Đầu năm 1941, trước những thay đổi mạnh mẽ của tình hình trong nước và những biến động to lớn trên thế giới, nhận định “là thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam”, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quyết định quay trở về tổ quốc sau 30 năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tại Đại hội Đảng XIII, một trong những nội dung quan trọng nhằm triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại được xác định là “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân” . Đây là một bước phát triển mới về nhận thức đối với nội hàm, vai trò, cách thức phối hợp, triển khai các hoạt động đối ngoạị.
Trang 1KHOA LỊCH SỬ
Chủ đề 3: Tạo dựng nhà nước Dân chủ Cộng hòa và bước đầu hình
thành nền ngoại giao nhân dân (1941-1945)
Giảng viên: Cô Nguyễn Thị Hương
Bộ môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao
Thành viên nhóm:
Ngô Khánh Ngọc - 46.01.608.050
Nguyễn Hoàng Trúc Anh - 46.01.608.003
Diệp Lý Duy - 46.01.608.014
Từ Hạnh Duyên - 44.01.608.054
Trần Ngọc Thùy An - 4501611003
Nguyễn Ngọc Lan Chi - 44.01.608.049
Thành phố Hồ Chí Minh, thứ ba ngày 5 tháng 10 năm 2021
Trang 2Mục Lục
MỞ ĐẦU 2
I Tạo dựng nhà nước Dân chủ Cộng hòa 1941-1945 3
1 Bối cảnh 3
1.1 Thế giới 3
1.2 Trong nước 3
2 Ngày Bác Hồ về nước 3
3 Hội nghị Trung ương lần thứ tám 5
3.1 Nội dung chính 5
3.2 Ý nghĩa của Hội nghị trung ương 8 8
3.3 Sự thành lập của Mặt Trận Việt minh 9
4 Thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân 10
5.1.2 Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 11
5.2 Nguyên nhân thắng lợi 13
5.2.1 Nguyên nhân khách quan 13
5.2.2 Nguyên nhân chủ quan 14
5.3 Ý nghĩa lịch sử 15
II Bước đầu hình thành nền ngoại giao nhân dân 16
1 Khái niệm ngoại giao nhân dân 16
2 Trong giai đoạn này của cuộc đấu tranh, ngoại giao nhân dân lại mang những nội dung và hình thức biểu hiện riêng 16
KẾT LUẬN 20
Tài liệu tham khảo 21
Trang 3MỞ ĐẦU
Đầu năm 1941, trước những thay đổi mạnh mẽ của tình hình trong nước và nhữngbiến động to lớn trên thế giới, nhận định “là thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam”,Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quyết định quay trở về tổ quốc sau 30 năm bôn ba hoạt động ởnước ngoài để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam Tại Đại hội Đảng XIII, một trongnhững nội dung quan trọng nhằm triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối
ngoại được xác định là “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là
đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân” 1 Đây là một bước phát
triển mới về nhận thức đối với nội hàm, vai trò, cách thức phối hợp, triển khai các hoạt
động đối ngoạị Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin “cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng”, vì vậy trong 3 trụ cột2 đối ngoại, Người rất chú trọng ngoại giao
nhân dân, cụ thể là Người và Đảng ta đã có những chỉ đạo sát sao rất đến công tác tuyêntruyền vận động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng Chính vì thế,chỉ trong 3 tháng các tổ chức quần chúng lần lượt được thành lập và phát triển mạnh mẽ
trong nước Mặt trận Việt Minh được ra đời với mục đích “Liên hiệp hết các tầng lớp
nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước”, “làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng lên một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” Thông qua
mặt trận, các chính sách và chủ trương của Đảng nhanh chóng đi vào phong trào quầnchúng Đảng ta xây dựng được một khối lực lượng chính trị quần chúng mạnh mẽ, đứnglên khởi nghĩa giành chính quyền góp phần làm nên Cách mạng tháng 8 thành công, khaisinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trong bài tiểu luận này sẽ phân tích sâu hơn vềcông cuộc tạo dựng nhà nước Dân chủ Cộng hòa và những bước đầu hình thành ngoạigiao nhân dân trong năm 1941 - 1945
1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,
2021, t I, tr 138
2 Các hoạt động đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân được Đảng
