tượng tự như trong Quyết định số 10 nhưng chỉ phía Ngân hàng phản đối hợp đồng (yêu cầu hủy bỏ hợp đồng do người đại diện Vinaconex không có quyền đại diện) thì phải xử lý như thế nào trên cơ sở BLDS 2015? Vì sao?

- Nếu hoàn cảnh tương tự như trong Quyết định số 10 nhưng chỉ phía Ngânhàng phản đối hợp đồng (yêu cầu hủy bỏ hợp đồng do người đại diện Vinaconexkhông có quyền đại diện) thì theo Điều 142 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về

“Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập thựchiện”:

“1 Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây:

a) Người được đại diện đã công nhận giao dịch;

b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý;

c) Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không

có quyền đại diện.

13 Điểm b khoản 1 Điều 142, Bộ luật Dân sự năm 2015, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trang 24

2 Trường hợp giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện thì người không có quyền đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện mà vẫn giao dịch.

3 Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự đã xác lập và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện mà vẫn giao dịch hoặc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.

4 Trường hợp người không có quyền đại diện và người đã giao dịch cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại”.

- Từ đó chúng ta nên xét theo 2 trường hợp:

Trường hợp 1: Nếu công ty Vinaconex không đồng ý hợp đồng thì giao dịch do

người đại diện Vinaconex không có quyền đại diện không làm phát sinh quyền,nghĩa vụ của Vinaconex và người đại diện đó phải có nghĩa vụ bồi thường cho Ngânhàng và Ngân hàng có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ giao dịchdân sự đã xác lập và yêu cầu bồi thường thiệt hại

Trường hợp 2: Nếu công ty Vinaconex đồng ý hoặc biết mà không phản đối hợp

đồng hoặc có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết vềviệc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diệnthì giao dịch do người đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của Vinaconex

- Tuy nhiên, nếu người được đại diện (công ty Vinaconex) đồng ý với giaodịch dân sự đã được thiết lập mặc dù người đại diện không có thẩm quyền thì không

có vấn đề gì Trong trường hợp không đồng ý thì giao dịch vẫn có giá trị nếu công

Trang 25

ty Vinaconex “biết mà không phản đối” Khi nào người được đại diện “biết màkhông phản đối”?14 Điều đó cho thấy đây sự khó khăn khi áp dụng điều luật trên.

14 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, NXB Hồng Đức- Hội Luật

gia Việt Nam, Tr.166-168.

Trang 26

án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án phúc thẩm, có hướng giải quyết bảo

vệ quyền lợi cho bà Thẩm

Tóm tắt Quyết định số 08/2013/DS-GDT:

Cụ Huệ có tạo lập được một căn nhà, có giấy chứng nhận của Sở xây dựngtỉnh Tiền Giang cấp Trước khi chết, cụ Huệ để lại di chúc cho ông Hà (con cụHuệ) Ông Hà chết, không để lại di chúc Theo thỏa thuận (bà Ơn vợ ông Hà) đượcthừa kế toàn bộ tài sản này Nhưng thực tế, bà Chắc cùng cụ Thiệu (mẹ đẻ cụ Huệ)đã sống rất lâu trong ngôi nhà này nên bà Chắc không đồng ý trả lại nhà đất cho bà

Ơn và yêu cầu được công nhận đây là tài sản của bà Tòa sơ thẩm-phúc thẩm khôngchấp nhận yêu cầu của bà Chắc Viện kiểm sát kháng nghị, chỉ rõ những sai sót củaTòa án sơ thẩm và phúc thẩm Đồng thời xem xét lại về quyền lợi của bà Chắc trongcông sức quản lí và bảo vệ nhà đất

Tóm tắt Bản án số 2493/2009/DS-ST

Bà Khót, ông Tâm là con của cụ Khánh và cụ Lầm; ông Nhật là con của cụKhánh và cụ Ngọt Năm 2000, cụ Khánh chết và lập di chúc để lại toàn bộ di sảncho ông Nhật Nhưng tại thời điểm mở thừa kế, bà Khót và ông Tâm yêu cầu đượchưởng thừa kế của cụ Khánh theo quy định của pháp luật về người thừa kế khôngtheo nội dung của di chúc Tòa án không chấp nhận yêu cầu của bà Khót và ôngTâm vè việc hưởng thừa kế của cụ Khánh theo quy định của pháp luật về ngườithừa kế không theo nội dung di chúc

Trang 27

Câu 1.1 Những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 so với Bộ luật Dân sự

2005 về hình thức sở hữu tài sản.