và Nhà nước ta đề cập dưới nhiều tên gọi khác nhau, phù hợp với từng hoạt động đối ngoại, bối cảnh cụ thể Bài viết thống nhất cách gọi theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng
là “trụ cột”
Trang 4I Tạo dựng nhà nước Dân chủ Cộng hòa 1941-1945
1 Bối cảnh
1.1 Thế giới
Từ những năm 1939, thế giới chìm trong chiến tranh thế giới thứ 2 Cho đến năm
1945, phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh kết thúc ở châu Âu Hồng quânLiên Xô tiến công vào quân đội Nhật, phát xít Nhật đầu hàng vô điều kiện, Chiến tranhthế giới lần thứ hai mới kết thúc
Theo thỏa thuận của các nước Đồng minh trong hội nghị Posdam, sau khi phát xítNhật đầu hàng, quân đội Anh và Tưởng sẽ vào Đông Dương để giải giáp quân đội Nhật.Trong khi đó, thực dân Pháp lăm le dựa vào Đồng minh hòng khôi phục địa vị thống trịcủa mình; đế quốc Mỹ đúng sau các thế lực này cũng sẵn sàng can thiệp vào ĐôngDương; những phần tử phản động, ngoan cố trong chính quyền tay sai Nhật đang âm mưuthay đổi chủ, chống lại cách mạng
Được sự giúp đỡ của cán bộ và đồng bào địa phương, Nguyễn Ái Quốc chọn hangCốc Bó (tiếng Nùng là đầu nguồn), một hang núi kín đáo ở thôn Pác Bó, xã Trường Hà,huyện Hà Quảng (Cao Bằng), sát biên giới Việt - Trung làm nơi dừng chân đầu tiên Từngày 08 tháng 02 năm 1941, Người bắt đầu sống và làm việc tại hang này
Lấy danh nghĩa đại diện cho Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủtrì Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, Khi Bác về nước,
Trang 5thế giới đã ở vào cuộc Đại chiến lần thứ hai (1939 - 1945), tình thế và thời cơ cách mạngđang vần vũ những ngày giông bão.
Khi đang hoạt động ở Trung Quốc, ngày 15 tháng 6 năm 1940, phát xít Đức tấncông Pháp Pari bỏ ngỏ Chính phủ Pháp chấp nhận mọi điều kiện đầu hàng phát xít Đứcvào ngày 22 tháng 6 năm 1940 Nhận được tin này, Nguyễn Ái Quốc thấy rõ ngay tínhiệu của “tiếng chim báo bão”, bởi Pháp ở chính quốc đã đầu hàng thì Pháp thực dân ởthuộc địa sẽ dao động, sẽ đầu hàng Nhật đang gây áp lực, đang lăm le vào xứ ĐôngDương, vào Việt Nam hất cẳng Pháp Bởi thế Người nhanh chóng quyết định hoãn việc đihọc của các đồng chí Cao Hồng Lĩnh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, dặn họ quay vềngay, đợi Người tại Quế Lâm để tìm đường về nước Người triệu tập họp và phân tíchtình hình biến chuyển rất nhanh, nhấn mạnh rằng, “Ta phải tìm mọi cách về nước để tranhthủ thời cơ Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng” Khi có người hỏi, về nước, khởinghĩa, giành chính quyền nhưng không có vũ khi thì làm thế nào? Người trả lời: “Khởinghĩa cần có vũ khí nhưng bây giờ có vũ khí thì lấy ai mà vác Cho nên cứ tìm cách vềnước đã Sau đó vận động quần chúng Khi quần chúng đã giác ngộ cao thì ta sẽ có vũkhí” Đủ hiểu vì sao, sau này, trong chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giảiphóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944), Người nhấn mạnh
“Chính trị trọng hơn quân sự”, “người trước súng sau” Hoàn cảnh lịch sử lúc đó, tất yếuphải như vậy Mặt khác, từ Nguyễn Ái Quốc đã lóe lên ánh sáng của niềm tin, tin dân,dựa vào sức mạnh vô địch của dân Cách mạng giải phóng dân tộc thấm nhuần sâu sắctính dân tộc và tính nhân dân Đó là tư tưởng chiến lược, là trí tuệ mẫn tiệp của lãnh tụNguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
Việc Bắc trở về có ý nghĩa to lớn:
- Với Bác, quyết định trở về sự tiếp tục thực hành mục đích, động cơ vĩ đại đượcxác định từ dầu, quyết tranh đấu cho Việt Nam độc lập, cho dân tộc và đồng bào mình có
tự do, hạnh phúc
Trang 6- Với Đảng, sự kiện lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước, ngày 28/01/1941 đã khởiđầu cho -những quyết định lịch sử, với phương hướng chính trị rõ ràng, đường lối chiếnlược, sách lược đúng đắn, sáng tạo, đầy bản lĩnh ở những thời điểm bước ngoặt, dẫn tớithắng lợi của cách mạng Tháng Tám, Đảng cầm quyền, chính thể cộng hòa dân chủ rađời, mở đầu thời đại tự do của dân tộc cho đến ngày nay.