Sở hữu là hình thức nhất định được hình thành trong lịch sử về chiếm hữu củacải vật chất xã hội Quan hệ sở hữu là quan hệ giữa người với người đối với việcchiếm hữu của cải vật chất, trước hết là đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu

*Về số lượng các hình thức sở hữu:

Điều 172 Bộ luật Dân sự năm 2005, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cóquy định về hình thức sở hữu:

“Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, các hình thức

sở hữu bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu chung, sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp”.

Theo đó, nhà nước chấp nhận 6 hình thức sở hữu, bao gồm:

+ Sở hữu nhà nước

+ Sở hữu tập thể

+ Sở hữu tư nhân

+ Sở hữu chung

+ Sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội

+ Sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội

- nghề nghiệp

Việc phân chia hình thức sở hữu như trên là dựa vào tính chất, chức năng,

nhiệm vụ của các chủ thể Tuy nhiên dễ nhận thấy một số điểm chưa hợp lí Thứ nhất, việc liệt kê chủ yếu chưa khoa học vì sự liệt kê có thể chưa đầy đủ vì còn có

nhiều loại hình tổ chức, các nhóm người phát sinh Nếu như có một thành phần kinh

Trang 28

tế mới xuất hiện trong xã hội thì Bộ luật Dân sự lại phải sửa, như vậy tính ổn định

của Bộ luật Dân sự sẽ không cao; thứ hai, khi xác định một hình thức sở hữu nào đó

thì phải xuất phát từ sự khát biệt về nội dung quyền sở hữu (chiếm hữu, sử dụng,định đoạt), về phương thức thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản.Qua nghiên cứu cho thấy, nội dung của một số hình thức sở hữu được quy địnhtrong Bộ luật Dân sự năm 2005 là không có sự khác biệt ngoại trừ chủ thể sở hữu,vì thế không có ý nghĩa về mặt pháp lý khi không chỉ ra được sự khác biệt cơ bản

giữa các hình thức sở hữu; thứ ba, theo quy định Bộ luật Dân sự năm 2005 thì sở

hữu tập thể là một hình thức sở hữu độc lập nhưng về cơ bản, đây chỉ là sở hữu củapháp nhân là hợp tác xã 15

Điều 208 Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định về hình thức sở hữu như sau: “Sở hữu tập thể là sở hữu của hợp tác xã hoặc các hình thức kinh tế tập thể ổn định khác do cá nhân, hộ gia đình cùng góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục đích chung được quy định trong điều lệ, theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, cùng quản lý và cùng hưởng lợi”.

Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2015 thì lại có sự thay đổi Tuy không nêu mộtcách liệt kê các hình thức sở hữu như Bộ luật Dân sự trước đó, nhưng Bộ luật Dân

sự năm 2015 dành ba tiểu mục khác nhau để nói về ba hình thức sở hữu chính là:

- Sở hữu toàn dân (từ Điều 197 đến Điều 204)

- Sở hữu riêng (Điều 205 và Điều 206)

- Sở hữu chung (từ Điều 207 đến Điều 220)

Có thể thấy, số lượng các hình thức sở hữu đã giảm từ sáu còn ba

Lý giải cho thay đổi này Ban soạn thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) đã đưa ra phân

tích: “Theo quan điểm này thì khi một người (cá nhân, pháp nhân) có toàn quyền chi phối đối với một tài sản nhất định thì xuất hiện hình thức sở hữu là sở hữu

15 Lê Minh Hùng, Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế của Đại học Luật TP

HCM, NXB Hồng Đức- Hội Luật gia Việt nam, 2019, Chương II, tr 184-185.

Trang 29

riêng; khi có từ hai người (cá nhân, pháp nhân) trở lên cùng có quyền nhất định trong việc thực hiện các hành vi chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với một tài sản nhất định thì xuất hiện sở hữu chung; khi toàn thể nhân dân thông qua Nhà nước của mình thực hiện các quyền của chủ sở hữu thì có sở hữu toàn dân, mà các nước gọi là sở hữu nhà nước”.

Theo phân tích trong bài viết “Những điểm mới nổi bật về quyền sở hữu và những

quyền khác trong Bộ luật Dân sự năm 2015”, đăng trên Tạp chí Kinh tế Đối ngoại,

số 90/2017, thì việc sửa đổi căn bản này đã khắc phục được hạn chế về các hìnhthức sở hữu theo quy định của pháp luật hiện hành Bởi việc xác định các hình thức

sở hữu phải được dựa trên một tiêu chí thống nhất, trong khi đó Bộ luật Dân sự năm

2015 vừa dựa vào tiêu chí chủ thể, vừa dựa vào tiêu chí tính chất của việc sở hữu

mà phân chia thành năm hình thức khiến các hình thức sở hữu này vừa bị trùng lặp,thừa và vừa thiếu

* Sở hữu nhà nước và Sở hữu toàn dân:

Bộ luật Dân sự năm 2015 đổi hình thức sở hữu nhà nước (quy định trong Bộ luậtDân sự năm 2005) sang hình thức sở hữu toàn dân

Điều 200 Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định:“Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước bao gồm đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách

nhà nước, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên

ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định.”

Tuy nhiên, Điều 12, Hiến pháp năm 1992 lại có quy định: “Đất đai, rừng núi, sông

hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại

Trang 30

giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà

nước, đều thuộc sở hữu toàn dân.”

Thạc sĩ Trần Quang Huy, Trưởng bộ môn Đất đai, khoa Pháp luật kinh tế (Đại họcLuật Hà Nội) cho rằng giữa các quy định pháp luật chưa có sự thống nhất về sở hữu

đối với đất đai; nói đến sở hữu toàn dân là nói tới một chế độ sở hữu, còn sở hữu nhà nước là một hình thức sở hữu cụ thể, đây là hai vấn đề rất khác nhau Sự

không thống nhất này đã gây ra nhiều vướng mắc trong thực tiễn và lý luận cầnđược nghiên cứu sửa đổi cơ bản

Thực tế, việc ghi nhận hình thức sở hữu nhà nước này kéo theo rất nhiều hệ quả đặc

thù trong Điều 157 Bộ luật Dân sự năm 2005, “thời hiệu hưởng quyền dân sự không

áp dụng trong các trương hợp sau đây: Chiếm hữu tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước không có căn cứ pháp luật” Tương tự, khoản 1 Điều 160 Bộ luật Dân sự năm 2005 khẳng định “Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự không áp dụng trong những trường hợp sau đây: Yêu cầu hoàn trả tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước” 16

Điều 4 Bộ luật Dân sự 2015 đã chính thức khai tử hình thức sở hữu này, thay vào đó

là hình thức sở hữu toàn dân, có quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các

tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà

nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.

Sự thay đổi này cũng đồng nhất với quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013.Trong quá trình sửa đổi, bổ sung các quy định về sở hữu toàn dân, rất nhiều quanđiểm cho rằng, sở hữu toàn dân không phải là một hình thức sở hữu độc lập mà chỉ

là một dạng cụ thể của hình thức sở hữu chung không phân chia (sở hữu chung hợp

nhất)17 Quy định sở hữu toàn dân cũng là một bước tiến bộ, là một biện pháp để

16 Lê Minh Hùng, Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế của Đại học Luật

TP.HCM, NXB Hồng Đức- Hội Luật gia Việt nam, 2019, chương II, tr 203

17 Trần Thị Huệ, “Những điểm mới nổi bật về quyền sở hữu và những quyền khác trong Bộ luật

Dân sự năm 2015”, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại số 90/2017, tr 5