- Với nhân dân, Người về đem đến mọi niềm vui, báo hiệu sự đổi đời, từ đây, lãnh
tụ đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, gắn bó trọn đời với nhân dân, chỉ lối dẫn đườngcho dân làm cách mạng, đưa nhân dân từ thân phận nô lệ tới tự do và làm chủ, có cơm ăn,
áo mặc, được học hành, thực hiện “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầuhạnh phúc” trong một nước độc lập, trong một xã hội dân chủ
3 Hội nghị Trung ương lần thứ tám
Dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị Trung ương 8 bàn thảo vàquyết định vấn đề chính quyền Chính quyền đó là “toàn thể nhân dân liên hiệp và lậpchính phủ dân chủ cộng hòa”; vấn đề khởi nghĩa vũ trang, Đảng nhận định rằng, “Cuộccách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang, với lực lượngsẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng cóthể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc Tổng khởi nghĩa to lớn” Để thực hiệnđường lối và nhiệm vụ cách mạng to lớn đó, phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vàtăng cường công tác dân vận, vận động, giáo dục quần chúng, cả công vận, nông vận vàbinh vận Đó là những việc cấp bách, không thể chậm trễ
Xác định kẻ thù: đế quốc Pháp và phát xít Nhật
Trang 7 Chủ trương thành lập mặt trận dân tộc thống nhất riêng cho từng nước Việt Nam,Lào, Campuchia.
Nhiệm vụ trung tâm của đảng trong giai đoạn này: chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang
Bầu Ban Chấp hành Trung ương do Trường Chinh làm Tổng Bí thư
Ngày 19/05/1941, thành lập Mặt trận Việt Minh Năm tháng sau, Tuyên ngôn,Chương trình, điều lệ Việt Minh được công bố chính thức
Hội nghị đã phân tích nguồn gốc, đặc điểm, tính chất của cuộc chiến tranh thế giớilần thứ 2, dự báo phe phát xít nhất định thất bại, phe Đồng minh chống phát xít chắc chắn
sẽ giành thắng lợi Chủ nghĩa đế quốc sẽ suy yếu và phong trào cách mạng thế giới sẽphát triển mạnh mẽ
Từ quan điểm chỉ đạo này, Đảng ta đã xác định tính chất của cách mạng Việt Namgiai đoạn này là cách mạng giải phóng dân tộc, đây là nhiệm vụ cấp bách, quan trọnghàng đầu của cách mạng Việt Nam Vì thế Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu “Đánh
đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày”, thay bằng khẩu hiệu: “Tịch thu ruộng đất củabọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng đất cho công bằng, giảmđịa tô, giảm tức”3
Hội nghị đi tới một quyết định cực kỳ quan trọng: giải quyết vấn đề dân tộc trongkhuôn khổ từng nước, cốt làm sao để thức tỉnh được tinh thần dân tộc của mỗi nước trênbán đảo Đông Dương Hội nghị chủ trương thành lập ở mỗi nước một mặt trận dân tộcthống nhất rộng rãi Ở Việt Nam mặt trận này được lấy tên là: “Việt Nam Độc lập đồngminh (gọi tắt là Việt minh) Các tổ chức quần chúng yêu nước chống đế quốc được thànhlập trước đây đều thống nhất lấy tên là: Hội Cứu quốc, như Hội nông dân cứu quốc, HộiCông nhân cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc, Hội Thanh niên cứu quốc… và tất cả các HộiCứu quốc đều tham gia là thành viên của Việt Minh Đối với Lào, Hội nghị chủ trươngthành lập Mặt trận Ai Lao độc lập đồng minh và đối với Campuchia thì lập Mặt trận Cao
3 Hồ Chí Minh: “Thư gửi Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”, Toàn tập, t 4, tr 56
Trang 8Miên độc lập đồng minh Trên cơ sở ra đời mặt trận ở mỗi nước sẽ thành lập mặt trậnchung của ba nước là Đông Dương Độc lập đồng minh.
Các dân tộc trên bán đảo Đông Dương đều chịu ách thống trị của đế quốc Pháp,phát xít Nhật cho nên phải đoàn kết thống nhất lực lượng để đánh đuổi kẻ thù chung Vấn
đề dân tộc ở bán đảo Đông Dương lúc này là vấn đề tự do độc lập của mỗi dân tộc Do đóHội nghị Trung ương 8 khẳng định hết sức tôn trọng và thi hành đúng quyền dân tộc tựquyết đối với các dân tộc ở Đông Dương Sau khi đánh đuổi được Pháp, Nhật thì: “Cácdân tộc sống trên cõi Đông Dương sẽ tùy theo ý muốn tổ chức thành liên bang cộng hòadân chủ hay đứng riêng thành dân tộc quốc gia tùy ý”, “Sự tự do độc lập của các dân tộc
sẽ được thừa nhận và coi trọng”
Hội nghị quyết định phải xúc tiến công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang và coi đâylà nhiệm vụ trung tâm của Đảng và của nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại Hội nghị đãxác định 4 điều kiện cho khởi nghĩa vũ trang thắng lợi và xác định 6 nhiệm vụ phải thựchiện để củng cố, tăng cường, phát triển mở rộng lực lượng cách mạng trong cả nước đủsức để thực hiện và củng cố thắng lợi của cuộc khởi nghĩa vũ trang
Hội nghị Trung ương 8 đã phát triển sáng tạo phương thức khởi nghĩa vũ trangcách mạng khi đề ra chủ trương tiến hành khởi nghĩa từng phần giành chính quyền từngđịa phương mở đường tiến lên tổng khởi nghĩa
Hội nghị Trung ương 8 đã đề ra nhiệm vụ xây dựng Đảng làm cho Đảng đủ nănglực lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc Đảng là người lãnh đạo người tổchức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Đến Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941), Đảng ta đã hoàn chỉnh sự chuyểnhướng chỉ đạo chiến lược cách mạng được nêu ra từ Hội nghị Trung ương 6 tháng11/1939 Đó là sự chuyển hướng chiến lược tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lượcphản đế và phản phong sang thực hiện chiến lược giải phóng dân tộc, chỉ tập trung lựclượng toàn dân tộc giải quyết cho được một vấn đề cấp bách và quan trọng hàng đầu làđánh đổ ách thống trị của đế quốc Pháp-Nhật, giành độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc
Trang 93.2 Ý nghĩa của Hội nghị trung ương 8
Nghị quyết của Hội nghị lần 8 đã hoàn chỉnh việc chuyển hướng chỉ đạo chiếnlược và sách lược cách mạng đã đề ra ở Hội nghị Ban Chấp hàng Trung ương lần thứ 6(11/1939) Nó có tác dụng quyết định trong việc vận động toàn đảng, toàn dân chuẩn bịtiến tới Cách mạng tháng Tám
Từ xác định đúng mâu thuẫn cơ bản chủ yếu, đến chỉ rõ kẻ thù chủ yếu là đế quốcPháp - Nhật, Hội nghị đã xác định rõ tính chất của cuộc cách mạng là cách mạng giảiphóng dân tộc, lực lượng tiến hành cuộc cách mạng này là toàn dân Việt Nam bao gồmmọi tầng lớp, mọi tổ chức chính trị, mọi giai cấp, mọi tôn giáo, dân tộc, mọi lứa tuổiđược tập hợp trong mặt trận dân tộc thống nhất phản đế với tên gọi Mặt trận Việt NamĐộc lập đồng minh Đảng Cộng sản Đông Dương là thành viên của Việt Minh và là hạtnhân chính trị lãnh đạo Việt Minh Hội nghị Trung ương 8 đã quyết định phương phápcách mạng giải phóng dân tộc là khởi nghĩa vũ trang từ khởi nghĩa vũ trang từng phần.Giành chính quyền ở từng địa phương chuẩn bị lực lượng đón thời cơ tiến tới tổng khởinghĩa giành chính quyền trong cả nước
Đường lối chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc của Hội nghị Trung ương 8(tháng 5/1941) là sự khẳng định kế thừa, tiếp thu và phát triển sáng tạo tư tưởng cáchmạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã vạch ra trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”(1927) và Cương lĩnh Cách mạng đầu của Đảng do chính Người dự thảo và được Hộinghị thành lập Đảng 3/2/1930 thông qua
Đường lối chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc của Hội nghị Trung ương 8 là
sự khẳng định bước trưởng thành vượt bậc của Đảng ta trong lãnh đạo chính trị, trong đổimới tư duy về xây dựng đường lối cứu nước, trong việc mài sắc vũ khí tự chỉ tríchBolshevik để vượt qua bệnh ấu trĩ “tả” khuynh, bệnh giáo điều dập khuôn máy móc…