Trang 31

bảo đảm quyền chính trị của các công dân Việt Nam Vì theo quy định trên thì toàndân đều có quyền kiểm tra, giám sát việc quản lý tài sản thuộc sở hữu toàn dân củaNhà nước

Tuy nhiên, đã có một số quan điểm, lập luận đưa ra phản bác ý kiến này, làm khẳngđịnh thêm lần nữa tính đúng đắn của hình thức sở hữu này:

- Một là sở hữu toàn dân phải là một hình thức sở hữu độc lập, hình thức sở hữu nàyđã được ghi nhận trong Điều 53 Hiến pháp năm 2013, kế thừa bản Hiến pháp năm

- Bốn là không chỉ ở Việt Nam mà ở một số quốc gia khác, pháp luật của các nướcnày đều ghi nhận đó là một hình thức sở hữu độc lập Ví dụ như Bộ luật Dân sự của

Cộng hòa Liên bang Nga năm 1996, có Điều 214 mang tên "Quyền sở hữu nhà nước"; tại Điều 45 Luật quyền sở hữu tài sản Trung Quốc năm 2007 cũng có quy

Trang 32

định: "Pháp luật quy định những tài sản nào là tài sản thuộc sở hữu nhà nước thì tài sản đó là tài sản thuộc quyền sở hữu nhà nước…”

* Sở hữu tư nhân, sở hữu của tổ chức, sở hữu tập thể và Sở hữu riêng:

Theo như Bộ luật Dân sự năm 2005 thì sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu củatổ chức được phân chia thành các mục khác nhau Nhưng tại Bộ luật Dân sự năm

2015 thì các loại hình sở hữu này được gộp thành sở hữu riêng Việc gộp chung lạinhằm tạo sự ngắn gọn, tránh rườm rà

Điều 205 Bộ luật Dân sự năm 2015, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam:

“Sở hữu riêng là sở hữu của một cá nhân hoặc một pháp nhân.”

Để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất kinh doanh, và sử dụng vào các mục đíchkhác hợp pháp thì chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêngcủa mình

* Sở hữu của tổ chức, sở hữu tập thể, sở hữu chung và Sở hữu chung:

Nếu theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2005 thì sở hữu của tổ chức, sở hữu tậpthể mặc dù vẫn có hình thức thuộc sở hữu chung, nhưng chúng lại thuộc mục riêng,được chia ra làm các hình thức sở hữu khác nhau.Tuy nhiên, trong Bộ luật Dân sựnăm 2015, các loại hình trên được gộp thành hình thức sở hữu chung Cũng giốngnhư việc gộp sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu của tổ chức thành sở hữu riêngthì việc gộp sở hữu của tổ chức, sở hữu tập thể, sở hữu chung thành hình thức sởhữu chung nhằm tạo sự ngắn gọn, bớt rườm rà, dễ dàng hơn trong việc áp dụngpháp luật

Trang 33

Câu 1.2 Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt có được ông Lưu tạo lập trong thời

kỳ hôn nhân với bà Thẩm không? Đoạn nào của Quyết định số 377 (sau đây viết gọn là Quyết định 377) cho câu trả lời.

- Kết luận của Tòa giám đốc thẩm cho rằng căn nhà số 150/6A Lý ThườngKiệt là tài sản được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân với bà Thẩm thể hiện tạiđoạn trích dưới đây

“Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông Lưu và bà Thẩm là quan hệ hôn nhân hợp pháp và vẫn còn đang tồn tại theo quy định của pháp luật, còn quan hệ hôn nhân giữa ông Lưu và bà Xê là là vi phạm pháp luật Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Lưu và bà Thẩm, nhưng từ năm 1975 ông Lưu đã chuyển vào Miền Nam công tác và căn nhà được tạo lập bằng nguồn thu nhập của ông; bà Thẩm không có đóng góp về kinh tế cũng như công sức để cùng ông Lưu tạo lập ra căn nhà này nên ông Lưu có quyền định đoạt đối với căn nhà nêu trên”.

- Tóm lại, Tòa đã công nhận hôn nhân giữa ông Lưu và bà Thẩm và bác bỏhôn nhân của ông Lưu với bà Xê Bởi lẽ, từ khi có Luật Hôn nhân và gia đình năm

1959, pháp luật nước ta chỉ thừa nhận chế độ hôn nhân một vợ một chồng Theo

Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định: “cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác” Do vậy, nếu một người đang có vợ hợp pháp, chưa

chấm dứt quan hệ hôn nhân với người đó, mà sống như vợ chồng với người phụ nữthứ hai, thứ ba,… không được pháp luật công nhận là vợ hợp pháp nên không cóquyền thừa kế18 Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng được ghi nhận và áp dụng

ở miền Bắc từ ngày 13-1-1960 (ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đượccông bố), nhưng thực ra ở miền Bắc thì lấy ngày 13-1-1960 làm mốc để chấp nhận

tư cách vợ chồng mặc dù sống chung với hai người; nếu hôn nhân thứ hai được xáclập sau ngày này thì hôn nhân thứ hai không có giá trị trong lĩnh vực thừa kế Nếu ởmiền Nam, việc kết hôn với người vợ thứ hai hay người chồng thứ hai từ ngày 25-3-

18 Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam- Bản án và bình luận bản án, NXB Hồng Đức- Hội Luật gia

Việt Nam 2019 (xuất bản lần thứ tư), tập 2, tr 195-196.

Trang 34

1977 mà chưa ly hôn với người vợ trước hay chồng trước thì hôn nhân thứ hai làkhông hợp pháp và không làm phát sinh quyền thừa kế19 Theo điều kiện trên, ôngLưu kết Hôn với bà Xê vào 21-10-1996 là sau thời gian pháp luật công nhận hônnhân nhiều vợ nhiều chồng tại miền Nam Vì vậy, đây rõ ràng là quan hệ hôn nhânkhông hợp pháp Do đó, thời kỳ hôn nhân của ông Lưu và bà Thẩm vẫn khôngchấm dứt khi ông Lưu kết hôn với bà Xê mà vẫn luôn tồn tại trong quãng thời gianông Lưu công tác vào miền Nam nên căn nhà tranh chấp nêu trên được ông Lưu tạolập trong thời kỳ hôn nhân với bà Thẩm.

Câu 1.3 Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà hay

sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời?

- Lúc đầu, theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà.Bởi lẽ, bà cho rằng căn nhà là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa ôngLưu với bà Thẩm nên là tài sản chung Do đó, căn nhà thuộc sở hữu chung của vợchồng bà Thẩm, ông Lưu

+ Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ghi nhận:

“1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc

có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2 Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

19 Nghị quyết số 02/HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 19-1-1990 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thừa kế.

Trang 35

3 Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung” + Quan điểm ban đầu của bà Thẩm được thể hiện trong đoạn trích: “Bà Thẩm cho rằng căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt trên diện tích 101m 2 đất là tài sản chung của vợ chồng bà nên không nhất trí theo yêu cầu của bà Xê Bà đề nghị Tòa giải quyết theo pháp luật để bà được hưởng thừa kế tài sản của ông Lưu cùng với chị Hương” 20

- Tuy nhiên, sau đó, trong quá trình giải quyết vụ án, tại Tòa phúc thẩm, bàThẩm thừa nhận ngôi nhà là do một mình ông Lưu tạo lập bằng kinh tế riêng củaông và công nhận căn nhà là tài sản riêng của ông Lưu Việc công nhận tài sản riêngnày đã thể hiện sự thay đổi trong quan điểm của bà Thẩm Lúc này, bà thừa nhậncăn nhà thuộc sở hữu riêng của ông Lưu chứ không còn thuộc sở hữu chung của vợ

chồng nữa Sự thay đổi thể hiện tại đoạn trích “ hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án bà Thẩm thừa nhận căn nhà là do ông Lưu tạo lập và là tài sản riêng của ông Lưu ”.