Đường lối chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc của Nghị quyết Hội nghịTrung ương 8 (tháng 5/1941) là ngọn đèn pha soi sáng, là ngọn cờ dẫn đường chỉ lối cho
Trang 10toàn dân ta giành thắng lợi vĩ đại trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, lập nên nướcViệt Nam Dân chủ cộng hoà nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3.3 Sự thành lập của Mặt Trận Việt minh
Để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, phải vận dụng phương pháp hiệutriệu hết sức thống thiết, làm sao đánh thức được tinh thần dân tộc cho nhân dân, nên Mặttrận không thể gọi như trước mà phải dùng tên khác phù hợp hơn với nhiệm vụ cáchmạng giai đoạn hiện tại Bởi vậy, theo đề nghị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghịquyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Mặt trận ViệtMinh nhằm tập hợp và đoàn kết rộng rãi các giai cấp, các dân tộc, tôn giáo, các giới…vàothực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng
Ngày 19-5-1941, Mặt trận Việt Minh ra đời thay cho Mặt trận Dân tộc thống nhấtphản đế Đông Dương và đặt ra nhiệm vụ giúp đỡ các dân tộc Lào và Campuchia thànhlập mặt trận dân tộc của nước mình Mặt trận Việt Minh lấy lá cờ đỏ có ngôi sao vàngnăm cánh làm huy hiệu, khẩu hiệu chính là: phản Pháp - kháng Nhật - liên Hoa - độc lập
Về tổ chức: Mặt trận Việt Minh được tổ chức theo hệ thống từ Trung ương đến cơ
sở: Ở cấp xã có Ban Chấp hành Việt Minh do các đoàn thể Việt Minh ở làng hay xã cử ra;
Ở cấp tổng, huyện (hay phủ, châu, quận); tỉnh, kỳ có Ban chấp ủy Việt Minh của mỗi cấptương ứng; Ở cấp toàn quốc có Tổng bộ Việt Minh
Về chủ trương: Mặt trận Việt Minh liên hiệp hết thảy các từng lớp nhân dân
không phân biệt tôn giáo, đảng phái, xu hướng chính trị nào, giai cấp nào, đoàn kết chiếnđấu để đánh đuổi Pháp-Nhật giành quyền độc lập cho xứ sở; giúp đỡ Ai Lao Độc lậpĐồng minh và Cao Miên Độc lập Đồng minh để cùng thành lập Đông Dương Độc lậpĐồng minh Sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập một Chính phủnhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng nǎm cánh làm lá cờtoàn quốc
Trang 11Mặt trận Việt Minh xác định các chính sách về chính trị (8 điểm), kinh tế (7 điểm),văn hóa (3 điểm), xã hội (5 điểm), ngoại giao (4 điểm) và đối với các tầng lớp nhân dân(10 điểm) là công nhân, nông dân, binh lính, học sinh, phụ nữ, thương nhân, viên chức.
4 Thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
Thực hiện chỉ thị của đồng chí Hồ Chí Minh, sau một thời gian gấp rút chuẩn bị,vào ngày 22/12/1944, tại khu rừng giữa tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộcchâu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm Nà Sang, xã Tam Kim, huyện NguyênBình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập gồm
34 chiến sĩ, biên chế thành 3 tiểu đội, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy Đâylà đơn vị chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng và là tiền thân của Quân độinhân dân Việt Nam
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân có 34 đội viên, số lượng đội viên tuy
ít, vũ khí thô sơ, thiếu thốn, nhưng Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - đội quânchủ lực đầu tiên của cách mạng Việt Nam là "một đoàn quân gang thép, rắn chắc khôngsức mạnh nào khuất phục nổi, sẵn sàng quật nát kẻ thù”
Trên cơ sở đánh giá thời cơ và tình hình cách mạng trong nước, dưới sự lãnh đạocủa Đảng, lực lượng vũ trang cùng các tầng lớp nhân dân đồng loạt đứng dậy tiến hànhkhởi nghĩa giành chính quyền Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc Tổngkhởi nghĩa của nhân dân ta đã giành thắng lợi hoàn toàn Cách mạng Tháng tám năm
1945 thành công, Việt Nam Giải phóng quân được đổi tên thành Vệ Quốc quân Năm
1946, Vệ Quốc quân đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam Năm 1950, đổi tênthành Quân đội nhân dân Việt Nam
Ngày 22/12/1944, ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân –Đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được lấy làm Ngày thành lậpQuân đội nhân dân Việt Nam
5.1 Cách mạng tháng Tám năm 1945
5.1.1 Sự chuẩn bị trước cách mạng