Câu 1.4 Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của ông Lưu, bà Thẩm hay thuộc sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào của quyết định 377 cho câu trả lời?

- Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc sở hữu riêngcủa ông Lưu Trong Quyết định số 377/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008 của Tòadân sự Tòa án nhân dân tối cao có đoạn:

“Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được ông Lưu tạo lập trong thời kì hôn nhân giữa ông Lưu và bà Thẩm, nhưng từ năm 1975 ông Lưu đã chuyển vào Miền Nam công tác và căn nhà được tạo lập bằng nguồn thu nhập của ông; bà Thẩm không có đóng góp về kinh tế cũng như công sức để cùng ông Lưu tạo lập nên căn nhà này nên ông Lưu có quyền định

20 Quyết định số 377/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

Trang 36

đoạt đối với căn nhà nêu trên Việc ông Lưu lập văn bản đề là “Di chúc” ngày 7-2002 là thể hiện ý chí của ông Lưu để lại tài sản của ông cho bà Xê là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật”.

27 Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.

Trong trường hợp của ông Lưu, việc xác định tài sản riêng của ông Lưu là rất quantrọng, là căn cứ để có thể xác định quyền định đoạt của ông Lưu trong di chúc đốivới tài sản Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định về tài sản chung vàriêng của vợ chồng 21, tuy nhiên thực tế, vẫn có nhiều trường hợp khó xác định mộtcách thỏa đáng một tài sản là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của từngngười như trường hợp quyền sở hữu trí tuệ đối với những đối tượng mà vợ haychồng sáng tạo ra Khi tài sản do một người tự tạo lập trong thời kì hôn nhân bằngcông sức riêng của mình và không có công sức của người còn lại, thực tiễn xét xửhiện nay cũng khá lung túng trong việc xác định là tài sản chung của vợ chồng hay

là tài sản riêng của người đã tạo lập (xu hướng hiện nay coi đây là tài sản riêng củangười tạo lập)22 Vậy nên, trong quyết định số 377 ở trên, đối với ông Lưu, qua cáctài liệu, chứng cứ có được, Tòa án đã xác định căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt,phường 6, thành phố Mỹ Tho trên diện tích 101m2 đất là tài sản riêng của ông Lưu

và ông được toàn quyền quyết định đối với tài sản trên và có quyền lập di chúc đểđịnh đoạt tài sản đó

Câu 1.5 Anh/chị có suy nghĩ gì về giải pháp trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao?

- Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao đã giải quyết vụ án trên theo hướng xácđịnh di chúc ngày 27-7-2002 của ông Lưu là di chúc hợp pháp, từ đó quyết định cho

21 Điều 33 và Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

22 Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam- Bản án và bình luận bản án, NXB. Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam, 2016, tập 1, tr 90- 91

Trang 37

bà Xê được hưởng toàn bộ di sản của ông Lưu Theo nhóm chúng em, giải pháp trên

của Tòa án là hợp tình, hợp lý

- Đầu tiên, Tòa xem xét hai mối quan hệ hôn nhân giữa ông Lưu với bà Thẩm

và ông Lưu với bà Xê Dựa trên các căn cứ đã phân tích nêu trên, Tòa chỉ công nhận

quan hệ hôn nhân của ông Lưu với bà Thẩm là hợp pháp vì lý do“Ông Võ Văn Lưu

và bà Nguyễn Thị Thẩm kết hôn ngày 26-10-1924 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, Tỉnh Phú Thọ…” nên

quan hệ hôn nhân của hai người thỏa mãn các điều kiện kết hôn về cả nội dung lẫnhình thức Từ đó, Tòa xác định căn nhà là tài sản tạo lập trong thời kỳ hôn nhân Tuynhiên, Tòa không hề áp dụng rập khuôn, máy móc các điều luật mà phân tích tỉ mỉ

các thông tin liên quan “giữa ông Lưu và bà Thẩm có kinh tế riêng và ông Lưu đứng tên riêng đối với nhà đất trên, hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án bà Thẩm thừa nhận căn nhà là do ông Lưu tạo lập và là tài sản riêng của ông Lưu”, “căn nhà được tạo lập bằng nguồn thu nhập của ông; bà Thẩm không có đóng góp về kinh tế cũng như công sức để cùng ông Lưu tạo ra căn nhà này” Từ đó, công nhận căn nhà

số 150/6A là tài sản riêng thuộc quyền sở hữu của riêng ông Lưu do đó ông Lưu cótoàn quyền định đoạt đối với căn nhà

- Bản chất của di chúc là dùng để định đoạt tài sản riêng của cá nhân sau khichết Di chúc luôn được lập ra bởi ý chí tự nguyện và đơn phương của cá nhân màkhông chịu sự tác động của bất kỳ chủ thể nào.23 Thừa kế theo di chúc là phươngthức dịch chuyển tài sản do người chết để lại, là sự thừa kế theo ý chí chủ quan của

cá nhân người để lại di sản.Thừa kế theo di chúc được đặt trên nền tảng của nguyêntắc tôn trọng quyền tự do định đoạt của người để lại thừa kế, bằng cách cho phépngười chủ tài sản, trước khi chết, có quyền lập di chúc để định đoạt di sản của mìnhcho bất kỳ ai và có thể truất quyền hưởng thừa kế của người thừa kế theo pháp luật.Với nguyên tắc này, nhà làm luật đã thừa nhận cá nhân có quyền, bằng ý chí cá nhânthay cho ý chí chủa nhà lập pháp, trong việc để lại di sản thừa kế Có thể nói, chia

23 Lê Minh Hùng, Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế của Đại học Luật TP

HCM, NXB Hồng Đức, 2018, Chương VI, từ tr 435- 436

Trang 38

thừa kế theo ý nguyện của người có tài sản trong trường hợp này được ưu tiên ápdụng so với thừa kế theo pháp luật.24 Do đó, pháp luật phải ưu tiên ý chí, nguyệnvọng của người chết nếu ý chí đó không trái pháp luật và bảo đảm cho ý chí đó cóthể được thực hiện.

- Như thế, Tòa đã giải quyết thấu đáo tranh chấp về căn nhà và đảm bảo đượctoàn vẹn ý chí của ông Lưu khi lập di chúc để lại di sản; đồng thời, cũng bảo vệquyền lợi cho bà Xê, vì dù hôn nhân của bà không hợp pháp nhưng bà đã sống ở cănnhà này nhiều năm và góp phần gìn giữ căn nhà Xét thấy bà Xê không còn nơi nàokhác để sinh sống, nếu Tòa chỉ khăng khăng buộc bà trả lại căn nhà mà không xemxét đến điều kiện sống thì thật không nhân đạo Tóm lại, hướng giải quyết trên củaTòa án thể hiện sự thấu tình, đạt lý trong thực tiễn xét xử khi Tòa cố gắng đảm bảođến mức tối đa lợi ích của các bên, vừa nhân đạo nhưng cũng không sai trái phápluật

Câu 1.6 Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu

có thể di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà này không? Nêu căn cứ pháp lý khi trả lời.

Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu và bà Thẩm thì ông Lưu khôngthể di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà này Khoản 2 và khoản 3 Điều 213 Bộ luậtDân sự năm 2105 có quy định:

“2 Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang

nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

3 Vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”.

Theo đó, ông Lưu và bà Thẩm là vợ chồng hợp pháp nên có quyền ngang bằngnhau đối với khối tài sản chung đó Vì vậy, ông Lưu chỉ được định đoạt một nửa

24 Lê Minh Hùng, Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế của Đại học Luật TP

HCM, NXB Hồng Đức, 2018, Chương VI, từ tr 439- 441

Trang 39

căn nhà Nếu ông muốn định đoạt toàn bộ căn nhà này phải thỏa thuận với bà Thẩm

và có sự đồng ý của bà Thẩm

Về việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung, các đồng sở hữu chung cóquyền ngang nhau và tư tưởng này đã được thể hiện trong một số quy định của Bộluật Dân sự Chẳng hạn, theo khoản 2 Điều 213 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì vợ

chồng “có quyền ngang nhau trong việc định đoạt tài sản chung” Vì các đồng sở

hữu có quyền ngang nhau nên khi định đoạt cần có sự đồng ý của họ Tư tưởng này

đã được thể hiện trong một số quy định như “tài sản thuộc sở hữu chung đem bán

đấu giá phải có sự đồng ý của tất cả các chủ sở hữu chung, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”25 hay “việc định đoạt tài sản là quyền

sử dụng đất, nhà, xưởng sản xuất, tư liệu sản xuất khác phải có thỏa thuận bằng văn bản của tất cả các thành viên”26 Tuy nhiên, yêu cầu sự thống thất ý chí của tấtcả các đồng sở hữu chung không được áp dụng đối với một số trường hợp Chẳnghạn, đối với tài sản chung không là quyền sử dụng đất, nhà, xưởng sản xuất, tư liệu

sản xuất khác của tổ hợp tác thì việc định đoạt “do đại diện của các thành viên

quyết định, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”27.28

Đối với việc lập di chúc, nếu một bên vợ hoặc chồng lập di chúc riêng địnhđoạt toàn bộ tài sản chung của vợ chồng thì di chúc này chỉ bị vô hiệu một phần.Phần di chúc định đoạt trong giới hạn ½ tài sản chung (thuộc quyền sở hữu của cánhân người lập di chúc) vẫn được xem là hợp pháp và có hiệu lực Phần di chúcvượt quá ½ tài sản chung bị vô hiệu vì có nội dung trái pháp luật 29

25 Điều 451 Bộ luật Dân sự năm 2015, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

26 Khoản 2 Điều 506 Bộ luật Dân sự năm 2015, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

27 Khoản 2 Điều 506 Bộ luật Dân sự năm 2015, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

28 Lê Minh Hùng, Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế của Đại học Luật

TP.HCM, NXB Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam, chương II, tr 191- 192

29 Lê Minh Hùng, Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế của Đại

học Luật TP.HCM, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, chương VI, tr 496.

Trang 40

2 Diện thừa kế

Câu 2.1 Bà Thẩm, chị Hương và bà Xê có thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu hay không? Vì sao?

- Nếu bỏ qua việc ông Lưu để lại di chúc thì việc xác định này có thể theo

hướng như sau: “Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết” 30

* Đối với chị Hương: Vì ông Lưu là cha ruột của chị, theo quy định của pháp luật

thì con ruột được hưởng tài sản của cha mẹ mình nên chị Hương chắc chắn thuộchàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu

Toà án cũng đưa ra nhận định: “Mặc khác, trong suốt quá trình ông Lưu vào miền Nam công tác, bà Thẩm là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung của ông bà từ lúc còn nhỏ đến lúc trưởng thành” 31 Đồng thời khẳng định bà Võ Thị Thu Hương là

con của ông Võ Văn Lưu

Quan hệ thừa kế giữa cha đẻ, mẹ đẻ và con đẻ là quan hệ thừa kế được xác định dựatrên cơ sở quan hệ huyết thống, giữa những người có cùng dòng máu trực hệ trongphạm vi hai đời liền kề nhau Cha mẹ đẻ là người thừa kế hàng thứ nhất của con đẻ

và con đẻ là người thừa kế hàng thữ nhất của cha mẹ đẻ Con đẻ của một người gồmcả con trong giá thú và con ngoài giá thú.32

* Đối với bà Thẩm: Bà Thẩm thuộc hàng thừa kế thứ nhất vì là vợ hợp pháp của

ông Lưu

Quyết định số 377/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008 của Toà dân sự Toà án nhân dântối cao có nêu rõ:

30 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

31 Quyết định số 377/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008 của Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao.

32 Chế Mỹ Phương Đài, Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế của

Đại học Luật TP.HCM, NXB Hồng Đức, 2018, tr 570-571.

Ngày đăng: 15/11/2021, 11:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w